Ảnh hưởng của những yếu tố gia đình, xã hội, thói quen cá nhân và hành vi giấc ngủ trên người cao tuổi mất ngủ

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012  
Nghiên cứu Y học  
ẢNH HƯỞNG CỦA NHỮNG YẾU TỐ GIA ĐÌNH, XÃ HỘI,  
THÓI QUEN CÁ NHÂN VÀ HÀNH VI GIẤC NGỦ  
TRÊN NGƯỜI CAO TUỔI MẤT NGỦ  
Đỗ Thị Xuân Hương*, Nguyễn Minh Đức**, Nguyễn Văn Trí **, Ngô Tích Linh ***  
TOM TẮT  
Mở đầu: Mất ngủ là một rối loạn thường gặp ở người cao tuổi do rất nhiều nguyên nhân gây ra. Để tìm lại  
giấc ngủ ngon, cả người bệnh và thầy thuốc cần tìm hiểu và điều trị các nguyên nhân trực tiếp gây mất ngủ.  
Trong phạm vi bài này chúng tôi đề cập đến ảnh hưởng của những yếu tố gia đình, xã hội, thói quen cá nhân và  
hành vi giấc ngủ trên người cao tuổi mất ngủ.  
Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu bệnh chứng. Có 306 bệnh nhân (BN) tham gia nghiên cứu phân  
thành 2 nhóm: nhóm mất ngủ (161) và nhóm chứng (145). Các đối tượng tham gia đều được điều tra đầy đủ  
như nhau về các đặc điểm dịch tễ học, các bệnh lý nội khoa, tâm thần, các yếu tố môi trường, các thói quen cá  
nhân và các đặc điểm của giấc ngủ của họ.  
Kết quả: Các yếu tố có liên quan ghi nhận gồm tuổi (p=0,012), nơi cư ngụ (p=0,004), trình độ văn hóa  
(p=0,005), tình trạng kinh tế (p<0,001), thói quen uống trà (OR=2,069), xem tivi (OR=0,009), dùng thuốc gây  
nghiện (OR=1,935).  
Kết luận: Có nhiều yếu tố liên quan đến mất ngủ người cao tuổi trong đó bao gồm tuổi, nơi cư ngụ, trình  
độ văn hóa, tình trạng kinh tế, thói quen uống trà, xem tivi và dùng thuốc gây nghiện.  
Từ khóa: mất ngủ, người cao tuổi.  
ABSTRACT  
THE ASSOCIATION OF FAMILY, SOCIAL FACTORS, INVIDUAL HABITS  
AND SLEEP BEHAVIOURS IN THE INSOMNIA ELDERLY  
Do Thi Xuan Huong, Nguyen Minh Duc, Nguyen Van Tri , Ngo Tich Linh  
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 16 - Supplement of No 1 - 2012: 382 - 386  
Introduction: Insomnia is a common disorder in the elderly due to many causes. To find a good sleep, both  
patients and doctors need to understand and find out treatment for the direct causes of insomnia. Within the scope  
of this article we mention the effect of family, social factors, personal habits and sleep behavior in elderly insomnia.  
Research methodology: case-control study. There are 306 patients in the study divided into two groups:  
insomnia (161) and non-insomnia (145). The participants were equally under full investigation of the  
epidemiological characteristics, other medical conditions, mental, environmental factors, personal habits and  
characteristics of their sleep.  
Results: The factors related records, including age (p = 0.012), residence (p = 0.004), educational level (p =  
0.005), economic status (p <0.001), tea-drinking habit (OR = 2.069), watching television (OR = 0.009), drug  
addiction (OR = 1.935).  
** Bệnh viện Nguyễn Tri Phương. ** Bộ môn Lão khoa, ĐHYD TP Hồ Chí Minh  
*** Bộ Môn Tâm Thần, ĐHYD TP Hồ Chí Minh.  
Tác giả liên lạc: BS Đỗ Thị Xuân Hương  
ĐT :0903883573  
382  
Chuyên Đề Nội Khoa I  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012  
Nghiên cứu Y học  
Conclusion: There are many factors associated with insomnia in the elderly include age, residence,  
education level, economic status, tea-drinking habit, watching television and drug addiction.  
Key words: insomnia, the elderly.  
- Nhóm chứng: Tất cả bệnh nhân cao tuổi (≥  
ĐẶT VẤN ĐỀ  
60 tuổi) có vấn đề về nội khoa, tâm thần ... đến  
Mất ngủ là một rối loạn thường gặp ở người  
BV khám và điều trị nhưng không bị mất ngủ.  
cao tuổi do rất nhiều nguyên nhân gây ra. Để  
Tiêu chuẩn loại trừ  
tìm lại giấc ngủ ngon, cả người bệnh và thầy  
thuốc cần tìm hiểu và điều trị các nguyên nhân  
trực tiếp gây mất ngủ. Điều quan trọng nhất là  
phải tạo được môi trường dễ chịu và phù hợp  
cho giấc ngủ. Trong phạm vi bài này chúng tôi  
đề cập đến ảnh hưởng của những yếu tố gia  
đình, xã hội, thói quen cá nhân và hành vi giấc  
ngủ trên người cao tuổi mất ngủ.  
Bệnh nhân có rối loạn tri giác hoặc hôn mê.  
Bệnh nhân bệnh tâm thần thuộc nhóm loạn  
thần đã được chẩn đoán xác định trước đó và  
đang điều trị.  
Cỡ mẫu  
Được tính theo công thức sau:  
2
Z 1/ 2 2P 1P Z  
1 1   
P 1P P 1P  
1   
1 2   
2   
ĐỐITƯỢNG–PHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU  
1  
n   
2
P P  
2   
Dân số mục tiêu  
1
→ n = 121 người cho mỗi nhóm bệnh và  
chứng. Thực tế chúng tôi thu thập được 161 BN  
nhóm mất ngủ và 145 BN nhóm chứng.  
Tất cả bệnh nhân cao tuổi ≥ 60 tuổi có mất  
ngủ và không mất ngủ đến khám và điều trị  
nội ngoại trú tại Bệnh viện Thống Nhất và  
Bệnh viện Nguyễn Tri Phương từ tháng 5 năm  
2009 đến tháng 5 năm 2010 vì những nguyên  
nhân khác nhau.  
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
Thiết kế nghiên cứu  
Nghiên cứu bệnh-chứng.  
Tiêu chuẩn chọn mẫu  
Phương pháp nghiên cứu  
- Nhóm bệnh: Tất cả bệnh nhân cao tuổi (≥  
60 tuổi) có vấn đề về mất ngủ đồng ý tham gia  
nghiên cứu:  
- Trực tiếp thu thập dữ liệu từ bệnh nhân  
đến khám tại Khoa Khám bệnh, Khoa Lão, các  
Khoa Nội Tổng hợp Bệnh viện Nguyễn Tri  
Phương và Bệnh viện Thống Nhất với các tiêu  
chuẩn chọn bệnh và các tiêu chuẩn loại trừ nêu  
trên.  
Thời gian đi vào giấc ngủ kéo dài trên 30  
phút.  
Trong giấc ngủ, thời gian tỉnh giấc nhiều  
lần, thời gian tổng cộng trên 30 phút.  
- Các BN được chọn vào mẫu nghiên cứu sẽ  
được:  
Thức dậy buổi sáng quá sớm.  
Cảm giác mệt mỏi sau khi thức dậy và ngủ  
ngày quá nhiều.  
* Khám lâm sàng đánh giá tình trạng mất  
ngủ và không mất ngủ.  
Những rối loạn nầy xảy ra ít nhất 3 lần trong  
1 tuần, kéo dài ít nhất 1 tháng, gây ra những khó  
chịu và biến chứng trong ngày.  
* Thực hiện bảng câu hỏi khảo sát về rối  
loạn giấc ngủ (RLGN).  
- Sau đó nhóm BN nầy được tiếp tục tái  
khám và theo dỏi ít nhất 2 lần sau đó để xác  
định tình trạng mất ngủ.  
Khó duy trì tình trạng thức ngủ hay chu kỳ  
thức ngủ hằng định.  
Có các vấn đề khác gây cản trở giấc ngủ.  
Công cụ thu thập số liệu  
* Bảng câu hỏi khảo sát về RLGN.  
383  
Chuyên Đề Nội Khoa I  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012  
Nghiên cứu Y học  
Tài sản riêng  
Phụ thuộc  
Tổng  
43  
70  
26,7  
43,5  
63  
66  
43,4  
45,5  
Phương pháp xử lý số liệu  
Xử lý số liệu bằng phần mềm thống kê SPSS  
13,0 cho Windows.  
161  
100,0  
145  
100,0  
2 = 19,107, p < 0,001  
Bảng 6. Phân bố nghề nghiệp ở hai nhóm  
KẾT QUẢ  
Nhóm NC  
Nhóm chứng  
Đặc điểm dân số học  
Nghề nghiệp  
BN  
Tỷ lệ %  
18,0  
BN  
27  
Tỷ lệ %  
Bảng 1. Phân bố tuổi ở hai nhóm  
Không  
LĐ tự do  
LĐ tay chân  
LĐ trí óc  
Tổng  
29  
28  
18,6  
22,8  
39,3  
19,3  
100,0  
Nhóm NC  
Nhóm chứng  
BN Tỷ lệ %  
17,4  
33  
Tuổi  
BN  
Tỷ lệ %  
28,0  
55  
34,2  
57  
60 – 69  
70 – 79  
80 – 89  
≥ 90  
45  
78  
32  
6
57  
47  
39  
2
39,3  
32,4  
26,9  
1,4  
49  
30,4  
28  
48,4  
161  
100,0  
145  
19,9  
2 = 5,422, p = 0,143  
Bảng 7. Phân bố tình trạng hôn nhân ở hai nhóm  
3,7  
Tổng  
161  
100,0  
145  
100,0  
Nhỏ nhất  
Lớn nhất  
Trung bình  
60  
95  
60  
90  
Nhóm NC Nhóm chứng  
Chung  
Hôn nhân  
BN Tỷ lệ % BN Tỷ lệ % BN Tỷ lệ %  
74,43 7,77  
72,95 8,13  
Độc thân  
7
1
4,3  
0,6  
4
0
2,8  
11  
1
3,6  
0,3  
Li dị, li thân  
(2 = 10,98, p = 0,012)  
Bảng 2. Phân bố giới tính ở hai nhóm  
Có gia đình 153 95,5  
Tổng  
141  
97,2  
294  
96,1  
161 100,0 145 100,0 306 100,0  
Nhóm NC  
Nhóm chứng  
Giới  
2 = 1,475, p = 0,478  
BN  
Tỷ lệ %  
42,9  
BN  
56  
Tỷ lệ %  
38,6  
Bảng 8. Phân bố cách sinh sống hiện tại ở hai nhóm  
Nam  
Nữ  
69  
92  
57,1  
89  
61,4  
Nhóm NC  
Nhóm chứng  
Sống hiện tại  
Tổng  
161  
100,0  
145  
100,0  
BN  
Tỷ lệ %  
88,2  
6,8  
BN  
136  
6
Tỷ lệ %  
Với con cháu  
Với vợ chồng  
Một mình  
142  
11  
8
93,8  
4,1  
2 = 0,567, p = 0,452  
Bảng 3. Phân bố nơi cư ngụ ở hai nhóm  
5,0  
2
1,4  
Nhóm NC  
Nhóm chứng  
0
1
0,7  
Viện dưỡng lão  
Tổng  
Nơi cư ngụ  
BN  
Tỷ lệ %  
56,5  
BN  
107  
25  
Tỷ lệ %  
73,8  
161  
100,0  
145  
100,0  
Nội thành  
Ngoại thành  
Nông thôn  
Tổng  
91  
38  
2 = 5,578, p = 0,146  
23,6  
17,2  
32  
19,9  
13  
9,0  
Đặc điểm về các thói quen và môi trường  
chung quanh ảnh hưởng đến giấc ngủ  
Bảng 9. Thói quen khi đi ngủ và môi trường  
161  
100,0  
145  
100,0  
2 = 11,192, p = 0,004  
Bảng 4. Phân bố trình đ ộ vă n hóa ở hai nhóm  
Nhóm  
Chứng  
OR  
Thói quen  
p
Nhóm NC  
Nhóm chứng  
BN Tỷ lệ %  
Trình độ  
văn hóa  
(95%KTC)  
1,717  
NC  
BN  
Tỷ lệ %  
48,4  
Không tắt  
đèn  
13(8,1) 19 (13,1) 0,151  
Không - cấp 1  
Cấp 2  
78  
21  
26  
94  
22  
12  
64,8  
15,2  
8,3  
(0,815-3,614)  
1,160  
13,0  
Đọc sách 19 (11,8) 15 (10,3) 0,686  
Cấp 3  
16,1  
(0,566-2,377)  
0,523  
Đ ại học-Cao đẳng-  
36  
22,4  
17  
11,7  
Xem TV  
39 (24,2) 55 (37,9) 0,009  
Sau đại học  
(0,320-0,856)  
1,085  
Tổng  
161  
100,0  
145  
100,0  
Môi trường  
ngủ không 12 (7,5) 10 (6,9) 0,851  
thích hợp  
(0,455-2,598)  
2 = 12,679, p = 0,005  
Bảng 5. Phân bố kinh tế hiện tại ở hai nhóm  
Bảng 10. Thói quen cá nhân  
Nhóm NC  
Nhóm chứng  
Kinh tế hiện  
tại  
Nhóm  
P
OR  
Thói quen cá  
nhân  
BN  
48  
Tỷ lệ %  
BN  
Tỷ lệ %  
NC(%) Chứng(%)  
(95%KTC)  
29,8  
16  
11,0  
Có lương  
384  
Chuyên Đề Nội Khoa I  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012  
Nghiên cứu Y học  
Nhóm  
P
OR  
Thói quen cá  
nhân  
thành và nông thôn bị mất ngủ cao hơn. Sự khác  
biệt giữa hai nhóm có ý nghĩa thống kê p=0,004.  
NC của Yu - Tao Xiang(10) ở Trung Quốc thì  
không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê  
về mất ngủ ở hai nhóm nông thôn và thành thị.  
NC(%) Chứng(%)  
(95%KTC)  
1,727  
Hút thuốc 38 (23,6) 22 (15,2) 0,064  
Uống café 51 (31,7) 40 (27,6) 0,434  
Uống trà 75 (46,6) 43 (43,7) 0,002  
(0,966-3,090)  
1,217  
(0,743-1,992)  
2,069  
- Nghề nghiệp  
(1,290-3,317)  
1,942  
Trong NC chúng tôi, nhóm có nghề nghiệp  
lao động tay chân bị mất ngủ chiếm tỉ lệ cao  
nhất 34,2% xấp xỉ với nhóm bệnh nhân có nghề  
nghiệp lao động trí óc 30,4%, còn nhóm bệnh  
nhân không nghề nghiệp và lao động tự do thì tỉ  
lệ mất ngủ thấp hơn (18% và 17,4%). Sự phân bố  
nghề nghiệp giữa hai nhóm nghiên cứu không  
có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê p = 0,143.  
Ngược lại, NC ở Pháp của Léger D & cs(2) thì tỉ lệ  
mất ngủ ở nhóm thất nghiệp cao gấp đôi nhóm  
có nghề nghiệp. Trong nghiên cứu của Kim K(1)  
cũng cho kết luận tương tự nghiên cứu của  
Léger D.  
Uống rượu 24 (14,9) 12 (8,3)  
bia  
0,072  
0,019  
(0,933-4,041)  
Dùng thuốc 6 (3,7)  
gây nghiện,  
thuốc kích  
0
1,935  
(1,735-2,159)  
thích  
Không chơi 92 (57,1) 83(57,2)  
thể thao  
0,986  
1,004  
(0,638-1,580)  
BÀN LUẬN  
Đặc điểm dịch tễ học  
- Tuổi  
Trong nghiên cứu (NC) của chúng tôi, tỉ lệ  
mất ngủ tăng dần từ 60-69 tuổi (28%) tăng cao  
nhất là từ 70-79 (48,4%) sau đó giảm dần đến  
trên 90 tuổi (3,7%) với p=0,012. NC ở Ai Cập của  
Mohamed M & cs(7) thì tuổi trung bình mất ngủ  
là 75, tương đương với nghiên cứu của chúng  
tôi. NC ở Hàn Quốc của Cho YW & cs (9) là 60-  
69 tuổi, thấp hơn nghiên cứu của chúng tôi một  
thập niên.  
- Trình độ văn hóa  
So sánh giữa hai nhóm thì BN có trình độ  
cấp 3 và cao đẳng, đại học, sau đại học bị mất  
ngủ nhiều hơn so với nhóm chứng, sự khác biệt  
này có ý nghĩa thống kê p=0,005. NCcủa Su TP(8)  
là có nguy cơ cao mất ngủ ở nhóm bệnh nhân có  
trình độ học vấn thấp (OR=1,8). NC của Yu - Tao  
Xiang & cs(10) ở Trung Quốc, trình độ học vấn  
thấp (mù chữ và cấp tiểu học) liên quan đáng kể  
với chứng mất ngủ (OR=2,3 & 1,9).  
- Giới tính  
Trong mẫu nghiên cứu 161 bệnh nhân mất  
ngủ, nữ chiếm tỉ lệ cao hơn nam (57,1% so với  
42,9%) với p=0,452. Tương tự, NC ở Ý của  
Maggi S & cs(5) mất ngủ ở nữ là 54% cao hơn ở  
nam 36% và giới nữ được xem là một yếu tố  
nguy cơ đối với mất ngủ (OR= 1,69). Nghiên  
cứu của Li RH(3) ở Trung Quốc, nữ giới có  
nguy cơ mất ngủ cao hơn nam giới 1,6 lần.  
NC của Mohamed M ở Ai Cập nữ cao gấp 4  
lần ở nam giới.  
- Tình trạng hôn nhân  
Trong NC của chúng tôi, đa số bệnh nhân là  
có gia đình chiếm tỉ lệ 95,5% ở nhóm mất ngủ,  
97,2% ở nhóm chứng, tỷ lệ độc thân cũng như li  
dị li thân chiếm rất ít và sự khác biệt giữa hai  
nhóm không có ý nghĩa thống kê giữa 2 nhóm p  
= 0,78. Điều này khác với Marci M(6) là tình trạng  
độc thân, ly thân, sống cô độc dễ bị mất ngủ hơn  
những người có gia đình đầy đủ. NC ở Đài  
Loan của Su TP & cs(8) những người không lập  
gia đình bị mất ngủ nhiều hơn những người có  
lập gia đình (OR=2,3). NC ở Trung Quốc của Liu  
X, Liu L (4) cũng có sự tương quan giữa tình  
trạng không lập gia đình với mất ngủ (OR=1,7).  
NC của Yu – Tao Xiang & cs(10) ở Trung Quốc,  
- Nơi cư ngụ  
Trong nghiên cứu của chúng tôi, trong  
nhóm mất ngủ tỷ lệ bệnh nhân sống ở nội thành  
bị mất ngủ cao nhất 56,5% so với ở ngoại thành  
23,6% và thấp nhất là ở nông thôn 19,9% nhưng  
so với nhóm chứng thì tỷ lệ bệnh nhân ở ngoại  
385  
Chuyên Đề Nội Khoa I  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012  
Nghiên cứu Y học  
kết quả là có sự liên quan giữa tình trạng li dị, li  
thân và góa bụa với mất ngủ (OR=2,6), trong khi  
có sự liên quan không đáng kể của tình trạng  
hôn nhân (độc thân hay có lập gia đình) với mất  
ngủ OR=1 (độc thân) và OR=1,5 (có lập gia  
đình).  
café và luyện tập thân thể sự khác biệt không có  
ý nghĩa thống kê.  
KẾT LUẬN  
Các yếu tố ghi nhận có liên quan đến mất  
ngủ là tuổi tác, nơi cư ngụ, trình độ văn hóa và  
tình trạng kinh tế xã hội.  
- Cách sinh sống hiện tại  
Xem tivi là yếu tố có liên quan đến mất ngủ.  
Đa số bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu  
sinh sống với con cháu chiếm tỉ lệ 88,2%, số ít  
còn lại 11,8% sống riêng với vợ hoặc chồng  
không có con cái và sống độc thân, sự khác biệt  
giữa hai nhóm nghiên cứu không có ý nghĩa  
thống kê p = 0,146.  
Uống trà và nghiện thuốc ngủ là 2 yếu tố  
nguy cơ có ảnh hưởng đến mất ngủ ở người cao  
tuổi.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1.  
Kim K, Uchiyama M, Liu X, et al (2001), “Somatic and  
psychological complaints and their correlates with insomnia in  
the Japanese general population”, Psychosom Med., 63(3): 441-6.  
Leger D, Massuel MA, et al (2006), “Professional correlates of  
insomnia”, Sleep, 29(2): 171-8.  
- Tình trạng kinh tế  
2.  
3.  
NC chúng tôi, nhóm sống bằng lương hưu  
bị mất ngủ nhiều hơn (30%) so với nhóm chứng  
(11%), còn nhóm bệnh nhân có tài sản riêng và  
sống phụ thuộc thì ít bị mất ngủ hơn so với  
nhóm chứng. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống  
kê p<0,001. NC của Yong Won Cho & cs(9) sự  
phổ biến của chứng mất ngủ có tương quan  
nghịch với tình trạng kinh tế, những người thu  
nhập<1.500.000 won Korean bị mất ngủ nhiều  
nhất 33,3% (p<0,001, OR=0,663), những người  
thu nhập 3.000.001- 4.500.000 won Korean 19.3%  
(p=0,057, OR=0,777) và những người thu nhập  
>4.500.000 won Korean 20,2% (p<0,001,  
OR=0,689).  
Li RH, Wing YK, et al (2002), “Gender differences I n insomnia-  
a study in the Hong Kong Chinese population”, Department of  
Psychiatry, Prince of Wales Hospital. The Chinese University of  
Hong Kong, Shatin, Hong Kong, China, J Psychosom Res, 53(1):  
601-9.  
4.  
5.  
Liu X, Liu L. (2005), “Sleep habits and insomnia in a sample of  
elderly persons in China”, Department of Psychiatry, University  
of Pittsburgh School of Medicine, Pittsburgh, PA 15213, USA,  
xcliu@pitt.edu, Sleep 28(12): 1579-87.  
Maggi S, Langlois JA, et al (1998), “Sleep complaints in  
community-dwelling older persons: prevalence, associated  
factors, and reported causes”, Project on Aging, National  
Research Council, Florence, Italy, J Am Geriatr Soc., 46(2): 161-8.  
Loiselle, et al (2009), “Sleep disturbances in aging, Advances in  
MM cell aging andgerontology”, Sleep and Aging, Vol. 17, 33-60.  
Makhlouf MM, et al (2007), “Insomnia symptoms and their  
correlates among the elderly in geriatric homes in Alexandria,  
6.  
7.  
Egypt”,  
Journal  
Sleep  
and  
Breathing,  
Springer  
Đặc điểm về các thói quen và môi trường  
chung quanh ảnh hưởng đến giấc ngủ  
Berlin/Heidelberg, Volum 11, No. 3, 187-194.  
8.  
9.  
Su TP, Huang SR, Chou P (2004), “Prevalence and risk factors of  
insomnia in community-dwelling Chinese elderly: a Taiwanese  
urban area survey”, Aust N Z J Psychiatry, 38(9): 706-13.  
Cho YW, Shin WC, et al (2009), “Epidemiology of insomnia in  
Korean adults: prevalence and associated factors”, Copyright ©  
Korean Neurological Association, Original article, J Clin Neurol;  
5: 20 – 23.  
Trong NC của chúng tôi, tình trạng mất ngủ  
xảy ra thường xuyên, một số theo chu kỳ, theo  
thời tiết, theo tình trạng tinh thần và trong các  
thói quen cá nhân thì chỉ có thói quen xem tivi là  
ảnh hưởng đến mất ngủ (p=0,009, OR=0,523).  
Các thói quen cá nhân có ảnh hưởng là uống trà  
(p=0,002, OR=2,069) và dùng thuốc gây nghiện ở  
đây là dùng thuốc ngủ (p=0,019, OR=1,935). Các  
thói quen khác như hút thuốc lá, uống rượu,  
10. Yu-Tao Xiang, Xin Ma, et al (2008), “The prevalence of insomnia,  
its sociodemographic and clinical correlates, and treatment in  
rural and urban regions of Beijing, China: A general population-  
basedsurvey”, Sleep, Vol. 31, No. 12: 1655-1662.  
386  
Chuyên Đề Nội Khoa I  
pdf 5 trang yennguyen 14300 Free
Bạn đang xem tài liệu "Ảnh hưởng của những yếu tố gia đình, xã hội, thói quen cá nhân và hành vi giấc ngủ trên người cao tuổi mất ngủ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfanh_huong_cua_nhung_yeu_to_gia_dinh_xa_hoi_thoi_quen_ca_nhan.pdf