Nghiên cứu ảnh hưởng của bãi thải bề mặt đến độ ổn định của vỏ chống giếng đứng tại các mỏ lò Việt Nam

THÔNG TIN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ MỎ  
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA BÃI THẢI BỀ MẶT ĐẾN ĐỘ ỔN ĐỊNH  
CỦA VỎ CHỐNG GIẾNG ĐỨNG TẠI CÁC MỎ LÒ VIỆT NAM  
Đặng Văn Kiên, Võ Trọng Hùng, Đỗ Ngọc Anh  
Bộ môn XDCTN&Mỏ, Khoa Xây dựng, Đại học Mỏ-Địa chất  
Khuất Mạnh Thắng  
Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam  
Đỗ Thế Anh  
Công ty cổ phần Fountech  
Biên tập: TS. Nhữ Việt Tuấn  
Tóm tắt:  
Bài báo trình bày các kết quả khảo sát đánh giá ảnh hưởng bãi thải đến độ ổn định của thành  
giếng và vỏ chống giếng đứng. Kết quả nghiên cứu đạt được thông qua phương pháp phần tử hữu  
hạn bằng phần mềm Abaqus và phương pháp giải tích. Các kết quả chính của nghiên cứu là cơ sở  
để lựa chọn các giải pháp phù hợp về quy hoạch, thiết kế và thi công giếng mỏ nhằm giảm thiểu ảnh  
hưởng cho vỏ chống giếng đứng của mỏ.  
1. Đặt vấn đề  
Giếng đứng là công trình mở vỉa có thời gian số cơ lý của đất đá thải như trong Bảng 2  
tồn tại lớn (hàng chục năm trở lên) nên kết cấu Với trường hợp giếng nằm dưới bãi thải bề  
lăn xa, phân bố phía chân bãi thải. Một số thông  
vỏ đòi hỏi độ bền lớn có tuổi thọ dài như bê mặt, ngoài áp lực đất đá nằm ngang xung quanh  
tông liền khối hoặc bê tông cốt thép liền khối. thành giếng, vỏ chống giếng đứng còn chịu thêm  
Kết cấu vỏ giếng chịu tác động của áp lực đất đá áp lực của tự trọng bãi thải và các hoạt động  
xung quanh, nước ngầm cũng như ảnh hưởng đổ thải gây ảnh hưởng lớn đến độ ổn định của  
của các công trình bề mặt như đoàn tàu, bãi thành giếng và vỏ chống cố định giếng đứng.  
thải, nhà xưởng (Hình 1). Đất đá bãi thải vùng Trên thế giới, các kết quả nghiên cứu về ảnh  
than Quảng Ninh chủ yếu là các loại đá trầm hưởng của bãi thải đến vỏ chống giếng đứng  
tích ở vách trụ các vỉa than đã nổ mìn, xúc bốc, là không nhiều. Đối với Việt Nam, sau rất nhiều  
vận chuyển từ các moong khai thác đến bãi thải. năm từ thời kỳ Pháp thuộc đến năm 2009, giếng  
Thành phần đất đá chủ yếu bao gồm các loại mỏ đầu tiên mới được xây dựng tại mỏ than Hà  
mảnh, cục đất đá vỡ vụ của cát kết, cuội kết, Lầm, do vậy hầu như chưa có công trình khoa  
bột kết, sét kết, sét than và đất phủ đệ tứ. Thành học nào nghiên cứu theo hướng này trong khi  
phần cỡ hạt của đất đá cũng rất khác nhau, có yêu cầu về an toàn ổn định cho vỏ chống giếng  
kích thước từ 0,1 mm đến 1000 mm như Bảng 1. đứng luôn được đặt ra nhằm bảo đảm sự vận  
Đất đá kích thước nhỏ tập trung phía trên, do hành bình thường của giếng trong suốt quá  
đó động năng lớn hơn, đất đá có kích thước lớn trình khai thác.  
2. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên  
cứu  
Bảng 1. Thành phần cỡ hạt và tỉ lệ trong đất đá  
bãi thải  
2.1. Cơ sở lý thuyết  
Thành phần cỡ  
hạt đất đá bãi  
thải  
50 ÷ 80  
mm  
800  
mm  
Do ảnh hưởng của bãi thải liền kề được đặt  
trong khu vực lăng thể trượt làm tăng tải trọng bổ  
sung của đất vào vỏ chống giếng đứng. Chiều  
< 50 mm  
10  
Tỉ lệ %  
80  
10  
Bảng 2. Một số chỉ số cơ lý đất đá bãi thải vùng than Quảng Ninh  
Góc ma sát trong  
Độ rỗng  
η(%)  
Tỉ trọng bão  
Lực dính kết C  
(T/m2)  
Tỉ trọng ф (T/m3)  
hòa 푦bh(T/m3)  
А (0)  
21  
2,1  
2,26  
2,0  
30  
KHCNM SỐ 1/2019 * CNKT HẦM LÒ  
14  
THÔNG TIN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ MỎ  
cao tăng thêm do tải trọng Pm truyền vào đáy BC  
Trong đó: p - áp lực ngang phân bố đều; R1,  
được tính theo sơ đồ Hình 1 và theo công thức R2 - Bán kính trong và ngoài của vỏ giếng; x -  
(1) (Đỗ Thụy Đằng, 1997):  
Khoảng cách từ tâm giếng đến điểm đang xét  
của vỏ chống.  
P
m
Ho =  
(1)  
γ.b0  
Trong đó: H0 – chiều cao tăng thêm, m; Pm –  
tải trọng trên 1m dài móng tác dụng vào chiều  
rộng đáy b0, T;푦 - dung trọng của địa tầng, T/m3;  
b0 – chiều rộng của bãi thải lân cận, m  
Trong điều kiện như thế, tải trọng tác dụng  
Hình 2. Sơ đồ phân bố các thành phần ứng suất  
О3 và О2 trong vỏ chống giếng đứng  
2.2. Xây dựng và kiểm chứng mô hình số  
2.2.1. Xây dựng mô hình số mô phỏng ảnh  
hưởng của bãi thải bề mặt giếng đến trạng thái  
ứng suất và chuyển vị trong vỏ chống giếng  
đứng  
Hình 1. Sơ đồ tính áp lực bên do ảnh hưởng của  
bãi thải liền kề (ABAQUS User’s, 2011; Võ Trọng  
Hùng, 2012)  
Để phân tích rõ hơn ảnh hưởng của bãi thải  
bề mặt đến độ ổn định của vỏ chống giếng  
vào thành giếng có thể được tính dễ dàng bằng đứng, nhóm nghiên cứu sử dụng phương pháp  
phương pháp tính toán trong cơ học ổn định phần tử hữu hạn thông qua phần mềm Abaqus.  
khối đất, cường độ áp lực ngang do bãi thải tác Kết cấu của mô hình số được xây dựng sử dụng  
dụng vào điểm D được biểu thị bằng công thức cho nghiên cứu chia thành các khối phần tử mô  
(2) (Phí Văn Lịch, 1977; Đỗ Thụy Đằng, 1997):  
hình khác nhau với ba phần riêng biệt gồm khối  
đất đá xung quanh vỏ giếng, vỏ giếng bằng bê  
tông và bãi thải bề mặt (Hình 3). Kích thước mô  
hình được lấy theo kinh nghiệm lớn gấp 5 lần  
chiều sâu giếng để mô tả chính xác vùng ảnh  
hưởng. Mô hình đất đá có bề rộng tùy theo bán  
kính và chiều sâu giếng đứng. Đất đá mô phỏng  
hình học với chiều dài x chiều rộng x chiều cao  
là 200 x 200 x 120 m. Giếng có bán kính 2,7m  
(tính cả phần diện tích đào, tác giả bỏ phần bê  
tông phun với mô hình nghiên cứu đơn giản),  
b0  
ϕ
2
Pz = γ.H0  
tg 450 −  
(2)  
a0 + b0  
Dưới tác dụng của áp lực ngang phân bố đều  
P và trọng lượng bản thân của vỏ chống, ngoài  
ra còn có ảnh hưởng của các công trình trên bề  
mặt đến vỏ chống xuất hiện trạng thái ứng suất  
ba chiều: Ứng suất nén hướng tâm О (còn gọi  
là ứng suất hướng kính); Ứng suất t3iếp tuyến  
О2 (còn gọi là ứng suất vồng theo chu vi), tác  
dụng vuông góc với ứng suất hướng tâm; Ứng  
suất thẳng đứng О1 tác dụng song song với trục  
giếng (Hình 2). Đây là một trường hợp của bài  
toán Lamé đã giải từ năm 1852. Độ lớn của các  
ứng suất trên được tính theo các công thức (4)  
(Changsuo Zhang et al, 2005):  
R22.P  
R12  
x2  
R12  
x2  
σ3 =  
σ2 =  
σ1 =  
1−  
R22 − R12  
R22.P  
R22 − R12  
R22.P  
R22 − R12  
(3)  
1+  
a. Khối đất đá xung  
c. Khối đất đá và bãi thải  
b. Vỏ  
quanh thành giếng  
hình chóp  
giếng  
Hình 3. Kết cấu mô hình số  
KHCNM SỐ 1/2019 * CNKT HẦM LÒ  
15  
THÔNG TIN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ MỎ  
với bề dày thành giếng không đổi. Vỏ chống bê để xác định trọng lực, và ứng suất nguyên sinh  
tông liền khối của giếng đứng được sơ bộ lựa trong đất đá. Điều kiện biên mô hình ở các cạnh  
chọn dày 0,2m theo thiết kế của công ty than Hà biên sử dụng gối cố định theo phương ngang (x,  
Lầm khi giếng đi qua vùng đất đá ổn định được y), biên bề mặt được giả thiết biến dạng tự do,  
mô phỏng dạng vỏ (shell) với độ sâu là 83,3m.  
2.2.2. Thông số và mô hình vật liệu  
biên đáy mô hình giả sử là cố định ngầm các  
hướng(x, y, z) như hình 4.  
Mô hình được khảo sát với 6 lớp đất đá nằm  
ngang khác nhau có đặc tính cơ lý được thể  
hiện trên Bảng 3. Mô hình gồm 5 thông số cơ  
bản: module đàn hồi (E), hệ số Poison (⍴), lực  
dính của đất C, góc ma sát trong (А) và góc nở  
của đất (∝). Vỏ chống giếng đứng là bê tông liền  
khối M300 với các đặc tính cơ lý được thể hiện  
trên Bảng 4. Do các lớp đất đá bề mặt thuộc  
loại mềm yếu nên vật liệu làm việc tuân theo mô  
hình phá hủy Mohr-Coulomb.  
2.2.4. Phần tử sử dụng cho mô hình  
Trong mô hình khối đá được mô phỏng nhờ  
phần tử dạng tứ diện tuyến tính, vỏ chống giếng  
đứng được lựa chọn là phần tử vỏ tam giác với  
đặc tính như Bảng 5:  
2.2.5. Các trường hợp nghiên cứu  
a. Kết quả mô hình giếng đứng trong trường  
hợp chưa có bãi thải  
Khi chưa có bãi thải phía trên miệng giếng,  
vỏ chống giếng đứng chỉ chịu ảnh hưởng của  
áp lực đất đá xung quanh. Kết quả so sánh giữa  
mô hình số với kết quả tính toán áp lực bên  
thành giếng đạt được bằng phương pháp giải  
tích tính toán theo công thức (2) được thể hiện  
2.2.3. Tương tác và điều kiện biên của mô  
hình  
Mô hình tương tác đất đá-vỏ giếng được xác  
định sử dụng bước nghiên cứu địa tĩnh ban đầu,  
b. Liên kết giữa đấ đá và vỏ  
chống giếng đứng  
Hình 4. Biểu diễn điều kiện biên mô hình  
Bảng 3. Chỉ tiêu cơ lý của đất đá đào qua  
c. Mô hình bãi thải gần miệng  
giếng trên các lớp địa tầng  
a. Điều kiện biến dạng ngầm  
bao quanh mô hình  
Các chỉ tiêu cơ lý  
ρ (g/cm3)  
2,1  
C (MPa)  
А (độ)  
30  
E (GPa)  
3,0  
∝
0, 25  
Loại đá  
Đá thải (Lớp đất đá 1)  
Bột kết (Lớp đất đá 2)  
Bột kết (Lớp đất đá 3)  
0,02  
5,0  
2,6  
35  
3,6  
0, 213  
0,206  
2,6  
16,9  
36  
5,0  
Sét kết (Lớp đất đá 4)  
2,6  
2,9  
31  
2,4  
0,24  
Than (Lớp đất đá 5)  
Bột kết (Lớp đất đá 6)  
1,5  
2,6  
0,5  
30  
36  
0,91  
5,0  
0,25  
16,9  
0,206  
Bảng 4. Chỉ tiêu cơ lý bê tông thành giếng  
Các chỉ tiêu cơ lý  
Bê tông  
K
(GPa)  
G
(GPa)  
σc  
(MPa)  
σt  
(MPa)  
ρ
C
(MPa)  
E
(GPa)  
ϕ
(g/cm3)  
ν
(độ)  
M300  
30  
0,8  
2,40  
0,61  
35  
30  
0, 25  
18,7  
11.6  
KHCNM SỐ 1/2019 * CNKT HẦM LÒ  
16  
THÔNG TIN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ MỎ  
Bảng 5. Đặc tính các loại phần tử sử dụng trong mô hình  
Stt  
Tên phần tử  
C3D4  
Số nút  
Loại hình  
3D Stress  
Vỏ  
Phần tử rắn (đất đá)  
Phần tử vỏ (giếng)  
4 nút – tứ diện tuyến tính  
3 nút – vỏ tam giác  
S3  
trên hình 5.  
phương pháp số và phương pháp giải tích là  
phù hợp, do đó mô hình xây dựng có độ tin cậy  
và có thể được sử dụng để nghiên cứu thông  
số.  
2.3. Khảo sát thông số mô hình  
2.3.1. Ảnh hưởng của khoảng cách bãi thải  
đến giếng đứng  
Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả mô  
phỏng giếng đứng với kích thước như mô hình  
đã kiểm chứng ở trên (R=5,4m; H=83,3m).  
Bãi thải có hình dạng nón, kích thước bề rộng  
100m, chiều cao 50m. Nghiên cứu được tiến  
hành bằng cách thay đổi vị trí khoảng cách bãi  
thải từ miệng giếng tới mép ngoài cùng bãi thải.  
Khoảng cách được thay đổi lần lượt là 30m,  
40m, 50m, 60m. Kết quả chuyển vị lớn nhất trên  
thành giếng được thể hiện như Hình 7.  
Kết quả thu được từ sự dịch chuyển khối đất  
đá khi bãi thải thay đổi vị trí có thể đưa ra một số  
kết luận: Khoảng cách bãi thải tới giếng càng xa  
dần, thì chuyển vị trong thành giếng càng giảm  
dần. Vùng ảnh hưởng dịch chuyển di chuyển  
Kết quả so sánh trên biểu đồ Hình 5.b có thể  
thấy rằng giá trị tính toán áp lực đất đá xung  
quanh thành giếng theo hai phương pháp giải  
tích và phương pháp số cho ra kết quả phù hợp.  
Giá trị lớn nhất 60 tấn/m2 tại độ sâu 83,3m nằm  
qua vỉa than dày 9m. Sự phân bố áp lực thay  
đổi theo chiều dài dọc thân giếng, ngoại trừ tại vị  
trí 1/3 của thân giếng có bước nhảy nhỏ, bước  
nhảy này là do sự bất ổn định số xảy ra trong  
mô phỏng. Khi vỏ chống giếng đứng có chiều  
dày 20cm, theo lý thuyết tính toán ứng suất nén  
trong thành giếng được tính như công thức (3)  
khi R1=2,5m; R2=2,7m; x= 2,7m, ta tính được  
các thành phần ứng suất trong vỏ giếng. Kết  
quả so sánh giá trị ứng suất tiếp, ứng suất nén  
trong thành giếng theo công thức (3) với các giá  
trị ứng suất tương ứng đạt được bằng phương  
pháp số (cụ thể là các ứng suất S11, S22) được  
thể hiện trên Hình 6.  
Kết quả so sánh trên Hình 6 cho thấy giá  
trị ứng suất thu được trong thành giếng bằng  
a. Ứng suất trên thành giếng  
b. Giá trị ứng suất trong thành giếng theo hai  
phương pháp khác nhau  
Hình 5. Giá trị ứng suất trong vỏ chống giếng đứng do áp lực đất đá  
a. Thành phần ứng suất S11  
b. So sánh ứng suất đạt theo hai phương pháp  
Hình 6. Kết quả ứng suất đạt được bằng phương pháp số  
KHCNM SỐ 1/2019 * CNKT HẦM LÒ  
17  
THÔNG TIN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ MỎ  
theo vị trí đặt bãi thải. Với tính chất đất đá như miệng giếng đứng tới mép ngoài cùng bãi thải là  
điều kiện khảo sát địa chất đưa ra, có thể thấy 40m và 30 m, tiến hành bằng cách thay đổi kích  
rằng, chuyển vị lớn nhất đạt 5,6mm với chiều thước bề rộng bãi thải. Bề rộng bãi thải thay đổi  
dày của lớp bê tông phun là 5cm, chiều dài lần lượt là 60m với chiều cao bãi thải 30m; 80m  
thanh neo là 1,5m như Hình 8. Có thể thấy hai vị với chiều cao bãi thải 40m; 100m với chiều cao  
trí dịch chuyển chủ yếu trong mô hình, đó là vị trí bãi thải 50m; 120m với chiều cao bãi thải 60m.  
phía dưới bãi thải, và vị trí đáy giếng. Điều này Kết quả khảo sát nghiên cứu đưa ra một số kết  
có thể giải thích rằng, hiện tượng dịch chuyển luận: ứng suất phá hủy kéo (+) trong các trường  
đó là do trọng lượng bản thân của bãi thải và hợp thay đổi chủ yếu ở phần cổ giếng. Ứng suất  
trọng lượng bản thân của thành giếng tác động, kéo lớn nhất trong trường hợp bãi thãi có bề  
từ đó sẽ đưa ra các nghiên cứu thiết kế cổ giếng rộng lớn nhất và khi bề rộng giếng nhỏ dần thì  
và vành đế đỡ hợp lý.  
ứng suất kéo giảm dần. Kết quả biểu diễn sự  
dịch chuyển khối đất đá khi bãi thải thay đổi vị  
2.3.2. Ảnh hưởng của bề rộng bãi thải  
Để khảo sát ảnh hưởng của bề rộng bãi thải, trí cho thấy: Bề rộng bãi thải càng lớn dần, thì  
nghiên cứu tiến hành cố định khoảng cách từ chuyển vị của bãi thải tác động lên thành giếng  
Hình 7. Ứng suất trong vỏ chống tại các khoảng cách nhau  
a. Các điểm khảo sát  
b. Ứng suất trong vỏ chống thành giếng c. Chuyển vị trong vỏ chống thành giếng  
Hình 8. So sánh ứng suất trong vỏ chống tại các khoảng cách khác nhau  
a. Khi khoảng cách 30m chiều rộng thay đổi b. Khi khoảng cách 40m chiều rộng thay đổi  
Hình 9. Sự ảnh hưởng của chiều rộng bãi thải đến giá trị ứng suất trong vỏ chống  
KHCNM SỐ 1/2019 * CNKT HẦM LÒ  
18  
THÔNG TIN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ MỎ  
càng lớn dần. Vùng ảnh hưởng dịch chuyển di  
chuyển theo độ lớn của bề rộng bãi thải. Với  
Tài liệu tham khảo:  
1. Đỗ Thụy Đằng (1997). Thi công cổ giếng  
tính chất đất đá như điều kiện khảo sát địa chất đứng (bản dịch). Đại học Mỏ-Địa chất, Hà Nội.  
đưa ra, có thể thấy rằng, chuyển vị lớn nhất đạt 2. Võ Trọng Hùng 2012. Thi công giếng  
6mm, khi bãi thải có bề rộng 120m, cao 60m đứng. Nhà xuất bản Khoa học Tự nhiên và  
(Hình 9). Ngoài ra, có thể thấy hai vị trí dịch Công nghệ. Hà Nội. Changsuo Zhang, Feng  
chuyển chủ yếu trong mô hình, đó là vị trí phía Hu, Steve Zou. 2005. Effects of blast induced  
dưới bãi thải, và vị trí đáy giếng. Điều này có vibrations on the fresh concrete lining of a shaft.  
thể giải thích rằng, hiện tượng dịch chuyển đó Tunnelling and Underground Space Technology  
là do trọng lượng bản thân của bãi thải, và trọng 20, pp.356–361.  
lượng bản thân của thành giếng tác động, từ đó  
sẽ đưa ra các nghiên cứu thiết kế cổ.  
3. Kết luận  
3. GS.TS. Phạm Huy Khang, PGS.TS.  
Nguyễn Hữu Trí, ThS.NCS. Đỗ Văn Thái. Nghiên  
cứu sử dụng vật liệu đất đá thải tại các mỏ than  
Với việc nghiên cứu sử dụng phương pháp ở Cẩm Phả - Quảng Ninh và khả năng sử dụng  
phần tử hữu hạn bằng phần mềm Abaqus, mô chúng trong xây dựng đường ô tô. Tạp chí GTVT,  
hình xây dựng trong nghiên cứu này có thể cho 11/2015.  
phép nghiên cứu sự ảnh hưởng của khoảng  
4. Th.S. Trần Miên, Th.S. Nguyễn Tam Tính,  
cách từ bãi thải đến miệng giếng cũng như bề Th.S. Đỗ Mạnh Dũng. Trồng cây phủ xanh bãi  
rộng bãi thải đến độ ổn định thành giếng. Kết thải mỏ vùng than Quảng Ninh. Tạp chí Môi  
quả đưa ra trong nghiên cứu này được áp dụng trường, số Chuyên đề III năm 2018.  
cho giếng có độ sâu nhỏ, bãi thải dạng hình  
5. Phí Văn Lịch (1977). Áp lực chống giữ  
chóp, tuy nhiên kết quả nghiên cứu có thể mở công trình ngầm Tập 1- Đại học Mỏ- Địa chất.  
rộng cho các loại hình giếng và bãi thải khác Hà Nội 1971.  
nhau của vùng mỏ Quảng Ninh. Trên đây là  
những kết quả nghiên cứu đạt được ban đầu về Manual, Version 6.10, Simulia, Providence, 2011.  
vấn đề này, cần có những nghiên cứu sâu hơn 7. M.L. Bucalem, K.J. Bathe. 1997. Finite  
6. ABAQUS User’s. Examples and Theory  
trong thời gian tới nhằm đáp ứng yêu cầu cấp Element Analysis of Shell Structures. Archives  
bách của các mỏ than hầm lò có sử dụng giếng of Computational Methods in Engineering. Vol.  
đứng./.  
4, 1, pp.3-61.  
Research on the effect of surface dumpsites to the stability of the concrete  
lining of the vertical shafts at underground mines in Vietnam  
Dang Van Kien, Vo Trong Hung, Do Ngoc Anh  
Hanoi University of Mining and Geology (HUMG)  
Khuat Manh Thang  
Vietnam national coal - mineral industries holding corporation limited  
Do The Anh  
Fountech joint stock company  
Summary:  
The paper represents the research results on the effect of the surface dumpsites the mine to the  
stability of the concrete lining of the vertical shafts. Three-dimensional finite element models were  
developed to conduct the parametric analyses using the commercial FE package, ABAQUS. A good  
agreement between the numerical results and the analytics method was found. This numerical model  
can be used to study. Parameter study shows the effect of the distance and width of the surface  
dumpsites at the mine around the shaft walls to the stability of concrete lining of the vertical shafts.  
The main results obtained by this study can be applied to underground mines in Vietnam with the  
equivalent conditions.  
KHCNM SỐ 1/2019 * CNKT HẦM LÒ  
19  
pdf 6 trang yennguyen 10880 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu ảnh hưởng của bãi thải bề mặt đến độ ổn định của vỏ chống giếng đứng tại các mỏ lò Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_anh_huong_cua_bai_thai_be_mat_den_do_on_dinh_cua.pdf