Một số tiếp cận trong đánh giá chính sách công nghệ thông tin ngành mỏ nước ta dưới tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 (Nghiên cứu trường hợp: Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam)

VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 1 (2021) 36-45  
Review Article  
Some Approach in Assessing Information Technology  
Policies in Our Mining Industry under the Impact  
of the Industrial Revolution 4.0 (Case study: Vietnam  
National Coal and Mineral Industries Group – Vinacomin)  
Tran Thi Hai Van1,, Doan Minh Quan2  
1Hanoi University of Mining and Geology, 18 Pho Vien, Duc Thang, Bac Tu Liem, Hanoi, Vietnam  
2Ministry of Science and Technology, 113 Tran Duy Hung, Trung Hoa, Cau Giay, Hanoi, Vietnam  
Received 17 November 2020  
Revised 26 November 2020; Accepted 21 December 2020  
Abstract: Since 1997, the mining industry has paid attention to develop information-technology  
(IT) components at sectoral and enterprise levels. However, due to various reasons, including the  
interest of business and sector leaders as well as limited resources, IT in the mining industry is still  
on a small scale, in which it has not yet linked to a network and had a shared database, and is  
therefore not shared. Under the impact of Industry Revolution 4.0, to develop the IT field as an  
essential tool to promote the technologies of the 4.0 technology component, a systematic policy  
combination is needed. This article is responsible for meeting that demand of the IT field of  
Vietnam's mining industry.  
Keywords: Industry 4.0, IT, IT policy.  
________  
Corresponding author.  
36  
T.T.H. Van, D.M. Quan / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 1 (2021) 36-45  
37  
Một số tiếp cận trong đánh giá chính sách công nghệ thông tin  
ngành mỏ nước ta dưới tác động của cách mạng công nghiệp  
4.0 (Nghiên cứu trường hợp: Tập đoàn Công nghiệp  
Than – khoáng sản Việt Nam)  
Trần Thị Hải Vân1,, Doãn Minh Quân2  
1Trường Đại học Mỏ - Địa chất, Số 18 Phố Viên, Đức Thắng, Bắc Từ Liêm, Hà Nội, Việt Nam  
2Bộ Khoa học và Công nghệ, 113 Trần Duy Hưng, Trung Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam  
Nhận ngày 17 tháng 11 năm 2020  
Chỉnh sửa ngày 26 tháng 11 năm 2020; Chấp nhận đăng ngày 21 tháng 12 năm 2020  
Tóm tắt: Từ năm 1997 đến nay, ngành mỏ đã quan tâm phát triển các hợp phần của công nghệ thông  
tin (CNTT) cấp ngành và cấp doanh nghiệp. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau trong đó  
có mức độ quan tâm của lãnh đạo doanh nghiệp và cấp ngành, hạn hẹp về nguồn lực nên CNTT của  
ngành mỏ nước ta vẫn ở quy mô nhỏ, chưa liên kết được thành một mạng lưới, chưa có cơ sở dữ  
liệu dùng chung và do vậy cũng không chia sẻ được. Dưới tác động của Cuộc cách mạng công  
nghiệp lần thứ tư (CMCN4.0), để phát triển lĩnh vực CNTT với tư cách là công cụ quan trọng để  
thúc đẩy các công nghệ thuộc hợp phần của công nghiệp 4.0 cần thiết một tổ hợp chính sách mang tính  
hệ thống. Bài viết có nhiệm vụ đáp ứng nhu cầu đó của lĩnh vực CNTT thuộc ngành mỏ nước ta.  
Từ khóa: CMCN 4.0, CNTT, chính sách CNTT.  
Tác động của CMCN 4.0 đến hầu hết các  
lĩnh vực kinh tế-xã hội, khoa học và công nghệ  
(KH&CN) nói chung và CNTT trong ngành mỏ  
nói riêng. Nhận thức rõ điều đó, ngành mỏ nước  
ta đã quan tâm đầu tư phát triển CNTT từ năm  
1997 đến nay. Các doanh nghiệp lớn của ngành  
đã đầu tư phần cứng tương đối hiện đại, các phần  
mềm hệ thống, phần mềm ứng dụng tương đối  
rộng, các hệ thống mạng (Lan, Wan và Internet).  
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau  
trong đó hạn hẹp về tài chính, cách nhìn của lãnh  
đạo doanh nghiệp (kể cả lãnh đạo cấp ngành) nên  
việc đầu tư nói trên còn nhỏ lẻ, phần mềm ứng  
dụng chủ yếu giải quyết những nghiệp vụ tác  
nghiệp, không tổ chức được kho dữ liệu dùng  
chung liên ngành thậm chí ngay trong một doanh  
1. Giới thiệu  
Hiện nay, chúng ta đang ở giai đoạn đầu của  
CMCN 4.0 có điểm khác cơ bản với các cuộc  
cách mạng trước đó là: Tự động hóa sản xuất cao  
hơn nhờ các công nghệ có tính tùy chỉnh và linh  
hoạt; Máy móc hoạt động độc lập, tự giao tiếp  
với nhau để tạo ra các quyết định mà không cần  
có sự tham gia của con người (hoặc rất ít). Máy  
móc tự thu thập thông tin, tự xử lý, tự điều chỉnh,  
phân tích và ra quyết định. Nói cách khác,  
CMCN 4.0 tạo ra nền sản xuất tự điều chỉnh, tự  
nhận thức và tùy biến. Con người thay vì điều  
khiển máy móc trực tiếp nay gián tiếp với chúng  
qua giải pháp IoT hoặc IoP.  
________  
Tác giả liên hệ.  
Địa chỉ email: [email protected].vn  
T.T.H. Van, D.M. Quan / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 1 (2021) 36-45  
38  
nghiệp. Mức độ sử dụng phương tiện mạng còn  
Nano. Danh mục các công nghệ trên đây được  
thấp, cán bộ quản trị mạng thiếu, chủ yếu chuyển  
từ các ngành khác sang. Thông tin chưa được coi  
là nguồn lực cho quá trình sản xuất như nguồn  
nhân lực, vốn và các nguồn lực khác. Vấn đề đặt  
ra là: giải pháp nào để phát triển CNTT của  
ngành mỏ đáp ứng các thách thức dưới tác động  
của CMCN 4.0.  
xem là hợp phần công nghiệp 4.0 [2].  
2.2. Công nghệ thông tin  
Thuật ngữ “Công nghệ thông tin” xuất hiện  
lần đầu vào năm 1958 trong bài viết xuất bản tại  
tạp chí Harvard Business Review. Hai tác giả của  
bài viết, Leavitt và Whisler đã bình luận: “Công  
nghệ mới chưa thiết lập một tên riêng. Chúng ta sẽ  
gọi là CNTT (Information Technology-IT)” [3].  
Nghiên cứu này nhằm phân tích các yếu tố  
tác động đến lĩnh vực CNTT của ngành mỏ nước  
ta, đánh giá chính sách hiện hành và qua đó đề  
xuất một số chính sách phát triển lĩnh vực này  
dưới tác động của CMCN 4.0.  
Các lĩnh vực chính của CNTT bao gồm quá  
trình tiếp thu, xử lý, lưu trữ và phổ biến hóa âm  
thanh, phim ảnh, văn bản và thông tin số bởi các  
vi điện tử dựa trên sự kết hợp giữa máy tính và  
truyền thông. Một vài lĩnh vực hiện đại và nổi  
bật của CNTT như: các tiêu chuẩn Web thế hệ  
tiếp theo, sinh tin, điện toán đám mây, hệ thống  
thông tin toàn cầu, tri thức quy mô lớn và nhiều  
lĩnh vực khác. Các nghiên cứu phát triển chủ yếu  
trong ngành khoa học máy tính.  
2. Một số khái niệm công cụ  
2.1. Cách mạng công nghiệp 4.0  
Theo Gartner, CMCN 4.0 xuất phát từ khái  
niệm “Industrie 4.0” trong một báo cáo của chính  
phủ Đức năm 2013. “Industrie 4.0” “Kết nối các  
hệ thống nhúng và cơ sở sản xuất thông minh để  
tạo ra sự hội tụ kỹ thuật số giữa Công nghiệp,  
Kinh doanh, chức năng và quy trình bên trong”.  
Theo điều 4, Luật Công nghệ thông tin,  
CNTT “là tập hợp các phương pháp khoa học,  
công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản  
xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao  
đổi thông tin số” [4].  
Theo Klaus Schwab [1], người sáng lập và  
chủ tịch điều hành Diễn đàn Kinh tế thế giới đưa  
ra định nghĩa CMCN 4.0 đơn giản hơn: “Cách  
mạng công nghiệp đầu tiên sử dụng năng lượng  
nước và hơi nước để cơ giới hóa sản xuất. Cuộc  
cách mạng lần 2 diễn ra nhờ ứng dụng điện năng  
để sản xuất hàng loạt. Cuộc cách mạng lần 3 sử  
dụng điện tử và công nghệ thông tin để tự động  
hóa sản xuất. Giờ đây, cuộc CMCN 4.0 đang nảy  
nở từ cuộc cách mạng lần ba, nó kết hợp các công  
nghệ lại với nhau, làm mờ ranh giới giữa vật lý,  
kỹ thuật số và sinh học”.  
Từ các khái niệm trên, tác giả đưa ra quan  
niệm về CNTT như sau:  
CNTT là một hệ thống các phương pháp  
KH&CN, phương tiện, mạng truyền thông và hệ  
thống các kho dữ liệu nhằm tổ chức, lưu trữ,  
truyền dẫn và khai thác, sử dụng có hiệu quả các  
nguồn thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động  
của con người.  
2.3. Chính sách phát triển CNTT  
Theo tác giả thì CMCN 4.0 là cuộc các mạng  
diễn ra nhờ sự kết hợp các công cụ của hệ một  
thống lớn (mega system) bao gồm vật lý, kỹ  
thuật số và sinh học, trong đó: i) kỹ thuật số với  
những yếu tố cốt lõi là trí tuệ nhân tạo (AI), Vạn  
vật kết nối - Internet of Things (IoT) và dữ liệu  
lớn (Big Data); ii) công nghệ sinh học - những  
bước nhảy vọt trong Nông nghiệp, Thủy sản, Y  
dược, chế biến thực phẩm, bảo vệ môi trường,  
năng lượng tái tạo, hóa học và vật liệu; iii) Cuối  
cùng là lĩnh vực Vật lý với robot thế hệ mới, máy  
in 3D, xe tự lái, các vật liệu mới và công nghệ  
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì “Phát  
triển là phạm trù triết học chỉ ra tính chất của  
những biến đổi đang diễn ra trong thế giới. Phát  
triển là một thuộc tính của vật chất. Mọi sự vật  
và hiện tượng của hiện thực không tồn tại trong  
trạng thái khác nhau từ khi xuất hiện đến lúc tiêu  
vong,… nguồn gốc của phát triển là sự thống  
nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập”[5].  
T.T.H. Van, D.M. Quan / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 1 (2021) 36-45  
39  
Theo Mai Hà, “Phát triển là một sự gia tăng  
về lượng và chất trong mối tương quan cân đối  
hài hòa”.  
sách CNTT được coi là đi vào trong cuộc sống,  
hay nói cách khác chính sách CNTT được xã hội  
đón nhận. Ngược lại có chính sách CNTT không  
phù hợp với thực tế nên phải sửa đổi, bổ sung  
hoặc hủy bỏ (không khả thi) để đánh giá và hoàn  
thiện lại. Sau đây là một số yếu tố thường có tác  
động và ảnh hưởng đến chính sách CNTT như sau:  
Từ các khái niệm trên, nhóm tác giả đưa ra  
khái niệm chính sách phát triển công nghệ thông  
tin như sau:  
Chính sách phát triển CNTT là các quyết  
định, hành động của Nhà nước nhằm đưa ra các  
mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ thực  
hiện để giải quyết các vấn đề về phát triển của  
ngành công nghệ thông tin.  
Môi trường kinh tế - chính trị trong nước:  
môi trường này có quan hệ biện chứng lẫn nhau,  
cho nên khi một trong hai yếu tố này có sự thay  
đổi đáng kể thì chúng đều có tác động và ảnh  
hưởng đến thực thi chính sách CNTT. Đảng,  
Chính phủ, Bộ ngành thay đổi trong cách thức  
thực thi cũng có thể thay đổi bản thân chính sách  
CNTT. Chính vì vậy bối cảnh thực thi chính sách  
CNTT là khác nhau trong từng hoàn cảnh cụ thể,  
có thể là trong ngắn hạn, có thể là dài hạn và nó  
phụ thuộc hoàn toàn vào tình hình ổn định về  
kinh tế - chính trị.  
Theo Thomas Kuhn [6] thì Chính sách phát  
triển CNTT nói chung và của ngành mỏ nói riêng  
phải đáp ứng các yêu cầu sau đây:  
Tính chính xác: Chính sách CNTT của ngành  
mỏ phải đạt độ chính xác về các tiêu chuẩn đặc  
thù: về cấu trúc hệ thống, khái niệm không gian,  
thời gian, chính xác về vận hành, quản trị hệ  
thống CNTT thông suốt hệ thống ngành; có quy  
chế sử dụng thiết bị, ứng dụng trong hệ thống  
CNTT của ngành;  
Môi trường xã hội: những thay đổi về điều  
kiện xã hội như cơ cấu dân số, trình độ dân trí có  
thể ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách  
CNTT. Vì chính sách này ngoài giải quyết vấn  
đề về khoa học và công nghệ, kinh tế, nó còn giải  
quyết các vấn đề xã hội. Ví dụ: tạo ra việc làm mới,  
giải quyết công ăn việc làm cho lao động nói chung  
và cho lao động tại địa phương nói riêng.  
Tính phù hợp với các yếu tố dữ liệu khác  
nhau, những mức độ chính xác khác nhau nhưng  
khi hệ thống sử dụng không xảy ra xung đột, dễ  
dàng nâng cấp, mở rộng, bảo mật an toàn;  
Phạm vi rộng: có thể được sử dụng trong  
toàn ngành và trong chừng mực nhất định phù  
hợp với thông lệ quốc tế;  
Môi trường văn hóa: Chính sách CNTT  
hướng tới đối tượng thụ hưởng ở những địa  
phương nhất định. Vì vậy nền văn hóa của các  
dân tộc, địa phương có ảnh hưởng rất lớn đến  
việc thiết kế và thực thi chính sách CNTT. Nếu  
một chương trình mà được thiết kế không phù  
hợp với văn hóa của đối tượng hoặc địa phương  
thì nó sẽ không được chấp thuận bởi người dân  
địa phương.  
Đơn giản: Dễ dàng sử dụng đối với người sử  
dụng vận hành hệ thống, cập nhật, nâng cấp hệ  
thống, nhà cung cấp dữ liệu, chuyên viên phân  
tích v.v,…  
Sự thành công: Được thực tiễn kiểm định và  
chấp nhận.  
3. Yếu tố tác động đến chính sách phát triển  
CNTT ngành mỏ nước ta  
Môi trường kinh tế quốc tế: trong bối cảnh  
hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng thì những  
thay đổi của thế giới (bao gồm cả những thay đổi  
về chính sách CNTT của các nước lớn trên thế  
giới và trong khu vực) có thể ảnh hưởng tích cực  
hoặc tiêu cực tới quá trình thực hiện chính sách  
CNTT. Đặc biệt là sự thay đổi chính sách CNTT  
của nhà tài trợ quốc tế sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến  
thực thi chính sách CNTT của nhà tài trợ. Ví dụ:  
sự thay đổi của chính sách dầu lửa của Mỹ hoặc  
Chính sách CNTT của ngành mỏ Việt Nam  
có vai trò quan trọng, giúp cho các tổ chức, các  
cá nhân có định hướng để áp dụng CNTT vào  
trong hoạt động của mình sao cho có hiệu quả.  
Tuy nhiên, để thực thi chính sách CNTT hiệu quả  
trong hoạt động của ngành mỏ là một quá trình  
có nhiều khó khăn và gian nan. Nếu Chính sách  
CNTT phù hợp điều kiện thực tế thì khi đó chính  
T.T.H. Van, D.M. Quan / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 1 (2021) 36-45  
40  
OPEC có thể ảnh hưởng đến chính sách xăng dầu  
của những nước nhập khẩu, trong đó Việt Nam.  
nghiên cứu và triển khai; năng lực sáng tạo công  
nghệ, tạo ra sản phẩm mới. Do năng lực CNTT  
còn kém nên việc sao chép công nghệ được  
chuyển giao, hay sáng tạo công nghệ là điều khó  
có thể thực hiện thành công nên không thể làm  
được chủ công nghệ1.  
Điều kiện địa chất kỹ thuật mỏ: điều kiện địa  
chất kỹ thuật mỏ quyết định lựa chọn và sử dụng  
Công nghệ nào (sau đó mới xét đến CNTT) trong  
khai thác, bởi vì địa chất các mỏ khai thác hiện  
nay ở Việt Nam là rất phức tạp và không ổn định,  
cho nên rất khó khăn trong việc đưa cơ giới hóa  
vào khai thác. Nhưng khó khăn này ít nhiều đã  
ảnh hưởng trực tiếp đến công tác áp dụng CNTT  
trong khai thác, vì vậy nó sẽ ảnh hưởng đến tính  
thực tiễn của chính sách CNTT.  
Yếu tố an toàn trong khai thác: nền kinh tế  
phát triển, nhu cầu cho sản xuất công nghiệp  
ngày càng tăng, trong khi khai thác ngày một  
xuống sâu. Do khai thác ngày càng xuống sâu,  
nguy cơ tai nạn lao động cũng tăng theo (cháy nổ  
khí mê tan, bục nước, sập lò,…). Công nghệ khai  
thác của Việt Nam còn thấp so với thế giới,  
người lao động còn thiếu ý thức tuân thủ pháp  
luật, tác phong công nghiệp của người lao động,  
người sử dụng lao động chưa cao, những vấn đề  
nêu trên đều có tác động, ảnh hưởng tới công tác  
an toàn lao động cho người lao động trong khai  
thác thì công tác phòng ngừa cháy nổ khí mêtan  
phải đặt lên hàng đầu. Vì vậy cần phải có quy định  
cụ thể mang tính bắt buộc để tất cả các tổ chức hay  
cá nhân tham gia hoạt động khai thác tuân theo.  
Yếu tố về năng lực CNTT: năng lực CNTT  
là yếu tố rất quan trọng của một quốc gia nói  
chung hay một lĩnh vực/ ngành nói riêng đối với  
mục tiêu phát triển kinh tế xã hội. Nếu chúng ta  
có năng lực CNTT thì sẽ phát huy việc sử dụng  
hiệu quả các công nghệ có sẵn và thực hiện đổi  
mới công nghệ thành công, trên cơ sở đó ta sẽ  
làm chủ được hoàn toàn công nghệ. Theo Bài  
giảng Quản lý Công nghệ của Nguyễn Đình Bình  
(2017) năng lực công nghệ gồm có:  
- Năng lực vận hành công nghệ bao gồm:  
năng lực vận hành và kiểm tra kỹ thuật; năng lực  
bảo dưỡng; năng lực ngăn ngừa và khắc phục sự  
cố; năng lực điều phối trong quá trình sản xuất.  
Đây là chỉ tiêu quan trọng để nói lên khả năng  
làm chủ công nghệ: làm chủ vận hành các thiết  
bị khai thác, các thiết bị phục vụ khai thác, cũng  
như có khả năng sửa chữa và khắc phục sự cố,…  
Nếu năng lực này của chúng ta mà yếu thì việc  
hấp thu và làm chủ công nghệ sẽ vô cùng khó  
khăn, dẫn đến khai thác và sử dụng công nghệ sẽ  
không đạt hiệu quả, đồng thời bị phụ thuộc vào  
nhà cung cấp công nghệ đó khi xẩy ra sự cố.  
4. Đánh giá tác động của chính sách phát triển  
CNTT hiện hành của ngành mỏ nước ta  
4.1. Tiếp cận  
Khái niệm tác động của chính sách là sự hiện  
thực hóa các mục tiêu của chính sách trong hành  
vi của con người và nhóm người trong xã  
hội.Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng  
phương pháp đánh giá theo 3 chỉ tiêu tác động:  
Tác động dương tính của một chính sách là  
những tác động dẫn đến những kết quả phù hợp  
với mục tiêu của chính sách. Đây là loại tác động  
mà cơ quan quyết định chính sách mong muốn  
đạt được.  
- Năng lực tiếp nhận công nghệ từ bên ngoài:  
năng lực tìm kiếm và đánh giá công nghệ; năng  
lực lựa chọn công nghệ mới được chuyển giao.  
Năng lực này chúng ta còn yếu nên việc đánh giá  
và lựa chọn công nghệ sẽ gặp khó khăn và chủ  
yếu phụ thuộc vào tư vấn của nước ngoài.  
Tác động âm tính của một chính sách là  
những tác động dẫn đến những kết quả ngược lại  
với mục tiêu của chính sách.  
- Năng lực đổi mới công nghệ, bao gồm:  
năng lực thích nghi công nghệ; năng lực sao chép  
công nghệ được chuyển giao; năng lực tiến hành  
Tác động ngoại biên của một chính sách là  
những tác động dẫn đến những kết quả nằm  
ngoài dữ liệu của cơ quan quyết định chính sách.  
________  
1 https://www.moit.gov.vn/  
T.T.H. Van, D.M. Quan / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 1 (2021) 36-45  
41  
Trong tác động ngoại biên lại phân chia thành tác  
động ngoại biên dương tính và tác động ngoại  
biên âm tính:  
có thể cạnh tranh được nếu giá thành sản phẩm  
cao hơn các sản phẩm cùng loại, có tính năng  
tương đương. Trong bối cảnh nền kinh tế đang  
phải đối phó với các hiện tượng như lạm phát,  
chi phí cho vật tư, lao động v.v. cần có các  
phương pháp sản xuất tối ưu để giảm giá thành  
sản phẩm. Mặt khác nhu cầu nâng cao chất lượng  
sản phẩm sẽ làm tăng mức độ phức tạp của quá  
trình sản xuất. Khối lượng các công việc đơn  
giản cho phép trả lương thấp sẽ giảm nhiều. Chi  
phí cho đào tạo công nhân và đội ngũ phục vụ,  
giá thành thiết bị cũng tăng theo. Đây là động lực  
kích thích sự phát triển của CNTT.  
+ Tác động ngoại biên dương tính là tác  
động ngoại biên góp phần nâng cao hiệu quả  
của chính sách;  
+ Tác động ngoại biên âm tính là tác động  
ngoại biên làm giảm thể hiệu quả của chính sách.  
Theo tài liệu Vũ Cao Đàm [7], bất kỳ một  
chính sách nào cũng đều có cấu trúc 4 tầng: Triết  
lý; Hệ quan điểm; Hệ chuẩn mực và Khái niệm  
Paradigma của chính sách gồm mục tiêu và  
phương tiện và cả hai đều được xem xét theo cấu  
trúc 4 tầng. Như vậy có nghĩa là chính sách nào  
cũng có triết lý về mục tiêu, triết lý về phương  
tiện, hệ quan điểm về mục tiêu, hệ quan điểm về  
phương tiện.  
ii) Xây dựng được lĩnh vực CNTT của ngành  
mỏ cho phép cải thiện điều kiện sản xuất. Trong  
ngành mỏ sử dụng quá nhiều lao động thủ công  
rất dễ mất ổn định về giờ giấc, về chất lượng và  
năng suất lao động, gây khó khăn cho việc điều  
hành và quản lý sản xuất. Ngành mỏ được CNTT  
cho phép loại bỏ các nhược điểm trên. Đồng thời  
CNTT đã thay đổi tính chất lao động, cải thiện  
điều kiện làm việc của công nhân, nhất là trong  
điều kiện khai thác nhiều nguy cơ độc hại, nặng  
nhọc v.v,…  
Cũng cần nói thêm rằng, mục tiêu quá sức thì  
không có phương tiện nào có thể thực hiện được.  
Tương tự, phương tiện không phù hợp có thể kìm  
hãm hoặc không thực hiện được mục tiêu. Ví dụ,  
mục tiêu đến năm 2020 về cơ bản phải hình  
thành một hệ thống 3.000 doanh nghiệp KHCN,  
sau 7 năm thực hiện chúng ta mới chỉ có 400.  
Không thể hình dung với phương tiện xét duyệt  
như hiện nay thì bằng cách nào đạt được mục tiêu  
1.600 doanh nghiệp trong vòng 1 năm. Hoặc  
mục tiêu dân giàu nước mạnh bằng phương tiện  
xây dựng các nông trang ở Liên Xô cũ (gom  
các phương tiện vào chung - trong đó có đất  
đai) tức là lấy đi công cụ lao động của người  
nông dân. Kết quả là ai cũng biết: Liên bang  
Xô Viết sụp đổ.  
iii) CNTT của ngành mỏ cho phép đáp ứng  
cường độ lao động sản xuất hiện đại. Mặc dù  
trong ngành mỏ, các phương tiện lao động không  
đa dạng, khá nhiều thiết bị chuyên dụng, nhưng  
việc giúp hiện đại hóa lao động, đáp ứng sản  
lượng yêu cầu với giá thành nhỏ nhất.  
iv) Xây dựng được lĩnh vực CNTT của  
ngành, như bất kỳ quá trình sản xuất nào, cho  
phép thực hiện chuyên môn hóa và hoán đổi sản  
xuất. Như ta đã biết, chỉ có một số ít sản phẩm  
phức tạp là được chế tạo hoàn toàn bởi một nhà  
sản xuất. Việc nghiên cứu, cải tiến chỉ phải thực  
hiện theo chuyên môn sâu, vì thế có chất lượng  
cao hơn, tiến độ nhanh hơn. Nên khả năng tiêu  
chuẩn hóa sản phẩm là rất cao. Điều này cho  
phép ứng dụng nguyên tắc hoán đổi - một trong  
các điều kiện cơ bản dẫn tới sự hình thành dạng  
sản xuất hàng khối khi chế tạo các sản phẩm  
phức tạp, số lượng ít. Có thể nói CNTT giữ một  
vai trò quan trọng trong việc thực hiện tiêu chuẩn  
hóa một cách hiệu quả nhất.  
Ví dụ trên cho thấy các tác động ngoại biên  
âm tính của chính sách.  
4.2. Đánh giá tác động dương tính của chính sách  
CNTT trong ngành mỏ.  
i) Xây dựng được lĩnh vực CNTT của ngành  
góp phần giảm giá thành và nâng cao năng suất  
lao động của ngành mỏ cho phép giảm giá thành  
và nâng cao năng suất lao động. Trong mọi thời  
đại, các quá trình sản xuất luôn được điều khiển  
theo các quy luật kinh tế. Có thể nói giá thành là  
một trong những yếu tố quan trọng xác định nhu  
cầu phát triển CNTT. Không một sản phẩm nào  
T.T.H. Van, D.M. Quan / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 1 (2021) 36-45  
42  
v) Xây dựng được lĩnh vực CNTT của ngành  
công (đặc biệt lao động có tay nghề cao) nguy cơ  
này xảy ra sau so với đội ngũ hành chính, văn  
phòng. Tâm lý này cùng với ý thức ngại đổi  
mới tạo nên tác dụng ngoại biên âm tính đối  
với quá trình CNTT nói chung và trong ngành  
mỏ nói riêng.  
cho phép thực hiện cạnh tranh và đáp ứng điều  
kiện sản xuất. Nhu cầu cạnh tranh sẽ loại bỏ các  
công ty khai thác với chất lượng thấp, giá thành  
cao. Cạnh tranh bắt buộc các công tác khai thác  
phải cải tiến công nghệ, áp dụng CNTT để tạo ra  
sản phẩm tốt hơn với giá rẻ hơn.  
vi) Xây dựng được lĩnh vực CNTT của  
ngành cho phép cải thiện điều kiện làm việc, an  
toàn lao động và phát triển bền vững. Cùng với  
cơ giới hóa, tự động hóa, tin học góp phần giảm  
nhẹ lao động, kiểm soát và ngăn chặn kịp thời  
những nguy cơ hiểm họa cháy nổ trong điều  
kiện khai thác. Mạng điều khiển giám sát tốc  
độ cao giúp tăng cường quản lý tập trung hoạt  
động khai thác.  
5. Đề xuất khung chính sách phát triển CNTT  
của ngành mỏ  
Căn cứ các định hướng và mục tiêu cũng như  
các danh mục các công nghệ ưu tiên được xác  
định trong quá trình nghiên cứu, các tác động  
dương tính và âm tính của chính sách công nghệ  
hiện hành, theo tiếp cận chính sách đổi mới, tác  
giả đề xuất khung chính sách phát triển lĩnh vực  
CNTT của ngành mỏ đến năm 2025 (Hình 1).  
Với tất cả những mặt tích cực trên đây,  
CNTT đảm bảo tính bền vững cao hơn cho sự  
phát triển các doanh nghiệp (Công ty) của ngành  
mỏ.  
5.1. Nhóm các chính sách về hoàn thiện quản lý,  
quản trị  
4.3. Đánh giá tác động âm tính của chính sách  
CNTT của ngành mỏ  
Theo tiếp cận chính sách đổi mới, chính sách  
phải được xây dựng trên cơ sở liên kết các chính  
sách KH&CN; Giáo dục; Thương mại; Tài  
chính; Tiền tệ, v.v,… Vì vậy, cần xem xét giải  
pháp về liên kết các cơ quan quản lý nhà nước  
(với tư cách là các chủ thể chính sách) và hoàn  
thiện quản trị trong bản thân các doanh nghiệp  
với tư cách là chủ thể thụ hưởng chính sách (đối  
tượng tác động của chính sách).  
i) CNTT của ngành mỏ đòi hỏi đầu tư lớn,  
đôi khi quá sức đối với quy mô công ty. Như ta  
đã biết các thiết bị tự động hóa của ngành mỏ khá  
chuyên biệt và khá đắt, vì vậy không thể đầu tư  
hàng loạt, đồng bộ theo kiểu chiến dịch. Các dự  
án đầu tư, cải tạo, nâng cấp thường rất lớn đòi  
hỏi tập trung nguồn tài chính cao. Điều đó đòi  
hỏi cần có quy trình quản lý sản xuất nghiêm  
ngặt và sự lựa chọn ưu tiên với năng lực tài  
chính. Trong khi năng lực tài chính của các công  
ty trong ngành mỏ nước ta không phải lúc nào  
cũng sẵn sàng.  
Trong nhóm này, cần phân công chức năng  
của các cơ quan quản lý nhà nước để có được  
sự điều hòa phối hợp chính sách của Chính  
phủ. Đồng làm rõ chức năng, nhiệm vụ quản  
trị của lãnh đạo doanh nghiệp dưới tác động  
của chính sách.  
ii) CNTT đòi hỏi đầu tư cho phát triển nguồn  
nhân lực có trình độ. Hiện nay, ngành mỏ nước  
ta lực lượng lao động thủ công khá lớn, trong khi  
CNTT lại cần có số lượng lớn nhân lực KH&CN  
có tri thức vận hành hệ thống tự động điều khiển.  
Yêu cầu này đòi hỏi khoản đầu tư bổ sung khá  
lớn, là thách thức đối với ngành mỏ.  
5.2. Nhóm chính sách liên kết của tác nhân hoạt  
động trong lĩnh vực CNTT của ngành mỏ  
Cùng với chính sách hợp tác công tư, các tác  
nhân tham gia vào hoạt động trong lĩnh vực Tin  
học hóa ngành khai thác than có thể là Chính Phủ  
(theo PPP), các tổ chức KH&CN trong lĩnh vực  
Tin học hóa, các tổ chức cung cấp dịch vụ, các  
doanh nghiệp sản xuất của ngành mỏ. Sự liên kết  
này có vai trò rất quan trọng, hoạt động này góp  
iii) CNTT cùng với làn sóng của cách mạng  
công nghiệp 4.0 đang gây ra tâm lý “sẽ bị thất  
nghiệp” đối với đội ngũ lao động nói chung và  
trong ngành mỏ nói riêng, mặc dù lao động thủ  
T.T.H. Van, D.M. Quan / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 1 (2021) 36-45  
43  
phần tăng cường được các nguồn lực trong nước  
và quốc tế (vốn xã hội) thúc đẩy sự phát triển bền  
vững của ngành mỏ và các tác nhân. Nhóm giải  
pháp này được xây dựng theo tiếp cận hệ thống  
đổi mới quốc gia.  
Hình 1. Khung chính sách phát triển CNTT của ngành mỏ.  
của ngành mỏ. Trước mắt, thành lập Quỹ phát  
5.3. Nhóm các chính sách về đào tạo nguồn  
nhân lực  
triển KH&CN tại Tập đoàn than và khoáng sản  
(TKV), xúc tiến giải quyết các vướng mắt trong  
giải ngân quỹ này để tài trợ cho hoạt động nghiên  
cứu khoa học và phát triển công nghệ công  
nghiệp 4.0.  
- Nghiên cứu, thực hiện cơ chế, chính sách  
phát triển nhân lực, đáp ứng yêu cầu công nghiệp  
hóa, hiện đại hóa, đặc biệt là yêu cầu của cuộc  
CMCN 4.0.  
Ưu đãi về thuế nhập khẩu đối với những  
CNTT trong nước không sản xuất được ứng  
dụng trong khai thác.  
- Cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao chất lượng  
các cơ sở đào tạo nhằm tạo ra nguồn nhân lực  
CNTT của ngành mỏ có khả năng làm chủ và tiếp  
nhận các công nghệ mới. Quy hoạch lại mạng  
lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học  
thuộc lĩnh vực công nghệ công nghiệp 4.0. Tập  
trung một số cơ sở đào tạo bậc đại học và dạy  
nghề về CNTT đạt trình độ quốc tế. Đào tạo và  
tái đào tạo nhân lực trong lĩnh vực CNTT theo  
phương thức đa lớp (multi levels) trong nước  
cũng như ngoài nước.  
Miễn thuế nhập khẩu linh kiện, cấu kiện mà  
trong nước chưa sản xuất được phục vụ sản xuất  
và dịch vụ thuộc lĩnh vực CNTT; Các dự án đầu  
tư liên doanh với nước ngoài để sản xuất các sản  
phẩm CNTT được hưởng mọi ưu đãi về thuế theo  
quy định;  
Nâng thời gian miễn thuế thu nhập doanh  
nghiệp cho các đơn vị hoạt động trong nghiên  
cứu, chế tạo thuộc các công nghiệp mũi nhọn mua  
sản phẩm CNTT để đổi mới công nghệ, thiết bị  
nhằm tạo nguồn kinh phí trả vốn vay cho đơn vị.  
5.4. Nhóm các chính sách về đa dạng hóa nguồn  
vốn và ưu đãi về phí, thuế trong lĩnh vực CNTT của  
ngành mỏ trong bối cảnh CMCN 4.0  
Ưu đãi về vốn khi khai thác đầu tư nghiên  
cứu và sử dụng CNTT vào sản xuất ở trong nước  
áp dụng trong khai thác.  
Tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài,  
vốn ODA, các nguồn vốn xã hội khác để thực  
hiện các hoạt động đổi mới trong lĩnh vực CNTT  
T.T.H. Van, D.M. Quan / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 1 (2021) 36-45  
44  
Hỗ trợ kinh phí cho tổ chức KH&CN nghiên  
cứu ứng dụng CNTT vào trong khai thác khi  
trong nước chưa chế tạo được.  
đó khuyến khích các doanh nghiệp và tổ chức  
KH&CN ngành mỏ tham gia nghiên cứu theo  
phương thức tuyển chọn.  
Tài trợ toàn bộ hoặc hỗ trợ chi phí cho các  
dự án nghiên cứu tạo ra các thiết bị công nghệ  
công nghiệp 4.0 đạt trình độ tiên tiến trong khu  
vực, có ý nghĩa quyết định đến việc tạo ra các  
sản phẩm chủ lực của ngành mỏ.  
Phát triển hạ tầng, ứng dụng CNTT, nhất là  
hạ tầng kết nối số (4G, 5G) bảo đảm an toàn,  
đồng bộ đáp ứng yêu cầu kết nối internet kết nối  
con người và kết nối vạn vật (IoT). Xây dựng  
chiến lược chuyển đổi số ngành mỏ. Đầu tư, phát  
triển các trung tâm dữ liệu lớn, phân tích, quản  
lý và xử lý dữ liệu lớn nhằm tạo ra các sản phẩm,  
tri thức mới trong ngành mỏ. Tạo mọi điều kiện  
cho người dân và doanh nghiệp dễ dàng, thuận  
lợi, bình đẳng trong tiếp cận các cơ hội phát triển  
nội dung số ngành mỏ.  
Hỗ trợ kinh phí nghiên cứu ban đầu cho các  
đề tài nghiên cứu và tiếp nhận công nghệ đã có  
của nước ngoài hoặc nghiên cứu CNTT mới có  
khả năng ứng dụng vào sản xuất, phục vụ công  
tác khai thác: giám sát môi trường khí, hệ thống  
giám sát người, hệ thống xúc bốc-vận tải, hệ  
thống tự bơm nước, hệ thống thông gió,,…  
Hỗ trợ xây dựng và phát triển các doanh  
nghiệp khoa học và công nghệ trong bối cảnh  
công nghiệp 4.0. Xây dựng cơ chế chính sách  
khuyến khích phát triển các cơ sở ươm tạo công  
nghệ, ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công  
nghệ, doanh nghiệp khởi nghiệp trong các lĩnh  
vực công nghệ ưu tiên thuộc hợp phần của công  
nghệ công nghiệp 4.0.  
Hỗ trợ một phần kinh phí, tạo điều kiện thuận  
lợi cho tổ chức, cá nhân trong nước tham gia hội  
chợ, triển lãm, quảng bá sản phẩm CNTT ứng  
dụng cho ngành mỏ ở trong nước và ngoài nước.  
5.5. Nhóm chính sách về hợp tác quốc tế  
Liên kết với các đối tác có tiềm lực mạnh về  
CNTT và công nghiệp Mỏ (Nhật Bản, Nga, Ba  
Lan, Úc, Trung Quốc,…) để đào tạo, bồi dưỡng  
cán bộ; thu hút các chuyên gia giỏi làm tư vấn và  
tham gia thực hiện chương trình KH&CN có liên  
quan đến CNTT.  
6. Kết luận  
CMCN 4.0 như bất kỳ cuộc cách mạng xảy  
ra trước đó, là tiến trình không thể đảo ngược.  
Đây là hệ thống lớn (mega system) liên kết các  
tiến bộ nhảy vọt trong các lĩnh vực vật lý, kỹ  
thuật số và công nghệ sinh học. Nhiệm vụ của  
Việt Nam nói chung và ngành mỏ nói riêng là  
tìm ra giải pháp để tận dụng các thành tựu mà nó  
mang lại cũng như tránh các tác động âm tính mà  
nó đưa tới. Phát triển CNTT là chìa khóa để  
tiếp cận các thành tựu đó và cũng để phát triển  
ra thành tựu mới trên bình diện quốc gia cũng  
tầm ngành.  
Đảm bảo các điều kiện về tiền lương, nhà ở  
và môi trường làm việc cho chuyên gia nước  
ngoài và Việt kiều về nước tham gia vào các hoạt  
động đào tạo; nghiên cứu khoa học trong lĩnh  
vực CNTT tương đương với các điều kiện mà họ  
được hưởng ở nước sở tại đang làm việc; Đảm  
bảo không phân biệt đối xử ở mọi địa bàn hoạt  
động, mọi loại hình dịch vụ; Có cơ chế nhập cảnh  
mềm dẻo, linh hoạt, phù hợp với thông lệ quốc  
tế, cho phép các chuyên gia nước ngoài Việt  
kiều, những người lao động lành nghề nhập cảnh  
với thị thực dài hạn, đủ điều kiện về thời gian để  
hỗ trợ phát triển CNTT trong nước.  
Xét tầm quan trọng của CNTT trong thúc  
đẩy CMCN 4.0 như vậy, cần một tập hợp có hệ  
thống các giải pháp chính sách để thúc đẩy lĩnh  
vực đó phát triển. CNTT trong ngành mỏ cũng  
có nhu cầu đó. Trên cơ sở đánh giá tác động của  
chính sách phát triển CNTT hiện hành của ngành  
mỏ, phân tích các tác động dương tính, âm tính,  
nguyên nhân của các tác động âm tính; bằng tiếp  
cận hệ thống đổi mới và chính sách đổi mới, tác  
5.6. Chính sách khoa học và công nghệ cho phát  
triển CMCN 4.0  
Xây dựng chương trình quốc gia về phát  
triển các công nghệ công nghiệp 4.0 trên cơ sở  
T.T.H. Van, D.M. Quan / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 1 (2021) 36-45  
45  
4.0, Final report of the Industrie 4.0 Working  
Group, April 2013.  
[3] J.H. Leavitt, L.T. Whisler, Management in the  
giả đã đề xuất một tổ hợp có tính hệ thống các  
nhóm giải pháp phát triển CNTT trong ngành mỏ  
nước ta khả dĩ khắc phục được các tác động âm  
tính của chính sách hiện tại, thúc đẩy CNTT của  
ngành mỏ nước ta phát triển./.  
1980’s, Harvard Business Review, 1958-11.  
[4] National Assembly of Vietnam, Law on  
information technology (No. 67/2006/QH11), June  
29, 2006 (in Vietnamese).  
[5] National Association directing the compilation of  
Tài liệu tham khảo  
encyclopedias  
(Vietnam),  
Vietnamese  
encyclopedia, Hanoi, Vietnam, 1995 (in  
Vietnamese),  
[6] Wikipedia, Thomas Kuhn,  
[1] K. Schwab, The Fourth Industrial Revolution:  
What It Means and How to Respond,  
[7] V.C. Dam, Scientific research methodology  
Science and Technics Publishing House, Hanoi,  
Vietnam, 1999 (in Vietnamese).  
[2] Forschungsunion, Acatech, Recommendations for  
implementing the strategic initiative INDUSTRIE  
pdf 10 trang yennguyen 10160 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số tiếp cận trong đánh giá chính sách công nghệ thông tin ngành mỏ nước ta dưới tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 (Nghiên cứu trường hợp: Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_tiep_can_trong_danh_gia_chinh_sach_cong_nghe_thong_ti.pdf