Nhân vật hoạt kê trong tiểu thuyết Dư Hoa và cuộc đối thoại với truyền thống văn hóa Trung Quốc

UED Journal of Social Sciences, Humanities & Education, ISSN: 1859 - 4603  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI, NHÂN VĂN VÀ GIÁO DỤC  
NHÂN VẬT HOẠT KÊ TRONG TIỂU THUYẾT DƯ HOA  
VÀ CUỘC ĐỐI THOẠI VỚI TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA TRUNG QUỐC  
Nguyễn Thị Hoài Thu  
Trường Đại học Vinh, Việt Nam  
Tác giả liên hệ: Nguyễn Thị Hoài Thu - Email: hoaithukv@gmail.com  
Ngày nhận bài: 10-5-2021; ngày nhận bài sửa: 12-6-2021; ngày duyệt đăng: 17-6-2021  
Tóm tắt: Nhân vật hoạt kê trong tiểu thuyết Dư Hoa là một phương tiện nghệ thuật độc đáo để nhà văn đối thoại với các mệnh đề  
chính trong truyền thống văn hóa Trung Hoa. Thông qua việc phân tích các dạng thức: nhân vật châm biếm, nhân vật hài hước và  
nhân vật u-mua đen, bài viết tập trung làm sáng tỏ tinh thần phản tỉnh của nhà văn đối với con người và hiện thực. Từ đó, bài viết  
đi đến khẳng định những đóng góp mới của Dư Hoa trong tư tưởng và nghệ thuật.  
Từ khóa: Dư Hoa; tiểu thuyết, nhân vật; hoạt kê; cái hài; văn học Trung Quốc hiện đại.  
thức nhận thức và đánh giá mới của ông đối với hiện  
thực. Trong cái nhìn có phần ôn hòa, bớt căng thẳng  
hơn so với thời kì đầu, tiếng cười được Dư Hoa sử dụng  
1. Mở đầu  
Dư Hoa là nhà văn không chỉ được các nhà phê  
bình văn học hàng đầu Trung Quốc coi là một trong  
ngày càng phổ biến để khai phá những bi hài của số  
những nhà văn có thực lực nhất Trung Quốc1 (Moyan  
Ranks First in the List of Chinese Best Writers, 2018)  
phận, nhân sinh. Nhân vật vì thế bắt đầu cởi mở hơn,  
giải tỏa những căng thẳng trước đây. Đó là lí do khiến  
kiểu nhân vật hoạt kê ngày càng chiếm vị trí quan trọng  
mà còn được thế giới đánh giá cao khi khẳng định đây  
là “một nhân vật có thể cho thấy con người của một thời  
trong tiểu thuyết của Dư Hoa. Là một nhà văn luôn kiên  
trì tính hiện đại trong tư tưởng và bút pháp, luôn mang ý  
Trung Quốc nổi tiếng thế giới” (Sabina, 2003). Là nhà  
thức tái cấu trúc nền văn hóa, Dư Hoa thông qua kiểu  
nhân vật hoạt kê trong tiểu thuyết đã đối thoại, thể hiện  
tác, Dư Hoa đã để lại dấu ấn sâu đậm trên bức tranh đa  
sự bất tín với những mệnh đề văn hóa trong truyền  
đại, là đại diện cho linh hồn dân tộc, Dư Hoa là nhà văn  
văn có bút lực mạnh mẽ, qua gần bốn thập niên sáng  
màu sắc của văn học Trung Quốc đương đại. Các tác  
thống Trung Hoa.  
phẩm của ông không chỉ phản chiếu sinh động những  
biến chuyển trong đời sống tư tưởng của thời đại mà  
còn cho thấy diện mạo của văn học Trung Quốc từ khi  
1Năm 2007, mười nhà phê bình văn học hàng đầu Trung  
Quốc gồm: Chu Đại Khả, Tạ Hữu Thuận, Bạch Hoa, Trương  
đất nước này tiến hành Cải cách mở cửa. Từ những năm  
90 của thế kỉ trước, những bộ tiểu thuyết của Dư Hoa  
Hoằng… tham gia bình chọn các nhà văn Trung Quốc đương  
lần lượt được xuất bản2 cho thấy sự chuyển hướng sáng  
đại có thực lực nhất. Kết quả Mạc Ngôn đạt 9 phiếu giữ ngôi  
đầu bảng, Dư Hoa cùng với Sử Thiết Sinh, A Lai, Vương An  
Ức đạt 6 phiếu đề cử cùng xếp thứ 2 trong bảng xếp hạng.  
tạo, tìm tòi lối đi riêng của nhà văn. Trong đó, kiểu nhân  
vật hoạt kê thể hiện một kiểu quan hệ mới, một hình  
2Gào thét và mưa bụi (về sau đổi tên thành Gào thét  
trong mưa bụi) năm 1991; Sống năm 1992; Chuyện Hứa Tam  
Quan bán máu, năm 1995; Huynh đệ (tập 1) năm 2005; Huynh  
đệ (tập 2) năm 2006; tất cả đều được đăng trên phụ san của tạp  
chí Thu hoạch. Tiểu thuyết Ngày thứ bảy (第七天) năm 2013,  
Nxb Tân Tinh.  
Cite this article as: Nguyen, T. H. T. (2021). Comic  
characters in Yu Hua’s novels and the conversation with  
Chinese traditional culture. UED Journal of Social Sciences,  
Humanities and Education, 11(1), 147-156.  
Tạp chí Khoa học Xã hội, Nhân văn và Giáo dục, Tập 11, Số 1 (2021), 147-156 | 147  
Nguyễn Thị Hoài Thu  
thứ nhất “chỉ sự ăn nói điên đảo, lật lọng, có thể nói đen  
thành trắng, trắng thành đen”. Nghĩa này gần gũi với  
cách dùng trong Bốc cư. Nghĩa thứ hai là “chọc cười”  
(Nguyen, 1975, 312). Nghĩa này chính là cách hiểu của  
Hán ngữ hiện đại.  
2. Nội dung  
2.1. “Hoạt kê” (滑稽) là thuật ngữ có nguồn gốc từ  
Hán ngữ, có lịch sử tồn tại khá lâu. Nó xuất hiện sớm  
nhất trong Trang tử, thiên Từ vô quỷ. Ở đây, “Hoạt Kê”  
là tên của một người đi theo hầu hạ hoàng đế. Việc  
người này được gọi tên là “Hoạt Kê” có vì đặc điểm nào  
đó của anh ta hay không, không có căn cứ để làm rõ.  
Trong Sở từ (Khuất Nguyên), thiên Bốc cư, hai chữ  
“hoạt kê” có xuất hiện với ý nghĩa chỉ sự mềm dẻo, linh  
hoạt của ngôn ngữ. Đến thời Hán, từ “hoạt kê” đã có nội  
hàm ý nghĩa mới. Sau khi khảo sát cách dùng từ “hoạt  
kê” trong Hoạt kê liệt truyện của Sử kí (Tư Mã Thiên),  
nhà nghiên cứu Hác Ngọc Bình đã rút ra một số kết luận  
đáng chú ý. Thứ nhất, “hoạt kê” vốn ban đầu có nghĩa là  
một dụng cụ đựng rượu, có cái bụng to như cái nồi. Từ  
đó, “hoạt kê” trở thành ẩn dụ cho những người giỏi ăn  
nói, giỏi sử dụng ngôn từ biện luận, xuất khẩu thành  
chương, lời lẽ giàu ẩn ý, từ ngữ không bao giờ cạn. Thứ  
hai, có vẻ như các biểu hiện: nói lòng vòng, đùa dí dỏm,  
pha trò cũng là những biểu hiện của hoạt kê. Từ đó, tác  
giả đề xuất cách hiểu về “hoạt kê” như sau: “Hoạt kê  
chính là người có tài ứng đối, là một hình thức nghệ  
thuật, một loại ngôn ngữ với tri thức phong phú uyên  
bác, tư tưởng mẫn tiệp, ví dụ xác đáng, hình thức sinh  
động, biểu diễn chân thực, biểu đạt một đạo lý sâu sắc  
bằng cách thoải mái và nhẹ nhàng của hài hước, hoặc  
chế giễu hoặc khuyên can, khiến mọi người trong khi  
ôm bụng cười lớn mà cảm ngộ, thức tỉnh sâu sắc” (Hao,  
1983, 101-102).  
Ở Việt Nam hiện nay, thuật ngữ “hoạt kê” cũng  
được sử dụng trên hai nghĩa. Nghĩa thứ nhất tương tự  
như trong Hán ngữ, dùng để chỉ tính chất khôi hài, gây  
cười của một lối nói, một câu chuyện, một hành động,  
một sự việc. Nghĩa thứ hai, “hoạt kê” nhằm chỉ một  
kiểu, loại đặc biệt trong sáng tác nghệ thuật, ví dụ như:  
tiểu thuyết hoạt kê, tranh hoạt kê. Điều kiện cần để trở  
thành một tác phẩm hoạt kê là nó phải được vận hành  
theo nguyên tắc thẩm mĩ của cái hài. Hình tượng nghệ  
thuật được xây dựng dựa trên sự mâu thuẫn, không  
tương xứng giữa hình thức và nội dung, hiện tượng và  
bản chất, mục đích và phương tiện, hành động và tình  
huống… Tác phẩm hoạt kê thường dùng để giễu cợt,  
chế nhạo, phê phán cái xấu, cái ác, cái lỗi thời, cái mới  
kệch cỡm trong xã hội. Lịch sử văn học đã từng ghi  
nhận những tiểu thuyết hoạt kê đặc sắc. Trên thế giới,  
Don Quixote (M. de Cervantes), Gargantuar (F.  
Rabelais) được coi là những tác phẩm vĩ đại mở đường  
cho tiểu thuyết hoạt kê. Đỉnh cao của tiểu thuyết hoạt kê  
trong văn học Việt Nam là Số đỏ của Vũ Trọng Phụng.  
Cách dùng thứ hai gần gũi với khái niệm “trào phúng”.  
Trong bài viết, chúng tôi sử dụng thuật ngữ “hoạt  
kê” trên nghĩa rộng, nhằm chỉ tính chất gây cười, khôi  
hài. Tất nhiên, không phải mọi thứ gây cười đều được  
xem là hoạt kê. Tiếng cười hoạt kê phải bao hàm một ý  
nghĩa xã hội, giúp con người nhận ra bản chất của đối  
tượng, nhận thức được chân lí. Tiếng cười vừa gắn liền  
với sự khẳng định lý tưởng thẩm mĩ cao cả, vừa có ý  
nghĩa phủ định, phá hủy, có sức công phá mãnh liệt đối  
với cái xấu xa, lỗi thời. Không chỉ vậy, tiếng cười ấy  
còn giúp ta tiếp cận với đời sống một cách dân chủ,  
bằng cái nhìn biện chứng, đa nguyên, phi quy phạm.  
Cách tiếp cận đó khiến cho đời sống trở thành chính nó  
chứ không phải là một hiện thực nhân tạo được tô vẽ  
bằng những lý tưởng, tưởng tượng của con người.  
Trong Hán ngữ hiện đại, nghĩa thứ nhất của “hoạt  
kê” là tính từ nhằm chỉ tính chất của những từ ngữ, hành  
động hoặc tình huống nào đó khiến cho người khác  
buồn cười. Khi chế giễu và chọc cười thì các mâu thuẫn  
bên trong hiện tượng được bộc lộ, vì thế đạt đến hiệu  
quả phê bình và châm biếm. Nghĩa thứ hai, “hoạt kê”  
dùng để gọi tên một loại hình kể chuyện cười rất sinh  
động, thú vị, lưu hành phổ biến trong vùng Ngô Việt  
(Thượng Hải, Hàng Châu, Tô Châu…) (What is humor?  
n.d.).  
Theo Hán Việt tự điển của Thiều Chửu, “hoạt kê”  
còn có một âm đọc khác là "cốt kê", có nghĩa là "nói  
khôi hài" (Thiều, 1999, 320). Trong trường hợp này,  
“hoạt kê” là một động từ, nghĩa của nó chỉ giới hạn ở lối  
nói có tính chất gây cười. Theo Hán - Việt tân từ điển  
của Nguyễn Quốc Hùng, “hoạt kê” có hai nghĩa. Nghĩa  
Hơn nữa, ở đây, trong lĩnh vực văn học, “hoạt kê”  
không chỉ được nhận diện như một dạng đặc biệt của  
sáng tác nghệ thuật, mà còn là một thành tố của tác  
phẩm. Lúc này, hoạt kê chỉ biểu hiện trên một vài  
phương diện nào đó của tác phẩm, chẳng hạn như cách  
dùng từ đặt câu, bút pháp xây dựng nhân vật… Nó  
148  
ISSN: 1859 - 4603, UED Journal of Social Sciences, Humanities and Education, Vol. 11, No. 1 (2021), 147-156  
không còn là một nguyên tắc thẩm mĩ chi phối toàn bộ  
sáng tác mà chỉ là một thủ pháp bên trong đó mà thôi.  
Hoạt kê có thể có mặt ở bất cứ sáng tác nghệ thuật nào,  
bất kể đó có là tác phẩm hoạt kê hay không.  
2.2. Căn cứ vào mục đích và sắc thái tiếng cười mà  
nhân vật mang lại, nhân vật hoạt kê của Dư Hoa có thể  
chia thành các dạng: nhân vật châm biếm, nhân vật hài  
hước và nhân vật u-mua đen.  
Như vậy, có thể khẳng định, trong văn học nghệ  
thuật, hoạt kê gắn bó chặt chẽ với phạm trù thẩm mĩ cái  
hài. Tiếng cười của nó mang nhiều cung bậc như bông  
đùa, hài hước, mỉa mai, đả kích, châm biếm; đồng thời,  
cũng mang nhiều sắc thái khác nhau như thiện cảm,  
khinh bỉ, nghiêm khắc, chua chát. Tinh thần hoạt kê  
luôn cần thiết trong văn học. Bởi nó là biểu hiện của  
một tinh thần lạc quan, một thái độ đứng lên trên cái  
xấu, cái ác để cười nhạo, của một năng lực xây dựng lí  
tưởng thẩm mĩ cao cả. Tiếng cười được coi là đặc quyền  
tinh thần của con người. Cùng với việc sở hữu trí tuệ và  
đời sống tâm hồn, con người đã dùng tiếng cười để tăng  
sức mạnh cho chính mình.  
Nhân vật châm biếm trong tiểu thuyết Dư Hoa là  
nhân vật mà ở đó, tiếng cười cất lên nhằm phanh phui,  
chế nhạo những biểu hiện xấu xa, lạc hậu, kệch cỡm.  
Đây là dạng thức nhân vật giúp Dư Hoa lột trần căn tính  
xấu của con người, lật tẩy những khẩu hiệu phù phiếm  
trong lịch sử văn hóa Trung Hoa. Ở ý nghĩa này, Dư  
Hoa xứng đáng là “người kế thừa và phát triển tinh thần  
Lỗ Tấn tiêu biểu nhất” (Yu, 2012, 5) của nền văn học  
Trung Quốc hiện đại. Như nhân vật người điên trong  
truyện ngắn Nhật kí người điên của Lỗ Tấn từng bộc  
bạch: “Lịch sử không đề niên đại, có điều trang nào  
cũng đề mấy chữ ‘nhân, nghĩa, đạo đức’ viết lung tung  
tí mẹt” (Lo, 2009, 42), quả thật lịch sử văn hóa mấy  
nghìn năm của Trung Quốc được phủ kín bởi bao nhiêu  
mĩ từ: Nhân, Lễ, Nghĩa, Nhân chi sơ/Tính bản thiện,  
Đại cách mạng Văn hóa… Dư Hoa với dạng nhân vật  
châm biếm đã thể hiện một ý thức phản tỉnh sâu sắc,  
thấu suốt các nhược điểm của con người, thấu suốt "liệt  
căn tính" của dân tộc, cho thấy đó chỉ là “một khẩu  
hiệu”, “một thứ trang trí” (Yu, 2007, 49).  
Những nhân vật được xây dựng dựa trên bút pháp  
hoạt kê thuộc kiểu nhân vật hoạt kê. Kiểu nhân vật này  
trở thành đối tượng gây cười, đối tượng bị cười trong  
các tác phẩm. Nhân vật hoạt kê có thể thuộc tất cả tầng  
lớp trong xã hội. Tuy nhiên, điều đáng nói là kiểu nhân  
vật này thường được miêu tả trong cuộc sống đời  
thường bởi chỉ có trong sinh hoạt thường ngày, tất cả  
những lời nói ngô nghê, các thói hư tật xấu, những dị  
tật, những tình huống hài hước mới được phô bày rõ  
ràng. Đặc điểm này giúp nhân vật hoạt kê phân biệt với  
những nhân vật nghiêm túc, nhân vật mang màu sắc bi  
kịch bởi kiểu nhân vật này thường được diễn tả trong  
những thời điểm đặc biệt. Nhân vật hoạt kê thường bị  
phóng đại lên một đặc điểm tính cách nào đó và giản  
lược các nét tính cách khác, khiến chúng đôi khi không  
giống với thực tế.  
Trong thế giới hoạt kê của Huynh đệ, Lý Trọc là  
nhân vật trung tâm. Hình tượng Lý Trọc là tổng hòa của  
các cặp mâu thuẫn: một kẻ bị người người phỉ nhổ trở  
thành người được xưng tụng, là kẻ hấp thụ sức mạnh  
của bóng đêm trong quá khứ để tỏa sáng giữa thanh  
thiên bạch nhật của hiện tại, một kẻ ngóc đầu dậy từ  
đống phân trở thành vua muôn kẻ thèm khát, một kẻ bới  
rác trở thành siêu tỉ phú, một kẻ dâm đãng ngủ với hàng  
trăm đàn bà nhưng vẫn luôn khao khát gái trinh và là  
biểu tượng của “tình yêu trong trắng và tràn đầy nhiệt  
huyết”. Hình tượng nhân vật một mặt tràn trề các yếu tố  
vật chất - xác thịt của cuộc sống như đời sống tính dục,  
ăn uống, phóng uế, thân xác…, mặt khác, lại gợi nhắc  
đến vị lãnh tụ tinh thần của người dân Trung Quốc như  
các hành động vẫy tay với công chúng, vẽ tranh chân  
dung to bằng chân dung của Mao chủ tịch treo ở Thiên  
An Môn... Đặc biệt, chi tiết Lý Trọc ngồi trên chiếc bô  
vệ sinh mạ vàng nổi tiếng của mình, cảm khái nghĩ về  
cuộc sống hiện sinh xuất hiện ở đầu và cuối tác phẩm  
thể hiện tập trung nhất tính chất nghịch dị của nhân vật.  
Lý Trọc ngồi trên bô như ngồi trên ngai vàng. Đó là nơi  
Nhân vật hoạt kê là một phương tiện quan trọng để  
nhà văn thể hiện một thái độ đối với cuộc đời và con  
người. Đó là thái độ bao dung, lạc quan, nhẹ nhõm; là  
sự phê phán, chế giễu những hiện tượng, hành động, thế  
lực đi ngược lại với sự tiến bộ của nhân loại. Kiểu nhân  
vật hoạt kê đã có một lịch sử phát triển lâu dài từ trong  
những câu chuyện trào triếu dân gian cho đến tiểu  
thuyết trào phúng hiện đại và bao giờ nó cũng thể hiện  
được tác dụng lớn lao trong việc giải thoát con người  
khỏi những điều ti tiện, xấu xa, hướng con người đến  
những lí tưởng đẹp đẽ, cao thượng.  
149  
Nguyễn Thị Hoài Thu  
xú uế, bẩn thỉu nhất trên thế gian cũng là nơi trang trọng  
nhất mà Lý Trọc đã lựa chọn để suy nghĩ về các vấn đề  
triết học. Tất cả đều hướng đến thể hiện ý nghĩa biểu  
tượng của nhân vật về một thế giới coi trọng vật chất,  
thể xác được cải trang bởi tấm áo kim sa đẹp đẽ thêu dệt  
bởi muôn vàn mĩ từ. Đó là thế giới đã giết chết, hóa tro  
và đẩy những biểu tượng tinh thần thuần phác như Tống  
Cương trở thành “người ngoài hành tinh”.  
tạo “slogan” cho riêng mình: “Phải làm một cái kéo  
cách mạng thật sắc bén, trông thấy kẻ thù giai cấp là  
phải cắt dái cắt cu của chúng”! (Yu, 2012, 76-77). Từ  
đó, chúng ta đã hiểu “nhiệt tình cách mạng” của những  
con người này như thế nào. Họ a dua chạy theo những  
khẩu hiệu, thể hiện sự nhiệt thành của mình nhưng chưa  
bao giờ quên lợi ích trước mắt của bản thân. Dù thật  
lòng hồ hởi, nhiệt tình hay cố tỏ ra hồ hởi, nhiệt tình thì  
những con người này đã được nền chính trị đương thời  
tập hợp lại dưới khẩu hiệu cách mạng chung. Để rồi từ  
các khẩu hiệu hùng hồn mà tưởng chừng vô hại ấy, họ  
dần bị nhấn chìm vào những cuộc đấu tố, tra tấn và đánh  
giết đẫm máu. Và vẫn bằng một tinh thần u mê, hào  
hứng, thiếu sự phân tích cần thiết như khi họ cất vang  
khẩu hiệu của riêng mình, những con người này ngày  
càng dấn sâu vào tai họa, đấu tố, hại chết người khác mà  
không biết rằng chính bản thân mình một mai cũng bị  
dìm chết trong dòng lũ cách mạng đó. Quả thật, “nhân  
vật trong Huynh đệ có một điểm chung là tất cả đều  
hoang đường: hành động hoang đường, ngôn ngữ hoang  
đường, suy nghĩ hoang đường... cùng tồn tại vô nghĩa  
trong một xã hội cũng đầy rẫy sự hoang đường” (Nie &  
Chen, 2010, 51). Dư Hoa bằng ngòi bút mạnh mẽ của  
mình đã phanh phui tất cả sự méo mó, kì dị trong xã hội  
Trung Hoa hiện đại. “Trong khi tất cả các nhà văn  
Trung Quốc không trực tiếp đối mặt với thực tế của  
Trung Quốc, thì Dư Hoa là người trực tiếp đối mặt với  
nó. Riêng điều này, tất cả chúng ta nên giữ thái độ tôn  
trọng đối với Dư Hoa” (Yan, 2014). Nói Dư Hoa là  
người duy nhất dám đối mặt với thực tế là một cách để  
Diêm Liên Khoa đề cao đồng nghiệp nhưng qua đó ta  
cũng thấy sự dũng cảm của nhà văn khi cất lên tiếng nói  
phản biện trong cơ chế kiểm duyệt khắt khe và áp lực  
dư luận nặng nề của Trung Quốc.  
Trong thế giới kì dị của Huynh đệ, xung quanh hạt  
nhân trung tâm là Lý Trọc, đông đảo các nhân vật khác  
cũng kì dị, quái đản không kém. Đám đông này bộc lộ  
hai đặc tính: thứ nhất là tính cách nô lệ, khuất phục; thứ  
hai là tính cơ hội, dễ dàng thích nghi theo hoàn cảnh.  
Hai nét tính cách này thực chất là hai mặt thống nhất  
của sự thiếu năng lực phản kháng, đấu tranh để cải thiện  
hoàn cảnh. Điều đáng cười ở chỗ mặc dù hoàn toàn thụ  
động trước hoàn cảnh nhưng họ lại tự tin tưởng rằng  
bản thân chủ động thích nghi.  
Chính vì dễ dàng khuất phục trước hoàn cảnh nên  
mọi hành động và lời nói của đám đông nhân vật ở thị  
trấn Lưu dường như đã được lập trình sẵn, rập khuôn  
một cách lố bịch như một cỗ máy. Ngay khi cuộc Đại  
cách mạng văn hóa nổ ra, trên phố lớn của thị trấn Lưu  
lập tức đã có đoàn người “hò hét và ca hát như những  
đàn chó to chó nhỏ, họ hô những khẩu hiệu cách mạng,  
hát những bài ca cách mạng”. Trong đám đông rầm rộ  
ấy, mỗi người lại có một khẩu hiệu cho riêng mình.  
Đồng thợ rèn hùng hồn nhất, giơ cao búa sắt nói to:  
“Phải làm một thợ rèn cách mạng dũng cảm vì việc  
nghĩa, đập cho bẹp, đập cho nát đầu chó, chân chó của  
kẻ thù giai cấp, đập bẹp như lưỡi liềm lưỡi cuốc, đập nát  
như những đồ đồng nát”. Tương tự, “thầy thuốc chữa  
răng cách mạng” - ông Dư nhổ răng cũng giơ kìm nhổ  
răng lên, hô to phương pháp làm cách mạng có một  
không hai của mình: “nhổ bỏ cái răng chắc của kẻ thù  
giai cấp, nhổ bỏ cái răng sâu cho anh chị em giai cấp”.  
Thợ may Trương không chịu thua kém, cũng làm người  
“thợ may cách mạng” với tôn chỉ hết sức rõ ràng: “may  
quần áo đẹp nhất cho chị em cùng giai cấp” và “may  
những vải bọc xác chết rách nát nhất” cho kẻ thù giai  
cấp. Trong đội ngũ cách mạng này, ông Vương bán kem  
có lẽ là người hời nhất khi bán “những que kem cách  
mạng không bao giờ tan”, “mỗi que kem là một giấy  
chứng nhận cách mạng”, ai mua kem của ông là anh chị  
em giai cấp, ai không mua là kẻ thù giai cấp! Ngược lại,  
bố con họ Quan mài kéo lại tỏ ra bí nhất cho việc sáng  
Thế kỉ XIX, nhà văn Nga N. Chernyshevsky đã  
khẳng định: “Cái hài luôn là sự trống rỗng và vô nghĩa  
bên trong được che đậy bằng một cái vỏ huênh hoang tự  
cho rằng có nội dung và ý nghĩa thực sự” (Le et al.,  
2007, 42). Nhân vật châm biếm trong tiểu thuyết của Dư  
Hoa chính là sự kết hợp hoàn hảo giữa bản chất vô  
nghĩa, phi lý và hình thức phù phiếm, khoa trương. Cảm  
hứng phê phán phủ định là mặt chủ yếu của kiểu nhân  
vật này. Bằng tiếng cười sắc sảo, Dư Hoa đã vạch rõ lỗ  
hổng trong văn hóa cũng như liệt căn tính của người  
Trung Hoa hiện đại. Đây là một hướng đi mới của nhà  
150  
ISSN: 1859 - 4603, UED Journal of Social Sciences, Humanities and Education, Vol. 11, No. 1 (2021), 147-156  
văn trong cách thức thể hiện tinh thần phản tỉnh luôn  
thường trực trong tác phẩm của ông.  
trong bất cứ hoàn cảnh nào, kể cả trong tình thế bi đát  
nhất. Tiếng cười mà các nhân vật này mang lại cho độc  
giả một chút nhẹ nhõm, thanh thản giữa những trường  
đoạn căng thẳng của câu chuyện. Tâm hồn thơ dại, vô  
tư, trong trẻo của các em là điểm sáng, tạo nên chất thơ  
trong mỗi tiểu thuyết của Dư Hoa. Đặc biệt, nhân vật trẻ  
em tồn tại trong thế đối lập với những toan tính, vụ lợi,  
độc ác của thế giới người lớn và sự đen tối của cuộc đời.  
Qua đôi mắt trẻ thơ, một thế giới “bạo lực, đạo đức giả,  
xảo quyệt, điên loạn, hỗn tạp, tiến thoái lưỡng nan”  
được tái hiện trong tác phẩm (Shen & Jiang, 2004, 70).  
Bởi vậy, tiếng cười hài hước từ các nhân vật này đồng  
thời là sự phủ nhận thế giới người lớn - vốn luôn tự coi  
mình là mẫu mực, chân lý, là “tiền nhân” mà kẻ “hậu  
bối” phải noi theo.  
Dạng thức nhân vật hài hước chiếm số lượng đáng  
kể trong kiểu nhân vật hoạt kê của tiểu thuyết Dư Hoa.  
Đó là những nhân vật mà tiếng cười chỉ dừng lại ở mức  
độ bông đùa, vui vẻ, đầy thiện ý, với ý nghĩa thiên về  
tính tích cực. Xét về mặt thành tố, nhân vật hài hước  
được tạo dựng trên cở sở kết hợp giữa tính nghiêm túc  
và cái đáng cười. Xét về “quy tắc trò chơi”, nhân vật hài  
hước có “cái nghiêm trang được giấu dưới mặt nạ đáng  
cười”, bởi thế “tính phức tạp có nội dung thực, tính  
nghiêm túc là thực, bản chất của nó có tính triết lý”  
(Lai, 1999, 134). Do mục đích đầy thiện ý của tiếng  
cười, nhân vật hài hước thể hiện một tinh thần lạc quan,  
hướng tới sự khoan dung của tác giả. Mỗi khi tiếng cười  
ấy chạm vào bất cứ đối tượng nào thì đối tượng đó bỗng  
được kéo gần lại để phân tích, để chiêm ngắm, khiến  
cho ranh giới giữa cao cả - thấp hèn, thiêng liêng - trần  
tục bị nhòe mờ. Bởi vậy, đây là tiếng cười giải thiêng  
mà Dư Hoa đã sử dụng để hóa giải, hạ bệ các biểu  
tượng văn hóa Trung Hoa.  
Các nhân vật hài hước còn là nơi để nhà văn thể  
hiện một cái nhìn khoan dung đối với hiện thực. Tinh  
thần khoan dung này khiến nhân vật hài hước trong tiểu  
thuyết Dư Hoa mang tính chất nước đôi. Nhân vật  
không còn là đối tượng của sự phán xét đúng - sai, phải  
- trái, xấu - tốt. Nếu tiếng cười gắn với nhân vật châm  
biếm có thể được sinh ra trong thế giới đơn trị thì tiếng  
cười hài hước với tính chất nước đôi chỉ có thể được sản  
sinh trong thế giới đa trị, nơi mà bất cứ ai, bất cứ điều gì  
cũng có thể trở thành đối tượng của cái cười - cái cười  
không chê không khen, không tán đồng cũng không  
phản đối. Bản năng dục tính của các nhân vật đã được  
Dư Hoa nhìn nhận dưới tinh thần này. Các nhân vật một  
khi bị/tự truy diệt phần bản năng, họ sẽ hành động rập  
khuôn như những con rối, đánh mất đi phần hồn nhiên  
nhi nhiên của con người. Thế nhưng, ngay khi được  
sống với đời sống bản năng của mình, họ lại trở nên  
sinh động lạ thường. Trong Gào thét trong mưa bụi,  
cũng như vẻ hấp dẫn của người vợ khi bị mê hoặc bởi  
hành động bản năng của đôi chim sẻ, khoảnh khắc sinh  
động nhất của người chồng chính là trong đêm tân hôn,  
khi nhân vật cởi bỏ cái lốt đạo mạo, trang trọng ban  
ngày để sống thực với con người bản năng, thực hiện  
những động tác “nhanh nhạy lạ lùng” (Yu, 2008, 197).  
Bên cạnh đó, cũng có những nhân vật trong tiểu thuyết  
Dư Hoa bị sức mạnh của bản năng giật dây điều khiển.  
Trong Huynh đệ, cơn thèm khát tính dục đã dúi đầu Lưu  
Sơn Phong, dúi cả đầu của Lý Trọc và không biết bao  
nhiêu gã đàn ông của thị trấn Lưu xuống hố phân của  
nhà vệ sinh công cộng để nhòm trộm mông đàn bà,  
khiến cho bố của Lý Trọc chết chìm dưới hố phân, Lý  
Trẻ em với tất cả sự ngây thơ của lứa tuổi là đối  
tượng đặc biệt trong dạng thức nhân vật hài hước của  
Dư Hoa. Các nhân vật nhỏ tuổi thú vị này xuất hiện ở  
tất cả tiểu thuyết của ông. Trong các tình huống khác  
nhau, các nhân vật đều bộc lộ sự hồn nhiên của lứa tuổi.  
Lý Trọc và Tống Cương là cặp đôi nhân vật độc đáo của  
Dư Hoa trong Huynh đệ. Hai anh em không chung  
huyết thống, hai cá tính đối lập đã gắn bó thân thiết với  
nhau tạo nên kiểu nhân vật sóng đôi. Họ đã cùng khóc  
cùng cười trải qua hoạn nạn trong tuổi ấu thơ của mình.  
Hai anh em Tống Cương, Lý Trọc không ít lần khiến  
độc giả bật cười bởi những ngây thơ của mình. Đó là  
khi chúng trở thành diễn viên bất đắc dĩ trong màn kịch  
bi hài - lễ cưới kiểu diễu hành của bố mẹ chúng; là khi  
chúng khóc, cười với từng chiếc kẹo sữa thỏ trắng to; là  
khi chúng sung sướng tưởng đã nằm lòng bí kíp rê chân  
của bố để rồi sau đó vỡ mộng khi bị những đứa trẻ lớn  
hơn đá cho lộn đầu lộn cổ… Cùng với Tống Cương , Lý  
Trọc trong Huynh đệ, còn có ba anh em Nhất Lạc, Nhị  
Lạc, Tam Lạc, Tôn Quang Lâm, Tôn Quang Minh,  
Quốc Khánh… trong Chuyện Hứa Tam Quan bán máu,  
Gào thét trong mưa bụi. Các em đều sống trong thế giới  
trẻ thơ với những suy nghĩ, tưởng tượng, hành động  
riêng. Chúng có thể cười và khiến cho độc giả cười  
151  
Nguyễn Thị Hoài Thu  
Trọc bị đưa đi giễu phố, và khiến cho những gã đàn ông  
tốn không ít bát mì Tam Tiên để đổi lấy “bí mật mông  
Lâm Hồng”. Hay hằng đêm, cậu thiếu niên Tôn Quang  
Lâm mặc dù sợ hãi nghĩ mình sắp chết khi có thứ gì  
chảy ra khỏi cơ thể nhưng nỗi sợ hãi, sự xấu hổ và lòng  
căm hờn với chính mình đều tỏ ra lực bất tòng tâm trước  
sự quyến rũ của sinh lý, ý chí của cậu vẫn hoàn toàn bị  
đánh gục, “không tự chủ lặp đi lặp lại nhiều lần sự run  
rẩy của niềm hoan lạc” (Yu, 2008, 123). Phải chăng, lí  
trí xơ cứng không thể kiểm soát nổi cuộc sống sinh  
động, hay bản năng tính dục thực chất cũng là một giá  
trị thuộc về bản chất người, tự nó không chịu trách  
nhiệm về sự phán xét xấu hay tốt về ai đó. Tính dục ở  
đây xuất hiện vừa như một yếu tố căn bản mà tầm  
thường của con người, vừa mang sức mạnh kinh khủng  
vừa thể hiện sự tận cùng của vô nghĩa. Dưới cái nhìn hài  
hước, nhân vật trong tiểu thuyết Dư Hoa không còn hay  
không thể “khắc kỉ phục lễ”, lí trí không còn là điểm tựa  
đáng tin cậy để khắc chế bản thân, chế ước dục vọng.  
Không phán xét, không thiên kiến, ở đây chỉ có những  
con người tự phơi mình trần trụi với lối sống phi lý tính,  
đầy bản năng, hoàn toàn xa rời những chuẩn mực đạo  
đức được xây dựng trong hàng ngàn năm lịch sử của  
Trung Hoa.  
liêng trong trật tự tôn ti của văn hóa truyền thống Trung  
Hoa bị cười cợt, bị giải thiêng. Hành động bất kính với  
cha đã lật nhào một biểu tượng của truyền thống, của uy  
quyền, của một sinh mệnh văn hóa hàng ngàn năm. Đó  
còn là hành động lật đổ những tín điều đóng băng trong  
tư tưởng, là hành vi tối hậu đưa đến sự giải thoát cho  
con người.  
Từ những cậu bé ngây ngô như Tống Cương, Quốc  
Khánh đến ông già ma mãnh như Tôn Hữu Nguyên, từ  
câu chuyện về bản năng dục tính đến cách hành xử của  
con đối với cha …, tất cả đều hòa vào tiếng cười hài  
hước mà đầy ý vị từ nhân vật tiểu thuyết của Dư Hoa.  
Dạng thức nhân vật này đã biến biểu tượng văn hóa vốn  
thiêng liêng trong văn hóa Trung Hoa như biểu tượng  
người cha uy quyền, biểu tượng con người lí trí trở nên  
gần gũi, thậm chí tầm thường. Tiếng cười do nhân vật  
hài hước mang lại thêm một lần nữa khẳng định tính  
đúng đắn trong quan niệm của nhà nghiên cứu M.  
Bakhtin: “Tiếng cười cho thấy một tâm thế của người  
viết: ung dung, bình thản, tự tin, không run sợ trước bất  
cứ cái gì, không quá tôn kính trước bất cứ cái gì…  
Tiếng cười có sức mạnh kéo sự vật lại gần để dễ nhìn  
thấy, dễ sờ mó và phân tích. Tiếng cười chỉ có thể bật ra  
khi chủ thể cười bình đẳng, thậm chí đứng cao hơn đối  
tượng gây cười” (Bakhtin, 1992, 15-16). Nhân vật hài  
hước của Dư Hoa vì thế mang tiếng cười giải thiêng,  
hóa giải những đại tự sự trong cách nghĩ của con người,  
của văn hóa truyền thống Trung Hoa.  
Giữa mấy chục nhân vật gá ghép với nhau trong  
trùng điệp các mảnh kí ức đứt nối của Gào thét trong  
mưa bụi, Tôn Hữu Nguyên gây ấn tượng cho người đọc  
bằng những hành động kì dị, có một không hai. Ông là  
một người con bị đánh lừa bởi “khí phách anh hùng giả  
tạo của bố”, cũng là người con đã phủ nhận, vượt qua  
bố của mình khi biến thảm họa lớn nhất trong nghề làm  
cầu đá của người bố thành giây phút huy hoàng lớn nhất  
và cũng là duy nhất của cuộc đời mình. Để rồi khi rơi  
vào hoàn cảnh thê thảm, ông lại vác xác bố chạy vào  
thành phố với “ý nghĩ hết sức kì cục định đưa xác bố  
vào hiệu cầm đồ”; và dù “luôn mồm xin lỗi xác chết  
trên vai”, ông vẫn lấy xác chết làm vũ khí, đánh nhau  
đến nỗi xác bố bị vẹo đầu, “hí hoáy mãi mới nắn lại cho  
thẳng được” (Yu, 2008, 213-215). Đến lượt mình, Tôn  
Hữu Nguyên lại là người cha bị chính con trai mình răn  
dạy trong mỗi bữa ăn và coi là người thừa trong gia  
đình, khiến ông phải giở mọi mánh lới để kiếm thêm  
miếng ăn. Sau này Tôn Quảng Tài - con Tôn Hữu  
Nguyên - lại bị chính con trai mình cắt tai. Lịch sử gia  
đình họ Tôn vì thế là sự phủ nhận liên tục của thế hệ sau  
đối với thế hệ trước. Hình tượng người cha vốn thiêng  
Nhân vật u-mua đen là dạng thức thứ ba của nhân  
vật hoạt kê trong tiểu thuyết Dư Hoa. Chúng được tạo  
dựng dựa trên nguyên tắc kết hợp giữa yếu tố hoạt kê và  
yếu tố khủng khiếp, giữa cái hài và cái bi. Nếu dạng  
thức nhân vật hài hước đưa đến tiếng cười nhẹ nhàng,  
khoan dung thì dạng thức nhân vật u-mua đen lại mang  
tới tiếng cười chua chát, bất lực. Mỗi hành động, lời nói  
gây cười của nhân vật ở đây không còn là một chiến  
lược tự sự nhằm giảm nhẹ mức độ nghiêm trọng của cái  
bi mà nhằm tô đậm cái bi, làm rõ tính chất hoang đường  
của tình thế, tiến thoái lưỡng nan của nhân vật. Với  
dạng thức này, Dư Hoa đã trình hiện ra một thế giới phi  
lí, hỗn loạn, không có giá trị chuẩn mực để đo lường –  
hoàn toàn đối nghịch với thế giới của “tôn ti trật tự”,  
một thế giới nhị nguyên quen thuộc của ta – địch, đen –  
trắng, đúng – sai.  
Khôi hài là cách phản ứng của các nhân vật của Dư  
Hoa để đối phó với cái phi lý của cuộc đời. Khi thế giới  
152  
ISSN: 1859 - 4603, UED Journal of Social Sciences, Humanities and Education, Vol. 11, No. 1 (2021), 147-156  
đi vào trạng thái nhập nhằng đáng sợ, mọi giá trị đều có  
tính chất nước đôi, mọi tình thế đều bất khả giải, con  
người không thể phân biệt thiện - ác, tốt – xấu, họ chỉ  
còn cách duy nhất là lắng nghe tiếng nói từ bên trong  
bản thể, lắng nghe sự thúc giục của khát vọng sinh tồn.  
Hai chàng thanh niên: anh trai của Lưu Tiểu Thanh  
(Gào thét trong mưa bụi) và Xuân Sinh (Sống) đã đối  
diện với cái chết bất khả kháng bằng những cách thức  
hài hước. Lần cuối cùng anh trai Lưu Tiểu Thanh quay  
trở về với nông thôn theo phong trào “Trí thức lên núi  
về làng”, nơi tính mạng luôn bị đe dọa, cậu vẫn cố gọi  
một cậu bé ghé sát mông mình xem có bị cào rách  
không, rồi “cười hì hì, đánh một cái rắm rất khẽ, sau đó  
từ từ đi vào cái chết vĩnh hằng” (Yu, 2008, 371). Cách  
cậu đón đợi cái chết bình thản nhất là dành chút hơi tàn  
của mình, tái hiện cái tếu táo, tinh nghịch của tuổi trẻ.  
Còn với Xuân Sinh, cậu trai trẻ bị bắt lính, hằng ngày  
phải chứng kiến cái chết của đồng đội, chỉ chực chờ  
ngày thần chết điểm tên mình đã không thôi sợ hãi. Tuy  
nhiên, còn sống ngày nào trên chiến trường, cậu còn tìm  
cách để sinh tồn. Trong lần tranh cướp thức ăn cứu trợ,  
Xuân Sinh đã tinh khôn không lao vào cướp bánh bao  
mà cướp… giày cao su của đồng đội, để vừa không bị  
dẫm đạp sứt đầu mẻ trán, vừa có thể thay củi nấu cơm!  
Cả hai nhân vật này đều phải đối diện với hoàn cảnh hết  
sức phi lý, đó là biết đi vào chỗ chết nhưng chẳng vì bất  
cứ một mục đích nào cao cả mà chỉ vì họ buộc phải thế.  
Họ không được thúc giục bởi lý tưởng, bởi khát vọng  
thể hiện mình hay cao hơn là lòng căm thù, lòng yêu  
nước… Họ chỉ ý thức được tình thế của mình là “chẳng  
ai chạy thoát”. Thậm chí, Xuân Sinh tham gia quân đội  
mà chưa bao giờ đối đầu với quân giặc, kéo theo cỗ  
pháo chưa hề bắn một phát, không biết nơi mình đang bị  
bao vây là đâu, và cuối cùng thì anh ta chẳng hề quan  
tâm đến chiến tranh mà chỉ quan tâm đến cái bụng đói  
của chính mình. Cái phi lý đến nực cười đó khiến các  
nhân vật chỉ còn cách cười chua chát cùng với nó.  
ngày, Hứa Tam Quan đã “dùng miệng” nấu cho mỗi  
thành viên một món ăn ngon và họ thưởng thức chúng  
“bằng tai” một cách thỏa mãn. Người đọc bật cười bởi  
sự tranh giành, tị nạnh của những đứa trẻ cũng như sự tỉ  
mỉ hay cằn nhằn của Hứa Tam Quan trước những món  
ăn tưởng tượng. Nhưng đằng sau tiếng cười đó ta thấy  
sự bất lực trước hoàn cảnh của gia đình họ Hứa. Không  
chỉ có vậy, Hứa Tam Quan còn phải đối diện với một vụ  
án phi lý mà ở đó, bất cứ ai cũng có thể là quan tòa, bất  
cứ lời nói, hành động nào của bản thân cũng trở thành  
bằng chứng buộc tội, và bất cứ tội nhân nào cũng không  
thể tự bào chữa, cũng không thể không nhận tội dù biết  
tội lỗi đó không phải là của mình. Trong Đại cách mạng  
văn hóa, Hứa Tam Quan đã chứng kiến biết bao người  
bỗng nhiên “treo cổ trên cây, có người bị nhốt trong  
chuồng bò, có người bị đánh chết tươi” giữa thời buổi  
“không có tòa án, cảnh sát cũng không có, thời buổi này  
nhiều nhất là tội danh” (Yu, 2006, 268-269). Vậy nên  
khi vợ là Hứa Ngọc Lan bị đấu tố, Hứa Tam Quan đã  
không kháng cự dù biết tội danh “làm đĩ” của vợ hết sức  
vô lý. Đó là nguyên nhân đưa đến màn phê đấu bi hài  
của gia đình đối với Hứa Ngọc Lan. Trong buổi phê đấu  
kì lạ này, trước phạm nhân rất mực thực thà Hứa Ngọc  
Lan (đã khai tường tận, chi tiết tội lỗi “làm đĩ” của  
mình), trước các quần chúng cách mạng hết sức ngây  
thơ là ba đứa con trai (lúc nghe lời khai thì mắt cứ trợn  
tròn, lúc cần định tội lại há nửa mồm, lắp bắp không nói  
được gì), Hứa Tam Quan vào vai quan tòa nghiêm khắc  
định tội Hứa Ngọc Lan. Thực chất, đằng sau vẻ nghiêm  
khắc đó của Hứa Tam Quan là nhằm mục đích vừa tuân  
thủ cái luật lệ của xã hội không luật, vừa nhằm để cãi tội  
cho vợ, để những đứa con hiểu đúng về mẹ của chúng.  
Cái nghiêm khắc giả tạo của Hứa Tam Quan kết hợp với  
cái nghiêm túc thực thà của các thành viên còn lại trong  
gia đình càng tô đậm tính chất hoang đường, nực cười  
của buổi xử án. Cứ thế, Hứa Tam Quan cùng gia đình  
trải qua những tai ương, phi lý của cuộc sống. Thế  
nhưng, một con người như Hứa Tam Quan, chưa bao  
giờ bất bình với cuộc sống, chỉ biết im lặng nhận chịu,  
dựa vào dòng chảy của cuộc đời mà trôi, cuối cùng lại  
rút ra một “chân lý”: “lông dái mọc muộn hơn lông  
mày, nhưng lại dài hơn lông mày” (Yu, 2006, 414). Đó  
là sự hậm hực trước bất công nhưng cũng là tiếng cười  
chua chát của sự bất lực trước cái lẽ không công bằng.  
So với các nhân vật khác, Hứa Tam Quan đã có sự chủ  
động hơn trước cuộc sống. Nhưng nói cho cùng, đó  
Theo tiến trình thời gian, các nhân vật của Dư Hoa  
đã ngày càng cứng cỏi hơn, phát huy sức mạnh trào tiếu  
của dân gian để kháng cự với cái phi lý, bất công của  
cuộc đời. Hứa Tam Quan (Chuyện Hứa Tam Quan bán  
máu) không còn rướn chút sức tàn lực kiệt để cười với  
đời hay thu mình cô độc trong sự vô nghĩa mà đã lần  
lượt vượt qua các cửa ải khó khăn trong cuộc sống bằng  
những cách thức hài hước, phi thường nhất. Trong nạn  
đói, cả gia đình phải húp cháo ngô loãng trong nhiều  
153  
Nguyễn Thị Hoài Thu  
không phải là sự chủ động đấu tranh mà là sự chủ động  
chấp nhận - chấp nhận bản chất phi lý của cuộc đời.  
Nếu những câu chuyện giản dị trong Chuyện Hứa Tam  
Quan bán máu thể hiện sự “biến hóa biện chứng giữa  
nhiều và ít, nặng và nhẹ, đơn giản và phức tạp” (Zhang,  
2007, 131) thì tính chất u-mua đen của nhân vật là điểm  
nối của các phạm trù đối lập đó.  
nương tinh thần trong một thế giới hỗn loạn, không còn  
hệ giá trị chuẩn mực.  
3. Kết luận  
Tính chất hoạt kê ở các nhân vật tiểu thuyết của Dư  
Hoa mang nhiều sắc thái, đặc biệt phối hợp linh hoạt với  
tính chất bi kịch tạo nên sự biến hóa đa dạng, mới mẻ  
trong thế giới nhân vật. Nếu tiếng nói phê phán cất lên  
từ nhân vật châm biếm là sự tiếp nối truyền thống văn  
học trào phúng Trung Quốc khi nhà văn dùng tiếng cười  
để phanh phui tất cả những xấu xí của con người nhằm  
hướng tới những giá trị cao đẹp thì tiếng cười giải  
thiêng những biểu tượng văn hóa của dạng thức nhân  
vật hài hước, tiếng cười chua chát trước cuộc sống phi  
lý của nhân vật u-mua đen là một đóng góp mới của  
ông. Trước hết, trong tiểu thuyết Dư Hoa, tiếng cười đã  
mang đến sức mạnh cho các nhân vật để họ chống chọi  
với bản chất đau khổ của cuộc sống, khiến họ không bị  
những vụn vặt của đời sống thường ngày đè bẹp như các  
nhân vật Ấn Gia Hậu trong Nhân sinh phiền não, Triệu  
Thắng Thiên trong Thái Dương chào đời  
(《太阳出世》) của Trì Lợi, các thành viên của gia  
đình có chín người con trong Phong cảnh của Phương  
Phương, hay như Tiểu Lâm trong Lông gà khắp đất của  
Lưu Chấn Vân… Thế nhưng, ở đó, ta còn thấy các nhân  
vật của Dư Hoa không còn tìm cách thay đổi, cải tạo  
hoàn cảnh sống như các nhân vật trong truyện ngắn Lỗ  
Tấn, không còn rên xiết đau đớn hay khát vọng thay đổi  
số phận như các nhân vật của Lư Tân Hoa (Vết thương),  
Trương Hiền Lượng (Một nửa đàn ông là đàn bà) mà  
chỉ tìm cách thích nghi và chấp nhận tính chất phi lý,  
bất công như một thuộc tính của đời sống. Bởi vậy,  
chúng ta cảm nhận được đằng sau việc im lặng nhịn  
chịu của nhân vật là sự đổ vỡ niềm tin đến cực hạn của  
tác giả vào những hứa hẹn về một thời đại mới, là sự bất  
tín đến vô cùng về trật tự và văn minh của xã hội loài  
người.  
Rõ ràng, đến Hứa Tam Quan, tiếng cười trở thành  
nguồn sức mạnh tinh thần to lớn không chỉ giúp nhân  
vật đối mặt mà còn vượt qua khổ ải trong cuộc sống.  
Nó trở thành chất bôi trơn mà nhân vật đã khôn ngoan  
tự tra vào những trắc trở trong guồng quay của cuộc  
đời mình. Cũng có thể coi đây là cách kháng cự khả dĩ  
để con người tự bảo vệ chính mình trước gánh nặng  
của kiếp nhân sinh. Đến đây, ta bỗng liên tưởng đến  
lời tâm sự đầy triết lý của nhân vật Ramon trong Lễ  
hội của vô nghĩa (Milan Kundera): “Từ lâu chúng ta  
đều hiểu không còn có thể lật đổ thế giới này, cũng  
chẳng nhào nặn nó lại được, chẳng ngăn được cuộc  
chạy đua về phía trước khốn khổ của nó. Chỉ có mỗi  
một cách kháng cự khả dĩ: đừng có xem nó là nghiêm  
túc” (Milan, 2015, 81). Đừng có xem nó (cuộc đời) là  
nghiêm túc cũng chính là cách mà các nhân vật của  
tiểu thuyết Dư Hoa dùng để chống lại thế giới phi lý.  
Đó chính là lí do khiến các nhân vật của nhà văn này  
dù phải đối mặt và đã vượt qua nhiều kiếp nạn nhưng  
không thể xếp vào kiểu “nhân vật anh hùng” mà phải  
là các “phản anh hùng”. Bởi họ đã chiến đấu mà không  
có bất cứ sự hỗ trợ của lý tưởng cao cả hay mục đích  
cao thượng nào.  
Đối với các nhân vật u-mua đen, cái hài không còn  
khiến cho cái bi trở nên nhẹ nhõm, dễ thở hơn nhờ sắc  
thái nhẹ nhàng của nó. Ngược lại, nó tước đi của nạn  
nhân niềm an ủi cuối cùng về cái cao cả có thể có trong  
tấn bi kịch. “Tạo cho ta ảo tưởng về sự cao quý của con  
người, cái bi đem đến cho ta một niềm an ủi. Cái hài thì  
ác hơn, nó tàn nhẫn phát lộ cho ta cái vô nghĩa của mọi  
thứ” (Milan, 2001, 136). Cái hài mà nhân vật u-mua đen  
của Dư Hoa đưa lại cho thấy sự phi lý đến ghê người  
của cuộc đời. Đúng như nhà nghiên cứu Trương Thanh  
Hoa đã nhận xét về tác phẩm của Dư Hoa: “Đọc tác  
phẩm của ông, chúng ta sẽ ngạc nhiên về cách ông thể  
hiện bi kịch: dùng phương thức hài kịch để viết bi kịch”  
(Zhang, 2007, 130). Cách làm này đã tối đa hóa số phận  
bi kịch của nhân vật khi họ đã hoàn toàn mất đi chỗ dựa  
Nhân vật hoạt kê của Dư Hoa tuy mang những nét  
nghịch dị, bị phóng đại, hạ bệ nhưng không biến dạng  
hay nhuốm màu sắc huyễn tưởng, kỳ ảo như trong  
sáng tác của F. Kafka, L. Pirandello hay Mạc Ngôn.  
Nhân vật hoạt kê của Dư Hoa vẫn ở trong tấm áo của  
đời thường, bị bao bọc trong cái hằng ngày. Phải  
chăng, xung quanh ta, những hiện tượng quái dị vẫn ẩn  
chìm, lẩn khuất trong đời sống hằng ngày, chỉ có điều  
chúng ta đã không nhận ra. Vì thế khi đối diện với  
154  
ISSN: 1859 - 4603, UED Journal of Social Sciences, Humanities and Education, Vol. 11, No. 1 (2021), 147-156  
những méo mó, dị dạng trong các bức chân dung do  
Dư Hoa vẽ nên, ta không khỏi giật mình trước một  
hiện thực hỗn độn vừa giống thật vừa quái đản, kì dị.  
Đây cũng là một cách để người đọc hiểu được trạng  
thái nhân thế nực cười mà có thể chúng ta đang phải  
đối diện hằng ngày, hằng giờ mà vì sự quen nhàm của  
nó, ta đã không nhận thấy. Nếu so với truyện ngắn  
thập niên 80, chất nghịch dị trong tiểu thuyết Dư Hoa  
đã giảm bớt đi nhiều. Nhưng trước sau, ông vẫn kiên  
trì tính hiện đại từ trong tư tưởng, cái nhìn. Đó là cái  
nhìn đầy phản tỉnh, khám phá, phát hiện những trái  
khoáy, dị thường bị lãng quên trong cuộc sống của con  
người. Cái nhìn đó đã đánh bật chúng ta khỏi cái nhìn  
quen mòn về hiện thực, giúp ta có những nhận thức  
mới mẻ về con người và cuộc đời.  
Le, B. H., Tran, D. S., & Nguyen, K. P. (2007). The  
dictionary of literary terms (Từ điển thuật ngữ văn  
học). Education.  
Lo, T. (2009). Short stories (Truyện ngắn). Literature.  
Milan, K. (2001). Testaments betrayed: An essay in nine  
parts (Tiểu luận: Nghệ thuật tiểu thuyết-Những di  
chúc bị phản bội) (N. Nguyen, Trans.). Culture and  
Information.  
Milan, K. (2015). The festival of insignificance (Lễ hội  
của vô nghĩa) (N. Nguyen, Trans.). Literature.  
Moyan ranks first in the list of Chinese best writers  
(中国作家实力榜,莫言居首位!).  
(2018).  
Nguyen, Q. H. (1975). The new Han-Viet dictionary  
(Hán Việt tân từ điển). Khai tri.  
Nie, H., & Chen, Y. (2010). An initial analysis on the  
creation of the character in Yuhua’s novel Brothers  
(试析余华小说<兄弟>中的人物塑造). Journal of  
Wenshan University, 44(2), 51–54.  
Sabina, K. (2003, November 28). Review of Yu Hua’s  
Chronicle of a Blood Merchant. The Seattle Times.  
Shen, X., & Jiang, Y. (2004). The perspective of the  
children - Discuss the narrative strategy through  
children’s perspective in Yuhua’s novels  
(童心的透视-论余华小说的儿童视角叙事策略).  
Journal of School of Chinese Language and Culture  
Nanjing Normal University, 3(3), 70–74.  
Khác với thế giới một màu đen tối trước đây, kiểu  
nhân vật hoạt kê là một bước phát triển mới trong hành  
trình sáng tạo của Dư Hoa. Nó thể hiện một kiểu quan  
hệ mới của nhà văn đối với hiện thực: sự căng thẳng  
giữa nhà văn và hiện thực đã giảm đi đáng kể. Dư  
Hoa vì thế có thể đứng giữa hiện thực để bình tĩnh  
quan sát, chiêm nghiệm và cười với nó. Cũng bởi vậy  
mà nhân vật và những câu chuyện ông kể trở nên gần  
gũi, cái nhìn hiện thực của ông càng trở nên sắc bén.  
Phẩm chất hoạt kê dần trở thành cấu trúc của nhân  
vật, tồn tại như một kiểu tư duy nghệ thuật trong việc  
tạo lập văn bản và là một thái độ thích hợp trong việc  
kiểm soát diễn biến các câu chuyện trong tiểu thuyết  
của Dư Hoa. Đây là một cách giải phóng năng lượng  
sáng tạo giúp nhà văn có những khái quát gần hơn  
với hiện thực và đạt được những thành tựu mới trong  
sáng tạo nghệ thuật.  
Thieu, C. (1999). The Han-Viet dictionary (Hán Việt tự  
điển). Culture and Information.  
Yan, L. (2014). Readers are critical of Yuhua  
(读者对余华过于苛刻_文化_腾讯网).  
Yuhua. (2007). Hypocritical literature (虚伪的作品). In  
Research materials on Yuhua (pp. 47-57). Tianjin  
People’s Publishing House.  
Zhang, Q. (2007). The Subtraction in Literature—  
Discussion about Yuhua (文学的减法-论余华). In  
Research materials on Yuhua (pp. 121–136).  
Tianjin People’s Publishing House.  
Tài liệu tham khảo  
Bakhtin, M. (1992). Theory and poetics of novel (Lý  
luận và thi pháp tiểu thuyết) (V. C. Pham, Trans.).  
Nguyen Du School of Creative Writing.  
Hao, Y. (1983). A Brief Discussion on the Historical  
Role  
of  
Funny  
Figures  
[简论滑稽人  
物的历史作用]. Journal of Northwest University  
for Nationalities, 2(2), 101-108.  
Lai, N. A. (1999). 150 literary terms (150 thuật ngữ văn  
học). Hanoi National University.  
Yu, H. (2006). Chronicle of a blood merchant (Chuyện  
hứa Tam Quan bán máu) (C. H. Vu, Trans.).  
People's Police.  
Yu, H. (2008). Cries in the drizzle (Gào thét trong mưa  
bụi) (C. H. Vu, Trans.). People's Police.  
155  
Nguyễn Thị Hoài Thu  
Yu, H. (2011). To live (Sống) (C. H. Vu, Trans.).  
Literature.  
What is humor? (滑稽的意思). (n.d.). Từ điển  
Chazidian.  
Yu, H. (2012). Brothers (Huynh đệ) (C. H. Vu, Trans.).  
People's Police.  
f934b944faf4f9382/  
COMIC CHARACTERS IN YU HUA’S NOVELS AND THE CONVERSATION  
WITH CHINESE TRADITIONAL CULTURE  
Nguyen Thi Hoai Thu  
Vinh University, Vietnam  
Author corresponding: Nguyen Thi Hoai Thu - Email: hoaithukv@gmail.com  
Article History: Received on 20th May 2021; Revised on 12th June 2021; Published on 17th June 2021  
Abstract: The comic character in Yu Hua's novel is a unique artistic tool for the author to converse with the main clauses in the  
Chinese traditional culture. Through analysing the different types - sarcastic characters, comic characters and black humor characters  
- the article aims to decode the writer's reflective spirit towards people. From this study, the article contributes to affirm Yu Hua's new  
contributions in thought and art fields.  
Key words: Yu Hua; novel; character; comic; comedy; modern Chinese literature.  
156  
pdf 10 trang yennguyen 17680 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nhân vật hoạt kê trong tiểu thuyết Dư Hoa và cuộc đối thoại với truyền thống văn hóa Trung Quốc", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnhan_vat_hoat_ke_trong_tieu_thuyet_du_hoa_va_cuoc_doi_thoai.pdf