Nhận dạng mẫu hình ảnh sử dụng mô-men Hu
62
Hoàng Lê Uyên Thục, Phạm Văn Tuấn
NHẬN DẠNG MẪU HÌNH ẢNH SỬ DỤNG MÔ-MEN HU
HU’S MOMENTS FOR VISUAL PATTERN RECOGNITION
Hoàng Lê Uyên Thục, Phạm Văn Tuấn
Trường Đại học Bách khoa, Đại học Đà Nẵng; [email protected], [email protected]
Tóm tắt - Nhận dạng mẫu hình ảnh hiện đang nhận được rất nhiều
sự quan tâm từ các nhà nghiên cứu do tính ứng dụng sâu rộng của
nó trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Trong bài báo này, chúng tôi
tập trung tìm hiểu bài toán nhận dạng mẫu hình ảnh bao gồm ảnh
tĩnh và video bằng cách dùng mô-men Hu để mô tả hình dạng đối
tượng trong khung hình. Trước tiên, đối tượng quan tâm được trích
ra khỏi phần còn lại của khung hình rồi được chuyển đổi thành một
vec-tơ đặc trưng 7 chiều, trong đó mỗi thành phần của vec-tơ chính
là một trong 7 giá trị mô -men Hu. Tiếp đến, tùy theo dữ liệu xem
xét là ảnh tĩnh hay video để chọn phương pháp nhận dạng tương
ứng dùng mạng nơ-ron nhân tạo hay mô hình Markov ẩn. Các thí
nghiệm trên hai ví dụ nhận dạng cây đối với dữ liệu ảnh tĩnh và
phát hiện dáng đi bệnh lý đối với dữ liệu video cho kết quả rất khả
quan xét theo tiêu chí tỷ lệ nhận dạng đúng trung bình.
Abstract - Visual pattern recognition has attracted great attention
from researchers due to its far-reaching aplications in many
different fields such as optical character recognition, action
recognition, abnormal behavior detection, etc. In this paper, we
concentrate on the recognition of visual pattern including image
and video patterns by using set of Hu’s moments to describe the
shape of interested objects in an image frame. Initially, we extract
the object from the rest of image frame, then we transfer the
extracted object into a 7-dimension feature vector, each vector
component of which is one of the 7 values of Hu’s moments. Next,
we choose artificial neural network and hidden Markov model to
recognize image patterns and video patterns, respectively.
Experiments on two examples which are plant identification for
image data and pathological gait detection for video data show
promissing results in terms of total average recognition rate.
Từ khóa - mô -men Hu; nhận dạng mẫu hình ảnh; nhận dạng cây;
phát hiện dáng đi bệnh lý; đặc trưng hình dạng
Key words - Hu’s moments; visual pattern recognition; plant
identification; pathological gait detection; shape-based feature
1. Đặt vấn đề
chẳng hạn như mô-men Hu [4], ảnh lịch sử chuyển động
MHI (Motion History Image) [5], ảnh cường độ chuyển
động MII (Motion Intensity Image) [6], v.v…
Nhận dạng mẫu hình ảnh (visual pattern recognition),
là một lĩnh vực nghiên cứu theo hướng “hiểu” nội dung bức
ảnh hoặc nội dung của đoạn video. Trong những năm gần
Cuối cùng, một thuật toán phân loại được áp dụng vào
đây, nhận dạng mẫu hình ảnh đã thu hút sự quan tâm nghiên các vec-tơ đặc trưng để nhận dạng các đối tượng khác nhau.
cứu rất lớn do khả năng ứng dụng phong phú của nó trong Để thực hiện được nhiệm vụ này, hệ thống phải trải qua quá
nhiều lĩnh vực khác nhau. Đối với dữ liệu ảnh tĩnh, nhận trình “huấn luyện”, tức là phân tích dữ liệu huấn luyện để
dạng mẫu đã được ứng dụng trong nhận dạng ký tự quang nắm bắt các đặc điểm của các phân bố xác suất chưa biết của
học chẳng hạn như chữ viết tay, nhận dạng khuôn mặt, dữ liệu. Từ đó đưa ra các suy luận đối với dữ liệu kiểm tra
nhận dạng dấu vân tay, nhận dạng lá cây, v.v... Đối với dữ chưa biết. Có nhiều phương pháp nhận dạng đã được đề xuất,
liệu video, nhận dạng mẫu được ứng dụng trong nhận dạng tiêu biểu như mạng nơ-ron nhân tạo ANN (Artificial Neural
hành động con người, phát hiện các sự kiện bất thường như Network) [7], mô hình Markov ẩn (HMM) [8], v.v…
hành vi bạo lực, tai nạn té ngã, v.v…
Trong bài báo này, chúng tôi tập trung xét trường hợp
Nhìn chung, một hệ thống nhận dạng mẫu hình ảnh gồm nhận dạng mẫu hình ảnh đơn giản nhất là phân loại 2 lớp.
có ba bước xử lý chính là trích đối tượng, trích đặc trưng Hai ứng dụng được chọn ở đây là nhận dạng cây trong ảnh
và nhận dạng [1].
tĩnh và phát hiện dáng đi bệnh lý trong đoạn video. Phần
tiếp theo của bài báo gồm các nội dung chính như sau: mục
2 giới thiệu bài toán nhận dạng, mục 3 trình bày chi tiết về
hệ thống nhận dạng mẫu hình ảnh đề xuất, mục 4 nêu các
thí nghiệm kiểm tra, đánh giá hệ thống đề xuất và cuối cùng
là kết luận ở mục 5.
Ở bước thứ nhất, đối tượng quan tâm được trích ra khỏi
phần nền bằng các thuật toán trích đối tượng. Tùy theo từng
ứng dụng cụ thể mà đối tượng quan tâm sẽ khác nhau, chẳng
hạn như với ứng dụng nhận dạng khuôn mặt thì đối tượng
quan tâm chính là khuôn mặt trong ảnh, với ứng dụng nhận
dạng hành động thì đối tượng quan tâm chính là con người
trong đoạn video. Đối với dữ liệu là ảnh tĩnh thì tùy vào đặc
điểm của đối tượng, việc trích đối tượng có thể dựa vào mức
ngưỡng, dựa vào đường viền hoặc là dựa vào cấu trúc ảnh,
v.v… [2]. Đối với dữ liệu là video, phương pháp trích đối
tượng phổ biến nhất là trừ nền, dựa theo nguyên lý cơ bản là
trừ khung hình hiện tại cho khung hình nền tham chiếu [3].
2. Giới thiệu bài toán nhận dạng
Như đã nêu trên, mục này giới thiệu hai bài toán nhận
dạng mẫu hình ảnh được xét trong bài báo.
2.1. Bài toán nhận dạng cây trong ảnh tĩnh
Nhận dạng cây (plant identification) là một phần việc
quan trọng trong các nghiên cứu về đa dạng sinh học, nhằm
nhận dạng các loài cây quý hiếm, phát hiện loài cây mới, sắp
xếp phân loại các loài cây cũng như xác định phân bố địa lý
của chúng [9]. Ngày nay, thay vì thực hiện nhận dạng cây
theo kiểu truyền thống thì việc nhận dạng tự động nhờ vào
các công cụ phần mềm bắt đầu phát triển. Phương pháp nhận
dạng mới được thực hiện hoàn toàn tự động nên mang tính
Tiếp theo, các đặc điểm của đối tượng như hình dạng,
màu sắc, sự chuyển động, v.v… trong ảnh hoặc đoạn video
được trích ra và biểu diễn dưới dạng vec-tơ đặc trưng đa
chiều. Để nhận dạng chính xác, các đặc trưng phải chứa
đựng được các đặc tính hữu hiệu nhất và duy nhất của đối
tượng. Có rất nhiều bộ mô tả đặc trưng đã được công bố,
ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, SỐ 05(114).2017-Quyển 2
63
khách quan và góp phần đáng kể vào việc tiết kiệm thời gian có những đặc điểm riêng khác với dáng đi khỏe mạnh. Vì
và nhân lực ngành phân loại học hiện đang bị thiếu hụt.
thế, một bộ mô tả đặc trưng hình dạng tốt có thể giúp cho
quá trình nhận dạng được thành công. Qua xem xét các bộ
mô tả đặc trưng hình dạng sẵn có, mô-men Hu được chọn
dùng cho bài toán đặt ra, do mô-men Hu có tính chất bất
biến đối với phép dịch chuyển, co giãn và phép quay [4].
Để thực hiện nhận dạng cây trong ảnh tĩnh, chúng tôi
thử nghiệm với hoa hồng và hoa cúc. Đây là hai loài hoa
rất phổ biến, đa dạng, nhiều màu sắc và đặc biệt là ngay cả
trong cùng họ hoa hồng hoặc hoa cúc thì các loài khác nhau
cũng có vẻ bề ngoài rất khác nhau. Hình 1 là một số mẫu
hoa hồng và hoa cúc được sử dụng trong bài toán.
Trong phần nhận dạng, mạng nơ-ron nhân tạo [7] được
chọn để nhận dạng hoa hồng và hoa cúc trong ảnh tĩnh và
mô hình Markov ẩn [8] được chọn để phát hiện dáng đi
bệnh Parkinson từ tín hiệu video, do các ưu điểm nổi bật
như hiệu quả nhận dạng cao và có sẵn nhiều công cụ phần
mềm hữu hiệu để hỗ trợ cho huấn luyện/kiểm tra.
3. Hệ thống nhận dạng mẫu hình ảnh đề xuất
Hình 3 mô tả tổng quan hệ thống nhận dạng đề xuất,
bao gồm 3 khối chức năng chính là trích đối tượng, trích
đặc trưng và nhận dạng sẽ được trình bày lần lượt trong các
mục 3.1, 3.2 và 3.3.
Hình 1. Mẫu hoa hồng (hàng trên) và hoa cúc (hàng dưới)
2.2. Bài toán phát hiện dáng đi bệnh lý trong đoạn video
Dáng đi bộ là một dấu hiệu quan trọng biểu hiện sức
khỏe con người. Một số vấn đề về sức khỏe như đau khớp,
tổn thương mô, tổn thương thần kinh, v.v… đều gây ra sự
bất thường trong dáng đi. Như vậy, việc phát hiện sớm
dáng đi bệnh lý là rất quan trọng, giúp can thiệp y khoa kịp
thời. Ngày nay, cùng với thăm khám lâm sàng thì phương
pháp phát hiện dáng đi bệnh lý tự động đã bắt đầu nhận
được nhiều quan tâm nghiên cứu [10]. Phương pháp mới
được thực hiện tự động dựa vào tín hiệu video liên tục ghi
hình bệnh nhân đi bộ nên giúp phát hiện kịp thời và khách
quan các dáng đi bệnh lý.
Hình 3. Sơ đồ khối tổng quát hệ thống đề xuất
3.1. Trích đối tượng
Bước này nhằm trích đối tượng quan tâm ra khỏi phần
còn lại của khung hình. Phương pháp trích đối tượng được
thực hiện khác nhau tùy vào đối tượng.
3.1.1. Trích bông hoa trong ảnh
Để thực hiện phát hiện dáng đi bệnh lý trong đoạn
video, chúng tôi thử nghiệm với trường hợp phát hiện dáng
đi bệnh Parkinson với góc quay ngang. Parkinson là căn
bệnh rất phổ biến ở người cao tuổi, thể hiện ở dáng đi thiếu
hoặc ít đánh tay tự nhiên, tay run, bước đi ngắn, lưng gập
chúi người về trước [11]. Hình 2 là một số khung hình trích
trong đoạn video dáng đi Parkinson.
Nhìn chung, trong một bức ảnh hoa ta thấy có 3 vùng
màu cơ bản tương ứng với màu hoa, lá và phần còn lại. Vì
thế có thể thực hiện trích bông hoa dựa vào màu sắc, bằng
cách phân nhóm ảnh ra thành 3 nhóm là nhóm có màu hoa,
nhóm có màu lá và nhóm màu còn lại. Thuật toán phân nhóm
được chọn ở đây là K-means với nguyên tắc là nhóm các
điểm ảnh có màu gần nhau lại thành một nhóm [12]. Ở đây,
số nhóm được chọn là K = 3 do có 3 nhóm màu trong một
bức ảnh, trọng tâm ban đầu của 3 nhóm được chọn ngẫu
nhiên.
Sau khi phân bức ảnh ra làm 3 vùng tương ứng với 3
nhóm màu, ta trích lấy vùng màu của cánh hoa để được ảnh
bông hoa trên nền đen. Tiếp đó thực hiện chuyển ảnh bông
hoa trên nền đen thành ảnh xám và cuối cùng là ảnh nhị
phân với điểm trắng thuộc về bông hoa và điểm đen thuộc
về nền. Kết quả các bước xử lý trích bông hoa trong ảnh
được biểu diễn trên Hình 4.
Hình 2. Mẫu dáng đi bệnh Parkinson trong đoạn video
Hai bài toán nêu trên, mặc dù thoạt nhìn khác hẳn nhau
nhưng đều có một điểm chung là có thể sử dụng đặc trưng
hình dạng (shape-based feature) để mô tả các đặc điểm về
hình dạng của đối tượng cần nhận dạng. Đối với bài toán
nhận dạng hoa, qua quan sát thấy hầu hết các bông hoa
trong cùng họ hồng hoặc cúc, dù thuộc các loài khác nhau
thì vẫn có những đặc điểm riêng về hình dạng khác với các
bông hoa thuộc họ khác. Đối với bài toán phát hiện dáng đi
bệnh Parkinson ở góc quay ngang, qua quan sát thấy dù
mức độ bệnh nặng nhẹ khác nhau, dù đối tượng quan sát là
khác nhau thì vẻ bên ngoài của dáng đi bệnh Parkinson vẫn
Hình 4. Kết quả trích bông hoa trong ảnh
64
Hoàng Lê Uyên Thục, Phạm Văn Tuấn
3.1.2. Trích con người trong đoạn video
•
Bước 4: Tính 7 mô-men Hu dựa vào các mô-men
trung tâm chuẩn hóa ở (3) theo công thức (4) sau:
Như hầu hết các hệ thống nhận dạng hành động khác,
đối tượng con người được trích ra khỏi nền bằng phương
pháp trừ nền, với mô hình nền được xây dựng bằng mô hình
hợp Gauss GMM (Gaussian Mixture Model) [3]. Trong
phương pháp này, mỗi điểm ảnh được biểu diễn bằng một
tổng có trọng số các phân bố Gauss và được cập nhật qua
từng khung với các phân bố Gauss mới.
S1 =h20 +h02
S2 = (h20 -h02 )(h20 -h02 )+ 4h11h11
S3 = (h30 -3h12 )(h30 -3h12 )+(h30 -3h21)(h30 -3h21)
S4 = (h30 +h12 )(h30 +h12 )+(h03 +h21)(h03 +h21)
S5 = (h30 -3h12 )(h30 +h12 )[(h30 +h12 )(h30 +h12 )-3(h03 +h21)(h03 +h21]
+(3h21 -h03)(h03 +h21)[3(h30 +h12 )(h30 +h12 )-(h03 +h21)(h03 +h21]
S6 = (h20 -h02 )[(h30 +h12 )(h30 +h12 )-(h03 +h21)(h03 +h21)
+ 4h11(h30 +h12 )(h03 +h21)]
Sau khi trừ nền, ảnh trích đối tượng được xử lý qua một
số phép hình thái toán học [2] để được chất lượng tốt hơn.
Cuối cùng, để giảm kích thước ảnh, ta chỉ trích lấy vùng
quan sát ROI (Region Of Interest) - là vùng hình chữ nhật
có tâm trùng với trọng tâm của đối tượng và bao quanh đối
tượng. Hình 5 là một ví dụ về trích đối tượng con người và
ROI tương ứng.
S7 = (3h21 -h03 )(h30 +h12 )[(h30 +h12 )(h30 +h12 )-3(h21 +h03 )(h21 +h03 )
-(h30 -3h12 )(h21 +h02 )[3(h30 +h12 )(h30 +h12 )-(h21 +h03)(h21 +h03 )]
(4)
Khi tính toán các mô-men Hu, ta nhận thấy giá trị của
các mô-men này rất nhỏ đến nỗi gần như bằng 0 (một số
còn mang giá trị âm). Do đó cần phải ánh xạ các điểm vec-
tơ đặc trưng gốc là tập gồm 7 mô-men rất gần nhau sang
một không gian mới, ở đó chúng cách nhau đủ xa để xử lý
ở bước tiếp theo. Điều này được thực hiện đơn giản thông
qua tính logarit của trị tuyệt đối của các mô-men. Bằng
thực nghiệm, chúng tôi cũng đã chứng minh được việc
chuyển đổi mô-men Hu sang không gian mới nhờ phép
logarit, giúp tăng tỷ lệ nhận dạng của toàn hệ thống lên
đáng kể. Bảng 1 đưa ra kết quả tính mô-men Hu của ảnh
hoa cúc thứ 25 trong cơ sở dữ liệu hoa.
Hình 5. Kết quả trích đối tượng con người trong đoạn video
3.2. Trích đặc trưng hình dạng
Trích đặc trưng chính là chuyển đổi đối tượng trích
được thành một vec-tơ đặc trưng đa chiều sao cho vec-tơ
này chứa đựng các đặc điểm hữu hiệu và riêng biệt, giúp
phân biệt đối tượng này với đối tượng khác mà không cần
phải dùng toàn bộ khung hình.
Bảng 1. Tập đặc trưng mô-men Hu của một mẫu dữ liệu ảnh
tĩnh trước và sau khi tính logarit
Mô-men
Trước logarit
Sau logarit
-1,2954
Như đã trình bày ở mục 2.2, cả đối tượng bông hoa và
con người đều có thể được mô tả bằng đặc trưng hình dạng
dùng mô-men Hu.
S1
S2
S3
S4
S5
S6
S7
0,273778883916765
0,003420124059901
0,001017048934577
0,000025592197673
0,000000004114001
-0,000000312461600
-0,000000102712582
-5,6781
Quá trình tính toán các giá trị mô-men Hu làm đặc trưng
hình dạng được tóm tắt trong 4 bước sau đây [4]:
-6,8909
-10,5732
-19,3089
-14,9788
-16,0913
•
Bước 1: Tính các mô-men 2 chiều:
xpyqr(x, y)
(1)
mpq =
x
y
ở đây: (x,y) là tọa độ điểm ảnh, ρ(x,y) là hàm ảnh nhị phân,
là 1 hoặc là 0 tùy theo điểm ảnh (x,y) thuộc vùng đối tượng
hoặc vùng nền tương ứng.
3.3. Nhận dạng
Nhiệm vụ cuối cùng của hệ thống chính là xác định vec-
tơ đặc trưng trích từ bức ảnh (hoặc chuỗi vec-tơ đặc trưng
trích từ chuỗi khung video) thuộc vào loại mẫu nào trong
các loại mẫu quan tâm đã huấn luyện cho hệ thống.
•
Bước 2: Tính các mô-men trung tâm nhằm làm
cho các mô-men 2 chiều ở (1) trở nên bất biến đối
với sự dịch chuyển của ảnh nhị phân trong khung
hình:
_
_
3.3.1. Nhận dạng hoa
mpq
=
(x - x)p (y- y)q r(x, y)
(2)
Nhận dạng hoa được thực hiện nhờ mạng nơ-ron nhân
tạo ANN [7]. Trong số các loại mạng ANN thì loại
perceptron nhiều lớp MLP (Multi Layer Perceptron) là nổi
tiếng và phổ biến nhất [7]. Do đó MLP được chọn dùng
trong hệ thống đề xuất. MLP là mạng ANN được tổ chức
theo kiểu phân lớp với 3 lớp chính là lớp vào, lớp ra và các
lớp ẩn. Trong hệ thống, số nơ-ron lớp vào là 7, số lớp ẩn là
1, số nơ-ron lớp ẩn là 15, hàm kích hoạt là hàm sigmoid, số
nơ-ron lớp ra là 1 như trên Hình 6.
x
y
_
_
là trọng tâm của ảnh nhị phân: _
và
m10
ở đây điểm
(x, y)
x =
m00
_
m01
.
y =
m00
•
Bước 3: Chuẩn hóa các mô-men trung tâm ở (2) để
chúng bất biến đối với sự co giãn của ảnh nhị phân:
mpq
(3)
Hình 6 cho thấy cấu trúc của mạng nơ-ron MLP dùng
trong hệ thống đề xuất.
hpq
=
p+q
+1
2
m00
ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, SỐ 05(114).2017-Quyển 2
65
tra, bằng cách lập 2 ma trận: ma trận thứ nhất kích thước
120x7 để chứa 120 vec-tơ đặc trưng của 120 bức ảnh,
với 7 mô-men Hu trong mỗi vec-tơ, ma trận thứ hai có
kích thước 120x1 biểu diễn 120 đầu ra mong muốn, mỗi
đầu ra có giá trị là 0 (ứng với hoa cúc) hoặc 1 (ứng với
hoa hồng).
•
•
Bước 4: thiết lập mạng ANN MLP như Hình 6.
Hình 6. Mô hình mạng nơ-ron dùng trong hệ thống
(w: trọng số, b: ngưỡng kích thích của nơ-ron)
Bước 5: chia 120 bức ảnh ra làm 3 phần: 84 bức ảnh
(70%) dành cho huấn luyện, 18 bức ảnh (15%) cho
thẩm định (validation) và 18 bức ảnh còn lại (15%) cho
kiểm tra. Thông thường thì càng kéo dài thời gian huấn
luyện thì lỗi huấn luyện càng thấp, tuy nhiên nếu huấn
luyện quá lâu thì mô hình sẽ rơi vào tình trạng “học
thuộc mẫu” (overtraining) và sẽ cho lỗi rất lớn đối với
các mẫu kiểm tra. Để tránh tình trạng này, ta dành 15%
ảnh cho thẩm định và tiến hành huấn luyện và thẩm
định cùng lúc và dừng ngay quá trình huấn luyện khi
thấy lỗi thẩm định bắt đầu đảo chiều đi lên.
3.3.2. Nhận dạng dáng đi bệnh lý
Nhận dạng dáng đi là một trường hợp riêng của nhận
dạng hành động nên có thể áp dụng mô hình nhận dạng
hành động phổ biến nhất là mô hình Markov ẩn HMM vào
bài toán. Một mô hình HMM được xác định bởi các tham
số: số trạng thái ẩn N, số ký hiệu quan sát phân biệt M, ma
trận chuyển đổi trạng thái A, ma trận quan sát B và phân bố
trạng thái khởi đầu π [8].
Trong ứng dụng phát hiện dáng đi bệnh lý, đối tượng
cần được mô hình hóa bởi HMM chính là dáng đi của con
người. Dáng đi có đặc điểm là lặp đi lặp lại theo chu kỳ với
số lần lặp tùy ý và sự chuyển động của cơ thể bên trong
mỗi chu kỳ không hoàn toàn giống hệt nhau. Để mô hình
hóa loại tín hiệu như thế này, hệ thống đề xuất sử dụng mô
hình HMM tuần hoàn CHMM (Cyclic HMM). Đây là loại
mô hình HMM trái-phải có một chuyển tiếp từ trạng thái
cuối cùng về trạng thái đầu tiên [13]. Bằng thực nghiệm đã
chọn được số trạng thái ẩn là N = 7 và số ký hiệu quan sát
là M = 64 như trên Hình 7.
4.1.2. Kết quả thí nghiệm nhận dạng hoa
Để đánh giá hệ thống, tất cả các mẫu hoa có trong dữ
liệu đều được lần lượt kiểm tra. Ở đây có tổng cộng 10 đợt
huấn luyện - kiểm tra, với một đợt huấn luyện - kiểm tra
được thực hiện trên một tập mẫu kiểm tra khác nhau và
được thực hiện nhiều lần (5 lần). Thực tế cho thấy, đôi khi
có sự chênh lệch khá lớn về tỷ lệ nhận dạng đúng giữa các
lần kiểm tra trong một đợt, ví dụ ở lần kiểm tra đầu trong
đợt thứ 6 thì tỷ lệ nhận dạng đúng là 83,3% nhưng ở lần
kiểm tra sau đó thì tỷ lệ đó chỉ còn có 77,8%. Theo phân
tích thì có 2 nguyên nhân chính gây ra hiện tượng này là do
thay đổi tập huấn luyện và thẩm định và do lỗi MSE (Mean
Square Error) huấn luyện bị phụ thuộc vào giá trị trọng số
khởi đầu.
Kết quả cuối cùng để đánh giá hệ thống là trung bình
cộng của các kết quả tốt nhất của 10 đợt kiểm tra nói trên
và được biểu diễn dưới dạng ma trận nhầm lẫn (confusion
matrix) như trên Bảng 2. Từ đây ta tính được tỷ lệ nhận
dạng đúng trung bình là 87,88%. Đây là một kết quả chấp
nhận được nếu so với chi phí thời gian (mỗi lần huấn luyện
chỉ mất chưa đầy 0,5s).
Hình 7. Mô hình CHMM dùng trong hệ thống
4. Thực nghiệm kiểm tra đánh giá hệ thống đề xuất
Phần này trình bày quá trình thí nghiệm và các kết quả
thí nghiệm đối với hai bài toán đã nêu.
4.1. Đánh giá hệ thống nhận dạng cây trong ảnh tĩnh
Bảng 2. Ma trận nhầm lẫn (%) của hệ thống nhận dạng cây
Để đánh giá hệ thống, trước hết ta xây dựng cơ sở dữ
liệu ảnh hoa hồng và hoa cúc. Các mẫu hoa được sưu tầm
từ internet, mỗi bức ảnh có trọn vẹn một bông hoa, với
nhiều loài hoa khác nhau trong cùng họ, góc chụp khác
nhau, kích thước, vị trí và màu sắc hoa khác nhau nhằm
đảm bảo tính đa dạng cho cơ sở dữ liệu. Tổng cộng có 120
bức ảnh hoa gồm 60 ảnh hoa hồng và 60 ảnh hoa cúc được
thu thập trong cơ sở dữ liệu. Các ảnh được cắt thủ công sao
cho có cùng kích thước là 100x100.
Mẫu hoa
Kết quả nhận dạng
Hoa cúc
87,95
Hoa hồng
12,19
Hoa cúc
Hoa hồng
12,05
87,81
4.2. Đánh giá hệ thống phát hiện dáng đi bệnh lý trong
đoạn video
Để đánh giá hệ thống, trước tiên ta xây dựng cơ sở dữ
liệu dáng đi gồm dáng đi bộ bình thường và dáng đi bệnh
Parkinson. Môi trường quay là trong nhà, dọc theo hành lang
vào ban ngày. Camera thuộc loại 2D thông dụng và được đặt
ở vị trí sao cho có thể ghi hình được trọn vẹn cơ thể người đi
bộ với góc quay ngang. Tất cả 10 tình nguyện viên tham gia
đều được huấn luyện kỹ và được tham khảo tài liệu y khoa
[11] trước khi thực hiện ghi hình, nhằm đảm bảo dáng đi
bệnh Parkinson được mô phỏng giống thực nhất có thể. Mỗi
tình nguyện viên thực hiện một kiểu dáng đi 10 lần với các
4.1.1. Quá trình thí nghiệm nhận dạng hoa
Quá trình thí nghiệm gồm hai pha là huấn luyện và kiểm
tra, được tiến hành theo các bước sau:
•
Bước 1: trích bông hoa trong ảnh theo các bước như
trình bày ở mục 3.1.1.
Bước 2: chuyển mỗi bức ảnh nhị phân thành một
vec-tơ 7 chiều, theo các công thức từ (1) đến (4).
Bước 3: tạo dữ liệu chuẩn bị cho huấn luyện và kiểm
•
•
66
Hoàng Lê Uyên Thục, Phạm Văn Tuấn
tốc độ khác nhau. Như vậy tổng cộng có 200 đoạn video dạng mẫu hình ảnh với hai ứng dụng là nhận dạng hoa trong
trong cơ sở dữ liệu, tất cả được định dạng .avi, kích thước ảnh tĩnh và phát hiện dáng đi bệnh lý trong đoạn video. Các
khung hình 180x144, tốc độ 25 khung hình/giây.
giá trị của mô-men Hu đã được sử dụng để miêu tả đặc
trưng hình dạng của các đối tượng và cho kết quả rất khả
quan. Cụ thể là hai mẫu hoa hồng và hoa cúc đã được nhận
dạng đúng với tỷ lệ 87,88% và dáng đi bệnh lý Parkinson
đã được phát hiện với độ chính xác 99,5%. Kết quả này là
nhờ sự đóng góp của tất cả các khâu xử lý trong hệ thống,
từ trích đối tượng, trích đặc trưng cho đến nhận dạng, đặc
biệt là mô-men Hu đã mô tả tốt đối tượng trong ảnh nhị
phân với khả năng bất biến đối với sự co giãn, vị trí đối
tượng và sự xoay ảnh.
4.2.1. Quá trình thí nghiệm phát hiện dáng đi bệnh lý
Tương tự như ở mục 4.1.1, quá trình thí nghiệm gồm
hai pha là huấn luyện và kiểm tra, được tiến hành theo các
bước sau:
•
Bước 1: trích đối tượng là người đi bộ theo các bước
đã trình bày ở 3.1.2.
Bước 2: chuyển chuỗi khung hình nhị phân thành
•
chuỗi vec-tơ đặc trưng mô-men Hu 7 chiều tính theo
các công thức từ (1) đến (4).
Lời cảm ơn
•
Bước 3: chia các vec-tơ đặc trưng ra thành tập huấn
Các tác giả chân thành cảm ơn các em sinh viên chương
trình tiên tiến AP-ECE, Trung tâm Xuất sắc và sinh viên
khoa Điện tử - Viễn thông, Trường Đại học Bách khoa, Đại
học Đà Nẵng đã nhiệt tình tham gia xây dựng cơ sở dữ liệu
dáng đi bệnh lý.
luyện trích từ các đoạn video huấn luyện và tập kiểm
tra trích từ các đoạn video kiểm tra.
•
Bước 4: rời rạc hóa chuỗi vec-tơ huấn luyện bằng
cách lượng tử hóa vec-tơ dựa vào phương pháp K-
means, với số nhóm K = 64 (hay cũng chính là số ký
hiệu quan sát M), rồi huấn luyện mô hình CHMM ứng
với dáng đi bình thường và CHMM ứng với dáng đi
bệnh Parkinson. Kết quả lượng tử hóa vec-tơ còn là một
bảng mã có 64 từ mã là trọng tâm của 64 nhóm.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Shian-Ru Ke, Hoang Le Uyen Thuc, Yong-Jin Lee, Jenq-Neng
Hwang, Jang-Hee Yoo, and Kyoung-Ho Choi, “A Review on Video-
Based Human Activity Recognition”, MDPI Computers, vol. 2(2),
2013, pp. 88-131.
•
Bước 5: rời rạc hóa chuỗi vec-tơ kiểm tra bằng cách
[2] Rafael C. Gonzalez and Richard E. Woods, “Digital Image
Processsing,”, 3rd edition, Prentice-Hall, USA, 2006.
tính khoảng cách của từng vec-tơ đến tất cả các từ mã
rồi gán cho mỗi vec-tơ bằng một số nguyên là chỉ số
của từ mã gần nó nhất. Sau đó tính xác suất mà mỗi mô
hình CHMM có thể tạo ra chuỗi vec-tơ kiểm tra, so sánh
với nhau rồi quyết định chuỗi vec-tơ kiểm tra sẽ ứng
với mô hình nào cho xác suất cao nhất.
[3] C. Stauffer and W. E. L. Grimson, “Adaptive Background Mixture
Models for Real-time Tracking”, IEEE ICCV 1999, Jun 1999, pp.
246-252.
[4] Zhihu Huang and Jinsong Leng, “Analysis of Hu's Moment
Invariants on Image Scaling and Rotation”, 2nd Int. Conf. on
Computer Engineering and Technology (ICCET), 2010, pp. 476-
480.
4.2.2. Kết quả thí nghiệm phát hiện dáng đi bệnh lý
[5] Aaron F. Bobick and James W. Davis, “The Recognition of Human
Movement Using Temporal Templates”, IEEE Transaction on
Pattern Analysis and Machine Intelligence, vol. 23(3), 2001, pp.
257-267.
Để đánh giá hệ thống, tất cả các đoạn video có trong dữ
liệu đều được lần lượt kiểm tra. Ở đây thực hiện 10 đợt
huấn luyện - kiểm tra với mỗi đợt là để kiểm tra 10 đoạn
video ghi hình từ cùng một người.
[6] Abdunnaser Diaf and Rachid Benlamri, “An Effective View-based
Motion Representation for Human Motion Recognition”, Int.
SymposiumonModelingandImplementationofComplexSystems, 2010.
Kết quả cuối cùng để đánh giá hệ thống được tổng hợp
từ tất cả 10 đợt kiểm tra nói trên và được biểu diễn dưới
dạng ma trận nhầm lẫn như trên Bảng 3. Từ đây ta tính
được tỷ lệ phát hiện đúng dáng đi bệnh Parkinson là 99%,
tỷ lệ bỏ sót bệnh là 1%, tỷ lệ phát hiện nhầm là 0%, tỷ lệ
nhận dạng trung bình (còn gọi là độ chính xác) là 99,5%.
Đây là một tỷ lệ khá thành công trong bối cảnh kích thước
tập dữ liệu huấn luyện không quá lớn.
[7] Yu Hen Hu and Jenq-Neng Hwang, “Handbook of Neural Network
Signal Processing”, CRC Press, 2002.
[8] Lawrence R. Rabiner, “A tutorial on hidden Markov models and
selected applications in speech recognition”, Proc. IEEE, vol. 77(2),
1989, pp. 257-286.
[9] James S. Cope, David Corney, Jonathan Y. Clark, Paolo Remagnino,
and Paul Wilkin, “Plant species identification using digital
morphometrics: A review”, Expert Systems with Applications, vol.
39, 2012, pp. 7562-7573.
Bảng 3. Ma trận nhầm lẫn của hệ thống phát hiện dáng đi bệnh lý
[10] E. Auvinet, F. Multon and J. Meunier, “New lower-limb gait
asymmetry indices based on a depth camera”, Mdpi Sensors, vol.
15(3), pp. 4506-4623, 2015.
Mẫu dáng đi
Kết quả nhận dạng
Bình
Bệnh Parkinson
thường
[11] Joseph H. Friedman, “Gait Disorders in the Elderly”, Medicine &
Health, vol. 95(3), 2012, pp. 84-85.
[12] T. Graepel, “Statistical Physics of Clustering Algorithms”,
Technical Report 171822, FB Physic, Institute for Theoretical
Physics, 1998.
Bệnh Parkinson
Bình thường
99
0
1
100
[13] Hoang Le Uyen Thuc, Shian-Ru Ke, Jenq-Neng Hwang, Pham Van
Tuan, and Truong Ngoc Chau, “Quasi-periodic Action Recognition
from Monocular Videos via 3D Human Models and Cyclic HMMs”,
Int. Conf. on ATC, 2012, pp. 110-113.
5. Kết luận
Trong bài báo này, chúng tôi đã xây dựng hệ thống nhận
(BBT nhận bài: 14/02/2017, hoàn tất thủ tục phản biện: 31/03/2017)
Bạn đang xem tài liệu "Nhận dạng mẫu hình ảnh sử dụng mô-men Hu", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
nhan_dang_mau_hinh_anh_su_dung_mo_men_hu.pdf

