Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển nông nghiệp gắn với phát triển bền vững
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 22 * 2019
1
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP GẮN VỚI PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
Phạm Văn Ngọc*
Trường Cao đẳng Công thương miền Trung
Tóm tắt
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển nông nghiệp là sự vận dụng sáng tạo lý luận
kinh tế của chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Mặc dù, không có
một tác phẩm riêng biệt nào tập trung về vấn đề này, nhưng thông qua những bài viết, bài
phát biểu của Người đã thể hiện nhiều luận điểm sâu sắc về phát triển nông nghiệp gắn với
phát triển bền vững, là cơ sở lý luận cho đường lối phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng
và Nhà nước ta.
Từ khóa: Hồ Chí Minh, nông nghiệp, phát triển bền vững
Abstract
Application of Ho Chi Minh Thought on associating agricultural development
with sustainable development
Ho Chi Minh Thought on agricultural development is the creative application of
economic theory of Marxism-Leninism to our country's specific conditions. Although there
has been no separate work focusing on this issue, through his articles and speeches it has
expressed many profound theoretical points on agricultural development associated with
sustainable development, which is rational theory for the economic and agricultural
development of our Party and State.
Keywords: Ho Chi Minh, agriculture, sustainable development
1. Đặt vấn đề
Phát triển nông nghiệp theo Hồ Chí
Minh không chỉ là đóng góp vào tăng
trưởng kinh tế của đất nước mà còn phải
giải quyết được vấn đề lương thực, nâng
cao đời sống vật chất, góp phần quan trọng
vào việc bảo vệ môi trường tự nhiên. Đối
với nước ta, là một nước nông nghiệp, vai
trò của nông nghiệp không chỉ góp phần
vào sự phát triển kinh tế đơn thuần của đất
nước, mà còn đóng vai trò quan trọng trong
việc bảo vệ môi trường và ổn định chính trị
- xã hội.
2.1. Những tư tưởng cơ bản của Hồ Chí
Minh về phát triển nông nghiệp gắn với
phát triển bền vững
Một là, cung cấp lương thực, thực
phẩm - nhu cầu thiết yếu của nhân dân
Sản xuất nông nghiệp - trước hết là
sản xuất lương thực là nhân tố có tầm quan
trọng đặc biệt trong việc bảo đảm an sinh
xã hội, an ninh lương thực quốc gia trong
mọi tình huống. Hồ Chí Minh khẳng định:
“Phát triển nông nghiệp là bước đầu giải
quyết được vấn đề lương thực, cung cấp
nguyên liệu, vật liệu để khôi phục tiểu thủ
công nghiệp, cung cấp lâm thổ sản để mở
rộng quan hệ buôn bán với các nước khác
2. Nội dung
________________________
2
TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHÚ YÊN
trên thế giới” [2, tr.11]. Để bảo đảm về
nguồn cung cấp lương thực cho người dân,
hạn chế và đẩy lùi tình trạng thiếu lương
thực và tình trạng phụ thuộc vào nguồn
lương thực nhập khẩu, Hồ Chí Minh yêu
cầu phải tận dụng mọi diện tích đất để phát
triển nông nghiệp với khẩu hiệu “Tấc đất là
tấc vàng”. Trong thư gửi nông gia Việt
Nam, ngày 3/9/1945, Người viết: “Loài
người ai cũng “dĩ thực vi tiên” (nghĩa là
trước cần phải ăn); nước ta thì “dĩ nông vi
bản” (nghĩa là nghề nông làm gốc). Dân
muốn ăn no thì phải giồng giọt cho nhiều.
Nước muốn giàu mạnh thì phải phát triển
nông nghiệp. Vậy chúng ta không nên bỏ
hoang một tấc đất nào hết. Chúng ta phải
quý mỗi tấc đất như một tấc vàng” [1,
tr.134).
mặc, chỗ ở, ổn định và cải thiện được đời
sống cho nhân dân nông thôn, mà còn vì
phát triển nông nghiệp toàn diện là giải
pháp quan trọng để phát triển nông nghiệp
mạnh mẽ, bền vững và có đóng góp to lớn
cho việc tăng trưởng lâu dài của nền kinh
tế. Việc phát triển nông nghiệp toàn diện ở
nông thôn sẽ làm tăng thêm thu nhập, nâng
cao đời sống nông dân
Với tư duy biện chứng, Hồ Chí Minh
coi sự phát triển nông nghiệp có mối quan
hệ hữu cơ với các ngành kinh tế khác, đặc
biệt là công nghiệp nhằm nâng cao đời
sống nhân dân. Trong bài Nhà máy giúp đỡ
nông thôn đăng trên báo Nhân dân, số
2312, ngày 18-7-1960, Người viết: “Việt
Nam là một nước nông nghiệp. Muốn phát
triển kinh tế, nhất định phải lấy nông
nghiệp làm nền tảng. Nông nghiệp phát
triển tốt mới có thể cung cấp đầy đủ nguyên
liệu và mở rộng thị trường tiêu thụ cho
công nghiệp và nâng cao đời sống của nhân
dân” [5, tr.631].
Mục đích cuối cùng của phát triển
nông nghiệp là nâng cao đời sống vật chất
và tinh thần của người dân, đặc biệt là
người dân nông thôn. Trong nhiều bài nói
chuyện với cán bộ và xã viên hợp tác xã
nông nghiệp ở các địa phương, Người luôn
nhấn mạnh mục đích của việc phát triển
nông nghiệp ở nông thôn: “Là để cải thiện
đời sống nông dân, làm cho nông dân được
no ấm, mạnh khỏe, được học tập, làm cho
dân giàu, nước mạnh” [5, tr.8].
Hai là, nông nghiệp phát triển giúp
giảm đói nghèo và nâng cao đời sống
người dân nông thôn.
Đối với nước ta, phần đông dân số
sinh sống ở nông thôn, lao động ở nông
thôn cũng chiếm đa số trong lực lượng lao
động của cả nước. Vì vậy, phát triển nông
nghiệp, trước hết là nâng cao đời sống vật
chất và tinh thần của người dân nông thôn.
Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Nước ta là một nước
nông nghiệp. Đại đa số nhân dân là nông
dân. Để xây dựng nước nhà, một phần lớn
cũng do nông dân đóng góp. Sự đóng góp
của nông dân trở lại phát triển lợi ích của
nông dân” [3,tr.516]. Với việc phát triển
nông nghiệp ở nước ta sẽ là công cụ hiệu
quả trong công tác giảm đói nghèo. Tăng
trưởng nông nghiệp có ảnh hưởng tích cực
và mạnh mẽ tới công tác giảm đói nghèo ở
nông thôn.
Ba là, nông nghiệp là ngành có tầm
quan trọng góp phần bảo vệ môi trường tự
nhiên
Trong nông nghiệp, phải giải quyết
tốt mối quan hệ giữa phát triển nông nghiệp
gắn với bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, sinh
thái, môi trường. Chủ tịch Hồ Chí Minh rất
coi trọng vai trò của nông nghiệp với bảo
vệ môi trường. Người luôn xác định bảo vệ
Trong sản xuất nông nghiệp, Người
coi trọng việc phát triển nông nghiệp toàn
diện bao gồm cả: lâm nghiệp, ngư nghiệp,
vì phát triển nông nghiệp toàn diện không
những đáp ứng được nhu cầu cái ăn, cái
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 22 * 2019
3
môi trường chính là bảo vệ sức khỏe, bảo
vệ cuộc sống bền vững của con người.
Người kêu gọi: “Người người trồng cây,
nhà nhà trồng cây” để bảo vệ môi trường
sinh thái cho chính cuộc sống của con
người. Ngày 09-5-1961, nói chuyện với
nhân dân đảo Cô Tô (Hải Ninh), nay thuộc
tỉnh Quảng Ninh, Người nhấn mạnh: “Cần
trồng nhiều cây ăn quả, cây lấy gỗ, cây
ngăn gió. Trồng cây sẽ đưa lại cho nhân
dân một nguồn lợi to, lại làm cho xứ sở ta
thêm tươi đẹp” [6, tr.129].
niệm. Lâu ngày, cây nhiều thành rừng sẽ tốt
cho phong cảnh và nông nghiệp” [8,
tr.615]. Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến
phát triển nông nghiệp trong sự phát triển
bền vững của đất nước. Những lời căn dặn
của Người luôn luôn là bài học quý báu đối
với chúng ta.
Từ những quan niệm trên của Chủ
tịch Hồ Chí Minh, có thể khẳng định: phát
triển nông nghiệp nước ta có tầm quan
trọng đặc biệt đối với sự phát triển bền
vững của đất nước.
Hồ Chí Minh nhấn mạnh vai trò của
2.2. Sự vận dụng tư tưởng về phát triển
nông nghiệp gắn với phát triển bền vững
thể hiện trong đường lối của Đảng Cộng
sản Việt Nam
Dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí
Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác
định phát triển nông nghiệp gắn với phát
triển bền vững và không ngừng hoàn thiện
đường lối phát triển nông nghiệp phù hợp
với hoàn cảnh cụ thể của đất nước trong
từng thời kỳ.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
của Đảng (tháng 12-1986) đánh dấu bước
ngoặt trong tư duy của Đảng về đổi mới sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta
nói chung, đổi mới phát triển nông nghiệp
nói riêng. Đại hội đã đề ra những quan
điểm và chính sách đổi mới, trước hết là
đổi mới kinh tế, nhấn mạnh vai trò hàng
đầu của sản xuất nông nghiệp trong việc
đáp ứng những yêu cầu cấp bách về lương
thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng
xuất khẩu.
Đại hội xác định, trong nông nghiệp,
phải tập trung cho sản xuất lương thực,
thực phẩm là trọng tâm số một. Bảo đảm
cho nông nghiệp, kể cả lâm nghiệp, ngư
nghiệp thật sự là mặt trận hàng đầu. Trong
phát triển nông nghiệp gắn với phát triển
bền vững, Đại hội đã đưa ra nhiều giải pháp
như: Áp dụng rộng rãi các thành tựu sinh
ngành lâm nghiệp trong việc bảo vệ môi
trường sinh thái. Người luôn nhắc nhở bà
con các dân tộc miền núi trồng rừng và bảo
vệ rừng, bởi vì cây và rừng là nguồn lợi lớn
và nhắc lại câu tục ngữ "Rừng vàng biển
bạc”. Trong bài nói chuyện tại Hội nghị
tuyên giáo miền núi ngày 31-8-1963,
Người căn dặn: “Rừng là vàng, nếu mình
biết bảo vệ, xây dựng thì rừng rất quý” [7,
tr.158]. Người còn chỉ rõ nguy cơ tác hại
nhiều mặt của nạn phá rừng. Phá rừng sẽ
dẫn đến lụt lội, trôi đất, mất nước, ảnh
hưởng xấu đến môi trường sinh thái và đời
sống của con người. Phá rừng thì dễ, nhưng
gây lại rừng thì khó phải mất nhiều công
của và thời gian. Đi liền với việc trồng
rừng, bảo vệ rừng là việc khai thác nguồn
lợi từ rừng. Việc khai thác lâm thổ sản từ
rừng là hết sức cần thiết vì lợi ích kinh tế to
lớn của nó. Nhưng việc khai thác không
hợp lý sẽ để lại hậu quả nặng nề đến môi
trường và đời sống, vì vậy việc khai thác
rừng phải có kế hoạch hết sức chu đáo, phải
chấm dứt tình trạng khai thác rừng bừa bãi.
Trong Di chúc để lại cho toàn Đảng,
toàn quân và toàn dân ta, Người cũng
không quên nhắc nhở nhân dân ta phải tiếp
tục công việc trồng cây gây rừng: “Nên có
kế hoạch trồng cây trên và chung quanh
đồi. Ai đến thì trồng một vài cây làm kỷ
4
TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHÚ YÊN
học và các thành tựu khoa học, kỹ thuật
khác làm tăng thêm màu mỡ cho đất canh
tác; đẩy nhanh nhịp độ phủ xanh đất trống,
đồi núi trọc theo phương thức nông - lâm
kết hợp; ngăn chặn nạn phá rừng, cháy
rừng; phát triển rộng khắp phong trào trồng
cây... Tiến hành định canh, định cư, giao
đất, giao rừng cho các đơn vị và nhân dân
sử dụng lâu dài để làm chủ đất rừng cũng
như làm chủ đất ruộng.
dùng đất canh tác vào các mục đích phi
nông nghiệp; chống xói mòn và thoái hoá
đất. Lập quy hoạch khai thác và sử dụng tài
nguyên nước; giải quyết nguồn nước cho
công nghiệp và sinh hoạt ở thành thị và một
số vùng nông thôn; thường xuyên kiểm tra
các hệ thống xử lý nước thải, khai thác hợp
lý các nguồn tài nguyên biển, ngăn chặn
nguy cơ làm cạn kiệt nguồn hải sản.
Tiếp tục đường lối phát triển nông
Nghị quyết 10-NQ/TW (Khóa VI)
năm 1988 của Bộ Chính trị về đổi mới quản
lý kinh tế nông nghiệp. Nghị quyết đã chỉ
ra rằng, nông nghiệp nước ta những năm
qua tuy đã có tiến bộ nhưng phát triển
chậm, tỷ suất hàng hóa thấp, nhiều vùng
vẫn chưa thoát khỏi tình trạng tự cấp tự túc,
chia cắt và độc canh. Rừng tiếp tục bị phá
hoại nghiêm trọng, môi trường sinh thái
chưa được bảo vệ tốt.
Trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng
phát triển nông nghiệp, nông thôn Bộ
Chính trị đã chủ trương: Sắp xếp và tổ chức
lại sản xuất nông nghiệp. Chú trọng bảo vệ,
khai thác hợp lý rừng hiện có, nghiêm cấm
tệ phá rừng và khai thác rừng bừa bãi. Nhà
nước sớm có những biện pháp nghiêm ngặt
về vấn đề này. Đẩy mạnh việc trồng mới,
khoanh nuôi, tái sinh rừng và phong trào
trồng cây nhân dân, nhanh chóng phủ xanh
đất trống, đồi trọc.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
của Đảng (tháng 6-1991) tiếp tục coi nông
nghiệp là mặt trận hàng đầu, phát
triển nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công
nghiệp chế biến, phát triển toàn diện kinh tế
nông thôn và xây dựng nông thôn mới. Đặt
trọng tâm vào chương trình lương thực -
thực phẩm nhằm bảo đảm vững chắc nhu
cầu trong nước và có khối lượng xuất khẩu
lớn.
nghiệp trong phát triển bền vững, Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng
(tháng 6-1996) khẳng định: Phát triển nông
nghiệp hướng vào bảo đảm an toàn lương
thực quốc gia trong mọi tình huống.
Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và kinh tế
nông thôn có hiệu quả. Đối với đất nông
nghiệp, ban hành quy định cụ thể cho phép
chuyển mục đích sử dụng đất, trên nguyên
tắc tuân theo quy hoạch và bảo đảm an toàn
lương thực. Kiểm soát việc tích tụ ruộng
đất canh tác, vừa khuyến khích sản xuất
hàng hoá vừa ngăn chặn người làm nông
nghiệp không có đất sản xuất. Khuyến
khích các thành phần kinh tế khai hoang,
phục hoá, mở rộng diện tích đất nông
nghiệp.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
của Đảng (tháng 4-2001) chủ trương đẩy
nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp và nông thôn. Giữ gìn môi trường
biển và sông, nước, bảo đảm cho sự tái tạo
và phát triển nguồn lợi thuỷ sản. Bảo vệ và
phát triển tài nguyên rừng. Kết hợp lâm
nghiệp với nông nghiệp và có chính sách
hỗ trợ để định canh, định cư, ổn định và cải
thiện đời sống nhân dân miền núi. Ngăn
chặn nạn đốt, phá rừng. Tích cực khai
hoang mở rộng diện tích canh tác ở những
nơi còn đất hoang hoá chưa được sử dụng,
phân bố lại lao động dân cư; giảm nhẹ tác
động của thiên tai đối với sản xuất.
Trong phát triển nông nghiệp, phải sử
dụng hợp lý tài nguyên đất, hạn chế việc
Để phát triển nông nghiệp trong sự
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 22 * 2019
5
phát triển bền vững, Đại hội X (tháng 4-
2006) và Nghị quyết Trung ương 7 (khóa
X) chủ trương đẩy mạnh hơn nữa công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và
nông thôn, giải quyết đồng bộ các vấn đề
nông nghiệp, nông thôn và nông dân. Gắn
phát triển kinh tế với xây dựng nông thôn
mới, giải quyết tốt hơn mối quan hệ giữa
nông thôn và thành thị, giữa các vùng miền,
góp phần giữ vững ổn định chính trị xã hội.
Quy hoạch diện tích sản xuất lương thực ổn
định; phát triển mạnh chăn nuôi theo hướng
quy mô lớn, an toàn dịch bệnh và bền vững
về môi trường; quan tâm hơn nữa đến chính
sách xã hội, tạo điều kiện cho nông nghiệp,
nông thôn phát triển bền vững.
trước mắt và lâu dài; nâng cao thu nhập và
đời sống của nông dân, cải thiện chất lượng
cuộc sống của dân cư nông thôn; thực hiện
có hiệu quả, bền vững công cuộc xoá đói,
giảm nghèo, khuyến khích làm giàu hợp
pháp.
Đường lối của Đảng nêu trên, đã
khẳng định Đảng ta luôn trung thành với Di
huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chính nhờ
sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn của
Đảng và Nhà nước về phát triển nông
nghiệp trong phát triển bền vững, mà
những năm qua sản xuất nông nghiệp nước
ta có những bước phát triển đáng kể, đóng
góp to lớn vào sự phát triển bền vững của
đất nước.
Kế thừa tư duy của Đại hội X, Đại
2.3. Những thành tựu trong việc triển
khai thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về
phát triển nông nghiệp gắn với phát
triển bền vững ở Việt Nam
hội XI (tháng 1-2011) tiếp tục tập trung chỉ
đạo phát triển nông nghiệp toàn diện theo
hướng hiện đại, hiểu quả, bền vững.
Quán triệt tư tưởng của Hồ Chí Minh
2.3.1. Đáp ứng được cơ bản nhu cầu về
lương thực, thực phẩm
về phát triển nông nghiệp trong phát triển
bền vững. Đại hội XII (tháng 1-2016)
khẳng định: phát triển nông nghiệp và kinh
tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn
mới. Chú trọng công nghiệp hóa, hiện đại
hóa nông nghiệp, nông thôn, phát triển
nhanh, bền vững. Đẩy nhanh cơ cấu lại
ngành nông nghiệp, xây dựng nền nông
nghiệp sinh thái phát triển toàn diện cả về
nông, lâm, ngư nghiệp theo hướng hiện đại,
bền vững, trên cơ sở phát huy lợi thế so
sánh và tổ chức lại sản xuất, thúc đẩy ứng
dụng sâu rộng khoa học - công nghệ, nhất
là công nghệ sinh học, công nghệ thông tin
vào sản xuất, quản lý nông nghiệp và đẩy
nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp, nông thôn để tăng năng suất, chất
lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh, bảo đảm
vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả
Nhận thức sâu sắc quan điểm của
Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Nếu nước độc lập
mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì
độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” [1,
tr.64]. Đảng, Nhà nước ta luôn chăm lo cho
mọi người dân đều có việc làm, có cơm ăn,
áo mặc, học hành và được chăm sóc về thể
chất, tinh thần. Với những chủ trương, giải
pháp đúng đắn trong nông nghiệp, đến nay
nước ta đã giải quyết được cơ bản vấn đề
lương thực, nâng cao đời sống vật chất và
tinh thần của nhân dân.
Trong thời gian qua, tốc độ sản xuất
lương thực, thực phẩm ở nước ta có sự tăng
trưởng khá cao và tương đối ổn định. Bình
quân lương thực, thực phẩm một nhân khẩu
có xu hướng tăng đáng kể.
6
TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHÚ YÊN
Bảng 1: Sản lượng lương thực có hạt bình quân đầu người
Đơn vị tính: Kg
2006
2007
2008
2009
2010
2011
2012
2013
2014
2015
2016
2017
Cả nước
Đồng
bằng sông 369,9 357,6
Hồng
476,6 477,9
508,8
503,6
513,4
537,7
548,7
548,5
553,1
549,5
522,3
330,4
511,4
370,7
404,5
362,2
412,6
365,5
413,9
370,1
434,1
359,9
448,7
344,8
447,7
346,5
448,4
342,8
443,4
305,2
430,7
Trung du
và miền
núi phía
Bắc
363,3 390,2
445,3
393,1
Bắc Trung
Bộ và
Duyên hải 362,9 351,5
370,2
372,3
369,8
387,0
393,7
386,5
404,5
395,7
397,0
miền
Trung
Tây
389,8 388,7
Nguyên
400,1
128,9
412,7
126,8
427,0
119,3
431,5
120,2
442,8
121,6
450,7
117,0
465,4
115,7
446,8
116,1
427,8
112,7
442,2
110,7
Đông
123,8 127,3
Nam Bộ
Đồng
bằng sông 1.086,7 1.107,8 1.220,0 1.204,5 1.269,1 1.355,9 1.410,1 1.447,0 1.454,2 1.467,8 1.360,0 1.343,7
Cửu Long
Nguồn: Tổng cục Thống kê (2017)
Hiện nay, sản lượng lương thực bình
quân theo đầu người của Việt Nam hiện đã
đứng ở mức cao trong nhóm các quốc gia
thu nhập trung bình. Thậm chí, nhiều quốc
gia đang tìm cách học tập thành công của
Việt Nam về an ninh lương thực.
Với việc ứng dụng khoa học và công
nghệ vào sản xuất nông nghiệp, những năm
gần đây, giá trị sản phẩm nông nghiệp ở
nước ta đã có bước tiến quan trọng.
Bảng 2: Giá trị sản phẩm thu được trên 1 hécta đất trồng trọt và mặt nước nuôi trồng thủy sản
Đơn vị tính: Triệu đồng
2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017
Đất trồng
trọt
26,4
55,4
31,6
67,4
43,9
77,4
45,5
54,6
72,2
72,8
75,7
79,3
82,6
85,4
90,1
Mặt nước
nuôi trồng
thủy sản
87,1 103,8 135,2 145,3 157,6 177,4 178,1 184,3 206,8
Nguồn: Tổng cục Thống kê (2017)
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 22 * 2019
7
Bên cạnh việc tăng sản lượng lương
thực cùng với đó là giá trị sản phẩm nông
nghiệp cũng có bước tăng đáng kể. Trong
giai đoạn từ 2006 - 2017, giá trị sản phẩm
thu được trên 1 hécta đất trồng trọt tăng
hơn 3,4 lần, đối với mặt nước nuôi trồng
thủy sản là hơn 3,7 lần.
Chăn nuôi có bước phát triển về số
lượng và chú trọng hơn về chất lượng. Sản
lượng một số sản phẩm chăn nuôi chủ yếu
đã nhanh trong những năm qua. Đặc biệt là
về chất lượng của sản phẩm chăn nuôi được
nâng lên đáng kể. Chăn nuôi theo mô hình
trang trại, ứng dụng công nghệ cao trong
chọn tạo giống, thức ăn chăn nuôi đã bước
đầu được người chăn nuôi chú trọng. Người
chăn nuôi đã bắt đầu quan tâm đến an toàn
thực phẩm, việc đẩy lùi chất cấm, kháng
sinh trong chăn nuôi được thực hiện mạnh
mẽ trong những năm qua đã góp phần nâng
cao ý thức của người chăn nuôi. Đây chính
là nền tảng cho một nền chăn nuôi hiện đại,
bền vững tạo ra sản phẩm có chất lượng
cao của Việt Nam.
Bảng 3: Sản lượng sản phẩm chăn nuôi chủ yếu
Năm
Sản lượng
Sản lượng
thịt trâu hơi
xuất
2007
2008
2009
2010
2011
2012
2013
2014
2015
2016
67,5
71,5
79,1
83,6
87,8
88,5
85,5
85,7
85,8
86,6
chuồng
(Nghìn tấn)
Sản lượng
thịt bò hơi
xuất
206,1
226,7
263,4
278,9
287,2
293,9
285,4
293,1
299,7
308,6
chuồng
(Nghìn tấn)
Sản lượng
thịt lợn hơi
xuất
2.662,7 2.782,8 3.035,9 3.036,4 3.098,9 3.160,0 3.228,7 3.351,2 3.491,6 3.664,6
chuồng
(Nghìn tấn)
Sản lượng
thịt gia cầm
hơi giết,
bán (Nghìn
tấn)
358,8
234,4
448,2
262,2
528,5
278,2
615,2
306,7
696,0
345,4
729,4
381,7
774,7
456,4
874,5
549,5
908,1
723,0
961,6
795,1
Sản lượng
sữa tươi
(Triệu lít)
Trứng gia
cầm (Triệu
quả)
4.465,8 4.937,6 5.465,3 6.421,9 6.896,9 7.299,9 7.754,6 8.271,1 8.874,3 9.446,2
Nguồn: Tổng cục Thống kê (2017)
2.3.2. Đạt được nhiều thành tựu trong công tác xóa đói giảm nghèo
Với những chủ trương, giải pháp đúng đắn, công tác xóa đói giảm nghèo ở nước ta đã
8
TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHÚ YÊN
đạt được những thành tựu to lớn. Tỷ lệ giảm hộ nghèo đói ở nước ta trong những năm gần
đây đã giảm đáng kể.
Bảng 4: Tỷ lệ hộ nghèo phân theo thành thị, nông thôn và phân theo vùng
Đơn vị tính: %
Năm
2010
2011
2012
2013
2014
2015
2016
2017
Vùng
Cả nước
14,2
6,9
12,6
5,1
11,1
4,3
9,8
3,7
8,4
3,0
7,0
2,5
9,2
3,2
5,8
2,0
7,5
2,4
7,9
2,7
Thành thị
Nông thôn
17,4
8,3
15,9
7,1
14,1
6,0
12,7
4,9
10,8
4,0
10,8
2,6
Ðồng bằng sông Hồng
Trung du và miền núi
phía Bắc
21,0
10,2
29,4
26,7
23,8
21,9
18,4
16,0
13,8
Bắc Trung Bộ và Duyên
hải miền Trung
Tây Nguyên
20,4
22,2
2,3
18,5
20,3
1,7
16,1
17,8
1,3
14,0
16,2
1,1
11,8
13,8
1,0
9,8
11,3
0,7
8,0
9,1
0,6
17,1
0,9
Ðông Nam Bộ
Ðồng bằng sông Cửu
Long
7,4
12,6
11,6
10,1
9,2
7,9
6,5
5,2
Nguồn: Tổng cục Thống kê (2017)
Theo chuẩn nghèo của nước ta, từ
năm 2010 đến 2016, số hộ nghèo đã giảm
từ 14,2% xuống còn 5,8%, như vậy tỷ lệ hộ
nghèo từ năm 2010 đến 2016 giảm 8,4%.
Điều đáng nói là tỷ lệ hộ nghèo ở các vùng
nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng
bào dân tộc thiểu số, vùng biên giới, hải
đảo, giảm nhanh hơn bình quân chung của
cả nước. Từ năm 2010 đến 2016 cả nước
giảm được 8,4% hộ nghèo thì khu vực nông
thôn giảm được 9,9%, Trung du và miền
núi phía Bắc giảm được 15,6%, Bắc Trung
Bộ và Duyên hải miền Trung giảm được
12,4%, Tây Nguyên là 13,1%. Từ năm
2017 tỷ lệ hộ nghèo tăng là do quy định về
chuẩn nghèo được tăng lên. Tuy nhiên, nếu
so với chuẩn nghèo trước đây thì tỷ lệ hộ
nghèo năm 2017 cũng giảm mạnh so với
năm 2016.
trong thúc đẩy sự phát triển bền vững ở
nước ta.
2.3.3. Sản xuất nông nghiệp đã chuyển dịch
theo hướng sản xuất hàng hóa
Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí
Minh, Đảng ta luôn coi trọng việc xây dựng
một nền nông nghiệp theo hướng sản xuất
hàng hóa lớn, ứng dụng công nghệ cao,
nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo an
toàn vệ sinh thực phẩm, nâng cao giá trị gia
tăng.
Trong những năm gần đây, sản xuất
nông nghiệp ở đã cơ bản đã cơ bản chuyển
dịch theo hướng sản xuất hàng hóa làm
thay đổi phương thức sản xuất truyền
thống. Đã bước đầu hình thành nhiều vùng
sản xuất hàng hóa tập trung quy mô lớn với
tỷ trọng sản phẩm hàng hóa và xuất khẩu
đạt cao, hình thành các mối liên kết giữa
sản xuất, chế biến, tiêu thụ và xuất khẩu
hàng hóa nông sản. Thị trường đối với hàng
hóa nông nghiệp và ở các vùng nông thôn
phát triển mạnh, thúc đẩy việc nâng cao
năng suất và chất lượng sản phẩm hàng hóa
Việt Nam là một nước nông nghiệp
với nhiều thành phần dân tộc sinh sống chủ
yếu ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên
giới...Do đó, giảm nhanh tỷ lệ hộ nghèo ở
những vùng này có ý nghĩa rất quan trọng
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 22 * 2019
9
nông nghiệp. Đây là những nhân tố rất quan
trọng tạo động lực cho nông nghiệp phát
triển phù hợp với xu thế chung của nền
kinh tế, góp phần quan trọng vào sự phát
triển bền vững của đất nước.
phục những hạn chế, Đảng ta phải tiếp tục
đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực
tiễn để làm sáng tỏ những vấn đề mới phát
sinh trong phát triển nông nghiệp.
3. Kết luận
Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh
về phát triển nông nghiệp gắn với phát triển
bền vững đã được Đảng và Nhà nước ta
quán triệt, vận dụng trong quá trình xây
dựng chủ nghĩa xã hội. Sự quán triệt, vận
dụng tư tưởng của Người đã đem lại những
thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế nói
chung và phát triển nông nghiệp nói riêng,
góp phần vào sự phát triển bền vững của
đất nước. Ngày nay, trước sự phát triển
mạnh mẽ của khoa học - công nghệ và
những đòi hỏi khắt khe của quá trình hội
nhập kinh tế quốc tế, những tư tưởng chủ
đạo của Người về phát triển nông nghiệp
gắn với phát triển bền vững vẫn còn giữ
nguyên giá trị cả về mặt lý luận và thực
tiễn. Những tư tưởng đó đã và đang là “kim
chỉ nam” hướng dẫn chúng ta con đường
xây dựng một nền kinh tế vững mạnh
2.4. Những hạn chế trong việc triển khai
thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về phát
triển nông nghiệp gắn với phát triển bền
vững ở Việt Nam
Trong việc triển khai, tổ chức thực
hiện tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương,
đường lối của Đảng về phát triển nông
nghiệp gắn với sự phát triển bền vững, bên
cạnh những thành tựu to lớn đạt được, vẫn
còn những hạn chế nhất định.
Một là, nguồn tài nguyên thiên
nhiên đang bị suy thoái.
Hai là, tình trạng ô nhiễm môi
trường ngày càng nghiêm trọng.
Ba là, phân hóa giàu nghèo ngày
càng gia tăng.
Những hạn chế trong phát triển
nông nghiệp nói trên đều có ảnh hưởng tiêu
cực đến sự phát triển bền vững. Để khắc
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb
Chính trị Quốc gia - Sự thật, tập 4.
[2] Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb
Chính trị Quốc gia - Sự thật, tập 9.
[3] Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb
Chính trị Quốc gia - Sự thật, tập 10.
[4] Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb
Chính trị Quốc gia - Sự thật, tập 11.
[5] Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb
Chính trị Quốc gia - Sự thật, tập 12.
[6] Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb
Chính trị Quốc gia - Sự thật, tập 13.
[7] Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb
Chính trị Quốc gia - Sự thật, tập 14.
[8] Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb
Chính trị Quốc gia - Sự thật, tập 15.
10
TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHÚ YÊN
[9] Bộ Chính trị (1988), Nghị quyết 10-NQ/TW (Khóa VI) về đổi mới quản lý kinh tế
nông nghiệp.
[10] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII,
IX, X, XI, XII, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật.
[11] PGS.TS Đinh Phi Hổ (2008), Kinh tế học nông nghiệp bền vững, Nxb Phương Đông
[12] TS. Nguyễn Từ (2004), Nông nghiệp Việt Nam trong phát triển bền vững, Nxb Chính
trị Quốc gia.
[13] Nguyễn Văn Thành (2006), Vận dụng tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phát
triển nông nghiệp ở tỉnh Quảng Ngãi, Luận văn thạc sĩ, Học viện Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh.
[14] Tổng cục Thống kê (2016), Niên giám Thống kế, Nxb Thống kê
[15] Tổng cục Thống kê (2017), Niên giám Thống kế, Nxb Thống kê
(Ngày nhận bài: 02/01/2019; ngày phản biện: 09/01/2019; ngày nhận đăng: 03/06/2019)
Bạn đang xem tài liệu "Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển nông nghiệp gắn với phát triển bền vững", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
van_dung_tu_tuong_ho_chi_minh_ve_phat_trien_nong_nghiep_gan.pdf

