Đặc trưng vật lý, thạch học của đá chứa Pliocene khu vực trung tâm bể sông Hồng

PETROVIETNAM  
TẠP CHÍ DẦU KHÍ  
Số 8 - 2019, trang 21 - 28  
ISSN-0866-854X  
ĐẶC TRƯNG VẬT LÝ, THẠCH HỌC CỦA ĐÁ CHỨA PLIOCENE  
KHU VỰC TRUNG TÂM BỂ SÔNG HỒNG  
Trần Thị Thanh Thúy1, Nguyễn Tiến Thịnh1, Nguyễn Thanh Tùng1, Đỗ Quang Đối2, Nguyễn Hoàng Anh1, Nguyễn Thị Thanh Thủy1  
1Viện Dầu khí Việt Nam  
2Hội Dầu khí Việt Nam  
Email: thuyttt@vpi.pvn.vn  
Tóm tắt  
Bài báo giới thiệu kết quả phân tích mâu thạch học, mâu lli, ,MI và minh giải tài liệu địa vật ly giếng khoan để làm rl đđc trưng của  
đá chưa Pliocene ở khu vực trung tâm bể Sông Hông. Đó là các lớp cát kết mỏng, mịn nằm xen kep các lớp bột/sét kết mỏng bở rời được  
hình thành trong môi trường tư thhm ngoài đến biển sâu với độ hạt tư mịn đến rất mịn, độ chọn lọc tư tốt đến rất tốt, hình dạng hạt bán  
góc cạnh đến bán tròn cạnh. Đá chưa Pliocene ở khu vực này được đánh giá tư khá đến rất tốt, chủ yếu là các độ rỗng nguyên sinh có độ  
liên thông khá đến tốt dù đôi chỗ bị lấp nhét bởi các khoáng vật tại sinh, phân lớp mỏng, độ gắn kết yếu, với độ rỗng hiệu dụng trung bình  
trong khoảng 20 - 30%, độ thấm tư 2 - 1.000mD.  
Từ khóa: Pliocene, đá chưa, cát kết, địa vật ly giếng khoan, thạch học, bể Sông Hông.  
1. Giới thiệu  
Bể Sông Hồng là bể trầm tích Đệ Tam nằm trong  
Pliocene. Năm 2009 cũng đối tượng chứa này, tại cấu tạo  
Y, giếng khoan 113-B-2X cho dòng khí 291 nghìn m3/ngày.  
Một loạt các giếng khoan khác tại cấu tạo T Lô 111/04, X Lô  
khoảng 106º9’44” - 110º0’18” kinh độ Đông, 14o0’ -  
21o30’vĩ độ Bắc. Phía Bắc bể độ sâu nước biển thay đổi  
trong khoảng 20 - 40m. Địa hình đáy biển thoải dần về  
phía Đông Nam và đạt chiều sâu lớn nhất tại khu vực  
giáp bể Phú Khánh và trũng Đông Bắc Tri Tôn. Vùng  
trung tâm độ sâu nước biển thay đổi trong khoảng 20  
- 90m với chiều dày trầm tích ước tính đạt trên 16km.  
Vùng phía Nam (từ Lô 114 - 121), mực nước thay đổi từ  
30 - 800m có chỗ trên 1.000m và phần phía Đông là đới  
phân dị Hoàng Sa [1, 2].  
Khu vực nghiên cứu gồm Lô 111/04 và Lô 111 &  
113 thuộc trung tâm bể trầm tích Sông Hồng (Hình 1)  
[1, 3]. Đặc điểm chính của khu vực này là các tầng trầm  
tích nghiêng thoải dần và dày lên về phía trung tâm  
trũng (nơi dày nhất dự báo trên 16km). Các cấu tạo  
thay đổi từ loại bao phủ kế thừa trên móng, hoặc các  
khối đứt gãy ở phía Tây đến loại cấu trúc liên quan đến  
diapir sét ở phụ trũng trung tâm.  
Năm 2007, tại Lô 113 Liên doanh Vietgazprom đã  
tiến hành khoan thăm dò giếng khoan 113-A-1X tại  
cấu tạo X cho dòng khí 388 nghìn m3/ngày ở đối tượng  
Ngày nhận bài: 29/7/2019. Ngày phản biện đánh giá và sửa chữa: 01 - 06/8/2019.  
Ngày bài báo được duyệt đăng: 12/8/2019.  
Hình 1. Vị trí khu vực nghiên cứu trên bản đồ phân vùng cấu trúc bể Sông Hồng  
(Bản đồ phân vùng cấu trúc, Nguyễn Thị Dậu, 2012)  
DẦU KHÍ - SỐ 8/2019  
21  
THĂM DÒ - KHAI THÁC DẦU KHÍ  
111&113, Y và Z Lô 113 cũng cho dòng  
khí nhỏ hơn và các biểu hiện tương tự  
tại đối tượng chứa này, với tổng chiều  
dày các vỉa chứa dao động từ 26m ở  
giếng khoan 111-A-2X đến 57m ở giếng  
khoan 113-A-5X và mỏng hơn ở các  
giếng khoan 113-A-1X, 113-A-3X (Hình  
2) [4, 5].  
DST#4:  
Q_khí: 76.600m3/ngày  
Q_nước: 173m3/ngày  
Nóc tầng chứa Pliocene  
2. Đặc trưng vật lý, thạch học của đá  
chứa Pliocene trong khu vực nghiên  
cứu  
Đáy tầng chứa Pliocene  
DST#5:  
Q_khí: 600m3/ngày  
Q_nước: 194,7m3/ngày  
2.1. Kết quả phân tích mẫu  
Hình 2. Các tầng chứa Pliocene trong khu vực nghiên cứu  
Đá chứa cát kết Pliocene gồm nhiều  
loại: Arkose, subarkose, lithic arkose và  
felspathic. Thành phần khung đá biến  
đổi trong dải rộng, hàm lượng thạch  
anh cao chiếm 57 - 83%, feldspar chiếm  
12 - 27% và tỷ lệ mảnh đá từ vài % đến  
trên 20% (Hình 3a và b). Đặc điểm đáng  
chú ý là phần lớn các mẫu đá cát kết  
phân tích đều chứa matrix sét với tỷ  
lệ cao đến rất cao, dao động từ 10%  
đến trên 20% (Hình 3c). Sét trong đá  
chứa Pliocene có thành phần illite rất  
cao (> 50%), làm giảm độ thấm của đá  
chứa, kaolinite chiếm khoảng 30% có  
thể làm giảm độ rỗng của đá chứa, các  
khoáng vật sét còn lại như chlorite hoặc  
smectite chiếm tỷ lệ nhỏ nên không  
ảnh hưởng nhiều đến tính chất thấm  
chứa của đá (Hình 4).  
Hình 3. Thành phần (a) và phân loại đá chứa cát kết Pliocene (b) thành phần hạt mịn < 15%,  
(c) thành phần hạt mịn > 15%) (theo L.B.Folk, 1974)  
Quartz  
111-A-4X  
113-B-1X  
111-B-2X  
111-A-1X  
111-A-3X  
Đá chứa cát kết có độ hạt từ mịn  
đến rất mịn, độ chọn lọc từ tốt đến rất  
tốt, hình dạng hạt bán góc cạnh đến  
bán tròn cạnh, đôi chỗ bán tròn cạnh  
đến tròn cạnh. Do đá đang ở giai đoạn  
đầu của quá trình biến đổi thứ sinh nên  
mức độ gắn kết từ yếu đến trung bình  
(tiếp xúc hạt dạng điểm, đường) giúp  
độ rỗng của đá được bảo toàn. Đá có độ  
rỗng nhìn thấy từ trung bình đến cao  
(4,8 - 19%) và phần lớn là các lỗ rỗng  
nguyên sinh; có độ liên thông khá đến  
tốt dù đôi chỗ bị lấp nhét bởi khoáng  
vật tại sinh; hạt vụn chưa bị tiếp xúc,  
nén ép (Hình 5 - 7).  
a.  
0%  
50%  
100%  
3:1  
1:3  
1:1  
Clay  
Carbonate  
b.  
111-A-4X  
113-C-1X  
Illite-  
Smectite  
4%  
Smectite  
2%  
Kaolinite  
30%  
Kaolinite  
Chlorite  
Illite  
113-B-2X  
113-A-1X  
Illite  
53%  
Chlorite  
11%  
Illite-Smectite  
Smectite  
113-A-3X  
Hình 4. Phân loại xi măng (a) và thành phần khoáng vật sét của đá chứa cát kết Pliocene (b)  
Xi măng carbonate tại khu vực  
DẦU KHÍ - SỐ 8/2019  
22  
PETROVIETNAM  
nghiên cứu xuất hiện không đồng nhất, mang  
tính chất địa phương với hàm lượng dao động từ  
không xuất hiện tới 17,6% tổng thành phần đá.  
Sự có mặt của xi măng carbonate lấp nhét vào lỗ  
rỗng đã làm giảm tính chất thấm chứa của đá.  
Ngoài các tập cát sạch, đá chứa Pliocene  
trong khu vực nghiên cứu gồm cả cát/bột kết  
phân lớp mỏng xen kẹp bột/sét kết bở rời, đây  
là đối tượng chứa dầu khí đã được khẳng định  
tiềm năng tại khu vực trũng trung tâm bể Sông  
Hồng. Đá chứa cát/bột/sét kết phân lớp mỏng có  
hàm lượng matrix từ dưới 10% đến 30% (Hình 8),  
có độ mài tròn và chọn lọc tốt. Đá cát kết có độ  
hạt mịn, bột kết có độ hạt thô, độ gắn kết yếu (bở  
rời), các hạt không tiếp xúc nhau hoặc tiếp xúc  
dạng điểm (Hình 9a) giúp gia tăng độ rỗng của đá  
mặc dù các lớp bột/sét kết mỏng xen kẹp là một  
trong các nguyên nhân làm giảm độ thấm của đá  
chứa (Hình 9b, 10a và b). Đây chính là điểm đặc  
trưng của đá chứa Pliocene khu vực trung tâm bể  
Sông Hồng. Tuy nhiên, đôi chỗ khoáng vật tại sinh  
chiếm hàm lượng đáng kể đã lấp nhét hoàn toàn  
hoặc một phần vào lỗ rỗng giữa hạt làm giảm sự  
liên thông của lỗ rỗng và ảnh hưởng đến độ thấm  
của đá (Hình 11).  
Hình 5. Giếng khoan 113-A-3X: Đá cát kết hạt mịn, sự có mặt của glauconite (G) khá phổ biến, hàm  
lượng xi măng/sét rất thấp (3%), độ rỗng nhìn thấy cao (19%)  
Bên cạnh đó, các quá trình biến đổi thứ sinh  
cũng ảnh hưởng đến tính chất đá chứa Pliocene,  
trong đó gồm cả các quá trình làm giảm và làm  
tăng tính thấm chứa. Mức độ ảnh hưởng của các  
quá trình biến đổi thứ sinh trong đối tượng đá  
chứa Pliocene được thể hiện ở Hình 13. Theo đó  
các quá trình làm tăng và giảm chất lượng chứa  
kéo dài từ giai đoạn biến đổi sớm đến muộn của  
quá trình thành đá. Các quá trình làm giảm độ  
Hình 6. Giếng khoan 113-C-1X: Đá cát kết hạt rất mịn, độ chọn lọc tốt, độ mài tròn  
trung bình, hình dạng bán góc cạnh đến bán tròn cạnh, độ gắn kết yếu, hạt vụn chưa bị tiếp xúc,  
nén ép, độ rỗng nhìn thấy cao (10,6%).  
Hình 7. Giếng khoan 113-A-3X: Cát kết thạch anh (Q), hạt rất mịn, độ gắn kết yếu, độ chọn lọc khá tốt, độ rỗng nhìn thấy cao (17,2%), kênh thông nối bị giảm bởi các khoáng vật tại sinh.  
DẦU KHÍ - SỐ 8/2019  
23  
THĂM DÒ - KHAI THÁC DẦU KHÍ  
Hình 8. Thành phần thạch học của đá bột kết Pliocene  
(a)  
(b)  
Hình 9. Giếng khoan 111-B-2X: Đá bột kết hạt thô có độ chọn lọc tốt, gắn kết yếu, độ rỗng nhìn thấy cao (18%) (a), phân lớp mỏng nằm xen kẹp giữa các lớp sét (b).  
DẦU KHÍ - SỐ 8/2019  
24  
PETROVIETNAM  
(b)  
(a)  
Hình 10. Đặc trưng phân lớp mỏng của đá cát/bột kết qua tài liệu mẫu thạch học (a) và tài liệu FMI (b)  
Illite -  
Smectite  
4%  
Smectite  
0%  
Kaolinite  
26%  
Illite  
59%  
Chlorite  
11%  
Kaolinite  
Chlorite  
Illite  
Illite-Smectite  
Smectite  
(b)  
(a)  
Hình 11. Giếng khoan 113-B-1X: Đá sét kết thành phần khá đồng nhất gồm chủ yếu là các khoáng vật sét, calcite và dolomite vi hạt, hóa đá (F) bảo tồn kém do các buồng  
và thành hóa đá bị calcite lấp đầy, đá không có độ rỗng  
Giai đoạn biến đổi  
Các hiện tượng  
biến đổi chính  
Ảnh hưởng  
tới độ rỗng  
Katagenes sớm  
Katagenes muộn  
Sét matrix lấp đầy  
Nén kết  
Thành tạo khoáng vật tại sinh chính  
- Pyrite  
Giảm độ rỗng  
nguyên sinh  
- Xi măng carbonate  
- Illite và các khoáng vật sét khác  
- Thạch anh  
Tăng độ rỗng  
thứ sinh  
Hòa tan khoáng vật kém bền vững  
Hình 12. Ảnh hưởng của quá trình biến đổi thứ sinh lên chất lượng đá chứa Pliocene  
DẦU KHÍ - SỐ 8/2019  
25  
THĂM DÒ - KHAI THÁC DẦU KHÍ  
Master log  
Kết quả phân tích thạch học  
DST#3: 18.900m3/ngày  
(95%methane), ít condensate,  
1,18m3 nước/ngày  
Chủ yếu là bột và sét  
DST#2: 104.500m3khí/ngày  
(94%methane), 7,32m3/ngày  
condensate, 0,81m3 nước/ngày  
Trong khoảng thử DST thành phần  
thạch hoặc chủ yếu là bột và sét  
Hình 13. Đặc trưng đá chứa cát/bột/sét bở rời Pliocene theo tài liệu mẫu thạch học và Masterlog ở giếng khoan 113-A-3X  
Quan hệ giữa độ rỗng và độ thấm của đá cát  
Quan hệ giữa độ rỗng và độ thấm của đá  
sét/bột kết Pliocene  
kết Pliocene  
10000  
1000  
100  
10  
10000  
1000  
100  
10  
111-A-1X  
111-A-1X  
11-A  
11-A  
111-A-4X  
1 -2X  
3 -3X  
111-A-2X  
13-A  
11-A  
113-A-5X  
1 -3X  
113-A-5X  
113-B-2X  
1 -4X  
1
1
113-B-2X  
0,1  
0,1  
0,01  
0,01  
5
15  
25  
Độ rỗng (%)  
(a)  
35  
45  
5
15  
25  
35  
Độ rỗng (%)  
(b)  
Hình 14. Quan hệ giữa độ rỗng và độ thấm của đá chứa cát kết (a) và bột/sét kết (b) Pliocene  
rỗng gồm có các quá trình nén ép, quá trình thành tạo  
khoáng vật thứ sinh như pyrite, calcite, siderite, illite và các  
khoáng vật sét khác… trong khi các yếu tố làm tăng độ  
rỗng là quá trình hòa tan các khoáng vật kém bền vững.  
Tuy nhiên, do trầm tích Pliocene được thành tạo ở khu vực  
nông với nhiệt độ và áp suất thấp nên đá chưa bị biến đổi  
mạnh và chịu ảnh hưởng nhiều từ các quá trình trên, vì  
vậy tính chất thấm chứa của đá vẫn được bảo tồn khá tốt.  
qua tài liệu Masterlog, kết quả phân tích chỉ số rỗng - thấm  
từ tài liệu mẫu lõi và các thông số xác định được từ tài  
liệu địa vật lý giếng khoan. Thành phần thạch học khu vực  
trung tâm bể Sông Hồng chủ yếu là bột/sét kết bão hòa  
khí xen kẹp các lớp cát kết mỏng, do đó đối tượng chứa sẽ  
là cát kết và bột/sét kết bở rời. Hình 13 cho thấy rất rõ đặc  
trưng loại đá chứa này qua tài liệu Masterlog và tài liệu  
thạch học với dòng khí chính trong các khoảng thử vỉa  
DST là từ các lớp cát/bột/sét bở rời của thành hệ Pliocene.  
2.2. Kết quả phân tích địa vật lý giếng khoan  
Các kết quả phân tích mẫu lõi cũng cho thấy cát/bột/  
sét kết xen kẹp là một loại đá chứa tốt ở khu vực trung  
tâm bể Sông Hồng. Kết quả phân tích đặc tính vật lý  
Kết hợp với các kết quả phân tích mẫu thạch học, đặc  
trưng vật lý của đá chứa Pliocene còn được đánh giá thông  
DẦU KHÍ - SỐ 8/2019  
26  
PETROVIETNAM  
DS1#3:  
Khí: 18.900m3 khí/ngày  
(95% methane)  
Condensate: Dòng nhỏ  
Nước: 1,18m3 nước/ngày  
PHIEtb: 20%  
Swtb: 52%  
DST#2:  
Khí: 104.500m3 khí/ngày  
(94% methane),  
Condensate: 7,32m3/ngày  
Nước: 0,81m3/ngày  
PHIEtb: 26%  
Swtb: 54%  
Hình 15. Kết quả phân tích địa vật lý giếng khoan đá chứa Pliocene, giếng khoan 113-A-3X  
Bảng 1. Các thông số phân tích từ tài liệu địa vật lý giếng khoan của đá chứa Pliocene  
Tầng chứa  
Tầng sản phẩm  
Giếng  
khoan  
Tổng chiều dày  
hệ tầng (m)  
Hệ tầng  
Net (m) NTG (v/v) Av Phie (v/v) Net (m)  
NTG (v/v)  
0,01  
0,02  
0,05  
0,11  
0,04  
-
Av Phie (v/v) Av Sw (v/v)  
111-T-1X  
113-A-1X  
111-A-2X  
113-A-3X  
111-A4X  
113-A-5X  
113-B-2X  
Pliocene  
Pliocene  
Pliocene  
Pliocene  
Pliocene  
Pliocene  
Pliocene  
1.441  
1.318  
385  
458  
484  
114,9  
212,8  
220  
212  
176  
0,08  
0,16  
0,57  
0,46  
0,36  
0,50  
0,28  
0,18  
0,26  
0,22  
0,25  
0,19  
0,26  
0,17  
20,0  
29,3  
19,6  
54,0  
20,0  
-
0,12  
0,28  
0,22  
0,25  
0,19  
-
0,68  
0,52  
0,55  
0,51  
0,51  
-
332  
501  
166  
139,6  
60,9  
0,12  
0,17  
0,68  
rỗng - thấm cho thấy, đá chứa cát kết Pliocene có độ rỗng  
biến đổi từ tốt đến rất tốt (khoảng 20 - 35%), độ thấm từ  
trung bình đến rất tốt với giá trị dao động từ 2mD đến  
gần 1.000mD (Hình 14a); đối với đá chứa bột/sét bở rời  
Pliocene - đối tượng chưa từng bắt gặp ở các bể trầm tích  
chứa dầu khí khác ở Việt Nam, độ rỗng và độ thấm biến  
đổi từ khá đến tốt với giá trị độ rỗng trung bình dao động  
từ 13 - 27% và độ thấm từ 0,2 - 100mD (Hình 14b). Hình  
14b cho thấy tính chất phức tạp của loại đá chứa bột/  
sét bở rời này khi độ rỗng và độ thấm phân bố xâm tán,  
không theo quy luật như đá cát kết, nhưng lại là đối tượng  
chứa rất tiềm năng của khu vực nghiên cứu. Kết hợp với  
kết quả phân tích địa vật lý giếng khoan (Hình 15 và Bảng  
1) cho thấy khả năng chứa của cát/bột kết Pliocene biến  
đổi từ khá đến rất tốt với giá trị độ rỗng trung bình đạt  
từ 12 - 28%, tỷ lệ đá chứa trên tổng chiều dày hệ tầng  
(NTG) trung bình đạt 38%. Kết quả thử vỉa cho đối tượng  
đá chứa Pliocene đã đem lại những tín hiệu lạc quan ban  
đầu cho khu vực nghiên cứu khi lưu lượng khí của một số  
giếng khoan tại khu vực trung tâm như 113-A-4X, 111-A-  
1X đạt từ 220.000 m3/ngày (không ra nước) đến 388.000  
m3/ngày [4]. Đây chính là kết quả quan trọng để đối sánh  
với kết quả tính độ bão hòa nước (Sw) từ tài liệu địa vật  
lý giếng khoan khi đường cong điện trở bị ảnh hưởng  
bởi tính chất phức tạp của đá chứa Pliocene (cát/bột/sét  
phân lớp mỏng xen kẹp).  
3. Kết luận  
Thông qua tài liệu phân tích mẫu thạch học, mẫu lõi,  
FMI cũng như kết quả minh giải tài liệu địa vật lý giếng  
khoan, có thể rút ra một số kết luận sau:  
- Đá chứa Pliocene ở khu vực trung tâm bể Sông  
Hồng gồm 2 loại chính: (i) Cát kết với rất nhiều thành phần  
khác nhau (arkose, subarkose, lithic arkose và felspathic);  
(ii) Các vỉa cát/bột kết bở rời rất mỏng nằm xen kẹp với các  
vỉa sét kết.  
- Đá chứa Pliocene ở khu vực này được đánh giá từ  
DẦU KHÍ - SỐ 8/2019  
27  
THĂM DÒ - KHAI THÁC DẦU KHÍ  
khá đến rất tốt với độ hạt từ mịn đến rất mịn, độ chọn lọc  
từ tốt đến rất tốt, hình dạng hạt bán góc cạnh đến bán  
tròn cạnh, chủ yếu là các độ rỗng nguyên sinh có độ liên  
thông khá đến tốt dù đôi chỗ bị lấp nhét bởi các khoáng  
vật tại sinh, phân lớp mỏng, độ gắn kết yếu, được hình  
thành trong môi trường thềm ngoài đến biển sâu với độ  
rỗng hiệu dụng trung bình trong khoảng 20 - 30%, độ  
thấm từ 2 - 1.000mD.  
2. Trịnh Xuân Cường và nnk. Tổng kết và đánh giá  
công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí ở Việt Nam giai đoạn  
2000 - 2009, nghiên cứu đề xuất phương hướng tìm kiếm  
thăm dò đến 2020. Viện Dầu khí Việt Nam. 2012.  
3. Nguyễn Thanh Tùng và nnk. Tổng kết, đánh giá  
công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí ở Việt Nam giai đoạn  
2011 - 2015 và phương hướng tìm kiếm thăm dò tiếp theo.  
Viện Dầu khí Việt Nam. 2016.  
- Kết quả thử vỉa thành công ở một số giếng khoan  
cho thấy đá chứa Pliocene là đối tượng rất tiềm năng  
ở khu vực trung tâm bể Sông Hồng, vì vậy cần có định  
hướng nghiên cứu chi tiết hơn trong tìm kiếm, thăm dò và  
khai thác cho đối tượng này.  
4. Vietgazprom JOC. Hydrocarbon initial in place and  
reserves assessment report, Bao Vang field, Block 111/04, 112  
& 113 (up to 10/2014). 2015.  
5. Nguyễn Trung Hiếu và nnk. Minh giải tài liệu địa  
chấn 2D - Dự án điều tra cơ bản khảo sát địa chấn 2D liên  
kết các bể trầm tích thềm lục địa Việt Nam. Viện Dầu khí Việt  
Nam. 2014.  
Tài liệu tham khảo  
1. Nguyễn Thị Dậu và nnk. Đánh giá tiềm năng dầu  
khí bể Sông Hồng. Dự án “Đánh giá tiềm năng dầu khí trên  
vùng biển và thềm lục địa Việt Nam”. Viện Dầu khí Việt  
Nam 2014.  
PLIOCENE RESERVOIR CHARACTERISTICS IN THE CENTRE  
OF SONG HONG BASIN  
Tran Thi Thanh Thuy1, Nguyen Tien Thinh1, Nguyen Thanh Tung1, Do Quang Doi2, Nguyen Hoang Anh1, Nguyen Thi Thanh Thuy1  
1Vietnam Petroleum Institute  
2Vietnam Petroleum Association  
Email: thuyttt@vpi.pvn.vn  
Summary  
This paper presents the results of petrography and core analysis, FMI and log interpretation to define Pliocene reservoir characteristics  
in the centre of Song Hong basin. The reservoirs, which are fine-thin sandstone layers interbedded with unconsolidated siltstone/  
claystone deposited in outer-shelf to deep marine, could be defined as fine to very fine grain size, good to very good sorting, sub-angular  
to sub-rounded grain shape. The Pliocene reservoir quality is fair to very good, featured by thin-bedded, weak consolidated, and almost  
primary porosity with good connection, sometimes filled by authigenic minerals. The effective porosity and permeability range from  
20 - 30% and 2 - 1,000mD, respectively.  
Key words: Pliocene, reservoir, sandstone, well log, petrography, Song Hong basin.  
DẦU KHÍ - SỐ 8/2019  
28  
pdf 8 trang yennguyen 13260 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đặc trưng vật lý, thạch học của đá chứa Pliocene khu vực trung tâm bể sông Hồng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdac_trung_vat_ly_thach_hoc_cua_da_chua_pliocene_khu_vuc_trun.pdf