- Phát hiện và ngăn chặn kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật đất đai, từ đó, đảm bảo
thực hiện đúng đắn các chính sách, pháp luật đất đai, tăng cường trách nhiệm đối với cơ quan quản
lý nhà nước và người sử dụng đất.
- Bảo vệ quyền lợi của Nhà nước với tư cách là người đại diện cho chủ sở hữu, quyền và
lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất, duy trì trật tự ổn định, đoàn kết trong nội bộ nhân dân.
1.1.2.7. Các công cụ quản lý
a. Công cụ pháp luật
Điều 54, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia,
nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, được quản lý theo pháp luật”. Như vậy, pháp luật là
một trong những công cụ quan trọng, tác động trực tiếp đến công tác quản lý nhà nước về đất đai.
Cụ thể như sau:
Pháp luật là công cụ duy trì trật tự an toàn xã hội trong lĩnh vực đất đai. Đất đai là tư liệu
sản xuất đặc biệt, gắn chặt với lợi ích vật chất và tinh thần của người sử dụng đất. Do đó, công tác
quản lý và sử dụng đất đai hiện nay đang đối mặt với nhiều thách thức về tình trạng vi phạm pháp
luật về đất đai của cơ quan quản lý và người sử dụng đất. Trong đó, có nhiều trường hợp phải dùng
đến pháp luật để cưỡng chế thì mới có thể giải quyết được.
Pháp luật là công cụ bắt buộc các tổ chức và cá nhân thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà
nước và các nghĩa vụ khác. Trong sử dụng đất đai, nghĩa vụ nộp thuế là nghĩa vụ bắt buộc, nhưng
không phải lúc nào nghĩa vụ đó cũng được thực hiện một cách đầy đủ. Thực tế cho thấy, có rất
nhiều trường hợp phải dùng biện pháp cưỡng chế và bắt buộc thì nghĩa vụ đó mới được thực hiện.
Điều này không những để duy trì trật tự xã hội, mà còn để người sử dụng đất thấy được trách
nhiệm và nghĩa vụ của mình trong việc.
Công cụ pháp luật góp phần bảo đảm sự bình đẳng, công bằng giữa những người sử dụng
đất. Thông qua những điều khoản bắt buộc, các chính sách miễn giảm, thưởng, phạt... cho phép
Nhà nước thực hiện được quyền bình đẳng, sự công bằng cũng như giải quyết tốt mối quan hệ về
lợi ích trong lĩnh vực đất đai giữa những người sử dụng đất.
Pháp luật là công cụ tạo điều kiện cho các công cụ quản lý khác, các chế độ, chính sách
của Nhà nước được thực hiện có hiệu quả hơn. Trong hệ thống pháp luật của Nhà nước Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam có các công cụ pháp luật liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến quản lý
đất đai cụ thể như: Hiến pháp, Luật đất đai, Luật dân sự, các pháp lệnh, các nghị định, các quyết
định, các thông tư, các chỉ thị, các nghị quyết... của Nhà nước, của Chính phủ, của các Bộ, các
ngành có liên quan đến đất đai một cách trực tiếp hoặc gián tiếp và các văn bản quản lý của các
cấp, các ngành ở chính quyền địa phương.
b. Công cụ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Quy hoạch, kế hoạch là công cụ quản lý quan trọng và là nội dung không thể thiếu trong
công tác quản lý nhà nước về đất đai. Thực tế cho thấy, đất đai là nguồn tài nguyên thiên nhiên
phong phú và đa dạng, tuy nhiên nó không phải là nguồn tài nguyên vô tận. Trong khi đó, nhu cầu
của xã hội trong việc sử dụng đất ngày càng tăng cao. Do đó, Nhà nước không thể cho phép các
nhu cầu đó phát triển một cách tự phát mà phải có kế hoạch, điều tiết cho phù hợp với quá trình
phát triển kinh tế - xã hội. Công cụ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nhằm mục đích:
- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là cơ sở khoa học của quá trình xây dựng các chiến lược
về khai thác, sử dụng đất, là tiền đề cho việc thực hiện các nội dung quản lý nhà nước về đất đai.
- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất góp phần đảm bảo cho sự quản lý tập trung, thống nhất
của Nhà nước trong lĩnh vực đất đai.
10