Nghệ thuật sử dụng ngữ liệu văn hoá trong "Truyện Kiều"
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT Tập 11, Số 2, 2021 87-103
NGHỆ THUẬT SỬ DỤNG NGỮ LIỆU VĂN HOÁ TRONG
TRUYỆN KIỀU
Võ Minh Hảia*
aKhoa Ngữ văn, Trường Đại học Quy Nhơn, Bình Định, Việt Nam
Lịch sử bài báo
Nhận ngày 25 tháng 12 năm 2020
Chỉnh sửa ngày 23 tháng 02 năm 2021 | Chấp nhận đăng ngày 24 tháng 02 năm 2021
Xuất bản trực tuyến ngày 16 tháng 4 năm 2021
Tóm tắt
Bài viết nghiên cứu một số đặc điểm về phương thức nghệ thuật sử dụng hệ thống ngữ liệu
bác học và bình dân trong ngôn ngữ “Truyện Kiều”. Thông qua việc phân tích các đặc
trưng của ngôn ngữ văn hoá, bài viết nghiên cứu sự phối kết hợp nhuần nhuyễn, thần tình
và đích đáng các hệ thống ngữ liệu đã tạo nên chiều sâu văn hoá và giá trị bất hủ của tác
phẩm trong tiến trình văn học Nôm Việt Nam. Bên cạnh đó, bài viết cũng góp phần tôn vinh
những đóng góp về mặt ngôn ngữ của Nguyễn Du và “Truyện Kiều” đối với ngôn ngữ văn
học cổ điển Việt Nam.
Từ khóa: Nghệ thuật sử dụng ngữ liệu; Ngôn ngữ văn hoá; Ngôn ngữ Truyện Kiều; Truyện
Kiều.
Loại bài báo: Bài báo nghiên cứu gốc có bình duyệt
Bản quyền © 2021 (Các) Tác giả.
87
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN]
THE ART OF USING CULTURAL CORPUS
IN THE TALE OF KIEU
Vo Minh Hai a*
aThe Faculty of Literature, Quy Nhon University, Binh Dinh, Vietnam
Article history
Received: December 25th, 2020
Received in revised form: February 23rd, 2021 | Accepted: February 24th, 2021
Available online: April 16th, 2021
Abstract
This article discusses some characteristics of the artistic style that Nguyen Du used in the
corpus system of “The Tale of Kieu”. By analyzing the characteristics of the language, the
article researches the unique combination of the many corpus systems used to create the
cultural depth and immortal value of this work of Vietnamese Nom literature. The article
also honors the contributions of Nguyen Du and “The Tale of Kieu” to the language of
Vietnamese classical literature.
Keywords: Art of using corpus; Characteristics of cultural language; Cultural language;
Language of The Tale of Kieu; The Tale of Kieu.
Article type: (peer-reviewed) Full-length research article
Copyright © 2021 The author(s).
Licensing: This article is licensed under a CC BY-NC 4.0
88
Võ Minh Hải
1.
DẪN NHẬP
Nghiên cứu ngôn ngữ văn hoá Truyện Kiều là một hướng tiếp cận có tính chất
liên ngành. Thông qua lớp ngôn từ này, chúng ta có thể tìm hiểu nội dung, tư tưởng
thẩm mỹ và phong cách văn hoá của Nguyễn Du trong hành trình sáng tạo, cũng như
những cách tân của tác giả trong quá trình chiếm lĩnh hiện thực, những trải nghiệm của
một nhà nghệ sĩ và những đóng góp cụ thể của ông cho tiến trình phát triển văn học
Nôm Việt Nam.
Theo chúng tôi, ngữ liệu văn hoá “là hệ thống những ngữ liệu mang nội dung, ý
nghĩa, dấu ấn văn hoá được thể hiện qua hệ thống từ ngữ và mối quan hệ, sự tác động
của những nét nghĩa ấy đối với giao tiếp ngôn ngữ và ngôn ngữ nghệ thuật trong đời
sống văn chương học thuật. Nó có nguồn gốc từ văn hoá Hán – văn hoá bác học (hệ
thống kinh điển Hán học) và Văn hoá Việt – văn hoá bình dân (ca dao, dân ca, thành
ngữ, khẩu ngữ dân gian của người Việt)” (Võ, 2020, tr. 47). Kế thừa thành tựu nghiên cứu
của các thế hệ học giả đi trước, chúng tôi tiến hành khảo sát ngữ liệu văn hoá trong Truyện
Kiều và tìm hiểu một số vấn đề có tính lý thuyết về hệ thống điển cố, thi liệu, các lớp từ
ngữ, những vấn đề thi pháp ngôn ngữ mang tính cao nhã, từ chương, uyển ngữ trong ngôn
ngữ Truyện Kiều, đặc biệt là ý nghĩa hàm ẩn, ý nghĩa văn hoá của chúng trong ngữ cảnh
cụ thể.
2.
ĐẶC ĐIỂM VỀ NGHỆ THUẬT SỬ DỤNG NGỮ LIỆU VĂN HOÁ
TRONG TRUYỆN KIỀU
2.1.
Ngữ liệu văn hoá được chuyển dẫn tự nhiên, biến hoá và thích hợp với nội
dung ngữ cảnh
Trong văn học cổ điển Việt Nam, tính chất và nguyên tắc quan phương dường
như đã trở thành một đặc điểm thẩm mỹ của ngữ liệu văn hoá. Đối với ngôn ngữ tác
phẩm văn chương cổ điển, việc sử dụng các ngữ liệu mang tính văn hoá là một thủ pháp,
đặc trưng quan trọng. Trong kiệt tác Truyện Kiều, ngoài sự ảnh hưởng, tác động từ văn hoá,
văn học dân gian, Nguyễn Du đã vận dụng rất thiết thực, tự nhiên, ý nhị, đa dạng và nhuần
nhuyễn những từ ngữ có nguồn gốc từ văn hoá bác học, từ ngôn ngữ văn học, triết học cổ
điển Trung Hoa. Miêu tả sự xuất hiện của Kim Trọng, tác giả đã viết:
Hài văn lần bước dặm xanh,
Một vùng như thể cây quỳnh cành dao.
(câu 143-144)
Hài văn là giày có thêu hoa vân nổi, cây quỳnh cành dao là ngữ liệu được
chuyển dẫn dụng từ sách Thế Thuyết 世說: “Vương Diễn thần thái như quỳnh lâm dao
thụ phong trần ngoại vật 王衍神采如瓊林瑤樹風塵外物” (Thần thái của Vương Diễn đẹp như
cây ngọc dao trong rừng ngọc quỳnh, như ngoại vật ở cõi đời gió bụi) (Ngô, 2007, tr.
314). Chúng ta có thể hiểu, quỳnh và dao (còn gọi là cây xương hô) là hai loại cây có
đặc tính sinh trưởng khá kỳ lạ, nó thường nương tựa quấn quít với nhau, tồn tại gắn bó
89
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN]
với nhau, tạo nên một sự hài hoà, tương hỗ nên người đời thường hay ví tình cảm vợ
chồng gắn bó như cây quỳnh cành dao. Song, trong câu thơ đang đề cập trên, có thể
Nguyễn Du cũng sử dụng ngữ liệu có nguồn gốc trong văn hoá dân gian đó. Song, cũng
cần suy xét thêm rằng, ở trường hợp này, giữa Kim-Kiều chỉ là buổi sơ giao chưa kết
thành phu phụ. Do đó, hình ảnh “cây quỳnh cành dao” chúng ta cũng có thể hiểu đó là
hai thứ ngọc quý và đẹp, dùng để chỉ cho những người có phong thái nho nhã, khiến cho
nét tạo hình và sắc thái miêu tả của ngữ cảnh được gợi tả. Có lẽ, hình ảnh có tính biểu
trưng đó, không gian, phong thái của Kim Trọng khi xuất hiện sẽ thêm phần văn hoa,
thống nhất với những già mà Nguyễn Du đã miêu tả về nhân vật này trong toàn thiên
truyện. Dù không nắm vững về ngữ liệu, nhưng qua đoạn trích người ta vẫn có thể hình
dung được phong thái trang nhã, đĩnh đạc của bậc tài tử văn nhân. Dường như, qua ngữ
liệu văn hoá này, Nguyễn Du không chỉ tạo nên một kết hợp hoàn chỉnh giữa ánh sáng,
màu sắc, tạo thành một nét thần trên một nền của một bức chân dung đẹp nhất về Kim
Trọng mà tác giả còn hướng người đọc đến một sự cảm nhận hài hoà về một vùng
không gian văn hoá nên thơ, trang nhã và hấp dẫn. Đặc biệt, thông qua các ngữ liệu văn
hoá trên, nhà thơ muốn lý tưởng hoá, cực tả hoá hình tượng những nhân vật có tính chất
biểu trưng cho các mệnh đề luận lý của tác giả, vĩnh viễn hoá một không gian uy nghi
cổ điển, tái tạo một xã hội luân lý được vận hành theo nguyên tắc của Lễ pháp 禮 法.
Xét riêng trong lĩnh vực nghệ thuật, đó là những nguyên tắc có tính ước lệ, tức là mọi sự
miêu tả, giới thiệu đều được tổ chức theo những quy định có tính nghi thức, câu thúc.
Nếu miêu tả về người quân tử thì tướng mạo đĩnh đạc, kẻ anh hùng vóc dáng vạm vỡ,
người cơ trí thì tướng mạo nho nhã, hài hoà. Miêu tả về nữ nhân thì chủ về đoan trang,
hiền thục, cử chỉ ngôn hành đều tuân theo tứ đức, suy nghĩ, hành động và lối sống luôn
gắn bó với tam tòng. Điều này được ghi nhận trong sách Ma Y tướng pháp (dành cho
nam) và Liễu Trang diện tướng (dành cho nữ).
Hệ thống ngữ liệu văn hoá trong Truyện Kiều phần lớn là những mỹ từ có chiều
hướng thiên về quá khứ. Đó là những hình ảnh, tư tưởng của cổ nhân, nó phải thể hiện
sự tôn sùng cái cũ, kinh nghiệm của quá khứ, suy tôn kinh, sử, thuật cổ, luận kim. Nó
được thể hiện qua hàng loạt các từ ngữ thi ca, dẫn ngữ, thi liệu, điển cố.... Mở đầu cho
thiên truyện, Tố Như tiên sinh đã sử dụng khá nhiều từ ngữ thi ca, ngữ liệu thường được
sử dụng trong thơ văn cổ điển Việt Nam:
Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài, chữ mệnh khéo là ghét nhau.
Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng,
Lạ gì bỉ sắc tư phong
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen.
(câu 01-06)
Những từ ngữ như trăm năm (bách niên 百年), bể dâu (thương hải tang điền 滄
海桑田), trời xanh (thanh thiên 青天), má hồng (hồng nhan 紅顏) là những từ ngữ có
90
Võ Minh Hải
nguồn gốc trong Hán ngữ, ý nghĩa của nó biểu thị kỳ hạn của đời người, sự biến thiên,
thói đời ấm lạnh của cuộc sống trong quan niệm của các thi nhân. Trăm năm là một cứ
liệu ngôn ngữ xuất phát từ thực tế đời sống. Thơ chữ Hán của Nguyễn Du cũng có câu:
“Bách tuế vi nhân bi thuấn tức, mộ niên hành lạc tích du du” (Mạn hứng 漫興) (Cuộc
đời trăm năm buồn thay chỉ là chốc lát, tuổi già mua vui tiếc quá ngắn). Trăm năm cũng
là một cách nói đại thể diễn tả cuộc đời, ở đây Nguyễn Du dường như muốn nói về cuộc
đời của một con người cụ thể: Vương Thuý Kiều và qua đó cũng chính là những tâm sự
của đời mình. Tương tự như vậy, các cứ liệu như bể dâu, trời xanh, má hồng cũng đã
phát huy những ý nghĩa nội tại, góp phần làm tăng thêm sự trang trọng, hấp dẫn cho câu
thơ, đồng thời giúp cho những khái quát của nhà thơ thêm sâu sắc.
Số lượng từ ngữ được tác giả sử dụng để diễn đạt một ngữ liệu nguyên dạng
nhất định nào đấy rất linh hoạt và thần tình, tuỳ theo yêu cầu của văn cảnh mà định vị
cho các điển, ngữ phù hợp thích đáng. Có khi đơn giản chỉ vài chữ cũng đủ nêu lên hàm
nghĩa sâu xa của một ngữ liệu văn hoá, có khi phải vận dụng hàng loạt từ khác nhau để
giải thích biện minh. Song, điều quan trọng là sức gợi của những ngữ liệu ấy mang lại
cho người đọc những khoái cảm thẩm mỹ gì, giúp người đọc hiểu thêm những vấn đề
gì, nội dung nào của thi phẩm. Có nghĩa là, người đọc phải nắm được chìa khoá về nét
nghĩa phái sinh của điển ngữ. Chẳng hạn, qua lời thề của Mã Giám Sinh, người đọc ngỡ
hắn là một sinh viên thực thụ của trường Quốc tử giám:
Cạn lời khách mới thưa rằng
Buộc chân, thôi cũng xích thằng nhiệm trao.
Mai sau dầu đến thế nào
Kìa gương nhật nguyệt, nọ đao quỷ thần!
(câu 903-906)
Trong lời thề ấy, Mã Bất Tiến đã sử dụng những từ ngữ rất văn hoa có tính chất
điển cố như xích thằng 赤繩 (điển cố có xuất xứ từ trong Tục u quái lục 續 幽 怪 錄),
từ ngữ xã hội như gương nhật nguyệt, đao quỷ thần. Lời thề ấy nghe có vẻ rất nghiêm
cẩn nhưng lại chính là chứng lý cụ thể vạch trần bản chất đểu cáng của hắn. So với
những hành động mà hắn sẽ làm tiếp sau đó, người đọc không khỏi bật cười vì những
hành vi vô luân, vô sỉ được bao bọc, nguỵ trang bằng những từ hoa mỹ. Với ngữ liệu
văn hoá bình dân, ông đã sử dụng hệ thống này với các nhân vật phản diện, mang tính
chất phê phán. Thông qua ngôn ngữ bình dân, Nguyễn Du đã sử dụng một lớp từ ngữ có
sắc tái miêu tả cụ thể, chi tiết về nhân vật. Chẳng hạn:
Thừa cơ lẻn bước ra đi,
Ba mươi sáu chước, chước gì là hơn.
Dù khi gió kép mưa đơn,
Có ta đây cũng chẳng can cớ gì.
(câu 1109-1112)
91
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN]
Một từ lẻn cũng đủ bóc trần bộ mặt trâng tráo, xấc xược, đểu giả của một kẻ
chuyên lừa gạt những cô gái nhẹ dạ, cả tin. Qua lối nói đặc phong cách khẩu ngữ nhưng
có vẻ anh hùng, kiêu dũng kiểu giang hồ “có ta đây cũng chẳng can cớ gì”, chúng ta có
thể phần nào hình dung ra được dáng vẻ điển hình của một gã điếm đàng nói riêng và sự
“na ná” giống nhau của những kẻ đưa hương dắt phấn. Với hệ thống từ ngữ bình dân,
tác giả dường như lách nhẹ, đi sâu vào bản chất thực, dè bỉu phẩm cách, ngoại hình của
các nhân vật phản diện. Qua các trích đoạn miêu tả về Mã Giám Sinh, Tú Bà, bọn tham
quan ô lại... trong tác phẩm đã chứng thực những điều đã khái quát trên.
Qua các tình huống miêu tả khác nhau, hệ thống từ láy thuần Việt đã tạo thành
một thế giới nghệ thuật ngôn từ phong phú. Từ láy thuần Việt không chỉ góp phần tạo ra
những hình ảnh cụ thể khi miêu tả mà còn thể hiện những nét tinh tế trong tâm trạng của
nhân vật. Cảnh vật đìu hiu, buồn bã, hoang sơ, các từ láy đầy tâm trạng trong đoạn thơ
nói về Kiều gặp mộ Đạm Tiên 淡仙 đã diễn tả một cách thích đáng tâm trạng của nàng
Kiều với một cảm giác nhân văn và tràn ngập những nỗi niềm trăn trở:
Tà tà bóng ngả về Tây,
Chị em thơ thẩn dan tay ra về.
Bước lần theo ngọn tiểu khê,
Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh.
Nao nao dòng nước uốn quanh,
Nhịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang.
Sè sè nấm đất bên đường,
Dàu dàu ngọn cỏ, nửa vàng nửa xanh.
(câu 51-58)
Một đoạn thơ chỉ có tám câu thì đã có đến bảy câu đã sử dụng từ láy tượng hình.
Đoạn thơ đã diễn tả tâm trạng khá thoải mái, vui vẻ của hai chị em Thuý Kiều khi chia
tay với ngày xuân vào thời khắc hoàng hôn đang dần sụp xuống. Các từ láy tạo hình
như tà tà, thơ thẩn, nao nao, nho nhỏ đã phần nào gợi nên một nỗi buồn man mác, nhẹ
nhàng của thời khắc cuối ngày. Những từ láy như sè sè, dàu dàu đã giúp người đọc như
cảm nhận được sự hiu hắt của nấm mồ vô chủ Đạm Tiên qua con mắt nhân văn của
Kiều. Vị trí nằm đầu câu thơ của các từ tà tà, sè sè, dàu dàu đã gây một ấn tượng khá
mạnh cho bút pháp từ chấm phá đến phục dựng bức tranh thanh minh vào cuối ngày
xuân. Đoạn thơ như toát lên một sự dự báo về số phận tương lai của nàng Kiều – lênh
lênh, khúc khuỷu và uốn quanh. Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã đặt từ láy vào vị trí
trung tâm của phát ngôn vừa tạo cảm giác chuyển động của bánh xe lúc đăng trình
nhưng đồng thời cũng mang tính tạo hình, dường như ông đã vẽ được lộ trình phía trước của
Kiều với nỗi đau đoạn trường: “Đoạn trường thay lúc phân kỳ,/ Vó câu khấp khiểng,
bánh xe gập ghềnh.” (câu 869-870). Trong câu thơ trên, các từ Hán Việt như đoạn
trường 斷腸 (nỗi đau đứt ruột), phân kỳ 分岐 (rẽ sang ngả khác, chia rẽ) đã khiến người
đọc cảm nhận một cách sâu sắc về nỗi đau cốt nhục phân ly, không hẹn ngày tái hội.
92
Võ Minh Hải
Trong khi đó, các từ láy khấp khiểng, gập ghềnh… đã biểu lộ cảm giác xót xa một cách
cụ thể về nỗi đau của Kiều và gia đình Vương ông khi Mã Giám sinh rước Kiều về Lâm
Truy. Và cuộc đời Kiều cũng gập ghềnh như vó câu trong ngày đưa dâu. Miêu tả cái
phong khí êm đềm ngày thu là vậy mà đến khi tả cái cảnh vội vàng, lật đật thì ông cũng
dồn dập: “Đùng đùng gió giục mây vần,/ Một xe trong cõi hồng trần như bay” (câu 907-
908).
Ngoài việc sử dụng từ láy để tả tình, vịnh cảnh, Nguyễn Du còn sử dụng lớp từ
này để miêu tả và khắc hoạ tính các nhân vật, nhất là các nhân vật phản diện. Với Mã
giám sinh, ông đặc tả:“Quá niên trạc ngoại tứ tuần,/ Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh
bao” (câu 627-628). Với gã Sở Khanh, ông châm biếm:“Một chàng vừa trạc thanh
xuân,/ Hình dung chải chuốt áo khăn dịu dàng” (câu 1059-1060). Với khả năng gợi
cảm, thiên về miêu tả và gợi hình chi tiết, cụ thể, chúng tôi cho rằng, từ láy thuần Việt
đã được Nguyễn Du sử dụng một cách khá đắc dụng và có vai trò quan trọng trong
nghệ thuật miêu tả cảnh, thể hiện tâm trạng nhân vật.
2.2.
Ngữ liệu văn hoá được vận dụng và chuyển dẫn một cách sáng tạo
Trong Truyện Kiều, bên cạnh sự vận dụng sáng tạo các ngữ liệu từ văn hoá dân
gian, Nguyễn Du đã khéo léo chuyển hoá, định vị cho các ngữ liệu văn hoá bác học một
cách tài tình và sáng tạo. Ông không chỉ sử dụng lối kê cổ, dụng điển mang phong cách
từ chương của văn học cổ điển mà nhà thơ học tập, ảnh hưởng và tạo nên những ngữ
liệu đậm tính văn hoá mộc mạc, nhuần nhị. Hệ thống ngữ liệu chuyển dịch được nhà thơ
diễn nôm, chuyển dịch từ hệ thống điển cố, thi liệu Hán học trong Truyện Kiều rất phong
phú về số lượng, đa dạng, sáng tạo về hình thức. Tất cả những ngữ liệu ấy đã được nhà thơ
vận dụng trong những ngữ cảnh rất thích đáng và thần tình. Để nói về mặt trăng với hàm ý
chỉ người con gái đẹp, người ta có thể dùng các mỹ từ như cung thiềm, cung quế, ngọc
thố…, và đặc biệt là Hằng Nga 恆 娥, Thường Nga 嫦 娥. Theo sách Hoài Nam Tử 淮南子
, Hằng Nga là vợ Hậu Nghệ 后羿, một nhân vật truyền thuyết thời đế Nghiêu 帝堯, đã lấy
trộm thuốc trường sinh bất tử của chồng để được thành tiên và bỏ trốn lên cung Quảng Hàn
廣寒 (Ngô, 2007, tr.517). Tuy nhiên, trong Truyện Kiều, ngữ liệu nguyên dạng Hằng Nga
hầu như không được nhà thơ sử dụng lần nào, khi dẫn điển này, nhà thơ đã chuyển đổi cấu
trúc từ Hán sang Việt, tạo nên một ngữ liệu chuyển dịch và sử dụng đúng vị trí của nó,
chẳng hạn:
Liều như cung Quảng ả Hằng nghĩ sao… (câu 1636)
Chủ trương đành đã, chị Hằng ở trong… (câu 1340)
Ngoài ra, để diễn đạt ngữ liệu này, tác giả còn sử dụng rất linh hoạt các từ ngữ
khác như bóng nga, thềm quế, cung hàn... Trong Truyện Kiều, mỗi chữ, mỗi câu đều in
đậm dấu ấn của sự sáng tạo của nhà thơ. Một hình ảnh thơ không phải tự nhiên xuất
hiện mà nó luôn là sự kết tinh của tri thức và tài năng của nhà nghệ sỹ. Chẳng hạn:
Đêm thu, gió lọt song đào… (câu 1637)
Nàng thì chiếc bóng song mai ... (câu 2232)
93
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN]
Các ngữ liệu như song đào là cửa sổ có trang trí sắc đỏ của hoa đào, song mai là
cửa sổ có vẽ hoa mai, lấy ý từ cổ thi “độc lập vô tình tự, ỷ song điểm mai hoa” (Đứng
một mình buồn bã, dựa song đếm hoa mai), song trăng là cửa sổ tròn hình nguyệt, nó
còn có thể hiểu là ban đêm. Các từ như song đào (cửa sổ có vẻ hình hoa đào), song mai
(cửa sổ có vẻ hình hoa mai), song the (cửa sổ làm bằng vải the), song mây (cửa sổ làm
bằng dây mây) đều phiếm chỉ cửa sổ. Có thể nói, Nguyễn Du đã linh hoạt hoá việc phác
hoạ những không gian văn hoá truyền thống phương Đông trong Truyện Kiều. Hoặc ở
một ví dụ khác, Nguyễn Du cũng rất sáng tạo trong việc dẫn dụng các ngữ liệu bác học có
liên quan đến hình ảnh trăng, cụ thể như trong các câu thơ sau:
Sắn bìm chút phận con con,
Khuôn viên biết có vuông tròn cho chăng?
Thân sao nhiều nỗi bất bằng,
Liều như cung Quảng ả Hằng, nghĩ nau…
(câu 1633-1636)
Trong đoạn thơ này, tác giả đã chuyển dẫn một cách linh hoạt các ngữ liệu văn
hoá bác học trong văn chương cổ điển Trung Hoa để bộc lộ tâm tình của nàng Kiều về
thân phận lẻ mọn của mình khi gá nghĩa với Thúc Sinh. Ngữ liệu sắn bìm đã được nhà
thơ Việt hoá từ các điển cố Hán học như Cát luỹ 葛藟 có xuất xứ từ câu “Nam hữu cù
mộc, cát luỹ oanh chi 南有欋木葛藟縈之” (Bên Nam có cây to, dây cát luỹ leo lên) trong Kinh
Thi, phiếm chỉ thân phận của người vợ lẽ. Cung Quảng ả Hằng là thi liệu xuất phát từ
trong bài thơ cổ Thất tịch ca 七夕歌: “Do thắng Hằng nga bất giá nhân, dạ dạ cô miên
Quảng hàn điện 猶勝恆娥 不嫁人, 夜夜孤眠廣寒殿” (Bởi nàng Hằng Nga không lấy
chồng, đêm đêm ngủ một mình trong cung Quảng Hàn), chỉ sự cô đơn, sầu lẻ bóng
(Ngô, 2007, tr. 519). Hai ngữ liệu bác học này kết hợp với khuôn viên (có bản chép là
khuôn duyên), một ngữ liệu do Nguyễn Du đã sáng tạo ra, phiếm chỉ sự sắp đặt duyên
phận của tạo hoá. Đặc biệt, ở câu thơ 1633, Nguyễn Du đã kết hợp ngữ liệu sắn bìm (chỉ
thân phận lẻ mọn) với từ láy con con tạo nên một cảm giác tự ti của một người vợ lẻ
khiến cho người đọc càng thêm chua xót. Hơn ai hết, Thuý Kiều đã thực sự đánh đổi số
phận của mình trong một canh bạc này. Với tổ hợp phận con con ấy, người đọc dường như
cảm nhận được sự cam chịu, chấp nhận mọi chuyện của Kiều nhi. Có lẽ trong thẳm sâu ý
thức của mình, nàng cũng thực sự cảm nhận một viễn cảnh bất hạnh lại đến với bản thân.
Với lối sử dụng hình ảnh vừa tả thực, vừa giàu khả năng gợi tả, không gây tâm
lý nhàm chán, tác giả đã góp phần làm phong phú thêm những hình ảnh thơ, đậm tính
biểu trưng và làm phong phú cho sự liên tưởng, đó là sự sáng tạo độc đáo và cũng chính
là đóng góp lớn của Nguyễn Du vào kho tàng ngôn ngữ Việt Nam.
Bên cạnh hệ thống từ ngữ có tính định danh, miêu tả, Nguyễn Du còn sử dụng
một cách thần tình và khéo léo liên kết trường ngữ nghĩa của các từ ngữ để tạo ra những
nét nghĩa phái sinh, nhằm tạo nên tính đa nghĩa cho những ngữ cảnh đang miêu tả, vừa
chuẩn về thi pháp, vừa tích hợp được vốn văn hoá cổ truyền bác học dân tộc, vừa làm
phong phú thêm về tính chất thẩm mỹ cho ngôn từ. Chẳng hạn, trong cuộc đối thoại
94
Võ Minh Hải
giữa hồn ma Đạm Tiên và Thuý Kiều, Đạm Tiên đã giới thiệu về nguyên cớ của cuộc
hội ngộ là do thanh khí, tức tình ý hợp nhau mà tìm gặp nhau, cảm ứng với nhau:
Thưa rằng: “Thanh, khí xưa nay
Mới cùng nhau lúc ban ngày đã quên?
Hàn gia ở mé tây thiên,
Dưới dòng nước chảy bên trên có cầu…
(câu 193-196)
Ngữ liệu Thanh khí 聲汽 được dẫn từ Dịch kinh 易經: “đồng thanh tương ứng,
đồng khí tương cầu 同聲相應同汽相求” (Ngô, 2007, tr. 341). Hàn gia 寒家 có nghĩa là
nhà lạnh, nhà mọn, là cách nói khiêm xưng trong nghi thức giao tiếp của người phương
Đông. Trong một số ngữ liệu, Thanh Hiên tiên sinh đã sử dụng một số phương vị từ như
Đông, Tây, Nam, Bắc nhưng lại hàm chứa những hàm nghĩa văn hoá khác nhau. Nó có
thể thực chỉ, nhưng có thể hư chỉ. Khảo sát trong đoạn trích trên ta thấy, Hàn gia lại ở
mé tây thiên, thiên 阡 ở đây là con hẻm nhỏ hoặc đường bờ ruộng. Tây thiên 西阡 là
con đường nhỏ ở phía Tây. Nhưng vì sao lại dùng Tây mà không dùng Đông? Có thể
Tây là thực chỉ, nhưng cũng có thể là hư chỉ. Vì lẽ Đạm Tiên lúc bấy giờ là một hồn ma,
ma quỷ thuộc cõi âm, vả lại Đạm Tiên cũng là một nữ nhi, phụ nữ cũng thuộc âm tính,
nên Tây đi với âm là hợp lý. Và do đó, hàn gia trong ngữ cảnh này có thể hiểu đó là
nấm mồ hoang mà Kiều đã gặp và mé Tây thiên cũng chính là bãi tha ma, nơi đã chứng
kiến cuộc gặp gỡ định mệnh ấy. Đối lập với chữ Tây, chữ Đông thuộc Dương, chủ về
sinh, thường chỉ nam giới, do đó chữ Đông đi vào ngôn ngữ văn hoá Truyện Kiều nó
còn mang những nét nghĩa hư chỉ. Chẳng hạn trong câu thơ sau:
Êm đềm trướng rủ màn che,
Tường đông ong bướm đi về mặc ai.
(câu 37-38)
Nguyễn Du dùng từ tường đông có lẽ vì có câu văn trong sách Mạnh Tử 孟子:
“Du đông lân nhi lâu kỳ xử tử 踰東鄰而摟其處子” (Ngô, 2007, tr. 405) (trèo tường nhà
hàng xóm phía Đông mà chọc ghẹo con gái người ta), Đường thi cũng có câu “Đông lân
Tống Ngọc tường 東鄰宋玉牆” ám chỉ chàng Tống Ngọc nước Sở, người thanh tú, tài
hoa, tính tình trăng hoa, ong bướm khiến cho bao người đẹp phải ôm mối hận tình với
anh ta. Tuy nhiên, nhìn lại đoạn trích, ở đầu tác phẩm, nhà thơ đã giới thiệu hai chị em
là con nhà gia giáo, yểu điệu thục nữ khuê môn, tuy đến tuổi cập kê nhưng vẫn chưa có
ý trung nhân nên để mặc “tường đông ong bướm đi về mặc ai”. Tường đông có thể là
thực chỉ bức tường ở phía đông, nhưng đoạn trích này lại đề cập đến đức hạnh của Thuý
Kiều nên tường đông có thể ám chỉ nơi ở của nam nhân. Thế nhưng, sau hội Thanh
Minh, trai tài gái sắc, cá nước sum vầy gặp gỡ, thi sỹ Tố Như đã diễn tả một cách rất tài
hoa tình cảm, cảm xúc của Kiều khi bắt đầu yêu:
Hải đường lả ngọn đông lân,
95
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN]
Giọt sương trĩu nặng cành xuân la đà.
(câu 175-176)
Đông lân như đã phân tích, nó có thể thực chỉ nhà hàng xóm phía đông, nhưng
cũng có thể hiểu là chỗ ở của nam giới, từ đặc chỉ cho nam giới. Theo chúng tôi, ở câu
thơ này, bằng những tín hiệu thẩm mỹ đặc biệt, người đọc có thể cảm nhận được những
xúc cảm đầu đời của Kiều. Nếu ví Thuý Kiều như đoá hoa Hải đường 海棠 trong trắng,
tinh khôi và đông lân (người hàng xóm phía đông) hàm ý chỉ Kim Trọng thì câu thơ trở
nên thanh thoát, ý vị hơn. Bởi cái tình ý quấn quít cả hai, nên ngọn Hải đường có ý ngả
sang mái đông lân và gieo nặng cả cành xuân tình tứ. Đôi khi, nhà thơ còn sử dụng ngữ
liệu này để chỉ đích danh những nhân vật nam giới cụ thể trong tác phẩm:
Song hồ nửa khép cánh mây,
Tường đông nghé mắt, ngày ngày hằng mong…
(câu 283-284)
Tường đông ở đây thực sự chính là Kim Trọng. Tương tự như vậy, ông cũng
dùng chữ tường đông để ám chỉ Sở Khanh:
Tường đông lay động bóng cành,
Dẩy song đã thấy Sở Khanh lẻn vào…
(câu 1093-1094)
Tương tự theo chiều hướng ấy, ta cũng có các ngữ liệu đặc chỉ nữ giới như tây
hiên, mái tây, tây phòng, cung tây. Thông qua kiểu hệ thống ngữ liệu này, tác giả đã
hình thành một dạng thức tư duy mang tính biểu tượng sâu sắc và có tính khái quát cao
trong thơ văn cổ điển.
Ngoài ra, trong hệ thống mỹ từ văn hoá được dẫn dụng, Nguyễn Du đã đưa vào
tác phẩm của mình những lời nói thông tục, quê mùa đến thô kệch, qua bàn tay đẽo gọt
của thi nhân lớp từ ấy vẫn không mất đi cái vẻ đay nghiệt của cuộc đời, chẳng hạn như
lời Thuý Kiều nói "mát" với Hoạn Thư :
Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây.
Đàn bà dễ có mấy tay,
Đời xưa mấy mặt, đời này mấy gan.
Dễ dàng là thói hồng nhan
Càng cay nghiệt lắm càng oan trái nhiều.
(câu 2358-2362)
96
Võ Minh Hải
Thông qua cách sử dụng ngôn ngữ hội thoại, tác giả đã tạo dựng nên những hình
tượng chân thực với những góc cạnh của cá tính. Vì thế, mỗi nhân vật trong tác phẩm
đều trở thành điển hình nghệ thuật của văn chương cổ điển Việt Nam.
Về thành ngữ thuần Việt, chúng tôi nhận thấy có nhiều loại thành ngữ đã được
Nguyễn Du dẫn dụng. Về mặt hình thức, kết cấu của thành ngữ, tục ngữ chặt chẽ, điều
đó quy định cách sử dụng nó khi đưa vào tác phẩm thường là liền một khối. Trong
Truyện Kiều, không ít trường hợp, Nguyễn Du giữ nguyên thành ngữ mà câu thơ vẫn
uyển chuyển, hấp dẫn:“Ra tuồng mèo mả gà đồng/ Ra tuồng lúng túng chẳng xong bề
nào” (câu 1731-1732), hoặc “Bề ngoài thơn thớt nói cười /Mà trong nham hiểm giết
người không dao” (câu 1815-1816). Có thể nói, ngôn ngữ văn hoá mang tính bình dân
trong Truyện Kiều hết sức phong phú và điêu luyện. Bắt nguồn từ vốn sống dân gian
trực tiếp và kế thừa tinh hoa văn hoá của dân tộc, Nguyễn Du có ý thức sử dụng giá trị
biểu đạt của vốn từ địa phương Nghệ Tĩnh. Bên cạnh hệ thống từ thuần Việt, hư từ, từ
láy… những tiểu hệ thống từ ngữ mang sắc thái bình dân, vốn từ cổ, từ địa phương là
một trong những phương tiện nghệ thuật giúp Nguyễn Du thể hiện một cách tối ưu và
hiệu quả những vấn đề trong nội dung và nghệ thuật của Truyện Kiều. Sau khi về Liêu
Dương hộ tang chú, đúng hẹn chàng Kim qua lại tìm Thuý Kiều, nhưng cảnh cũ còn
đây, người xưa giờ đã không còn nữa. Ở ngữ cảnh này, Nguyễn Du đã tạo nên cái
không khí bất an, gấp gáp, ông viết:
Hỏi ông, ông mắc tụng đình,
Hỏi nàng, nàng đã bán mình chuộc cha.
Hỏi nhà, nhà đã dời xa,
Hỏi chàng Vương, với cùng là Thuý Vân.
(câu 2575-2760)
Cũng trong khung cảnh ấy, có lúc Nguyễn Du đã thay chữ hỏi bằng chữ han
(một từ cổ cũng có nghĩa là hỏi thăm):
Vội han di trú nơi nao?
Đánh đường chàng mới tìm vào tận nơi.
(câu 2765-2766)
Từ han xuất hiện trong ngữ cảnh này vừa tránh được sự lặp từ ở những câu trên,
đồng thời cũng phần nào phản ánh được sự vận dụng vốn từ cổ trong câu thơ của
Truyện Kiều. Từ han kết hợp với lối nói “đánh đường…” (tìm đường, dò lối) - một cách
nói bình dân trong tiếng Việt chúng ta đã tạo nên sắc thái khẩu ngữ, dân dã nhưng
không quê mùa luộm thuộm. Đây cũng chính là một trong những minh chứng khẳng
định Nguyễn Du là bậc thầy về ngôn ngữ khẩu ngữ đời thường và đầy sức sáng tạo
trong việc vận dụng một cách nhuần nhuyễn, thần tình, đích đáng những đặc trưng văn
phạm từ pháp Hán và Nôm. Thông qua hệ thống ngữ liệu văn hoá trong Truyện Kiều,
97
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN]
ông đã đưa tiếng nói bình dân lên tầm bác học, rất tinh nhạy trong việc khám phá ra bao
điều kỳ diệu trong tiếng mẹ đẻ của mình.
Khảo sát giá trị biểu đạt và sắc thái ngữ nghĩa của những từ địa phương Nghệ
Tĩnh được sử dụng trong tác phẩm chúng ta có thể thấy rõ điều đó. Ví dụ: Từ “ả” trong
câu: “Nàng Ban, ả Tạ cũng đâu thế này” (câu 406). Từ ả tiếng địa phương Nghệ Tĩnh
được Nguyễn Du sử dụng khá linh hoạt về ngữ nghĩa theo từng hoàn cảnh ngôn ngữ
khác nhau trong Truyện Kiều. Có lúc mang ý nghĩa xem thường: “Bên thì mấy ả mày
ngài” (câu 927) nhưng chủ yếu mang giá trị đề cao: ả nghĩa là bậc chị ở bề trên: “Đầu
lòng hai ả tố nga” (câu 14); “Lại thua ả Lý bán mình hay sao” (câu 672). Từ ả lại vừa
có khả năng tạo nên tính gần gũi, khi đã tin nhau mới xưng hô như vậy: “Nàng Ban, ả
Tạ cũng đâu thế này” (câu 406). Những từ địa phương này phải đặt trong ngữ cảnh mới
thấy được cái hay của nó. Ngay ở câu: “Đầu lòng hai ả tố nga”, từ ả rất hợp với cách kể
chuyện của người Nghệ Tĩnh. Hai ả nghĩa là hai cô gái nhưng đồng thời chỉ sự tương
xứng giữa hai chị em Thuý Kiều, Thuý Vân. Từ ả sẽ tránh được sự lặp lại từ chị ở câu
sau: “Thuý Kiều là chị, em là Thuý Vân” (câu 15). Với việc sử dụng một cách hợp lý hệ
thống địa phương, từ cổ, Nguyễn Du đã phát huy một cách hiệu quả giá trị ngữ nghĩa
của các từ ngữ cổ, từ ngữ mang tính địa phương trong việc chuyển một cốt truyện nước
ngoài thành một truyện thơ mang tâm tình dân tộc, tràn đầy sức sống mới, trở nên gần
gũi với tâm tư, tình cảm, cách ứng xử văn hoá của con người Việt Nam.
2.3.
Sự kết hợp hài hoà, chuyển dịch hợp lý của hai hệ thống ngữ liệu bác học và
bình dân trong Truyện Kiều
Trong quá trình tìm hiểu ngôn từ Truyện Kiều, một số nhà nghiên cứu thường
chú ý trước hết đến những chỗ dùng từ chính xác, từ hay, tinh tế thường được gọi là lối
dùng từ tài hoa của Nguyễn Du, cũng như cách dùng hư từ, từ đồng nghĩa, khẩu ngữ, từ
mang phong vị ca dao, thành ngữ, tục ngữ… Đào Nguyên Phổ 陶元溥 trong lời tựa của
Đoạn trường tân thanh (1898) đánh giá tác phẩm này là “một khúc Nam âm tuyệt
xướng”. Về phương diện ngôn ngữ, công đóng góp của Nguyễn Du có một ý nghĩa hết
sức to lớn đối với lịch sử. Truyện Kiều đã đem lại cho mọi người về khả năng phong
phú của tiếng việt, phương diện sử dụng ngôn ngữ dân tộc trong sáng tác văn chương.
Cũng giống như tất cả những tác phẩm văn học đương thời, ngôn ngữ trong Truyện
Kiều gồm hai thành phần ngữ liệu thuần Việt và Hán Việt, bình dân và bác học. Dùng
hệ thống ngữ liệu Hán Việt trong tác phẩm giai đoạn này là một phong cách có tính thời
đại, văn học thời kì này phát triển chữ Hán, chữ Nôm. Theo thống kê của tổ tư liệu viện
ngôn ngữ thì Truyện Kiều có 1310 từ Hán Việt, tức là từ Hán Việt chiếm tỷ lệ 35%
trong số tổng số từ của tác phẩm. Trong số 35% từ Hán Việt của Truyện Kiều không
tránh khỏi những từ, những điển cố khó hiểu nhưng tác giả đã Việt hoá bằng cách dựa
vào từ Hán để tạo ra từ mới cho tiếng Việt. Để tạo ra những từ ngữ mới đôi khi chúng ta
vay mượn tiếng nước ngoài những cấu trúc về từ pháp, cú pháp, một sự vay mượn như
thế có khả năng làm giàu cho ngôn ngữ dân tộc tạo ra những từ mới cho tiếng Việt có
tính nhạy cảm, có tính chất ngôn ngữ học. Cách tạo từ mới của Nguyễn Du là căn cứ
vào đặc điểm, âm thanh, ngữ điệu của từ tiếng Việt, ông đã dịch những từ ghép và thành
ngữ tiếng Hán ra thành những từ thuần Việt. Chẳng hạn: Bạch nhật là ngày bạc; thiên
nhai hải giác: chân trời góc bể; hồng diệp xích thằng: lá thắm chỉ hồng. Và cũng có khi
98
Võ Minh Hải
ông không dịch cả câu, cũng có khi ông dịch một từ và giữ nguyên một từ gốc Hán,
chẳng hạn: Hiên sau treo sẵn cầm trăng thì nguyệt cầm là cầm trăng; hà bôi: chén hà;
xuân miên: giấc xuân… trong trường hợp này từ Hán được giữ lại thường là một từ dễ
hiểu. Như vậy nhà thơ đã tránh được bệnh trùng lặp, đơn điệu, có thể gieo vần một cách
uyển chuyển, có thể làm cho âm hưởng của câu thơ được dồi dào sinh động. Đọc
Truyện Kiều ta còn bắt gặp được nhiều câu thơ, nhiều từ ngữ đặc sắc. Từ ngữ trong tác
phẩm đã được tác giả sử dụng khá “đắt” và đặc biệt. Nhiều chữ được dùng đi, dùng lại
rất nhiều lần nhưng với một nét nghĩa mới nên không thấy nhàm chán như 63 trường
hợp sử dụng từ thân, 59 lần dùng từ xuân, 70 lần dùng hư từ cũng, 60 lần dùng hư từ
này. Ngay như hư từ đã là một từ rất khó dùng, thế mà Nguyễn Du sử dụng được 140
lần như thế. Điều đó cho thấy, trong quá trình sáng tạo của mình, Nguyễn Du đã vận
dụng một cách tối đa các khái niệm, hệ thống từ ngữ đơn giản nhưng hợp lý và khó thay
thế. Chẳng hạn, từ đã trong các câu sau là những hư từ kết hợp, có tính ngữ pháp khó có
thể thay thế bằng những phó từ khác:
Trẻ thơ đã biết đâu mà dám thưa. (câu 336)
Ngày xuân đã dễ mấy khi tình cờ. (câu 338)
Các thủ pháp chọn lựa ấy đã phần nào minh chứng thêm về thiên tài ngôn ngữ
của Nguyễn Du. Dưới ngòi bút của của mình, ngôn ngữ dân tộc trở nên trong sáng lạ kỳ
và trở thành một lớp từ đặc biệt, thể hiện rõ phong cách văn hoá của Đại thi hào Nguyễn
Du. Ví dụ ông đã kết hợp hài hoà từ thuần Việt chi với những từ ngữ Hán Việt, thuần
Việt khác tạo nên những tổ hợp, cấu trúc cú pháp có ý nghĩa nghi vấn, hay phủ định tu
từ đặc sắc. Từ chi xuất hiện 64 lần trong Truyện Kiều. Trong tiếng Việt, đồng nghĩa với
từ này còn có: gì, không, đâu… Nhưng Nguyễn Du đã lựa chọn từ chi với tư cách là
một từ địa phương khá đặc trưng của xứ Nghệ. Chẳng hạn câu thơ: “Phũ phàng chi bấy
hoá công”. Nếu thay từ chi bấy bằng từ gì bấy: “Phũ phàng gì bấy hoá công” thì câu
thơ nghe có vẻ không hay và có gì đó không được lôgic. Khi tác giả dùng từ “chi”,
dường như câu thơ trở nên đúng nhịp điệu, phù hợp giọng điệu riêng của nhân vật. Đây
là tấm lòng cảm thương chân thành của Thuý Kiều trước nấm mộ Đạm Tiên – người
con gái nổi tiếng tài sắc mà bạc mệnh. Đó là sự đồng cảm quá lớn khiến nàng phải thốt
lên tự đáy lòng của một người đa cảm. Chi bấy được sử dụng với tư cách cảm thán từ,
có cái gì đó nghe xót xa, thổn thức, lại vừa có cái gì đó trách móc sự bất công của cuộc
đời.
Có thể nói, cách dùng từ Hán Việt của Nguyễn Du vẫn là một bài học sinh động
và sáng tạo về cách sử dụng ngôn từ trong tiếng Việt, làm phong phú thêm thế giới ngôn
từ. Tuy xuất thân từ tầng lớp quý tộc nhưng nhà thơ lại rất chú ý đến vốn ca dao, dân ca
trong ngôn ngữ của quần chúng. Qua năm tháng của tuổi thơ, có thể ông đã chịu ảnh
hưởng sâu sắc từ người mẹ tài hoa với những khúc hát ru đầy những ân tình. Về sau,
ông lăn lộn trong cuộc sống dân dã với mọi tầng lớp người trong xã hội và càng chịu
ảnh hưởng của văn học dân gian. Nguyễn Du cũng sử dụng rất nhiều tục ngữ, thành ngữ
trong tác phẩm đôi khi chúng ta cũng khó nhận ra đâu là tục ngữ, thành ngữ dân gian,
đâu là những cụm từ có phong cách thành ngữ do ông sáng tạo trong thi phẩm. Chẳng
hạn như những câu sau:
99
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN]
Dùng dằng nửa ở nửa về… (câu 133)
Quản chi lên thác xuống ghềnh… (câu 1951)
Nhìn nàng ông những máu sa ruột dàu… (câu 656)
Những cụm từ như Nửa ở nửa về, lên thác xuống ghềnh, máu sa ruột dàu… là
những thành ngữ do Nguyễn Du sáng tạo, đặt vào trong những ngữ cảnh ấy. Những câu
thành ngữ này đã tạo nên những giá trị thẩm mỹ cao độ trong ngôn ngữ tác giả.
Có thể nói, trong Truyện Kiều, khẩu ngữ đã giữ một vị trí đặc biệt quan trọng.
Biểu hiện cụ thể của nó được thể hiện trước hết là ở sự gia tăng liều lượng sử dụng so
với các tác phẩm khác như Hoa Tiên, Lục Vân Tiên và sau đó là ở thành tựu nghệ thuật
và phát huy hiệu quả thẩm mỹ của hệ thống thành ngữ, tục ngữ, ca dao, dân ca... Trong
Truyện Kiều, ngữ liệu văn hoá bình dân được sử dụng một cách hữu hiệu khi tác giả
mượn cách nói có tính triết lý, mang phong cách dân dã của văn học dân gian, đời sống
bình dân. Chẳng hạn, nếu ở ca dao, tác giả dân gian muốn diễn đạt sự tốn công vô ích
của một sự việc cụ thể nào đó qua thành ngữ “đáy bể mò kim”, “mò kim đáy bể”, nhưng
với Truyện Kiều, Nguyễn Du đã vay mượn thành ngữ này để thể hiện sự chung tình, sự
khó khăn trong hành trình tìm kiến những ý nghĩa đích thực của một tình yêu chân
thành. Ở đây ngoài ý nghĩa thực chỉ của thành ngữ, Tố Như đã nâng cao, cải biến và mở
rộng trường nghĩa của nó thành những thủ pháp nghệ thuật đặc sắc, thể hiện tâm trạng
nhân vật: “Bấy lâu đáy bể mò kim,/ Là nhiều vàng đá phải tìm trăng hoa.” (câu 3175-
3176). Cùng với thành ngữ “đáy bể mò kim”, từ trăng hoa cũng được nhà thơ vận dụng
một cách linh hoạt, không thể hiểu theo lẽ thường vậy. Sáng tạo của Nguyễn Du là ở
chỗ đó. Khả năng nắm bắt, am hiểu về những nét đặc thù, khả năng mở rộng trường
nghĩa và nắm vững những nét khu biệt về nghĩa của các từ ngữ trong vốn sống dân gian
đã được nhà thơ thể hiện qua nghệ thuật sử dụng rất linh hoạt, theo một trật tự hợp lý.
Tổng số 162 thành ngữ có nguồn gốc văn hoá bác học, từ chương Hán học đã được nhà
thơ Việt hoá cao độ và hợp lý, chẳng hạn như: Nàng Ban ả Tạ, hàm én mày ngài, chắp
cánh liền cành, nhả ngọc phun châu, thưa hồng rậm lục… đây là những thành ngữ có
xuất xứ từ trong thư tịch cổ Trung Hoa. Nó là những điển cố có dạng thành ngữ nhưng
hình thức được tổ chức theo khuôn hình thành ngữ Việt và mang ý nghĩa biểu trưng cao,
ý tứ cao sâu. Để ngợi khen tài thơ của Kiều, Kim Trọng đã dùng để hai thành ngữ có
nguồn gốc bác học nhưng đã được tác giả Việt hoá rất hay và hấp dẫn, hợp lý: “Khen:
Tài nhả ngọc phun châu,/ Nàng Ban ả Tạ cũng đâu thế vầy!” (câu 405-406). Nguyễn
Du đã phú cho ngôn ngữ chàng Kim một sự nhã nhặn, uyên bác. Lối diễn đạt ấy hoàn
toàn có thể chấp nhận được trong phong cách giao tiếp của người Việt, vừa dung dị, vừa
gần gũi. Nó giúp cho chàng Kim có thể bộc bạch được lời yêu thương đồng thời cũng
thể hiện sự đề cao tài năng của Kiều một cách tế nhị, nhẹ nhàng. Ở điểm này, chúng ta
có thể khẳng định sự hoà quyện giữa hai nguồn gốc văn hoá, ngôn ngữ bác học, bình
dân trong ngôn từ nghệ thuật của nhà thơ, một nội dung kiến thức uyên nhã, bác học
được thể hiện qua một hình thức dân tộc, bình dị và phù hợp với tư duy ngôn ngữ của
người Việt Nam.
Hai hệ thống từ ngữ văn hoá được sử dụng trong Truyện Kiều chủ yếu thuộc vào
các lĩnh vực văn hoá, xã hội thời trung đại. Bên cạnh các điển cố thi liệu, nhân danh địa
100
Võ Minh Hải
danh hay từ ngữ có nguồn gốc từ kinh điển Nho gia, các thuật ngữ văn hoá xã hội trong
ngữ liệu văn hoá Truyện Kiều là những từ phổ thông, dễ hiểu. Đó là những cứ liệu, chỉ
dẫn nghệ thuật giúp tác giả có thể tái hiện một cách hoàn chỉnh bức tranh về đời sống
văn hoá cổ điển phương Đông, tạo nên những giá trị thẩm mỹ vừa uyên bác, trang nhã,
vừa gọn gàng và giàu tính dân tộc. Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã tận dụng khả
năng phản ánh, dung chứa và hàm nghĩa sâu sắc của từ ngữ để tạo nên bối cảnh văn hoá
đặc sắc qua những không gian sinh hoạt văn hoá đặc thù như tiết Thanh minh, hội Đạp
thanh. Nó không chỉ mô tả thiên nhiên cụ thể mà nó còn là những bức tranh tâm trạng
lưu luyến, da diết thiết tha.
Hệ thống ngữ liệu văn hoá trong Truyện Kiều không chỉ khắc hoạ khung cảnh
văn hoá hoặc thể hiện chiều sâu triết mỹ trong tâm hồn, phong thái của thi nhân mà còn
góp phần biểu đạt tính cách, dòng suy tưởng của nhân vật. Nó chính là những căn cứ để
khái quát văn hoá về phong cách, ngoại hình của các tuyến nhân vật đại diện cho tư
tưởng sùng cổ, trọng mỹ góp phần thể hiện tư tưởng, tình cảm về nhân tình thế thái,
cuộc tang thương dâu bể của cuộc đời. Cũng như Hoa Tiên trước đó và Lục Vân Tiên
sau này, trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã vận dụng chúng để biểu đạt những suy nghĩ
của nhân vật. Chẳng hạn, để bộc bạch lý tưởng về chủ nghĩa anh hùng và phẩm cách nhân
văn của người anh hùng Từ Hải, nhà thơ đã sử dụng một lớp từ vựng “biệt ngữ” của
tầng lớp nho học như quốc sĩ, tri kỷ, anh hùng… trong lời phân trần của nhân vật này:
Từ rằng: Quốc sĩ xưa nay,
Chọn người tri kỷ, một ngày được chăng?
Anh hùng tiếng đã gọi rằng,
Giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha!...
(câu 2427-2430)
Trong văn chương bác học, ngữ liệu quốc sĩ 國士 được dùng để chỉ người trí
thức có tầm cỡ quốc gia. Trong Sử ký 史記, Tư Mã Thiên 司馬遷 dẫn lời Tiêu Hà 蕭何
nói với Hán Vương 漢王 Lưu Bang 劉邦 để nói về vai trò của Hàn Tín trong cuộc chiến
Hán Sở: “nhược Hàn Tín giả, quốc sĩ vô song 若韓信者國士無雙” (Tư, 2006, tr. 207)
(Như Hàn Tín là bậc quốc sĩ có một không hai trong nước). Ngoài ra, nhà thơ đã dành
riêng cho Từ Hải, con người có tài thao lược danh hiệu cao quý nhất: văn võ toàn tài,
quốc sĩ vô song. Tiếp theo đó là những mỹ từ ngợi ca về lý tưởng anh hùng của Từ:
Anh hùng tiếng đã gọi rằng,
Giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha.
(câu 2429-2430)
Ngữ liệu anh hùng là từ tôn xưng kính trọng những người có “chí tại tứ
phương”, thiên Học Nhi 學而, sách Luận ngữ 論語 có câu: “Kiến nghĩa bất vi vô dũng
dã 見義不為無勇也” (Ngô, 2007, tr. 398) và phương châm “kiến nghĩa bất vi vô dũng
101
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN]
dã, kiến nguy bất cứu mạc anh hùng 見義不為 無勇也見危不救莫英雄” của chủ nghĩa
anh hùng phong kiến Trung Hoa. Trong Thuỷ Hử truyện 水滸傳, nhà văn Thi Nại Am
施耐庵 (đời Minh 明) cũng viết: “Lộ kiến bất bình thành khả nộ, bạt đao tương trợ thị
anh hùng 路見不平成可怒 拔刀相助是英雄” (Giữa đường thấy nỗi bất bình nên giận
dữ, giơ đao trợ giúp ấy mới là người anh hùng vậy) (Ngô, 2007, tr. 512). Quan niệm về
người anh hùng của Nguyễn Du không chỉ kế thừa từ quan điểm của cổ nhân mà ông
còn bàn rộng thêm ấy là người phải có tấm lòng nhân đạo, trân trọng cái đẹp, nghĩa cử
và tấm lòng đón nhận Thuý Kiều của Từ Hải là minh chứng cao đẹp nhất cho tinh thần
nhân văn của quan niệm về người anh hùng trong tư tưởng của Tố Như. Sự kết hợp ngữ
liệu anh hùng và bất bằng trong câu thơ trên đã thể hiện rõ những điều vừa phân tích trên.
Bên cạnh hệ thống ngữ liệu nguyên dạng, trong ngôn ngữ tác phẩm, những ngữ
liệu chuyển dịch cũng đóng một vai trò quan trọng, không chỉ làm giàu cho từ vựng văn
hoá của tác phẩm về số lượng, khả năng biểu đạt, biểu cảm mà còn tạo nên một ý nghĩa
xã hội rộng lớn. Nhà thơ đã đưa các ý niệm triết học, khái niệm luân lý, bài học đạo lý
trong sách vở bác học đến với quảng đại quần chúng độc giả, góp phần nâng cao chất
lượng tiếp nhận của bạn đọc mà không đánh mất vẻ đẹp cổ điển của Đường thi, Tống
từ… Đồng thời, nó cũng đánh dấu sự trưởng thành về chất của ngôn ngữ văn học dân
tộc trên phương diện tiếp thu sáng tạo vốn liếng văn hoá, văn học Trung Quốc. Là một
người uyên thâm về Nho học, thấy rõ sự thăng hoa và ảnh hưởng mạn mẽ của chữ Hán
và văn hoá từ chương Hán học, nhưng Nguyễn Du lại sử dụng chữ Nôm, thể thơ lục bát
truyền thống để viết nên thiên truyện Đoạn trường tân thanh đặc sắc này.
Ngôn ngữ Truyện Kiều được lưu truyền rộng rãi trong dân gian là vì Nguyễn Du
đã sử dụng một cách nhuần nhuyễn, sinh động, đa dạng, kết hợp một cách thuần thục
hai hệ thống từ ngữ Việt và Hán Việt. Với chữ Nôm – một sáng tạo độc đáo của người
Việt, đó là thứ văn tự giúp cho nhà thơ dễ dàng tiếp cận với vốn từ ngữ có nguồn gốc từ
lời ăn tiếng nói của tầng lớp bình dân và ngôn ngữ đời sống. Trong quá trình sáng tạo
ngôn ngữ nghệ thuật, tác giả đã tổng hợp, điều hoà những ảnh hưởng của cả hai khuynh
hướng bình dân và bác học. Trong những từ chỉ chung khái niệm phụ nữ của nhà thơ
dùng với một dụng ý tu từ học rất rõ, đặc biệt là hai từ thuần Việt là đàn bà và gái tơ:
Đau đớn thay, thân phận đàn bà,
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.
(câu 83-84)
Cớ sao chịu tốt một bề,
Gái tơ mà đã ngứa nghề sớm sao!
(câu 975-976)
Rõ ràng nhà thơ phải nói là phận đàn bà mới diễn tả thấm thía cái số phận chua
cay, cực nhục của người phụ nữ trong xã hội cũ trong nửa đầu thế kỉ XVIII-XIX. Con
người không có quyền được tự do, được khao khát hạnh phúc, khao khát quyền lợi cho
mình. Nguyễn Du dùng gái tơ, phép tao và động tác rắp sấn trong lời nói và hành động
102
Võ Minh Hải
của Tú Bà đối với Thuý Kiều. Gái tơ chỉ người phụ nữ còn trẻ vì bản thân cái ngôn ngữ
ấy đã tố cáo tính chất con người Tú Bà một cách hết sức cụ thể và sinh động. Tác giả đã
sử dụng đúng từ thuần Việt nôm na như thế mới diễn tả đúng ngữ cảnh, hành động, lời
nói của nhân vật mà không thể thay thế bằng một từ nào khác.
Cùng với ngôn ngữ bác học, lớp từ ngữ bình dân đã tồn tại trong Truyện Kiều
với tư cách là một phương diện cơ bản của ngôn ngữ tác phẩm. Nguyễn Du đã vận dụng
và sáng tạo chúng một cách tự nhiên, biến hoá, ý vị, linh động, gọn gàng, đa dạng và
phù hợp từng ngữ cảnh, nhân vật. Đó là sự hoà quyện giữa các yếu tố chủ quan và
khách quan theo nguyên tắc của mỹ học cổ điển. Dường như nhà thơ đã phát hiện được
dáng vẻ thần kỳ, hấp dẫn của các quy luật di chuyển từ ngữ văn hoá vào ngôn ngữ tác
phẩm và lý giải, tái cấu trúc ngôn ngữ bình dân trong một dáng vẻ mới để chúng tự toát
lên những ý nghĩa biểu đạt mới mà vẫn giữ nguyên ý nghĩa ban sơ và nhạc điệu cơ bản
của nó.
3.
KẾT LUẬN
Ngữ liệu văn hoá trong ngôn ngữ Truyện Kiều không chỉ mang tính điển phạm,
quy chuẩn, lôgíc mà nó còn phải đảm bảo tính đăng đối, khái quát, mang tính biểu trưng
sâu sắc và giàu khả năng sáng tạo. Khả năng đăng đối về ngữ nghĩa của các cứ liệu gốc
và chuyển dịch được sử dụng trong ngôn ngữ vẫn đảm bảo được những đặc tính về
thẩm mỹ của ngữ liệu, đặc biệt nó cũng phản ánh một đặc trưng tư duy, quan niệm thẩm
mỹ của thi nhân, góp phần xây dựng những hình tượng không thời gian định tính mang
màu sắc Đông Phương, hình tượng nhân vật với những tính cách đa dạng, có đời sống,
diễn biến tâm lý nổi bật. Nguyễn Du sử dụng một hệ thống ngữ liệu mang tính nghiêm
trang, tôn kính để phác họa những tính cách, tái tạo không gian hoặc miêu tả tính cách
nhân vật. Hệ thống đó đã góp phần giúp nhà thơ phác thảo một không gian văn hoá,
thẩm mỹ đặc thù khiến cho người đọc có thể mở ra những trường liên tưởng, những
chân trời nghệ thuật mới và có thể thẩm thấu theo kinh nghiệm, sở học của mình.
Bằng tài hoa và chiều sâu văn hóa, nhà thơ đã làm cho các ngữ liệu văn hóa
trong tác phẩm đảm trách tốt vai trò diễn đạt, biểu hiện những sắc thái, cung bậc tình
cảm của con người. Nguyễn Du đã làm toát lên những sắc thái ý nghĩa của các ngữ liệu
ấy và đặt nó vào đúng vị trí, chức năng thẩm mỹ của nó. Do đó, dù duy lý hay hình
tượng, hệ thống ngữ liệu này vẫn đóng một vai trò quan trọng đối với khả năng tự sự,
trữ tình của tác phẩm, góp phần tăng thêm tố chất hàm súc, tinh tế cho thi pháp ngôn
ngữ Truyện Kiều, đưa nghệ thuật thơ ca cổ điển và văn học tiếng Việt lên một đỉnh cao
chưa từng có, trở thành những mẫu mực cho mọi thế hệ bạn đọc và sáng tác văn
chương.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Ngô, T. H. (2007). Thành ngữ điển. NXB Ấu Phúc Văn xuất bản xã.
Tư, M. T. (2006). Sử ký (T. K. Triệu, chú giải). Trung Hoa thư cục.
Võ, M. H. (2020). Ngôn ngữ Truyện Kiều từ góc nhìn văn hoá. NXB Khoa học Xã hội.
103
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN]
104
Bạn đang xem tài liệu "Nghệ thuật sử dụng ngữ liệu văn hoá trong "Truyện Kiều"", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
nghe_thuat_su_dung_ngu_lieu_van_hoa_trong_truyen_kieu.pdf

