Khóa luận Tìm hiểu nhận thức của người dân về môi trường trên địa bàn xã Hồng Tiến, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên

ÐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ÐẠI HỌC NÔNG LÂM  
--------------  
QUÁCH VĂN LUÂN  
Tên đề tài:  
TÌM HIỂU NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI DÂN VỀ MÔI TRƯỜNG  
TRÊN ĐỊA BÀN XÃ HỒNG TIẾN, THỊ XÃ PHỔ YÊN,  
TỈNH THÁI NGUYÊN  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo  
Chuyên ngành  
Khoa  
: Chính quy  
: Khoa học môi trường  
: Môi trường  
Khóa học  
: 2015 - 2019  
Thái Nguyên, năm 2019  
ÐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ÐẠI HỌC NÔNG LÂM  
--------------  
QUÁCH VĂN LUÂN  
Tên đề tài:  
TÌM HIỂU NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI DÂN VỀ MÔI TRƯỜNG  
TRÊN ĐỊA BÀN XÃ HỒNG TIẾN, THỊ XÃ PHỔ YÊN,  
TỈNH THÁI NGUYÊN  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo  
Chuyên ngành  
Lớp  
: Chính quy  
: Khoa học môi trường  
: K47 - KHMT  
: Môi trường  
Khoa  
Khóa học  
: 2015 - 2019  
Giảng viên hướng dẫn: TS. Dư Ngọc Thành  
Thái Nguyên, năm 2019  
i
LỜI CẢM ƠN  
Trong quá trình thực tập tốt nghiệp, ngoài sự nỗ lực của bản thân, em  
đã nhận được nhiều sự giúp đỡ của các tập thể, cá nhân trong và ngoài trường.  
Trước hết em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo khoa Môi trường  
và các thầy cô Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện  
giúp đỡ em hoàn thành quá trình thực tập tốt nghiệp.  
Em bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo TS. Dư Ngọc Thành là  
người đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện đề tài.  
Em xin chân thành cảm ơn các bác các cô, chú, anh, chị Cán bộ UBND  
xã Hồng Tiến, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã hết lòng tận tình, chỉ bảo  
hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập tại xã.  
Cuối cùng em xin chân thành gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè,  
những người đã khích lệ em trong suốt quá trình thực tập tốt nghiệp.  
Trong thời gian thực tập em đã cố gắng hết sức mình, nhưng do kinh  
nghiệm và kiến thức của bản thân còn hạn chế nên khóa luận chắc không  
tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong thầy cô và các bạn góp ý bổ sung để  
khóa luận của em được hoàn thiện hơn.  
Em xin chân thành cảm ơn !  
Thái Nguyên, ngày tháng 5 năm 2019  
Sinh viên  
Quách Văn Luân  
 
ii  
DANH MỤC CÁC BẢNG  
 
iv  
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT  
STT  
Từ viết tắt  
Nghĩa của từ viết tăt  
1
2
3
4
BĐKH  
Biến đổi khí hậu  
BVMT  
Bảo vệ Môi trường  
CBCNVC  
Cán bộ công nhân viên chức  
Chương trình SEMILA Dự án hợp tác Việt Nam – Thụy Điển về lĩnh  
vực Tài Nguyên & Môi Trường  
5
6
7
8
9
DN  
Doanh nghiệp  
GDP  
HGĐ  
IPCC  
ISWM  
Tổng sản phẩm quốc nội  
Hộ gia đình  
Hội đồng liên Chính Phủ về Biến đổi khí hậu  
Hiệp hội quốc tế của trọng lượng và đo lường  
Khu công nghiệp  
10 KCN  
11 ONMT  
12 SL  
Ô nhiễm môi trường  
Số lượng  
13 UBND  
14 UNEP  
VSMT  
Uỷ ban nhân dân  
Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc  
Vệ sinh môi trường  
 
v
MỤC LỤC  
 
vi  
1
Phần 1  
MỞ ĐẦU  
1.1. Đặt vấn đề  
Môi trường là yếu tố vô cùng quan trọng, quyết định sự tồn tại, phát  
triển của con người và sinh vật trên trái đất. Môi trường là nơi cung cấp  
không gian sống của con người và sinh vật, cung cấp các nguồn tài nguyên  
cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con người, đồng thời cũng  
là nơi chứa đựng các phế thải do con người thải ra trong cuộc sống và hoạt  
động sản xuất. Việt Nam là một nước đang phát triển, đang bước vào thời kỳ  
đẩy mạnh công nghiệp hoá, đô thị hoá thì việc giữ gìn môi trường là vấn đề  
hết sức quan trọng.  
Ô nhiễm suy thoái môi trường đang ngày càng gia tăng và trꢀ thành  
vấn đề nhức nhối của xã hội. Bảo vệ môi trường đòi hỏi cần có sự chung tay  
và góp sức của toàn xã hội. Ngoài việc đề ra các biện pháp công nghệ kỹ  
thuật, pháp luật để bảo vệ, phục hồi môi trường thì việc giáo dục, nâng cao  
nhận thức cho người dân về vấn đề môi trường cũng là một việc làm vô cùng  
quan trọng.  
Thái Nguyên là một tỉnh ꢀ Đông Bắc Việt Nam, tiếp giáp với thủ đô Hà  
Nội và là tỉnh nằm trong quy hoạch vùng thủ đô Hà Nội. Thái Nguyên là một  
trung tâm kinh tế - xã hội lớn của khu vực đông bắc hay cả vùng trung du và  
miền núi phía Bắc. Tỉnh Thái Nguyên được tái lập ngày 1/1/1997 với việc  
tách tỉnh Bắc Thái thành hai tỉnh Bắc Kạn và Thái Nguyên. Thái Nguyên nằm  
trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc thủ đô Hà Nội, một trung tâm kinh tế đang  
lên ꢀ miền Bắc. Thái Nguyên được coi là một trung tâm đào tạo nguồn nhân  
lực lớn thứ 3 sau Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Thái Nguyên cũng là  
một địa bàn chiến lược về quốc phòng, là nơi đóng trụ sꢀ Bộ tư lệnh, cùng  
nhiều cơ quan khác của Quân khu 1.  
     
2
Hồng Tiến là một xã thuộc thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, Việt  
Nam. Xã nằm tại cực bắc khu vực phía Đông của thị xã và có các tuyến  
đường quốc lộ 3 chạy qua ranh giới phía tây. Ngoài ra, Hồng Tiến cũng có  
tuyến đường liên huyện Phú Bình và thị xã Phổ Yên cùng tuyến đường nối  
thành phố Sông Công và quốc lộ 3 tới xã Điềm Thụy của huyện Phú Bình  
chạy qua. Tuyến đường sắt Hà Nội - Quan Triều cũng đi qua địa bàn xã Hồng  
Tiến. Những năm gần đây trước những tác động mạnh của quá trình đẩy  
mạnh công nghiệp hóa, đô thị hoá, cùng với sự gia tăng dân số đã tạo nên  
những áp lực làm môi trường suy giảm. Môi trường thiên nhiên như: môi  
trường đất, nước, không khí đã có dấu hiệu suy thoái. Môi trường sống từng  
ngày thay đổi, song nhận thức và hiểu biết của người dân về môi trường trên  
địa bàn xã còn hạn chế.  
Để thấy rõ được thực trạng này em tiến hành thực hiện đề tài “Tìm  
hiểu nhận thức của người dân về môi trường trên địa bàn xã Hồng  
Tiến, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên” dưới sự hướng dẫn của thầy  
giáo TS. Dư Ngọc Thành – Giảng viên khoa Môi trường, trường ĐH Nông  
Lâm Thái Nguyên.  
1.2.Mục tiêu của đề tài  
- Đánh giá hiện trạng môi trường tại xã Hồng Tiến, Thị xã Phổ Yên  
- Tìm hiểu sự nhận thức, hiểu biết của người dân về môi trường  
-. Đề xuất các giải pháp nâng cao nhận thức của người dân về môi trường  
1.3. Ý nghĩa của đề tài  
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập, nghiên cứu khoa học  
- Nâng cao kiến thức kỹ năng và rút ra những kinh nghiệm thực tế phục  
vụ cho công tác sau này.  
- Vận dụng và phát huy các kiến thức đã học tập và nghiên cứu rèn luyện  
về kỹ năng tổng hợp và phân tích số liệu.  
     
3
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn  
- Biết được nhận thức của người dân tại xã Hồng Tiến, thị xã Phổ Yên,  
tỉnh Thái Nguyên về môi trường như tế nào để từ đó đề xuất giải pháp nhằm  
nâng cao nhận thức của người dân về bảo vệ môi trường.  
 
4
Phần 2  
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU  
2.1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài nghiên cứu  
- Nhận thức:  
+ Quá trình và kết quả phản ánh và tái hiện hiện thực vào trong tư duy,  
quá trình con người nhận biết, hiểu biết thế giới khách quan hoặc kết quả của  
quá trình đó.  
+ Nhận ra và biết được.  
+ Nhận thức là quá trình biện chứng của sự phản ánh thế giới khách  
quan trong ý thức con người, nhờ đó con người tư duy và không ngừng tiến  
đến gần khách thể.  
- “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao  
quanh con ngươì, ảnh hưởng đến đời sống sản xuất, sự tồn tại, sự phát triển  
của con người và sinh vật”[11] .  
- Thành phần môi trường là yếu tố vật chất tạo thành môi trường như  
đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật, hệ sinh thái và các hình  
thái vật chất khác.  
- Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường  
không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưꢀng xấu đến con  
người, sinh vật.[5]  
- Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong sạch,  
phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường;  
khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng  
hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học.  
- Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ  
hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế  
     
5
hệ tương lai trên cơ sꢀ kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa tăng trưꢀng kinh tế, bảo  
đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường [4].  
- Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không  
phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưꢀng xấu đến con người, sinh vật.  
- Rác thải là những chất được loại ra trong sinh hoạt, trong quá trình  
sản xuất hoặc trong các hoạt động khác. Có nhiều loại rác thải khác nhau và  
có nhiều cách phân loại.  
- Sự cố môi trường là tai biến hoặc rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt  
động của con người hoặc biến đổi thất thường của tự nhiên, gây ô nhiễm, suy  
thoái hoặc biến đổi môi trường nghiêm trọng.  
- Chất thải là vật chất ꢀ thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh  
doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác.  
- Quản lý chất thải là hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển, giảm  
thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy, thải loại chất thải. Phế liệu là sản  
phẩm, vật liệu bị loại ra từ quá trình sản xuất hoặc tiêu dùng được thu hồi để  
dùng làm nguyên liệu sản xuất.  
- Quản lý môi trường. "Quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp,  
luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất  
lượng môi trường sống và phát triển bền vững kinh tế xã hội quốc gia"[4]  
- Thông tin về môi trường bao gồm số liệu, dữ liệu về các thành phần  
môi trường; về trữ lượng, giá trị sinh thái, giá trị kinh tế của các nguồn tài  
nguyên thiên nhiên; về các tác động đối với môi trường; về chất thải; về mức  
độ môi trường bị ô nhiễm, suy thoái, và các thông tin về môi trường khác.  
2.2. Một số vấn đề MT cần quan tâm trên Thế giới và Việt Nam  
2.2.1. Mꢀt sꢁ vꢂn đề về Môi trường cꢃn quan tâm trên Thế giꢄi  
Theo GS.TS Võ Quý chúng ta đang phải đối mặt với nhiều vấn đề môi  
trường, cấp bách nhất là:  
   
6
* Rꢅng -“lá phổi của Tráiđꢂt” đangbị pháhủydohoꢆt đꢀngcủaloꢇingười:  
Rừng xanh trên thế giới che phủ khoảng một phần ba diện tích đất liền  
của Trái đất, chiếm khoảng 40 triệu km2. Tuy nhiên, các vùng rừng rậm tốt  
tươi đã bị suy thoái nhanh chóng trong những năm gần đây.  
Các hệ sinh thái rừng bao phủ khoảng 10% diện tích Trái đất, khoảng  
30% diện tích đất liền. Tuy nhiên, các vùng có rừng che phủ đã bị giảm đi  
khoảng 40% trong vòng 300 năm qua và theo đó mà các loài động thực vật,  
thành phần quan trọng của các hệ sinh thái rừng, cũng bị mất mát đáng kể.  
Từ trước đến nay, lượng CO2 có trong khí quyển luôn ổn định nhờ sự  
quang hợp của cây xanh. Tuy nhiên trong những năm gần đây, một diên tích  
lớn rừng bị phá hủy, nhất là rừng rậm nhiệt đới, do đó hàng năm có khoảng 6  
tỷ tấn CO2 được thải thêm vào khí quyển trên toàn thế giới, tương đương  
khoảng 20% lượng khí CO2 thải ra do sử dụng các nhiên liệu hóa thạch (26 tỷ  
tấn/năm). Điều đó có nghĩa là việc giảm bớt sử dụng nhiên liệu hóa thạch và  
khuyến khích bảo vệ rừng và trồng rừng để giảm bớt tác động của biến đổi  
khí hậu là rất quan trọng[12].  
* Đa dꢆng sinh học đang giảm sꢈt hꢇng ngꢇy  
Đa dạng sinh học đem lại rất nhiều lợi ích cho con người như làm sạch  
không khí và dòng nước, giữ cho môi trường thiên nhiên trong lành, cung cấp  
các loại lương thực thực phẩm, thuốc chữa bệnh, đa dạng sinh học còn góp  
phần tạo ra lớp đất màu, tạo độ phì cho đất để phục vụ sản xuất sinh  
hoạt…Tất cả các dịch vụ của hệ sinh thái trên thế giới đã đem lại lợi ích cho  
con người với giá trị ước lượng khoảng 21-72 tỷ đôla Mỹ/năm, so với tổng  
sản phẩm toàn cầu năm 2012 là 58 tỷ đôla Mỹ (UNEP, 2014).  
Sụp đổ hệ sinh thái và mất đa dạng sinh học sẽ gây nên nhiều khó khăn  
trong cuộc sống nhất. Vì thế, việc bảo tồn đa dạng sinh học là hết sức quan  
trọng trong công cuộc xóa đói giảm nghꢁo mà chúng ta đang theo đuổi trong  
sự phát triển xã hội ꢀ nước ta.  
7
* Tꢇi nguyên nưꢄc đang bị cꢆn kiꢉt dꢃn  
Trái đất là một hành tinh xanh, có nhiều nước, nhưng 95,5% lượng  
nước có trên Trái đất là nước biển và đại dương. Lượng nước ngọt mà loài  
người có thể sử dụng được chỉ chiếm khoảng 0,01% lượng nước ngọt có trên  
Trái đất. Cuộc sống của chúng ta và nhiều loài sinh vật khác phụ thuộc vào  
lượng nước ít ỏi đó. Lượng nước quý giá đó đang bị suy thoái một cách nhanh  
chóng do các hoạt động của con người và con người đang phải vật lộn với sự  
thiếu hụt nước ngọt tại nhiều vùng trên thế giới.  
Để có thể bảo tồn nguồn tài nguyên nước hết sức ít ỏi của chúng ta,  
chúng ta phải nhận thức được rằng cần phải giữ được sự cân bằng nhu cầu và  
khả năng cung cấp bằng cách thực hiên các biện pháp thích hợp. Để có thể hồi  
phục được sự cân bằng mỗi khi đã bị thay đổi sẽ tốn kꢂm rất lớn, tuy nhiên có  
nhiều trường hợp không thể sửa chữa được. Vì thế cho nên, nhân dân tại tất cả  
các vùng phải biết tiết kiệm nước, giữ cân bằng giữa nhu cầu sử dụng với  
nguồn nước cung cấp, có như thế mới giữ được một cách bền vững nguồn  
nước với chất lượng an toàn. Theo báo cáo của chương trình môi trường của  
Liên Hiệp Quốc UNEP trong tạp chí Toàn cảnh môi trường toàn cầu năm  
2017 đã có 1/3 đất nông nghiệp trên toàn thế giới bị cằn cỗi. Khoảng 20%  
diện tích đất trồng trọt, 16% đất lâm nghiệp, 19% đồng cỏ… giảm năng suất.  
Trên thế giới, khoảng 20%, tương đương 63 triệu hec-ta đất canh tác trồng  
trọt bị nhiễm mặn (tương ứng diện tích nước Pháp).  
* Mức tiêu thꢊ năng lưꢋng ngꢇy cꢇng cao vꢇ nguồn năng lưꢋng hꢌa  
thꢆch đang cꢆn kiꢉt  
Trong lúc vấn đề cạn kiệt nguồn chất đốt hóa thạch đang được mọi  
người quan tâm như dầu mỏ và khí đốt, thì Trung Quốc và ꢃn Độ với diện  
tích rộng và dân số lớn, đang là nhưng nước đang phát triển nhanh tại châu Á,  
đặc biệt là Trung Quốc có nguồn than đá và khí đốt thiên nhiên dồi dào, đang  
tăng sức tiêu thụ nguồn năng lượng này một cách nhanh chóng. ꢄ Trung  
8
Quốc, sức tiêu thụ loại năng lượng hàng đầu này từ 961 triệu tấn (tương  
đương dầu mỏ) vào năm 1997 lên 1.863 triệu tấn vào năm 2007, tăng gần gấp  
đôi trong khoảng 10 năm. Tất nhiên lượng CO2 thải ra cũng tăng lên gần ½  
lượng thải của Mỹ năm 2000, và đến nay Trung Quốc đã trꢀ thành nước thải  
lượng khí CO2 lớn nhất trên thế giới, vượt qua cả Mỹ năm 2007.  
Con người đã đạt được bước tiến rất lớn trong quá trình phát triển,  
bằng cuộc Cách mạng Công nghiệp nhờ sự tiêu thụ lớn các chất đốt hóa  
thạch. Tuy nhiên, ước lượng nguồn dự trữ dầu mỏ trên thế giới chỉ còn sử  
dụng được trong vòng 40 năm nữa, dự trữ khí tự nhiên được 60 năm và  
than đá là khoảng 120 năm. Nếu chúng ta vẫn bị lệ thuộc vào chất đốt hóa  
thạch thì chúng ta không thể đáp ứng được nhu cầu năng lượng ngày càng  
cao và sẽ phải đối đầu với sự cạn kiệt nhanh chóng nguồn tài nguyên thiên  
nhiên này trong thời gian không lâu.  
Việc sử dụng các nguồn năng lượng hồi phục được như năng lượng mặt  
trời, địa nhiệt, gió, thủy lực và sinh khối sẽ không làm tăng thêm CO2 vào khí  
quyển và có thể sử dụng được một cách lâu dài cho đến lúc nào Mặt trời còn  
chiếu sáng lên Trái đất. Tuy nhiên, so với chất đốt hóa thạch, năng lượng mặt  
trời rất khó tạo ra được nguồn năng lượng lớn, mà giá cả lại không ổn định. Làm  
thế nào để tạo được nguồn năng lượng ổn định từ các nguồn có thể tái tạo còn là  
vấn đề phải nghiên cứu, và rồi đây khoa học kỹ thuật sẽ có khả năng hạ giá thành  
về sử dụng năng lượng mặt trời và các dạng năng lượng sạch khác. Chúng ta  
không thể giải quyết vấn đề năng lượng chỉ bằng cách sử dụng nguồn năng  
lượng sạch, mà chúng ta cần phải thay đổi cách mà chúng ta hiện nay đang sử  
dụng nguồn năng lượng để duy trì cuộc sống của chúng ta và đồng thời phải tìm  
các làm giảm tác động lên môi trường. Tiết kiệm năng lượng là hướng giải quyết  
mà chúng ta phải theo đuổi mới mong thực hiện được sự phát triển bền vững,  
trước khi năng lượng mặt trời được sử dụng một cách phổ biến.  
9
* Trái đꢂt đang nꢌng lên:  
Nóng lên toàn cầu không phải chỉ có nhiệt độ tăng thêm, nó còn mang  
theo hàng loạt biến đổi về khí hậu, mà điều quan trọng nhất là làm giảm lượng  
nược mưa tại nhiều vùng trên thế giới. Một số vùng thường đã bị khô hạn,  
lượng mưa lại giảm bớt tạo nên hạn hán lớn và sa mạc hóa. Theo báo cáo lần  
thứ tư của IPCC, nhiệt độ trung bình toàn cầu đã tăng 0,7oC so với trước kia.  
Do nóng lên toàn cầu, dù chỉ 0,7oC mà trong những năm qua, thiên tai như  
bão tố, lũ lụt, hạn hán, nắng nóng bất thường, cháy rừng… đã xảy ra tại nhiều  
vùng trên thế giới. Theo dự báo thì rồi đây, nếu không có các biện pháp hữu  
hiệu để giảm bớt khí thải nhà kính, nhiệt độ mặt đất sẽ tăng thêm từ 1.8oC đến  
6,4oC vào năm 2100, lượng mưa sẽ tăng lên 5-10%, băng ꢀ hai cực và các núi  
cao sẽ tan nhiều hơn, nhanh hơn, nhiệt độ nước biển ấm lên, bị giãn nꢀ mà  
mức nước biển sẽ dâng lên khoảng 70-100cm hay hơn nữa và tất nhiên sẽ có  
nhiều biến đổi bất thường về khí hậu, thiên tai sẽ diễn ra khó lường trước  
được cả về tần số và mức độ.  
* Dân sꢁ thế giꢄi đang tăng nhanh  
Sự tăng dân số một cách quá nhanh chóng của loài người cùng với sự  
phát triển trình độ kỹ thuật là nguyên nhân hàng đầu gây ra sự suy thoái thiên  
nhiên. Tuy rằng dân số loài người đã tăng lên với mức độ khá cao tại nhiều  
vùng ꢀ châu Á trong nhiều thế kỷ qua nhưng ngày nay, sự tăng dân số trên thế  
giới đã tạo nên một hiện tượng đặc biệt của thời đại của chúng ta, được biết  
đến là như là sự bùng nổ dân số trong thế kỷ XX. Hiện tượng này có lẽ còn  
đáng chú ý hơn cả phát minh về năng lượng nguyên tử hay phát minh về điều  
khiển học. Tình trạng quá đông dân số loài người trên trái đất đã đạt trung  
bình khoảng 33 người trên km2 trên đất liền (kể cả sa mạc và các vùng cực).  
Với dân số như vậy, loài người đang ngày càng gây sức ꢂp mạnh lên vùng đấy  
có khả năng nông nghiệp để sản xuất lương thực và cả lên những hệ sinh thái  
tự nhiên khác.  
10  
2.2.2. Mꢀt sꢁ vꢂn đề về môi trường của Viꢉt Nam  
* Đꢀ che phủ vꢇ chꢂt lưꢋng rꢅng giảm sꢈt nghiêm trọng  
Qua quá trình phát triển, độ che phủ của rừng ꢀ Việt Nam đã giảm sút  
đến mức báo động. Chất lượng của rừng ꢀ các vùng còn rừng đã bị hạ thấp  
quá mức. Trước đây, toàn bộ đất nước Việt Nam có rừng che phủ, nhưng chỉ  
mới mấy thập kỷ qua, rừng bị suy thoái nặng nề. Diện tích rừng toàn quốc đã  
giảm xuống từ năm 1943 chiếm khoảng 43% diện tích tự nhiên, thì đến năm  
1990, chỉ còn 28,4%. Tình trạng suy thoái rừng ꢀ nước ta là do nhiều nguyên  
nhân khác nhau, trong đó có sự tàn phá của chiến tranh, nhất là chiến tranh  
hóa học của Mỹ. Trong mấy năm qua, diện tích rừng có chiều hướng tăng lên,  
28,8% năm 1998 và đến năm 2000, độ che phủ rừng là 33,2% năm 2002 đã  
đạt 35,8% và đến cuối năm 2004 đễ lên đến 36,7%. Đây là một kết quả hết  
sức khả quan. Chúng ta vui mừng là độ che phủ rừng nước ta đã tăng lên khá  
nhanh trong những năm gần đây, tuy nhiên chất lượng rừng lại giảm sút đáng  
lo ngại. Các số liệu chính thức gần đây đã xác định độ che phủ rừng của Việt  
Nam, bao gồm cả rừng tự nhiên và rừng trồng là 12,3 triệu ha, chiếm hơn  
37% tổng diện tích tự nhiên toàn quốc. Khoảng 18% diện tích này là rừng  
trồng, chỉ có 7% diện tích rừng là rừng nguyên sinh và gần 70% diện tích  
rừng còn lại được coi là rừng thứ sinh nghꢁo.  
Trong mười năm trꢀ lại đây, tình trạng phá rừng tại các tỉnh Tây  
Nguyên diễn biến rất phức tạp. Mặc dù các ngành chức năng đã tăng cường  
kiểm tra, truy quꢂt, nhưng đến nay, các vi phạm về rừng vẫn chưa chấm dứt,  
gây ảnh hưꢀng lớn đến kinh tế, môi trường và trật tự an toàn xã hội. Theo báo  
cáo của UBND tỉnh Gia Lai, trong năm 2014 trên địa bàn tỉnh đã phát hiện và  
xử lý 745 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng; trong đó có 28 vụ phá  
rừng; 43 vụ khai thác rừng; 646 vụ mua bán, vận chuyển, cất giữ lâm sản trái  
phép... Có nhiều vụ việc, khi các đối tượng bị phát hiện đã không ngần ngại  
dùng vũ khí tấn công lực lượng thi hành công vụ. Tổng diện tích rừng bị phá,  
 
11  
lấn chiếm trái phꢂp trên địa bàn từ năm 2009 đến 2014 là hơn 26.500 ha,  
trong khi đó các ngành chức năng của Ðắc Lắc mới chỉ thu hồi được gần  
2.000 ha để trồng lại rừng... Chỉ tính riêng sáu tháng đầu năm nay, lực lượng  
chức năng của tỉnh đã kiểm tra, xử lý 1.207 vụ vi phạm; trong đó, 17 vụ phá  
rừng trái phép với diện tích 10 ha; 36 vụ khai thác rừng trái phép; 819 vụ vận  
chuyển, mua bán, cất giữ, chế biến trái pháp luật gỗ, lâm sản... Cơ quan chức  
năng đã khꢀi tố hình sự bảy vụ, tịch thu 1.458 phương tiện và 1.963 m3 gỗ  
các loại; thu phạt sau xử lý 10,9 tỷ đồng.  
Năm 2018 sảy ra nhiều vụ chặt phá rừng trong nhiều tỉnh trên cả nước,  
các vụ điển hình là tại xã An Thắng (huyện Pắc Nậm, tỉnh Bắc Cạn có 16 lô  
với tổng cộng gần 11 ha rừng bị phá, với lượng gỗ bị chặt hạ lên đến hơn 600  
m3. Ðiều đáng nói, vụ phá rừng có quy mô lớn nhất tại địa phương này đã  
được phát hiện rất sớm, nhưng cấp ủy, chính quyền xã không báo cáo cấp  
trên, mà cố ý bao che, dung túng cho việc làm sai trái bꢀi có hơn 20 gia đình  
đã phá rừng, trong đó có cả gia đình bí thư, phó bí thư chi bộ, trưꢀng thôn và  
những người có trách nhiệm tham gia. Chỉ khi cơ quan có trách nhiệm đến  
xác minh hiện trường, vụ việc mới được ngăn chặn. Trên địa bàn tỉnh Hà  
Giang, các lực lượng chức năng đã phát hiện 157 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và  
Phát triển rừng, chủ yếu là khai thác, mua bán, vận chuyển, cất giữ lâm sản  
trái phꢂp. Tổng số lâm sản bị tịch thu là hơn 64 m3 gỗ các loại. Rừng đặc  
dụng Phong Quang có diện tích gần 10 nghìn hꢂc-ta, nằm trên địa bàn bốn xã  
biên giới của huyện Vị Xuyên, vốn được coi là "vựa nghiến" của tỉnh với  
những cây nghiến hàng trăm năm tuổi. Nhiều năm nay, đây luôn là địa bàn  
nóng về tình trạng khai thác gỗ trái phꢂp. "Lâm tặc" cắt hạ những cây nghiến  
lớn, cắt thành khúc dạng thớt, gùi qua biên giới, bán lấy tiền. ꢄ tỉnh Quảng  
Ninh, hàng chục hꢂc-ta rừng phòng hộ tại xã An Sinh, huyện Ðông Triều  
cũng bị các hộ dân chặt phá để lấy đất trồng cây dược liệu. Mặc dù việc chặt  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 71 trang yennguyen 25440 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Tìm hiểu nhận thức của người dân về môi trường trên địa bàn xã Hồng Tiến, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhoa_luan_tim_hieu_nhan_thuc_cua_nguoi_dan_ve_moi_truong_tre.pdf