Bài giảng Phương pháp hệ số gió giật G và tải trọng gió tác dụng lên nhà cao tầng - Nguyễn Đại Minh

Phương pháp hệ số gió giật G và tải trọng  
gió tác dụng lên nhà cao tầng  
TS Nguyễn Đại Minh (IBST)  
Hội thảo Hội Kết cấu xây dựng, Hà Nội 9-2011  
1
1. MỞ ĐẦU  
Các đặc trưng của gió cần biết khi thiết kế nhà cao tầng:  
• Đầu vào về vận tốc/áp lực gió (mean) ở cao trình chuẩn 10m,  
profile gió (sự thay đổi vận tốc (mean) hay áp lực gió (mean)  
theo chiều cao), hệ số vượt tải, chu kỳ lặp  
• Giật và nhiễu động của gió  
• Hiện tượng gió xoắn và rung lắc vuông góc với luồng gió thổi  
(vortex-shedding phenomenon)  
• Bản chất động học tương tác giữa gió và kết cấu  
• Tác động của gió lên kết cấu bao che (vách kích)  
• Tính toán gió theo TIÊU CHUẨN như thế nào?  
• Thí nghiệm trong ống thổi khí động  
• Tiện nghi đối với người sử dụng  
• Đo gió ở hiện trường, ngay chính trên các nhà cao tầng  
• So sánh giữa Tiêu chuẩn và thí nghiệm trong ống thổi  
2
1
Báo cáo này chỉ tập trung vào các vấn đề sau:  
• Đầu vào về vận tốc gió, hệ số vượt tải, chu kỳ lặp xác  
định như thế nào trong thiết kế nhà cao tầng  
• Phương pháp hệ số gió giật GLF của Davenport (1967)  
• Phương pháp GLF sử dụng trong các tiêu chuẩn Mỹ và  
châu Âu  
• Tiêu chuản Nga SNiP 2.01.07-85* (2011)  
• Kiến nghị cho TCVN  
3
2. ĐẦU VÀO VẬN TỐC GIÓ  
Tiêu chuẩn các nước trên thế giới đều xác định đầu vào  
khi tính tải trọng gió là:  
•
Vận tốc cơ sở (tiếng Anh là basic wind speed), hay áp  
lực gió trung bình trong khoảng thời gian 3s, 10 phút  
(600s) hay 1h (3600s), tại độ cao 10 m, địa hình tương  
đương dạng B của TCVN 2737:1995, chu kỳ lặp 5, 10,  
20, 30, 50, 100 năm (thông thường là 50 năm).  
TCVN 2737:1990: vận tốc gió 2 phút, chu kỳ lặp 20 năm,  
địa hình dạng B  
•
•
TCVN 2737:1995: vận tốc gió 3s, chu kỳ lặp 20 năm, địa  
hình dạng B  
4
2
• SNiP 2.01.07-85 (cũ): vận tốc gió 2 phút, chu kỳ lặp 5  
năm, địa hình dạng A (của Nga)  
• SNiP 2.01.07-85*: vận tốc gió 10 phút (chuyển từ 2 phút  
sang 10 phút, người Nga không lập lại bản đồ gió mà sử  
dụng hệ số chuyển đổi 0.91), chu kỳ lặp 5 năm, địa hình  
dạng A (của Nga)  
• SNiP 2.01.07-85* (2011): vận tốc gió 10 phút, chu kỳ lặp  
50 năm (thực chất là 5 năm => 50 năm), địa hình dạng A  
(của Nga)  
• Tiêu chuẩn Mỹ ASCE 7-05: vận tốc gió 3s, chu kỳ lặp 50  
năm, địa hình dạng C (theo Mỹ)  
• Tiêu chuẩn EN 1991-1-4:2005: vận tốc gió 10 phút, chu  
kỳ lặp 50 năm, địa hình dạng II  
• BS 6399: Part 2:1997, vận tốc gió 1h, kỳ lặp 50 năm, địa  
hình nông thôn mở đặc trưng của Anh  
5
1) So sánh về dạng địa hình giữa TCVN 2737:1995 và SNiP 2.01.07-85* (hoặc STO)  
Dạng địa hình theo  
TCVN 2737:1995  
A
B
C
Thoáng  
H<1.5m  
1.5m<H<10m  
10m<H (a)  
Dạng địa hình theo  
A
B
C
SNiP 2.01.07-85*  
Thoáng, H<10m  
10m<H<25m  
25m<H  
Dạng địa hình theo  
D
C
B
ASCE 7-05 (b)  
thoáng, mở, bờ  
biển  
nông thôn  
thoáng  
thành thị  
H<9.1m  
Ghi chú:  
Địa hình B – chuẩn  
- Áp lực và vận tốc gió của Nga là lấy ở độ cao 10 m, địa hình  
dạng A của Nga. Vì vậy, khi chuyển đổi nếu thiên về an toàn phải  
lấy áp lực gió của VN * 1.18 để sang địa hình dạng A, sau đó mới  
chuyển sang hệ SNiP.  
- dạng địa hình của Việt Nam, Mỹ và Eurocode gần như nhau  
6
3
2) Chuyển đổi vận tốc gió (ASCE 7-05)  
3s  
120s  
600s  
1h  
7
• Ví dụ:  
v2phút = 0.77*v3s W2phút = 0.59*W0  
v10phút = 0.70*v3s W10phút = 0.49*W0  
v1h = 0.66*v3s  
quan hệ giữa  
v10phút = 0.91*v2phút W10phút =0.83*W2phút  
W1h = 0.44*W0  
W0 – áp lực gió chuẩn 3s của Việt Nam theo TCVN  
2737:1995  
8
4
• Hệ số chuyển đổi chu kỳ lặp QCVN 02-2009/BXD:  
Chú ý: tính theo TCVN 2737:1995, nhà 10-20 tầng, tuổi thọ 50  
năm, hệ số độ tin cậy γ = 1.2, nhà > 20 tầng: hệ số độ tin cậy  
γ = 1.37 = 1.2*1.15 (1.15 là hệ số tầm quan trọng)  
Chuyển đổi sang ASCE 7-05: gió 3s, Hà Nội, W0 =95daN/m2  
V0 = 39.37 m/s (20 năm) => V0 = 43.12 m/s (50 năm)  
9
QCVN 02-2009/BXD cũng quy định chuyển đổi cho vận tốc gió 10 phút  
(Bảng 4.4). Tuy nhiên, thông số chuyển đổi này lại dựa trên áp lực gió 3s  
nên cần cân nhắc khi sử dụng.  
Có thể tham khảo công  
thức (1) của EN hay  
BS cho gió 10 phút hay  
1h, K = 0.2, n=0.5  
(1)  
10  
5
Tại sao lại bàn về chuyển đổi 3s hay 10 phút?  
Ví dụ theo Việt Nam áp lực gió 3s, từ 5 năm lên 50 năm là  
1.62  
Theo SNiP thì áp lực gió 10 phút, từ 5 năm lên 50 năm là  
1.4, tính theo EN là 1.37 (lấy tròn là 1.4).  
Theo ASCE 7-05, áp lực gió 3s, từ 50 năm lên 500 năm là  
1.6. Tuy nhiên theo EN áp lực gió 10 phút, từ 50 năm lên  
500 năm là 1.26  
(Theo BS: Hệ số vượt tải 1.4 tương ứng với chu kỳ lặp  
1754 năm. Tính cho nhà máy điện hạt nhân LF=1.6  
tương ứng với chu kỳ lặp 10,000 năm)  
Công thức (1) gọi là hàm Fisher-Tippett dạng 1.  
11  
Hệ số vượt tải / độ tin cậy:  
- Theo ASCE 7-05  
Phương pháp ứng suất cho phép: LF =1 tùy theo tầm quan trọng (tuổi  
thọ của công trình), trạng thái cực hạn: LF = 1.6 đối với công trình có  
tuổi thọ 50 năm, LF = 1.6*1.15 = 1.84 đối với công trình 100 năm.  
Mỹ lấy xác xuất xảy ra gió mạnh 1 lần là 10% trong 50 năm => chu kỳ  
lặp 500 năm  
- TCVN 2737:1995: trạng thái giới hạn 1: LF =1.2 (50  
năm), LF = 1.37 (100 năm), khác với Mỹ là xác xuất xảy ra  
gió mạnh là 1 lần trong 50 năm (tuổi thọ công trình), trạng  
thái giới hạn 2: không rõ là 20 năm hay 5 năm như của Nga  
12  
6
Nhận xét: khi tính nhà cao hơn 20 tầng, tuổi thọ phải lấy là  
100 năm, hệ số tầm quan trọng đối với gió là γI = 1.15  
(hay hệ số độ tin cậy là 1.37 = γI *1.2 > 1.2), tương tự  
như hệ số tầm quan trọng đối với động đất là 1.25.  
13  
Nếu sử dụng số liệu của TCVN 2737:1990  
thì như thế nào?  
• TCVN 2737:1990: gió 2 phút, 20 năm,  
ví dụ ở Hà Nội: vùng II, có ảnh hưởng của bão, áp lực gió 2 phút  
là 80 daN/m2, tương đương với áp lực gió 3s là W0 = 80/0.59  
= 135 daN/m2 >> 95 daN/m2  
So sánh với bão cấp 12 (thang Beaufort):  
gió 2 phút (thế giới là 10 phút) thì cấp 12 là từ 119-133 km/h  
(33-37 m/s), tương đương với gió 3s: 43-48 m/s hoặc áp lực  
gió W0 = 113 – 141 daN/m2  
Như vậy số liệu 135 daN/m2 có thể thích hợp nếu xét đến bão.  
Cần phải có nghiên cứu và phân tích cẩn thận hơn về vấn  
đề này!!  
Tại sao 95 daN/m2>80daN/m2 vẫn chấp nhận? Vì công thức  
trong TCVN 2737:1995 và TCVN 2737:1990 cơ bản là như  
nhau không phân biệt 3s hay 2 phút (120s). Và tính như vậy  
an toàn.  
14  
7
• Chính vì vậy phải tìm hiểu phương pháp hệ số giật G (Gust  
Loading Factor = G) của Davenport, biến bài toán động lực  
học tương tác giữa gió và kết cấu, bài toán thống kê => bài  
toán tĩnh học tương đương thông qua hệ số giật G!  
• Hầu hết tiêu chuẩn gió của các nước trên thế giới đều căn cứ  
vào phương pháp hệ số G để xác định tải trọng gió động theo  
phương dọc theo luồng gió và hiệu ứng của nó lên các kết  
cấu cao tầng: Mỹ, Anh, Canada, Australia, Europe, Nhật Bản  
v.v.  
• Phương pháp hệ số G do Davenport giới thiệu lần đầu năm  
1967.  
15  
3. Phương pháp hệ số  
gió giật G của Davenport (1967)  
Khi nghiên cứu xây dựng TC gió ở Việt Nam và tính toán  
gió tác dụng lên nhà cao tầng cần tìm hiểu phương pháp  
này và xem các nước áp dụng như thế nào?  
16  
8
GS Davenport – người Canada, ông đã mất cách đây 2-3 năm, con trai ông  
đã làm việc ở Hà Nội, phòng thí nghiệm wind-tunnel của GS Davenport đã  
thực hiện nhiều thí nghiệm trong ống thổi khí động đối với nhà cao tầng  
17  
18  
9
Khoảng thay đổi  
của vận tốc gió  
> 600 m  
trung bình  
thay đổi  
do giật  
Bản chất của phương pháp hệ số G là từ bày toán động-ngẫu  
nhiên, đưa về bài toán tĩnh tương đương.  
19  
T – observe interval  
Thời gian quan trắc  
(kéo dài của cơn bão)  
Xung hay giật/động  
Or pulse  
Mean hay  
trung bình  
Dưới tác động của luồng gió như vậy thì phản ứng của kết cấu  
ra sao. Đưa ra phương pháp tĩnh tương đương để có thể áp  
dụng trong thực hành thiết kế  
20  
10  
• Theo GS Davenport (Fig 1) thì áp lực gió trung bình  
(tĩnh) tại cao trình Z được tính theo vận tốc gió trung  
bình tại đỉnh nhà – không phải vận tốc gió tại cao trình Z  
1
p
(
Z
)
= ρV 2 Cp  
(
z
)
= 0.0613V12 Cp  
z
( )  
1
2
(Đến bây giờ TC Anh và Canada vẫn tính như vậy, tiêu  
chuẩn Nga SNiP (2011) và Eurocode 1 cũng tương tự )  
Nhưng hệ khí động Cp(z) lấy ở cao trình z  
21  
Gust Loading Factor G  
Để suy ra công thức trên có thể xem Davenport  
(1967) và Simiu and Scanlan (1976)  
22  
11  
Hệ số giật G  
áp lực gió giật động bao gồm cả thành phần mean lên  
kết cấu:  
ˆ
(3)  
(Z)  
P = G × P  
G = constant không thay đổi theo chiều cao (displacement  
response), tính đến phản ứng tổng thể của kết cấu  
G = 1+ g r B + R  
(4)  
trong đó:  
g – hệ số đỉnh (xung hoặc giật)  
r – hệ số kể đến độ nhám  
B – kích động gốc do luồng xoáy (excitation by Background turbulence)  
R – kích động do cộng hưởng của luồng xoáy với kết cấu  
R = s F / β  
(5)  
23  
Các hệ số trong (4) xác định như sau:  
1. g – hệ số đỉnh (Fig 4), là hàm số của tích số giữa tần số dao động riêng  
cơ bản của kết cấu n0, và thời gian trung bình lấy trung bình của tải trọng  
gió T, Davenport kiến nghị T = 5 phút đến 1 h. Nghĩa là đầu vào v – lấy  
trung bình trong khoảng từ 300 đến 3600 s. Càng dài thì kết quả càng tốt.  
24  
12  
2. Hệ số độ nhám r  
25  
3. Kích động gốc – chỉ nguyên do gió, kết cấu xem như cứng  
26  
13  
4. s: hệ số giảm do kích thước  
Giống như hệ số tương quan của  
ta ν << 1, tiến tới 1 khi b và h => 0,  
do áp lực gió phân bố không đều  
trên toàn diện tích.  
Hệ số này không đổi, nếu công  
trình có nhiều khối đón gió có bề  
rộng khác nhau, như theo BS thì  
lấy theo đường chéo của các khối  
này cho từng khu vực đón gió.  
27  
5. F- hệ  
số năng  
lượng  
giật, là  
hàm của  
số sóng  
tại cộng  
hưởng,  
hàm của  
(n0/V)  
6. β – hệ số giảm chấn, cả cơ học và khí động học  
28  
14  
Vì gió là đại lượng ngẫu nhiên nên theo phương pháp thống  
kê thì phản ứng của gió như sau:  
29  
• Sau gần 50 năm, phương pháp hệ số G của Davenport  
đã được phát triển và thay đổi so với trước. Song về tư  
tưởng và bản chất vẫn giống như vậy.  
• Phương pháp hệ số G còn được gọi là phương pháp lực  
tĩnh tương đương của tải trọng gió ESWL (Equivalent  
Static Wind Load) dùng trong các tiêu chuẩn thiết kế.  
30  
15  
4. Phương pháp hệ số G sử dụng trong các  
tiêu chuẩn Mỹ, châu Âu  
Phương pháp hệ số G (Zhou, Kijewski and Kareem 2002):  
Áp lực gió max (đỉnh) xác định như sau:  
T
= Gτ ⋅ Pτ  
(
z
)
(1)  
ˆ
P
(
z
)
trong đó:  
T
ˆ
P
(
z
- peak ESWL tại độ cao z trong suốt thời gian quan trắc T  
)
của một cơn gió tác dụng, thường là 1h (3600 s) hay 10 phút (600s),  
τ - thời gian trung bình sử dụng để xác định vận tốc gió mean,  
P
τ - giá trị trung bình của áp lực gió với thời gian lấy trung bình τ  
31  
Pτ  
(
z
)
= q(z) ⋅Cd ⋅B  
(2)  
trong đó: Cd – hệ số lực kéo (hệ số khí động);  
B – bề rộng của nhà,  
q(z) = 0.5× ρ ×V (z)2 - áp lực gió  
Gτ = GYT /Gqτ  
(
T
)
(3)  
trong đó: GYT = GLF đối với chuyển vị,  
Gqτ  
(
T
)
=
GF đối với áp lực gió  
T
T
T
ˆ
GY = Y (z)/Y (z)  
(4)  
T
ˆ
Y
và Y T = peak and mean wind-induced displacement response  
Gqτ (T) = qτ / qT  
(5)  
Khi τ = T , phương trình (1) trở về mô hình GLF của Davenport (1967)  
32  
16  
Zhou et al. (2002)  
Tiêu chuẩn Nga: τ = T = 600 s, trước kia G thay đổi dọc theo chiều cao nhà  
G = G(z), bây giờ (năm 2001) G = constant như Mỹ và châu Âu  
Tiêu chuẩn Việt Nam: t = T = 3 s (?) vi nếu T =3 s thì đối với nhà cao tầng  
thì phản ứng động học quá ngắn ?  
33  
Theo Stathopoulos from Canada (2007)  
Mean value for 30 s  
τ = T =900s  
Nếu gió giật 3 s thì vận tốc sẽ lớn hơn nhiều và chính là giá trị  
peak – lúc ấy chỉ có công hưởng do dao động của công trình. Vì  
thế, phần sau sẽ trình bày về gió lên kết cấu cao tầng  
34  
17  
5. Gió tác dụng lên kết cấu cao tầng  
(Boggs and Dragovich 2007)  
a)  
Phương trình dao động của n bậc tự do:  
(1)  
Bằng phép phân tích modal trở thành n phương trình độc lập 1 bậc tự do:  
(2)  
Trong đó:  
(3)  
P(t) – hàm của tải trọng gió theo thời gian, t = (0,T), T – thời gian  
quan trắc, của Mỹ là 1h, của Nga là 10 phút. Phản ứng max của kết  
cấu trong thời gian T sẽ sử dụng để tính toán.  
35  
P(t) = q + ρ ⋅V ⋅V '(t)  
Như của Nga: P(t) = tĩnh (trung bình) + xung (động)  
t = (0, T)  
Áp lực trung bình trong thời gian T = 10 phút, phản ứng của kết cấu cũng trong  
khoảng thời gian T = 10 phút.  
Rõ ràng T = 1 h thì mặc dù vận tốc gió trung bình thấp nhưng phản ứng của kết  
36  
cấu vẫn bất lợi hơn  
18  
Theo Boggs and Dragovich (2007) và những tác giả khác thì tần số trội của  
gió giật rất thấp so với tần số dao động riêng bé nhất của kết cấu (xem Fig  
5). Do đó, trước tiên gió giật sẽ kích động dạng dao động thấp nhất (dạng  
dao động đầu tiên).  
Ngoài ra, bước sóng trội của gió giật là lớn so với kích thước các tòa nhà,  
nên sự phân bố áp lực khí động học có thể không tuân theo các dạng dao  
động bậc cao và nếu theo thì
l
Vì những lý do này, thông thường chỉ cần xem xét dạng dao động thấp  
nhất (tất nhiên theo 3 phương (x, y và xoắn z)) với phản ứng động lực học  
của gió – không xét nhiều dạng dao động như của tiêu chuẩn ta và Nga cũ  
(sau này nước Nga cũng theo hướng này).  
Điều này trái ngược với động đất, là năng lượng kích động trội nằm trong  
khỏang tần số của các nhà thấp tầng (chu kỳ thấp) hoặc các dạng dao  
động bậc cao hơn (tần số cao, dạng cao thì chu kỳ dao động riêng tương  
ứng thấp). Vì thế, khác với gió, trong động đất nhiều dạng dao động bậc  
cao có thể cần quan tâm hơn.  
37  
10-100  
> 10  
tầng  
tầng  
Tần số  
trội của  
gió  
Tần số  
trội của  
động  
đât  
Theo nghiên cứu của Mỹ thì nhà cao từ 100 tầng  
trở xuống hầu như không có cộng hưởng bậc cao  
với gió !  
38  
19  
T1 lớn thì ξ1 lớn, T2 = 0.15 T1 suy ra ξ2 <<ξ1  
39  
c
Dạng 1 tải  
tác dụng  
cùng chiều  
ối  
40  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 38 trang yennguyen 22560 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng Phương pháp hệ số gió giật G và tải trọng gió tác dụng lên nhà cao tầng - Nguyễn Đại Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbai_giang_phuong_phap_he_so_gio_giat_g_va_tai_trong_gio_tac.pdf