Tộc danh sử dụng trong đời sống ngôn ngữ ở Việt Nam

No.16_June 2020|Số 16 – Tháng 6 năm 2020|p.5-11  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC TÂN TRÀO  
ISSN: 2354 - 1431  
TỘC DANH SỬ DỤNG TRONG ĐỜI SỐNG NGÔN NGỮ Ở VIỆT NAM  
a*  
Vương Toàn  
a Chủ nhiệm Chương trình Thái học Việt Nam  
Thông tin bài viết  
Tóm tắt  
Các tộc danh chính thức trong các bài viết khác nhau có thể thay đổi theo các  
quyết định để xác định các thành phần dân tộc được thành lập ở nước ta hiện  
nay.  
Bài viết này nhắc lại những thay đổi cần lưu ý để tránh nhầm lẫn khi xử lý và  
khai thác thông tin cho các nghiên cứu về các nhóm dân tộc khác nhau ở Việt  
Nam. Phải đặc biệt thận trọng khi kết hợp tộc danh.  
Ngày nhận bài:  
27/3/2020  
Ngày duyệt đăng:  
10/6/2020  
Từ khóa:  
Tộc danh, Nhóm dân tộc, Sử  
dụng ngôn ngữ, Việt Nam  
nhau (sẽ được nói đến ở mục 2.). Vì lẽ đó, những tên  
1.  
Tộc danh với những cách  
gọi này có thể thống nhất là một, song cũng có thể khác  
gọi và cách viết khác nhau  
nhau, trong không ít trường hợp. Sự khác biệt có khi  
không chỉ ở cấp độ ngữ âm - từ vựng mà còn ở cả sắc  
thái tu từ (trung tính hay miệt thị). Sự khác biệt có thể  
mang tính lịch sử, nghĩa là tên gọi (kể cả tên chính thức)  
được thay đổi khi sử dụng ở những thời điểm khác  
nhau.  
Thuộc phạm vi nghiên cứu của môn tên gọi hay  
danh học (tiếng Anh: onomastics hay name study, tiếng  
Pháp: onomasiologie, onomastique), tộc danh là tên  
dân tộc hay tộc người, có thể gồm những cách gọi, dẫn  
đến những cách viết khác nhau, do chúng có nguồn gốc  
khác nhau, do đó là (những) tên tự gọi hay tên được gọi  
bởi (các) dân tộc khác, hoặc do (các) nhà khoa học đặt  
ra, có thể được chính thức công nhận hoặc không.  
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc và đa ngôn  
ngữ, cùng chung sống hòa thuận. Trong đại gia đình các  
dân tộc Việt Nam, có những dân tộc vốn sinh ra và phát  
triển trên mảnh đất này ngay từ thửa ban đầu, có những  
dân tộc từ nơi khác lần lượt di cư đến nước ta. Lịch sử  
nước ta là lịch sử các dân tộc anh em chung lưng đấu  
cật, đoàn kết chung sức chung lòng dựng nước và giữ  
nước.  
Cần lưu ý rằng khi xác định thành phần dân tộc, các  
nhà nghiên cứu (trong và ngoài nước) đều có thể đưa ra  
cách phân định của mình, dựa trên những cứ liệu khoa  
học và đưa ra một tên gọi, có thể không hoàn toàn trùng  
với tên tự gọi hoặc thường gọi. Ví dụ: Người Tày gọi  
người Kinh là Keo, gọi người Hoa là Hác,… Như thế,  
xét về nguồn gốc, có tên tự gọi, tên do (các) dân tộc  
khác gọi, tên do (các) nhà nghiên cứu đặt (và/hoặc dịch  
ra tiếng nước ngoài) và quan trọng hơn cả là tên chính  
thức được ghi trong các văn bản có tính pháp quy.  
Do ở nước ta, tộc danh chính thức có thể thay đổi ở  
mỗi lần xác định thành phần các dân tộc, vốn là một  
trong những nhiệm vụ khoa học phức tạp, nhưng có ý  
nghĩa chính trị sâu sắc. Thuật ngữ dân tộc trong dân tộc  
ở đây được hiểu là tộc người hay có người dùng là sắc  
tộc (tiếng Anh : ethnic group ; tiếng Pháp : ethnie, khác  
với nation, cũng có lúc dịch là dân tộc). Công việc đòi  
hỏi sự nghiên cứu toàn diện về các dân tộc, trong đó  
Khảo sát việc sử dụng tộc danh cần phải quy về tên  
gọi chính thức, luôn tùy thuộc vào Danh mục các dân  
tộc đã được đưa ra, vào những thời điểm công bố khác  
V.Toan/ No.16_June 2020|p.5-11  
cần nhận thức đúng đắn về các quan niệm khoa học viết hoa âm tiết đầu và dùng gạch nối (-) giữa các âm  
(như thế nào là một dân tộc, tiêu chuẩn và phương pháp  
xác định thành phần dân tộc, các quá trình tộc người...),  
nắm được những quan điểm cơ bản của đường lối,  
chính sách cơ bản của Đảng, Nhà nước và đòi hỏi sự  
kết hợp hợp lý giữa công tác khoa học và công tác chính  
trị tư tưởng trong quần chúng.  
tiết của một tộc danh đa âm tiết. Ví dụ: Bố-y, Pu-péo,…  
Do chưa có Luật ngôn ngữ, nên ta còn gặp các cách viết  
khác như chỉ viết hoa âm tiết đầu và không gạch nối.  
Do về sau, có quy ước viết hoa tất cả các âm tiết đối với  
tên riêng, nên chúng tôi theo cách viết này, ví như: Bố  
Y, Pu Péo… Nhưng khi trích dẫn, để phản ánh trung  
thành văn bản được khai thác, chúng tôi sẽ giữ nguyên  
cách viết của tác giả trong nguyên bản. Vì thế, có thể  
có những cách viết khác nhau ngay trong bài viết này.  
Được biết, nhiều năm gần đây, Viện Hàn lâm Khoa  
học Xã hội Việt Nam cùng Ủy ban Dân tộc của Chính  
phủ đã nhiều lần được giao nhiệm vụ thực hiện dự án  
Điều tra, xác định thành phần dân tộc ở Việt Nam.  
Cũng đã có đề tài khoa học cấp tỉnh về chủ đề này.  
Không ít cuộc toạ đàm khoa học đã được tổ chức, thu  
hút sự quan tâm của giới nghiên cứu và các nhà quản lý  
trong nước, từ trung ương đến địa phương. Giới nghiên  
cứu đã có những ý kiến đề xuất khác nhau, song một số  
trường hợp đang còn phân vân, nên các cơ quan có thẩm  
quyền chưa ra quyết định cuối cùng trong việc xác định  
lại.  
2. Tộc danh gắn với quá trình xác định thành  
phần dân tộc  
Vấn đề số lượng các dân tộc ở Việt Nam dường như  
không đặt ra thời thuộc Pháp. Trong một buổi trao đổi  
khoa học với chúng tôi vào năm 2003, cố GS Đặng  
Nghiêm Vạn (1930 - 2016), cho biết, vào khoảng năm  
1960, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt câu hỏi có bao  
nhiêu dân tộc ở tỉnh Hà Tây thì mỗi người trả lời một  
cách khác nhau. Và thế là sau đó, các nhà nghiên cứu  
đã nhận trách nhiệm trả lời.  
Do chưa có quy định thống nhất chính tả, ta luôn có  
thể gặp cùng một tộc danh với những cách gọi và cách  
viết khác nhau. Đề cập đến vấn đề chính tả tên các dân  
tộc, PGS. TS Đoàn Văn Phúc (2009) xác định: “Tên  
dân tộc (TDT - tộc danh) là một hiện tượng văn hóa -  
ngôn ngữ biểu hiện một nét văn hóa - xã hội, tâm lý -  
xã hội của mỗi dân tộc (tộc người - ethnic) trong những  
môi trường sống nhất định. Tên dân tộc là một vấn đề  
liên quan chặt chẽ với nguồn gốc, đặc điểm văn hóa của  
mỗi dân tộc” (tr. 190).  
Xây dựng danh mục các dân tộc ở nước ta là kết  
quả đánh dấu từng giai đoạn phát triển của ngành dân  
tộc học và các ngành hữu quan. Theo dòng thời gian,  
chúng ta thấy các nhà nghiên cứu đã đưa ra danh mục  
vào các năm 1959, 1974, 1979 và hiện vẫn đang được  
tiếp tục nghiên cứu. Bản Danh mục về thành phần các  
dân tộc ở Việt Nam được công bố tương đối đầy đủ và  
khá chi tiết lần đầu tiên trong cuốn "Các DTTS ở Việt  
Nam" của nhóm tác giả: Lã Văn Lô, Nguyễn Hữu Thấu,  
Mạc Đường… (H., Văn hoá, 1959, 248 tr.). Theo đó,  
nước ta có 64 dân tộc, với 63 DTTS thuộc ba ngữ hệ  
khác nhau là Hán-Tạng, Môn-Khơ me, và Malayô-  
Pôlinêdiêng. Kết quả nghiên cứu này là một trong  
những cơ sở, căn cứ khoa học về mặt tộc người để tiến  
hành cuộc Tổng điều tra dân số toàn miền Bắc (ngày  
1/3/1960).  
“Mỗi dân tộc thường mang nhiều tên gọi khác nhau.  
Ở mỗi thời kì lịch sử nhất định thì mỗi dân tộc lại có  
thể được gọi bằng nhiều tên khác nhau… Thế nhưng  
ngay trong cách viết tên dân tộc trong Danh mục thành  
phần các dân tộc ở Việt Nam do Tổng cục Thống kê  
công bố ngày 2 tháng 3 năm 1979 lại không thống nhất  
về cách viết và dường như người ta có cảm giác rằng  
cách viết tên dân tộc chẳng theo một nguyên tắc nhất  
quán nào cả” (tr. 190-191).  
Về công trình này, có ý kiến nhận xét rằng nhóm  
tác giả đã đưa các nhóm ngôn ngữ Tày-Thái, Mèo-  
Dao, Lạc-Việt vào ngữ hệ Hán-Tạng (mà sau này các  
nhà ngôn ngữ học và dân tộc học xếp các nhóm đó  
vào ngữ hệ Nam Á), và trong từng nhóm ngôn ngữ  
cũng có những nhầm lẫn như: xếp Mảng và một số  
nhóm Xá vào Tạng-Miến; xếp Phù Lá vào ngữ chi  
Tày trong nhóm Hán-Tày; xếp Mày, Rục vào Môn-  
Khơ me v.v  
“Mặc dù đã từng có nhiều văn bản quy định của  
nhiều cấp nhiều ngành khác nhau về chính tả tiếng Việt  
đối với tên riêng dân tộc thiểu số, trong đó bao hàm cả  
tên các dân tộc thiểu số, song vấn đề viết tên dân tộc  
hiện nay chưa thống nhất, hết sức đa dạng, phức tạp và  
có thể nói là hết sức lộn xộn” (tr. 191).  
Thực tế cho thấy về cách viết, theo Danh mục các  
dân tộc Việt Nam mà Tổng cục Thống kê ban hành theo  
Quyết định số 121 - TCTK/PPCĐ ngày 2/3/1979 thì chỉ  
V.Toan/ No.16_June 2020|p.5-11  
Sau nhiều lần họp bàn các vấn đề cụ thể ở địa số trường hợp vài nhóm nhỏ được gộp thành một dân  
phương, để xây dựng danh mục các DTTS phục vụ cho  
cuộc tổng điều tra dân số lần thứ hai, Uỷ ban Khoa học  
Xã hội Việt Nam (nay là Viện Hàn lâm KHXH Việt  
Nam ), trực tiếp là Viện Dân tộc học, đã phối hợp với  
các ngành hữu quan mở hội nghị khoa học xây dựng  
danh mục các DTTS ở miền Bắc nước ta vào tháng 6  
và tháng 11/1973 thảo luận các vấn đề cần thiết. Hội  
nghị đã làm sáng rõ nhiều vấn đề cơ bản về công tác  
xác định dân tộc ở miền Bắc nước ta lúc bấy giờ, trên  
cơ sở đó xây dựng một danh mục các DTTS. Đó là một  
thành tựu quan trọng.  
tộc lớn hơn như: Hoa + Xạ Phang = Hoa; Mày + Sách  
+ Rục + Arem + Mã Liềng = Chứt; Khùa + Tri + Ma  
Cong = Bru; Tày Pọng + Đan Lai + Ly Hà + Kẹo + Mọn  
+ Cuối + Họ = Thổ.  
Hội nghị 1973 cũng đã nêu ra những vấn đề cần tiếp  
tục đi sâu nghiên cứu, làm sáng tỏ trên cơ sở khoa học  
có tính thuyết phục cao hơn. Tiếp tục phối hợp tiến  
hành nghiên cứu xác định thành phần các dân tộc ở Việt  
Nam, ngày 22/12/1978, Uỷ ban Khoa học xã hội Việt  
Nam (nay là Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam) cùng Uỷ  
ban Dân tộc Trung ương (nay là Uỷ ban Dân tộc) đã có  
tờ trình lên Thủ tướng Chính phủ về những kết quả  
nghiên cứu đã đạt được. Và ngày 2/3/1979, Tổng cục  
Thống kê đã chính thức ban hành Danh mục các dân  
tộc Việt Nam, làm cơ sở cho cuộc Tổng điều tra dân số  
năm 1979.  
Bản Danh mục thành phần các dân tộc ở Việt Nam  
lần này xếp theo dân số các dân tộc, đăng trong tạp chí  
Dân tộc học, số 1/1974, tr.57-63; Danh mục xếp theo  
ngôn ngữ các dân tộc đăng trong cuốn "Các dân tộc ít  
người ở Việt Nam" các tỉnh phía Bắc (phần chú giải bản  
đồ), Hà Nội, 1978.  
Thuật ngữ dân tộc ở đây được xác định là những  
cộng đồng được xác định dựa trên ba tiêu chuẩn cơ bản:  
đặc điểm ngôn ngữ, đặc điểm sinh hoạt - văn hóa và ý  
thức tự giác dân tộc.  
So với bản danh mục trước, nay chỉ còn 59 dân tộc  
(trước là 64, kể cả dân tộc Kinh). Các dân tộc đều được  
phân thành 3 hệ ngôn ngữ, nhưng ở lần này, ngữ hệ  
Môn-Khơ me được thay bằng ngữ hệ Nam Á. Trong  
ngữ hệ đó ngoài nhóm Môn-Khơ me còn bao gồm cả  
các nhóm Việt - Mường, Tày - Thái, Mèo - Dao và  
nhóm ngôn ngữ khác (nhóm Ka Đai).  
Theo Quyết định này, nước ta có 54 dân tộc. So với  
bản danh mục năm 1974, có những thay đổi như sau:  
1. Kết hợp hai, ba "dân tộc" thành một dân tộc:  
- Giẻ + Triêng = Giẻ - Triêng  
- Tu Dí + Bố Y = Bố Y  
- Những tên dân tộc được bớt đi là :  
Xá, Co Chơ, Pa Dí, Thu Lao, Xạ Phang, Đan Lai-  
Ly Hà, Mày, Khùa, Rục, Vân Kiều, Lạt, Tơ Lốp, Cơ  
Don, Tơ La, La Gia, Rơ Ngao, Bih, La Oang, Cao Lan  
và Sán Chỉ.  
- Chàm + Chăm Hroi = Chăm  
- Xơ Đăng + Hà Lăng = Xơ Đăng  
- Xrê + Cơ Ho = Cơ Ho  
- Những tên dân tộc mới xuất hiện là:  
- Pú Nà + Giáy = Giáy  
Thổ, Chứt, Kháng, Khơ Mú, Ơ Đu, Hà Lăng, Co,  
Thủy, Pà Thẻn, Tống, La Ha, Cống, Chăm Hroi, Cao  
Lan-Sán Chỉ, Cơ Ho.  
- Thủy + Pà Thẻn = Pà Thẻn  
- Tống + Dao = Dao  
- Những dân tộc vẫn có nhưng thay đổi tên gọi :  
2. Xuất hiện những dân tộc có tên gọi mới :  
- Ngái (tách từ Hoa thành 2 dân tộc: Hoa và Ngái).  
- Chơ Ro  
U Ní Hà Nhì, Cò Sung La Hủ, Khả Pẹ Si  
La, Mạng ư Mảng, Chi La Si La, Lừ Lự,  
Nhắng Giáy, Chủng Trà Bố Y, Quí Châu Pú  
Nà, Kha Tu Ca Tu, Chăm Hrê, Mán Dao, Puộc  
Xinh Mun.  
- Brâu  
- Rơ Măm.  
3. Xác định lại một số tên dân tộc cho chính xác :  
- Pa Cô Tà Ôi  
Cách xác định này được sử dụng để phân định các  
dân tộc trong hai cuộc điều tra dân số ngày 1/ 4/1974 ở  
miền Bắc và ngày 5/2/1976 ở miền Nam.  
- Ca Tu Cơ Tu  
So với danh mục dân tộc trong cuộc điều tra dân số  
miền Bắc năm 1960, thì ngoài những điểm trên, ở danh  
mục điều tra dân số (miền Bắc) năm 1974 còn có một  
- Cao Lan + Sán Chỉ Sán Chay.  
- Mèo Hmông.  
V.Toan/ No.16_June 2020|p.5-11  
Danh mục trên thực sự là kết quả nghiên cứu tộc danh Thái, được đánh số thứ tự kèm theo 1, 2 và 3,  
nghiêm túc về xác định thành phần dân tộc, đã được như sau:  
tập hợp thành sách1 và được công bố trên các tạp  
a) Thái 1 là tộc danh do các nhà chuyên môn đề  
chí.  
Danh mục này tiếp tục được sử dụng cho các cuộc  
xuất, được Nhà nước ta chính thức sử dụng để chỉ một  
DTTS ở Việt Nam, trong khi tên tự gọi - tùy theo nhóm  
tộc người - được phiên âm là Tay/Tăy/Thay. Ví dụ:  
Cuốn sách của Cầm Trọng có tên là Người Thái ở Tây  
Bắc Việt Nam (1978).  
các cuộc Tổng điều tra dân số, đều đặn sau 10 năm. Đó  
là vào các năm: 1989, 1999, 2009 và 2019, và trong các  
tài liệu thống kê ở các cấp từ trung ương đến địa phương  
suốt từ đó đến nay  
Được biết rằng khi là danh từ chung, từ tay/tăy chỉ  
có nghĩa là “người”, như được dùng trong: tay hưỡn  
khỏi (người nhà tôi), khec pay tay ma (kẻ đi người lại),  
hay “tộc người” , như trong: tay Pháp (người Pháp),  
tay Lào (người Lào), tay Keo (người Kinh) hoặc “nhóm  
người”, như trong: tay Mương Lay (người Mường  
Lay), gọi tắt là tay Lay...  
Trong nghiên cứu, khi tham khảo tài liệu nước ngoài  
còn phải chú ý đến sự khác biệt không chỉ về tộc danh  
mà có khi sự phận định tộc người ở mỗi quốc gia khác  
nhau. Ví dụ: Trong khi "các học giả phương Tây có xu  
hướng coi Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam chỉ là một tộc  
người; và để tiếp tục nghiên cứu các dân tộc cùng ngôn  
ngữ này ở Đông Nam Á, đã kiến nghị dùng tên gọi Tai  
để biểu hiện cho đối tượng nghiên cứu chung (Tai  
study)" (Các dân tộc Tày Nùng ở Việt Nam. 1992, tr.  
49).  
Chỉ khi là danh từ riêng - được viết hoa - từ này mới  
được dùng để chỉ “tộc danh”: Kốn Tãy (người Thái).  
Theo đó, người Thái Đen tự gọi mình là kôn Tay/ Tãy  
Đăm. Trong khi đó, người Thái Trắng và các nhóm  
khác tự gọi mình là Phụ/Phu Tay/Thay, mà Phụ /Phu  
cũng là "người": Vì thế, người ta tự gọi mình là: Tay  
Đón/Khao = Thái Trắng, Tay Thanh = Thái Thanh, Tay  
Mởi. Tay Mươi = Thái Quỳ Châu, Tay Mương = Thái  
Hàng Tổng. Tay Đeng, có người dịch là “Thái Đỏ”.  
Được biết, trong sách Di cư xuyên biên giới của các  
tộc người thiểu số ở vùng Tây Bắc Việt Nam do Vũ  
Trường Giang chb. (H. Nxb Lý luân chính trị, 2018),  
TS Mai Thanh Sơn đã giới thiệu quan điểm của của cố  
GS Phạm Hồng Quý ( 1934-2016), được tóm lược từ  
công trình Tòng Vân Nam du nhập Việt Nam đích dân  
tộc (trong sách Tây Nam dân tộc sử nghiên cứu (bản  
Trung văn), Vân Nam Nhân dân xuất bản xã, 1987) cho  
biết: “Hiện nay, tiêu chuân xác định dân tộc ở Trung  
Quốc cơ bản là theo bốn đặc trưng do Stalin nêu ra: một  
là có ngôn ngữ chung, hai là có địa vực cư trú chung,  
ba là sinh hoạt kinh tế chung, bốn là có tâm lý chung”...  
“một số tộc người cho dù dùng bất cứ tiêu chuẩn và  
phương pháp nào kết quả xác định của các nước cũng đều  
giống nhau và còn có tính chất ổn định, kéo dài hàng trăm  
năm không thay đổi. Có một số tộc người tên khác nhau  
nhưng sự thực giống nhau” (tr. 38).  
Sự nhầm lẫn dễ xảy ra khi gặp những tên ghép, như  
Tay Mương, do có thể được viết là Tày Mường nên có  
nhân viên thư viện nọ2, khi phân loại tài liệu, đã tưởng  
đó là sách viết về hai dân tộc Tày và Mường.  
b) Ở dạng tắt, Thái 2 được dùng thay cho tên nước  
Thái Lan, như khi nói đến hàng Thái, tiếng Thái… Ví  
dụ luận án của Siriwong Hongsawan đươc in thành sách  
có tên là Các phương tiện thể hiện hành động bác bỏ  
trong tiếng Thái và tiếng Việt (2011). Dân cư Thái Lan  
chủ yếu là người Thái, họ vẫn tự gọi dân tộc mình là  
Tay hoặc Thay và thường có thêm một yếu tố hạn định  
là Klang (có nghĩa là giữa).  
c) Mở rộng nghĩa, Thái 3 được dùng trong Thái học,  
để chi ngành khảo cứu về 08 dân tộc thuộc nhóm Tày -  
Thái hay Thái -Tày ở Việt Nam. Hiện nay, Thái học còn  
được giới nghiên cứu trong nước và thế giới quan niệm  
với phạm vi rộng hơn nữa, là những khảo cứu có liên  
quan đến cả 12 dân tộc thuộc ngữ hệ Thái - Kađai, có  
nghĩa là hướng sự quan tâm thêm vào 4 tộc người thuộc  
nhóm ngôn ngữ Kađai nữa, ví dụ như một công trình  
3.  
Các trường hợp dễ nhầm  
lẫn khi sử dụng tộc danh  
3.1. Hiện tượng đa  
nghĩa hoặc đồng âm  
3.1.1. Do quy ước viết tắt trong tiếng Việt và phép  
mở rộng nghĩa, chúng ta có thể phân biệt 3 nghĩa của  
Danh mục các cơ quan, các đơn vị hành chính, các thành phần  
2 Vì lý do tế nhị , xin phép không nêu tên một số trường hợp cụ, thể.  
1
dân tộc. H., Nxb Thống kê, 1982, 43 tr.  
V.Toan/ No.16_June 2020|p.5-11  
tập thể có tên là Thái học Việt Nam: 30 năm - Một lúng túng khi cần hiểu cho đúng các nhóm từ này. Cần  
phân biệt trong đời sống ngôn ngữ, có hai loại tên ghép  
thường được sử dụng: để chỉ: 1) một dân tộc và 2) một  
cộng đồng đa dân tộc được giới nghiên cứu xác định là  
thuộc cùng một nhóm (nhánh, chi) ngôn ngữ hay một  
ngữ hệ (họ).  
chặng đường (2019).  
Trong các văn bản tiếng Anh và tiếng Pháp, ta cũng  
gặp các cách viết là Thai hay Tay hoặc Tai Studies.  
3.1.2 Dễ nhầm hơn là trường hợp có hiện tượng  
đồng âm, khi tộc danh được dùng ở các thời kỳ khác  
nhau, với phạm vi sử dụng khác nhau. Đó là trường hợp  
cùng được viết là Thổ, nhưng lại chỉ hai dân tộc thiểu  
số hoàn toàn khác nhau. Đó là:  
3.2.1. Đó là trường hợp tên ghép hình thành từ sự  
gộp nhập hai nhóm trước đó được xác định là dân tộc,  
chẳng hạn như: từ các tộc danh đã có: Giẻ và Triêng  
hợp nhất thành dân tộc Giẻ-Triêng, từ hai dân tộc trước  
đó có tên là Bru và Vân Kiều hợp nhất thành dân tộc  
Bru-Vân Kiều. Trường đặc biệt là từ hai dân tộc Cao  
Lan và Sán Chỉ, có thời gộp thành dân tộc Cao Lan-Sán  
Chỉ, về sau lại đổi thành Sán Chay.  
Thổ 1 là tên gọi chính thức mới xuất hiện trong  
Danh mục thành phần các dân tộc ở Việt Nam (1974)  
dùng để chỉ một dân tộc thiểu số thuộc nhóm Việt-  
Mường, hình thành từ sự gộp nhập tộc người trước đó  
có tên là Đan Lai-Ly Hà với các nhóm: Cuối + Họ +  
Kẹo ++ Mọn + Tày Poọng. Ví dụ: Cuốn sách của Quán  
Vi Miên có tên là Văn hóa dân gian dân tộc Thổ (2013).  
Đó cũng là trường hợp tên ghép được dùng để chỉ  
một nhóm tộc người không liên quan gì đến dân tộc Tày  
(= Thổ 2) mà đều là các nhóm người Thái. Đó là: Tày  
Khao, Tày Đăm, Tày Chiềng hay Tày Mương (Hàng  
Tổng), Tày Thanh (Man Thanh), Tày Mươi, Tày Đeng,  
Tày Khăng, Tày Đà Bắc4, hay Tày Hạt, được dùng để  
chỉ người Ơ Đu.  
Trong khi đó, Thổ 2 (vốn là tên gọi do dân tộc khác  
đặt ra để chỉ người Tày, trong điều kiện nhiều dân tộc  
khác đến cùng chung sống; tộc danh này được dùng để  
chỉ đây là dân bản địa hay thổ dân, nếu phiên chuyển  
âm chính xác thì phải là “Thó/Thỏ, với nghĩa là “bản  
địa”, “địa phương”, như: cần Thỏ (người Thổ), phải  
Thỏ (vải địa phương tự dệt). da thỏ (thuốc do thày lang  
địa phương chế). Ví dụ: Bài viết của Nguyễn Văn San  
có tên là Văn tự Thổ và cách ghi âm, đăng trên Văn sử  
địa (1955).  
3.2.2. Khác hẳn với các  
trường hợp trên, tên ghép được dùng để chỉ một cộng  
đồng các dân tộc thuộc cùng một nhóm/ nhánh/ chi)  
ngôn ngữ (như Mông-Dao, Tày-Thái, Việt-Mường…)  
hay một ngữ hệ/ họ (như: Hán-Tang, Thái-Kađai,)  
Trong thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền  
Nam, Bác Hồ viết: "Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường  
hay Mán… và các dân tộc khác đều là con cháu Việt  
Nam, đều là anh em ruột thịt."3  
2.2.3. Lại có trường hợp khá đặc biệt, đó là Tày -  
Nùng. Mới đây chúng tôi gặp trong bản thảo một công  
trình đưa in, có lúc viết tác giả là các dân tộc Tày -  
Nùng, rồi ở trên dùng tiếng Tày, xuống thêm 2 dòng  
dùng tiếng Tày - Nùng (tr. 112), song ngữ Tày Nùng -  
Việt (tr. 130), người Tày Nùng (tr. 336). học sinh người  
Nùng “dùng song ngữ Tày - Việt” (tr. 354), đến chỗ  
khác lại viết: tiếng Tày, Nùng…Về sau lại viết: Các  
ngôn ngữ:… Tày, Nùng (tr. 356).  
Hiện nay, người dân ở một số địa phương vẫn còn  
sử dụng tên gọi này trong giao tiếp hàng ngày. Và trong  
sách văn học, ta có thể gặp, chẳng hạn:  
Lào Cai là một tỉnh có diện tích 69 km vuông,  
70.000 dân, gồm 6-7 dân tộc: Thổ, Mèo, Lôlô…  
(Nguyễn Thị Mỹ Dung.- Chuyện tình viên phó sứ. H.,  
Nxb Phụ nữ, 2005, tr. 84).  
Xin nhớ rằng tuy có một số lần chính thức thay  
đổi cách phân định tộc người ở nước ta (như đã nói  
ở trên), song từ trước đến nay Nùng và Tày luôn được  
xác định là 2 DTTS khác nhau. Do vậy, có thể viết:  
các dân tộc Tày Nùng, nhưng tốt hơn hết là viết: các  
dân tộc Tày, Nùng và rõ hơn là: các dân tộc Tày và  
Nùng.  
Để phân biệt khỏi nhầm với với Thổ 1, có tác giả  
còn chỉ rõ đây là Tày Thổ.  
3.2. Những tên ghép  
Không chỉ sinh viên mà không ít các nhà khoa học  
xã hội - không chuyên về các vấn đề dân tộc - cảm thấy  
3 HỒCHÍ MINH, Tuyển tập, tập 4, H., Sựthật, 1984, tr. 128  
(theo người dân thích gọi mình là Tày vì tự gọi là Phu Tay) cho cán bộ  
công chức trong huyện, vẫn do thầy Lường Đức Chôm (đã dạy từ 2012)  
thực hiện.  
4 Được biết, ngày 11/8/2019. Trung tâm Giáo dục Thường xuyên huyện  
Đà Bắc đã có Thông báo mở lớp tiếng dân tộc Thái (theo sách giáo khoa  
Xư Tay của huyện Mai Châu), không gọi là chữ Tày cổ như trước đây  
V.Toan/ No.16_June 2020|p.5-11  
Song do văn hóa truyền thống của hai dân tộc này - là Văn hoá tâm linh của người Hmông ở Việt Nam/  
Truyền thống và hiện đại (2005).  
4. Kết luận  
thường sống kề cạnh - có nhiều nét tương đồng (bên  
cạnh một số điểm khác biệt) có thể ghép chung thành  
văn hóa Tày - Nùng, cộng đồng Tày - Nùng, như trên  
mạng xã hội hiện nay có Hội Tày-Nùng Việt Nam, hoạt  
động ở 8 khu vực,  
Thực tế cho thấy với một số tộc danh tưởng không  
có gì xa lạ thế mà vẫn có nhà nghiên cứu, nhất là học  
giả nước ngoài thấy khó phân biệt khi cần đối chiếu với  
cách được viết thường gặp trên sách báo bằng tiếng  
nước ngoài.  
Do ngôn ngữ của các nhóm người Tày và người  
Nùng (khi sống kề cạnh) thường có những nét tương  
đồng, nên sau khi thành lập Khu tự trị Việt Bắc (năm  
1957), một Phương án chữ Tày - Nùng được xây dựng  
và thông qua (năm 1961). Từ đó, các nhà nghiên cứu  
nói đến tiếng Tày - Nùng chung, trong khi mỗi thứ tiếng  
lại có nhiều phương ngữ, không chỉ khác biệt về ngữ  
âm mà cả từ vựng. Sự gộp nhập trên đã khiến cho có  
học giả nước ngoài hiểu lầm là ở Việt Nam có một dân  
tộc thiểu số mang tên là “Tày-Nùng”, và như thế, nước  
ta chỉ có 53 (chứ không phải 54) dân tộc (?!)  
Việc xác định tộc danh khi nghiên cứu tộc người  
nói chung, các DTTS nói riêng nên được xác định và  
hiểu cho đúng đối tượng, nên so sánh với những tên gọi  
đã quen biết, để tránh "ông nói gà, bà nói vịt".  
Chúng tôi đã có dịp góp ý kiến về việc biên soạn  
Tiêu đề đề mục "Việt Nam - các ngôn ngữ" nhằm phân  
loại tài liệu sao cho phù hợp với cách phân chia ngôn  
ngữ theo dân tộc. Trong tình hình số lượng dân tộc được  
quan niệm không tương ứng với số ngôn ngữ hay nói  
đúng hơn, theo giới chuyên môn thì "Việt Nam có 54  
dân tộc, nhưng có đến gần 100 ngôn ngữ/phương ngữ  
DTTS hành chức" (5), mỗi dân tộc và nhóm dân tộc lại  
có thể có nhiều tên gọi (cũ và mới) thì việc xác định cho  
đúng đối tượng được đề cập trong một văn bản cần có  
kiến thức chuyên ngành sâu sắc. Việc nhận biết những  
chi tiết ở trên còn nhằm hiểu và sử dụng đúng các cách  
ghép tên dân tộc.  
*
*
*
Ngoài hai trường hợp nói trên, do chưa có quy định  
thống nhất chính tả cho mọi trường hợp, ta luôn có thể  
gặp cùng một tộc danh nhưng đã có những cách gọi và  
cách viết khác nhau được công nhận ở những thời điểm  
khác nhau.  
. Chẳng hạn như Mèo cv. Mẹo là tên gọi trước đây  
của một dân tộc thiểu số. Ví dụ: Bài viết của Vương  
Quỳnh Anh có tên là Vài ý kiến về vấn đề từ mượn trong  
tiếng Mèo. In trong "Tập san dân tộc" của Uỷ ban Dân  
tộc Trung ương (1960).  
Vấn đề nêu ra trên đây chỉ muốn được xem như gợi  
ý nên thận trọng với công tác phân loại tài liệu khoa  
học, cần đọc kỹ để xác định từ khóa hay định chủ đề  
cho đúng và đầy đủ. Đặc biệt là khi xử lý các tài liệu  
bằng tiếng nước ngoài cần thận trọng, và quan trọng  
nhất là phải xác định được nhà nghiên cứu nọ đề cập  
đến (nhóm) dân tộc - ngôn ngữ nào.  
Tên gọi này đã chính thức được thay đổi thành  
Hmông, theo Danh mục thành phần các dân tộc ở Việt  
Nam (1979), song do không nhận được sự đồng thuận,  
nên đã có quyết định gọi chính thức là dân tộc Mông  
trong Thông báo số 02 ngày 3-9-1992 của Văn phòng  
Hội đồng Bộ trưởng về ý kiến kết luận của Chủ tịch Hội  
đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) tại Hội  
nghị vùng cao về dân tộc này.  
Khi chỉ có quy định cho một trường hợp thì không  
phải ai ai cũng biết mà theo. Do đó, hai cuốn sách xuất  
bản cùng năm có thể viết tên dân tộc này theo hai cách.  
Ví du: Cuốn sách do Hùng Đình Quý d., gth. có tên là  
Những bài khèn của người Mông ở Hà Giang (2005).  
Trong khi đó cuốn sách của Vương Duy Quang có tên  
5
Báo cáo tóm tắt chuyên khảo CSNN của Nhà nước CHXHCNVN  
trong thời kỳ CNH, HDDH đất nước và hội nhập quốc tế: Thực trạng,  
các kiến nghị và giải pháp. Hà Nội, 2010, tr. 23  
V.Toan/ No.16_June 2020|p.5-11  
3.  
Vương Hùng (2002), Thái - Thổ - Tày - Nùng.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Trong: “Văn hoá và lịch sử các dân tộc trong nhóm  
ngôn ngữ Thái Việt Nam”. H., Nxb Văn hoá Thông  
tin,  
1.  
Vi Văn An (2001), Góp phần tìm hiểu về tên gọi  
Thái Đen và Thái Trắng ở miền tây Nghệ An, Tc. Dân  
tộc học, số 4, tr. 32-36.  
4.  
Hoàng Văn Ma (2019), Về tên gọ họ Thái -  
2.  
Lê Sĩ Giáo (1988), Về bản chất và ý nghĩa tên  
Kađai. Trong : “Thái học Việt Nam: 30 năm - Một  
chặng đường”. H., Nxb Thông tin và Truyền thông, tr.  
154-166.  
gọi các nhóm Thái Trắng và Thái Đen ở Việt Nam. Tc.  
Dân tộc học, số 3, tr.77-81.  
5.  
Đoàn Văn Phúc (2009), Vấn đề chính tả tên các - Công nghệ thông tin". Trường ĐH Khoa học Tự nhiên  
dân tộc thuộc ngữ hệ Hán - Tạng, Trong: Tìm hiểu ngôn TP Hồ Chí Minh, tháng 5/2008, tr. 33-44.  
ngữ các dân tộc ở Việt Nam. H., KHXH, tr. 190-221.  
10. Vương Toàn (2011), Hiểu cho đúng các nhóm  
6.  
Mông Ký Slay (2002), Tày Nùng, Tày - Nùng từ: Tày - Nùng, Tày - Thái, Tày - Thổ. Báo cáo tại Hội  
hay… Trong: “Văn hoá và lịch sử các dân tộc trong thảo Ngữ học toàn quốc do Hội Ngôn ngữ học phối hợp  
nhóm ngôn ngữ Thái Việt Nam”. H., Nxb Văn hoá với Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng tổ  
Thông tin, tr. 69-76.  
chức ngày 22/4/2011.  
11. Vương Toàn (2019), Xung quanh tộc danh và  
ngôn ngữ của hai dân tộc Tày và Nùng hiện nay. Bài  
trình bày tại Hội thảo khoa học quốc gia Một số vấn đề  
lí luận và thực tiễn xác định thành phần ngôn ngữ trong  
quan hệ với xác định thành phần tộc người ở Việt Nam,  
do Viện Ngôn ngữ học tổ chức, ngày 21/1/2019.  
7.  
Vương Toàn (2000), Về tên gọi các dân tộc  
thuộc ngữ hệ Thái ở Việt Nam // What should the ethnic  
groups in the Thai linguistic family in Vietnam be  
called? Tóm tắt báo cáo Hội nghị quốc tế lần thứ năm  
về các ngôn ngữ châu Á. ĐHQG tp HCM, 2000, tr. 256-  
258.  
8.  
Vương Toàn (2002), Nùng hay Nồng? Trong:  
12. Cầm Trọng (1992), Từ những tên gọi của  
“Văn hoá và lịch sử các dân tộc trong nhóm ngôn ngữ từng dân tộc trong cộng đồng ngôn ngữ Tày - Thái,  
Thái Việt Nam”. H., Nxb Văn hoá Thông tin, tr. 77- chúng ta có thể nghiên cứu gì về nguồn gốc của họ.  
84.  
9.  
Tạp chí Dân tộc học, Viện Dân tộc học, số 4, tr.14  
Vương Toàn (2008), Góp ý về biên soạn Tiêu đề - 20.  
đề mục "Việt Nam - các ngôn ngữ". "Bản tin Thư viện  
Ethnonymes used in linguistic life in Vietnam  
Vuong Toan  
Article info  
Abstract  
Official ethnonymes with different writings may change according to the decisions  
to determinate ethnic compositions made in our country each time  
Recieved:  
27/3/2020  
Accepted:  
10/6/2020  
This article reiterates the changes that need to be noted to avoid confusion when  
processing and exploiting information for researches on different ethnic groups in  
Vietnam. Particular caution must be exercised when combining ethnic names  
Keywords:  
Ethnonyme, Ethnic group,  
Language use, Vietnam  
V.Toan/ No.16_June 2020|p.5-11  
pdf 8 trang yennguyen 13020 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tộc danh sử dụng trong đời sống ngôn ngữ ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftoc_danh_su_dung_trong_doi_song_ngon_ngu_o_viet_nam.pdf