Đổi mới cơ cấu thu ngân sách nhà nước ở Việt Nam theo hướng bền vững

39  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ KINH DOANH BỀN VỮNG TRONG ĐIỀU KIỆN TOÀN CẦU HÓA  
ĐỔI MỚI CƠ CẤU THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM  
THEO HƯỚNG BỀN VỮNG  
Vương Thị Thu Hiền*  
Vũ Thị Tâm Thu**  
TÓM TẮT: Cơ cấu thu ngân sách nhà nước (NSNN) ở Việt Nam thời gian qua đã có những chuyển biến tích  
cực, quy mô NSNN ngày càng mở rộng. Chính sách động viên NSNN tiếp tục được hoàn thiện, đã động  
viên hợp lý, kịp thời các nguồn lực từ sản xuất và tài nguyên, đất đai. Tuy nhiên, trong cơ cấu thu NSNN  
còn nhiều thách thức. Cơ cấu thu NSNN chưa hoàn toàn bền vững, việc thực hiện giảm thuế theo các cam  
kết hội nhập gây sức ép không nhỏ đối với nguồn thu NSNN trong tương lai. Tốc độ thu NSNN giảm dần,  
do hiệu quả nền kinh tế chưa cao. Nguồn thu NSNN chưa thực sự bắt nguồn từ kết quả sản xuất - kinh  
doanh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Một số khoản thu không ổn định như: thu từ dầu thô, thu từ đất…Từ  
các kết quả phân tích định tính, bài viết đã đưa ra một số giải pháp nhằm đổi mới cơ cấu thu NSNN ở Việt  
Nam theo hướng bền vững. Bên cạnh các giải pháp hoàn thiện chính sách thuế và hiện đại hóa công tác  
quản lý thuế, các giải pháp khác như cải cách cơ cấu kinh tế, nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng tài  
sản công, chú trọng hơn đến việc nuôi dưỡng nguồn thu và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống  
điều hòa ngân sách… là những giải pháp quan trọng để hướng đến cơ cấu thu ngân sách bền vững.  
Từ khóa: đổi mới, Ngân sách Nhà nước; Thuế; Cơ cấu thu ngân sách; Tính bền vững  
ABTRACT: The structure of state budget revenue in Vietnam over the past time has had positive changes,  
the scale of state budget is increasingly expanding. The policy of encouraging the state budget continued  
to be perfected, rationally and timely mobilizing resources from production, natural resources and land.  
However, there are many challenges in the structure of state budget revenues. The structure of state  
budget revenue has not been completely sustainable, the implementation of tax reduction in accordance  
with integration commitments puts considerable pressure on future state budget revenues. The rate  
of state budget collection gradually decreased, due to low economic efficiency. State budget revenue  
has not really originated from production - business results, economic restructuring... Some unstable  
revenues such as revenue from crude oil, revenue from land ... From the results of qualitative analysis,  
the article has proposed some solutions to renovate the structure of state budget revenue in Vietnam in  
a sustainable manner. Besides solutions to complete tax policy and modernize tax administration, other  
solutions such as reforming economic structure, improving the efficiency of management and use of  
public assets, paying more attention to nourishing revenues and improving the efficiency of the budget  
stablizing system… These are important solutions to a sustainable revenue structure.  
* Khoa Thuế và Hải quan, Học viện Tài chính, Đức Thắng, Bắc Từ Liêm, Hà Nội, Việt Nam. Tác giả nhận phản hồi: Điện thoại:  
0935163338 - Email: [email protected]  
** Kho bạc Hà Nội, Việt Nam.  
40  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ KINH DOANH BỀN VỮNG TRONG ĐIỀU KIỆN TOÀN CẦU HÓA  
1. THỰC TRẠNG CƠ CẤU THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM  
1.1. Những tác động tích cực của cơ cấu thu NSNN đến tính bền vững NSNN  
Thứ nhất, cơ cấu thu ngân sách đảm bảo nguyên tắc căn bản về cân đối ngân sách là thu  
thường xuyên lớn hơn chi thường xuyên và góp phần tích lũy cho chi đầu tư phát triển.  
Hình 1. Thu thường xuyên và chi thường xuyên giai đoạn 2006 - 2018  
Nguồn: Quyết toán NSNN hàng năm  
Thứ hai, quy mô thu ngân sách ngày càng mở rộng. Qui mô thu ngân sách tăng cùng với sự  
phát triển nhanh chóng của nền sản xuất xã hội và cải cách hệ thống chính sách thu ngân sách, đạt  
mức 24% GDP trong những năm gần đây; qua đó góp phần quan trọng trong việc đảm bảo tăng chi  
ngân sách đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội.  
Quy mô NSNN ngày càng mở rộng. Tổng thu NSNN đạt bình quân 26,34% GDP trong giai  
đoạn 2006 - 2010 (mục tiêu kế hoạch là 20 - 21% GDP) và đạt bình quân 23,56% GDP trong giai  
đoạn 2011 - 2015 (mục tiêu kế hoạch là 22 - 23% GDP). Trung bình 3 năm 2016 - 2018, tổng thu  
đạt 24,91% GDP, cao hơn so với mức bình quân 23,57% GDP của giai đoạn 2011 - 2015.  
Thứ ba, cơ cấu thu NSNN đã dịch chuyển theo hướng bền vững hơn với sự tăng dần về tỷ  
trọng của thu nội địa; thu cân đối từ XNK và thu từ dầu thô đều có xu hướng giảm.  
Chính sách động viên NSNN tiếp tục được hoàn thiện, đã động viên hợp lý, kịp thời các  
nguồn lực từ sản xuất và tài nguyên, đất đai. Cơ cấu thu NSNN ngày càng bền vững hơn theo  
hướng tăng tỷ trọng từ các nguồn thu từ sản xuất - kinh doanh, giảm dần sự phụ thuộc vào nguồn  
thu từ tài nguyên khoáng sản (dầu thô) và thu từ xuất - nhập khẩu. Tỷ trọng thu nội địa trong tổng  
thu NSNN đã tăng từ mức trung bình 67,7% giai đoạn 2011 - 2015 lên 80% giai đoạn 2016 - 2018,  
riêng năm 2018 đạt 81,67%. Tỷ trọng thu nội địa tăng do hoạt động sản xuất - kinh doanh của  
người nộp thuế có hiệu quả hơn, số lượng doanh nghiệp mới thành lập gia tăng, Nhà nước áp dụng  
các ưu đãi thuế, đơn giản hóa thủ tục hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh, tạo điều kiện  
cho sản xuất - kinh doanh phát triển thuận lợi.  
41  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ KINH DOANH BỀN VỮNG TRONG ĐIỀU KIỆN TOÀN CẦU HÓA  
Tỷ trọng thu dầu thô giảm còn 3 - 4% tổng thu NSNN, so với trung bình 13,4% của giai  
đoạn 2011 - 2015. Thu từ dầu thô giảm do giá dầu thô trong giai đoạn vừa qua ở mức thấp và nỗ  
lực cơ cấu nền kinh tế thông qua việc giảm phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên, trong đó có dầu  
thô. Tỷ trọng thu cân đối từ hoạt động xuất - nhập khẩu so với tổng thu NSNN giảm trung bình  
từ 20,06% giai đoạn 2006 - 2010 xuống còn 17,7% giai đoạn 2011 - 2015 và hơn 14% giai đoạn  
2016 - 2018. Tỷ trọng thu từ hoạt động xuất - nhập khẩu trong các năm gần đây ngày càng giảm  
do Việt Nam đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện cắt giảm thuế quan theo lộ trình.  
Hình 2. Cơ cấu thu NSNN theo nguồn, 2011 - 2018 (%)  
Nguồn: Tính toán theo số liệu Bộ Tài chính  
Thứ tư, trong cơ cấu thu NSNN theo các thành phần kinh tế, thu từ doanh nghiệp FDI và thu  
từ DNNN đang có xu hướng giảm, trong khi thu từ khu vực ngoài quốc doanh có xu hướng tăng  
lên và chiếm tỷ trọng ngày càng cao, trở thành khu vực có tỷ trọng cao nhất trong hai năm 2017 -  
2018 cho thấy hiệu quả của chính sách khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân.  
Hình 3. Thu từ các khu vực kinh tế trong giai đoạn 2006 - 2018  
Nguồn: Quyết toán NSNN hàng năm  
42  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ KINH DOANH BỀN VỮNG TRONG ĐIỀU KIỆN TOÀN CẦU HÓA  
Thứ năm, trong các khoản thu nội địa, tỷ trọng nguồn thu từ thuế vẫn chiếm lớn nhất. Số thu  
từ thuế, phí, lệ phí (bao gồm cả dầu thô) trung bình giai đoạn 2006 - 2018 đạt 22,69% GDP; mức  
thu ngân sách từ thuế, phí, lệ phí (không bao gồm dầu thô) đạt trung bình 19,23% GDP trong cả  
giai đoạn và có xu hướng tăng trong những năm gần đây.  
Hình 4. Cơ cấu thu NSNN theo khoản thu (%) giai đoạn 2006 - 2018  
Nguồn: Tổng hợp từ số liệu của Bộ Tài chính các năm  
Thứ sáu, các khoản thu từ thuế cũng được cải thiện theo hướng hợp lý hơn. Thuế gián thu  
ngày càng đóng vai trò quan trọng, tỷ trọng các khoản thuế trực thu giảm dần trong thu ngân sách,  
nhằm thực hiện chính sách kiến tạo lại môi trường đầu tư, kinh doanh doanh để thúc đẩy sự phát  
triển của doanh nghiệp.  
Hình 5. Tỷ trọng thuế tiêu dùng và thuế thu nhập trong cơ cấu thu NSNN (%)  
Nguồn: Tính toán từ số liệu công khai ngân sách của Bộ Tài chính  
Bên cạnh các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí, nhờ đẩy mạnh việc quản lý, khai thác và sử dụng  
tài sản công, đặc biệt là đất đai, số thu từ việc khai thác nguồn lực tài sản công cũng tăng dần qua  
các năm. Số thu từ tiền sử dụng đất năm 2018 ước đạt 146,6 nghìn tỷ đồng, tăng gấp 3 lần so với  
43  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ KINH DOANH BỀN VỮNG TRONG ĐIỀU KIỆN TOÀN CẦU HÓA  
năm 2011; số thu từ tiền thuê đất năm 2018 ước đạt 32 nghìn tỷ đồng, tăng hơn 5 lần so với năm  
2011.  
Thứ bảy, cơ cấu các khoản thu giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương được  
phân định rành mạch theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước, tỷ trọng thu ngân sách địa  
phương hưởng theo phân cấp có xu hướng tăng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế tại địa phương  
và khuyến khích các địa phương tăng cường quản lý thu thuế. Thu ngân sách địa phương (NSĐP)  
có xu hướng tăng cả về quy mô và tỷ trọng, vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương (NSTW)  
được bảo đảm.  
Hình 6. Cơ cấu thu NSNN theo phân cấp giai đoạn 2006 - 2017  
Nguồn: Tính toán từ Quyết toán NSNN nhiều năm  
1.2. NHỮNG TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC CỦA CƠ CẤU THU NSNN ĐẾN TÍNH BỀN VỮNG NSNN  
Thứ nhất, cơ cấu thu NSNN chưa hoàn toàn bền vững, nhất là tỷ trọng thu từ xuất -nhập khẩu  
còn cao, khoảng 15% tổng thu NSNN. Việc thực hiện giảm thuế theo các cam kết hội nhập gây sức  
ép không nhỏ đối với nguồn thu NSNN trong tương lai.  
Thứ hai, cơ cấu thu không thường xuyên chiếm tỷ trọng khá cao trong tổng thu NSNN, trung  
bình 10,52% trong giai đoạn 2016 - 2018. Mặc dù thu ngân sách nhiều năm vượt dự toán nhưng  
chủ yếu nhờ vào các khoản thu không thường xuyên. Trung bình giai đoạn 2011 - 2018, vượt thu  
không thường xuyên chiếm 62% tổng số vượt thu NSNN. Chiếm tỷ trọng lớn nhất trong thu không  
thường xuyên là thu tiền sử dụng đất. Khoản thu này luôn vượt dự toán rất nhiều và có tỷ trọng  
ngày càng cao trong tổng thu NSNN, tăng từ 6,5% năm 2014 lên 11,1% năm 2018. Điều này cho  
thấy NSNN vẫn còn phụ thuộc nhiều vào các nguồn thu không bền vững.  
Hơn nữa, số liệu thu ngân sách thường xuyên bao gồm cả các khoản thu khác, trong khi  
những khoản này khó có thể coi là thu thường xuyên. Về bản chất, các khoản thu này là tiền bán  
tài sản (chủ yếu là đất), đây là nguồn thu rất không bền vững. Trong tương lai gần, nguồn thu này  
sẽ nhanh chóng cạn kiệt và ảnh hưởng lớn đến bền vững NSNN nếu không có phương án bù đắp  
bội chi hiệu quả hơn. Nếu loại bỏ những khoản thu này thì nguyên tắc bền vững NSNN trong giai  
44  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ KINH DOANH BỀN VỮNG TRONG ĐIỀU KIỆN TOÀN CẦU HÓA  
đoạn vừa qua không được đảm bảo.  
Thứ ba, quy mô thu ngân sách có xu hướng giảm dần, trong khi nhu cầu chi vẫn rất lớn,  
dẫn tới cân đối thu - chi NSNN ngày càng căng thẳng. Nguồn thu NSNN chưa thực sự bắt nguồn  
từ kết quả sản xuất - kinh doanh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, một số khoản thu không ổn định như  
thu từ bán dầu thô, thu từ đất…  
Thứ tư, cơ sở nền tảng động viên nguồn thu vào NSNN chưa vững chắc. Tuy thu NSNN  
có sự tăng trưởng khá qua từng năm và cơ cấu nguồn thu đã có sự cải thiện. Nhưng cơ cấu nguồn  
thu trong nước tăng chậm và chưa bù đắp được đủ nhu cầu chi do hiệu quả nền kinh tế còn thấp;  
nguồn thu NSNN chưa thực sự bắt nguồn từ kết quả sản xuất, kinh doanh, từ hiệu quả chuyển dịch  
cơ cấu nền kinh tế, còn phụ thuộc nhiều vào các khoản thu phụ thuộc yếu tố bên ngoài (như thu từ  
bán dầu thô, thu thuế xuất nhập khẩu,… ); ngân sách địa phương phụ thuộc nhiều vào nguồn thu  
từ đất, từ xổ số kiến thiết và trợ cấp của ngân sách cấp trên.  
Tốc độ thu NSNN giảm dần, do hiệu quả nền kinh tế chưa cao. Nguồn thu NSNN chưa thực  
sự bắt nguồn từ kết quả sản xuất - kinh doanh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, một số khoản thu không  
ổn định như thu từ bán dầu thô, thu từ đất…  
Thứ năm, trong cơ cấu thu NSNN theo thành phần kinh tế, đóng góp từ các DNNN sụt  
giảm mạnh mẽ, tỷ lệ đóng góp của khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng có xu  
hướng giảm (một phần do các hoạt động chuyển giá). Trong cơ cấu theo khu vực, tỷ trọng thu  
từ doanh nghiệp ngoài quốc doanh còn thấp. Trong giai đoạn 2013 - 2018, thu từ khu vực công  
thương nghiệp dịch vụ ngoài quốc doanh chỉ chiếm tỷ trọng 17 - 19% tổng thu NSNN, chưa đạt  
được 20% tổng thu NSNN. Do đặc trưng của khu vực kinh tế này là phần lớn các doanh nghiệp quy  
mô vừa và nhỏ, vốn mỏng, sức cạnh tranh yếu, nên kết quả sản xuất - kinh doanh phục hồi chậm.  
Ngoài ra, khả năng chấp hành quy định về kế toán, hóa đơn chứng từ cũng còn hạn chế, khá nhiều  
doanh nghiệp chưa tuân thủ tốt việc thực hiện nghĩa vụ đối với NSNN, thất thu từ khu vực này còn  
tương đối lớn, nếu áp dụng các biện pháp quản lý hiệu quả hơn thì sẽ góp phần tăng số thu, tăng tỷ  
trọng đóng góp của khu vực ngoài quốc doanh trong tổng thu NSNN.  
Thứ sáu, cơ cấu thu NSNN của Việt Nam theo sắc thuế còn chưa cân đối so với yêu cầu  
của một cơ cấu thu bền vững, chưa ổn định thể hiện việc sử dụng chưa thật có hiệu quả nguồn lực  
quốc gia. Tỷ trọng thuế gián thu tuy khá tương đồng với các nước đang phát triển có thu nhập thấp  
song vẫn là khá cao xét theo xu thế phát triển; tỷ trọng thuế TNCN quá thấp; tỷ trọng thuế TNDN  
khá cao, thể hiện gánh nặng thuế đối với các doanh nghiệp còn lớn; tỷ trọng thuế tài sản còn thấp  
thể hiện chưa khai thác hết khả năng tăng thu...  
Thứ bảy, trong cơ cấu thu NSNN theo phân cấp, tỷ trọng thu NSTW ngày càng giảm và  
nhiều khả năng sẽ không đạt được mục tiêu 60% - 65% trong giai đoạn 2016 - 2020. Tỷ trọng thu  
ngân sách của các địa p hương tăng lên đáng kể nhưng không xuất phát từ việc thay đổi phân cấp  
ngân sách theo hướng để lại nguồn thu nhiều hơn cho địa phương mà chủ yếu do các địa phương  
tập trung khai thác các nguồn thu được phân chia 100% cho NSĐP. Cơ cấu thu theo phân cấp còn  
chưa phù hợp với thông lệ quốc tế, chưa gắn được quyền hạn với trách nhiệm của cấp chính quyền  
địa phương (theo nguyên tác nên gắn thu trên địa bàn với chi trên địa bàn để tăng cường trách  
nhiệm giải trình, hiệu qủa, hiệu lực của các quyết định thu - chi).  
45  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ KINH DOANH BỀN VỮNG TRONG ĐIỀU KIỆN TOÀN CẦU HÓA  
Thứ tám, thu ngân sách có sự chênh lệch rất lớn giữa các vùng miền trên cả nước. Khu vực  
đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ là hai khu vực nổi bật và đóng góp nhiều nhất cho thu  
ngân sách.  
Bảng 2.5. Cơ cấu thu ngân sách nhà nước ở Việt Nam phân chia theo vùng miền giai đoạn  
2011 - 2016  
Đơn vị: tỷ đồng  
Chỉ tiêu  
Năm  
2011  
Năm  
2012  
Năm  
2013  
Năm  
2014  
Năm  
2015  
Năm  
2016  
Miền núi phía Bắc  
Đồng bằng sông  
Hồng  
34.401  
42.443  
48.418  
52.156  
60.099  
67.436  
288.843 313.217 354.592 360.683 423.383 444.159  
Bắc Trung Bộ và  
duyên hải miền  
Trung  
111.761 122.944 136.686 151.043 161.937 181.674  
Tây Nguyên  
19.102  
22.716  
318.264 431.732 448.062 472.051 478.738 508.149  
51.947 58.305 67.065 63.294 72.802 85.587  
21.902  
21.009  
20.824  
24.255  
Đông Nam Bộ  
Đồng bằng sông  
Cửu Long  
Nguồn: Quyết toán NSNN hàng năm  
Sự phát triển quá chênh lệch dẫn đến NSNN không tận dụng được hết tiềm năng phát triển  
kinh tế của các vùng, liên kết kinh tế trên cả nước chưa hiệu quả, phân phối nguồn lực không công  
bằng. Bền vững ngân sách chỉ tồn tại ở số ít tỉnh, thành phố nằm trong những vùng kinh tế thuận  
lợi hơn.  
Nguyên nhân của những tác động tiêu cực  
Một là, do nền kinh tế Việt Nam còn yếu cả về trình độ sản xuất, quản lý và năng lực cạnh  
tranh của các doanh nghiệp trong nước còn nhiều hạn chế. Đây là một trong những nguyên nhân  
sâu xa làm cho nguồn thu NSNN ở Việt Nam trong thời gian qua còn chưa đảm bảo cơ cấu thu  
theo hướng bền vững.  
Hai là, hạn chế về năng lực cạnh tranh quốc gia. Báo cáo thường niên về năng lực cạnh tranh  
toàn cầu (2017 - 2018) được công bố tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) , mặc dù vị thế của Việt  
Nam đã có nhiều cải thiện, nhưng so về mức độ và thứ hạng cải thiện thì Việt Nam chỉ trên Lào,  
Campuchia và Philippines. Môi trường kinh doanh của Việt Nam còn nhiều hạn chế, chủ yếu là:  
Tiếp cận tài chính; Chất lượng nguồn nhân lực, vấn đề tham nhũng, đạo đức nghề nghiệp, quy định  
về thuế, cơ sở hạ tầng…  
Ba là, trụ cột tăng trưởng chưa thực sự bền vững, tập trung vào một số ngành, một số doanh  
nghiệp có số thu ngân sách lớn, sản phẩm xuất khẩu cao, đóng góp cho tăng trưởng nhiều.  
46  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ KINH DOANH BỀN VỮNG TRONG ĐIỀU KIỆN TOÀN CẦU HÓA  
Điều đó chưa làm nên tính bền vững của cả một nền kinh tế. Tính kết nối doanh nghiệp có  
vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp trong nước thực sự chưa hiệu quả; những doanh nghiệp lớn  
chưa tạo ra hiệu ứng lan tỏa và kết nối một chuỗi giá trị tạo liên kết với doanh nghiệp trong nước.  
Bốn là, quá trình chuyển đổi nhanh chóng của Việt Nam đang định hình lại những lựa  
chọn về chính sách tài khóa. Quá trình chuyển đổi của Việt Nam với đặc trưng là từng bước trở  
thành nước thu nhập trung bình, dân số già đi, mở cửa nhiều hơn, phân cấp nhanh hơn, cũng đem  
lại những thách thức mới cho các vấn đề tài chính - ngân sách. Đồng thời, sự chuyển đổi này dẫn đến  
nhu cầu chi tiêu tăng cao, nguồn thu tăng chậm lại và dư địa ngân sách bị thu hẹp. Mở cửa hội nhập  
sâu vào nền kinh tế thế giới dẫn đến nguồn thu từ hoạt động xuất nhập khẩu giảm, đồng thời cũng  
làm cho nền kinh tế dễ bị tổn thương trước các cú sốc bên ngoài. Chính sách tài khoá, bao gồm nhiều  
chính sách ưu đãi thuế nhằm đối phó tác động của các cú sốc, thúc đẩy đầu tư và tăng trưởng cũng  
tác động đến số thu trước mắt, dẫn đến tăng thu có xu hướng chậm lại trong những năm gần đây.  
Năm là, do hệ thống pháp lý và cơ chế chưa hoàn chỉnh, đồng bộ. Phạm vi điều tiết vĩ mô  
của các chính sách thu NSNN, nhất là các sắc thuế, còn hẹp, chưa bao quát được các hoạt động của  
nền kinh tế. Diện chưa thu thuế, ưu đãi thuế còn nhiều. Việc có danh mục ưu đãi thuế nhiều, phức  
tạp có thể dẫn đến cạnh tranh không bình đẳng và cũng gây khó khăn trong kiểm soát và quản lý  
thu thuế do phải xác định diện thu thuế và diện miễn thu thuế. Việc thực hiện miễn, giảm thuế, cắt  
giảm, bãi bỏ hàng trăm khoản phí, lệ phí, gia hạn thời hạn nộp thuế GTGT, TNDN, giảm thuế suất  
thuế TNDN cho các doanh nghiệp…. đã phần nào ảnh hưởng đến nguồn thu NSNN trong ngắn  
hạn.  
Sáu là, do quá trình hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng, trong đó việc thực  
hiện cắt giảm thuế suất theo các cam kết của các Hiệp định Thương mại tự do và các Hiệp định đối  
tác kinh tế khu vực và thế giới, dẫn đến việc cắt giảm nhiều dòng thuế nhập khẩu, làm giảm mạnh  
nguồn thu NSNN.  
Bảy là, do năng lực và tổ chức bộ máy quản lý thu thuế cũng như trình độ cán bộ thuế còn  
hạn chế. Điều này tạo thành những khó khăn nhất định cho cán bộ trong việc xây dựng luật pháp,  
hoạch định chính sách cũng như thực hiện việc quản lý đối với các yếu tố nước ngoài khi Việt Nam  
mở cửa, hội nhập. Một phần do hậu quả về cơ cấu của nền kinh tế và một phần do nguồn nhân lực  
chất lượng thấp nên công tác phối hợp tất cả các yếu tố hình thành nên một hệ thống hành chính  
về thuế hiệu quả gặp rất nhiều khó khăn.  
Tám là, do cơ chế phân phối thu nhập không đều, không đảm bảo sự cân bằng. Đây không  
phải là tình trạng riêng có ở Việt Nam mà ở các nước đang phát trển nói chung. Phân phối thu nhập  
không đều dẫn đến hai điều cần lưu ý: thứ nhất, phân phối đó đem lại nguồn thu thuế cao, những  
tầng lớp thu nhập cao bị đánh thuế cao hơn đáng kể so với tầng lớp thu nhập thấp. Hai là, do sức  
mạnh kinh tế, nhất là sức mạnh chính trị được tập trung vào tầng lớp thu nhập cao nên những người  
đóng thuế giàu có có khả năng ngăn chặn những cải cách thuế mà ảnh hưởng không tốt đến họ.  
Hơn nữa, với đặc điểm là một nước nông nghiệp, 80% dân số là nông dân, thu nhập của dân cư còn  
thấp, thu nhập từ tiền lương chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng thu nhập quốc dân nên dẫn đến kết  
quả tất yếu là số lượng đối tượng nộp thuế TNCN còn ít. Đồng thời, hệ thống thanh toán chủ yếu  
ở Việt Nam còn dưới hình thức tiền mặt đã hạn chế đến khả năng kiểm soát thu nhập, chi phí và  
các yếu tố liên quan đến việc xác định doanh thu tính thuế/thu nhập chịu thuế và số thuế phải nộp.  
47  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ KINH DOANH BỀN VỮNG TRONG ĐIỀU KIỆN TOÀN CẦU HÓA  
Điều này giải thích vì sao thuế thu nhập cá nhân và thuế tài sản ít khi được khai thác sử dụng và ở  
các nước đang phát triển và hệ thống thuế hiếm khi đạt được hiệu quả- đây là tình trạng chung ở  
các nước đang phát triển cũng như ở Việt Nam.  
Chín là, tình trạng thất thu thuế, nợ đọng thuế còn tiếp diễn. Lợi dụng tình hình kinh tế khó  
khăn, không ít doanh nghiệp đã gian lận thuế thông qua kê khai thu nhập giảm để nộp thuế ít, khai  
lỗ để trốn thuế. Đặc biệt, tình trạng chuyển giá ngày càng tinh vi, hiện tượng doanh nghiệp có vốn  
đầu tư nước ngoài kê khai lỗ khá phổ biến, trong đó có nhiều doanh nghiệp kê khai lỗ liên tục  
nhưng vẫn tiếp tục mở rộng kinh doanh.  
2. GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI CƠ CẤU THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM THEO HƯỚNG BỀN VỮNG  
Một là, để cải cách cơ cấu thu NSNN cần tập trung vào vấn đề quan trọng là đẩy mạnh cải  
cách cơ cấu kinh tế, duy trì nhịp độ tăng trưởng kinh tế ở mức 7 - 8%, trong đó giá trị sản xuất công  
nghiệp tăng 14 - 15%, giá trị dịch vụ tăng 8%. Trong một thời gian nhất định, với chính sách thu và  
chất lượng công tác quản lý thu tương đối ổn định thì kinh tế sẽ tăng trưởng cao và phát triển bền  
vững. Đây là yếu tố cơ bản và quan trọng nhất để tăng thu và cải cách cơ cấu nguồn thu ngân sách.  
Tuy nhiên, chính sách động viên của thuế cần tôn trọng kỷ luật tài chính tổng thể. Nguồn  
lực tài chính của nền kinh tế là giới hạn, do vậy mức huy động của thuế cũng phải có giới hạn.  
Với thực trạng là một nước đang phát triển, nhu cầu chi tiêu của ngân sách rất lớn và áp lực cân  
đối ngân sách là không nhỏ, nhưng không phải vì vậy mà tận thu để bù đắp chi. Làm như vậy sẽ  
phá vỡ tính kỷ luật tài chính tổng thể, gây kìm hãm, không kích thích đầu tư, tiết kiệm của doanh  
nghiệp và dân cư. Việc cải cách cơ cấu nguồn thu cần thực hiện từng bước theo định hướng.  
Theo đó, để tái cơ cấu nền kinh tế có hiệu quả nhằm tác động đến nguồn thu NSNN bền vững,  
cần thực hiện các giải pháp cơ bản sau đây:  
- Cải cách thể chế để tạo ra môi trường cạnh tranh hơn, sân chơi công bằng hơn, tránh tình  
trạng độc quyền. Cần có sự thay đổi quan điểm về vai trò của Nhà nước và khu vực Nhà nước trong  
nền kinh tế. Khu vực doanh nghiệp Nhà nước cần phải giảm thiểu và đi đến loại bỏ để nhường chỗ  
cho khu vực tư nhân đảm nhiệm vai trò chủ chốt tạo ra sản lượng.  
- Tái phân bổ nguồn lực. Cần tái phân bổ nguồn lực, chuyển dịch lao động dư thừa sang các  
khu vực có năng suất cao hơn. Cải thiện năng suất lao động thông qua các chuyển dịch từ khu vực  
có năng suất kém sang khu vực có giá trị gia tăng cao hơn. Hiện nay, lao động dư thừa đang nằm  
nhiều trong nông nghiệp và kinh tế cá thể, kinh tế hộ gia đình. Việc dư thừa này tạo điều kiện để  
tăng năng suất, tái phân bổ nguồn lực.  
- Hình thành xã hội sáng tạo. Cải thiện và thúc đẩy tăng năng suất lao động là một trong  
những vấn đề cốt lõi đối với nền kinh tế Việt Nam để thúc đẩy dự phát triển kinh tế, tăng nguồn thu  
bền vững cho NSNN. Tăng năng suất lao động là yếu tố quyết định đến sức cạnh tranh của doanh  
nghiệp và của nền kinh tế, năng suất lao động cao đồng nghĩa với phát triển nhanh và bền vững,  
chống tụt hậu so với các nước trong khu vực. Theo đó, sáng tạo là yếu tố then chốt thúc đẩy tăng  
trưởng và cần tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng, tích lũy vốn, phát triển nguồn nhân lực, định hướng  
xuất khẩu. Mọi sáng kiến dù là nhỏ nhất cũng cần được xã hội nuôi dưỡng và trân trọng mới có  
nền tảng để tăng năng suất lao động, thúc đẩy nền kinh tế phát triển bền vững.  
48  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ KINH DOANH BỀN VỮNG TRONG ĐIỀU KIỆN TOÀN CẦU HÓA  
- Phát triển khu vực tư nhân để trở thành cốt lõi của nền kinh tế. Việt Nam cần kiên trì theo  
đuổi mô hình tăng trưởng dựa trên nền tảng là năng suất lao động và đổi mới sáng tạo. Giải pháp  
nhanh và hiệu quả nhất là để tăng năng suất lao động là thu hút FDI vào các hoạt động dịch vụ,  
sản xuất công nghiệp và nông nghiệp có giá trị cao hơn. Đồng thời, kết nối những doanh nghiệp  
nhỏ và vừa trong nước với các tập đoàn đa quốc gia thông qua trao đổi thông tin, cải tiến kỹ năng  
và chuyển giao công nghệ.  
- Cần tạo ra hiệu ứng lan tỏa và kết nối một chuỗi giá trị tạo liên kết với giữa doanh nghiệp  
nước ngoài với doanh nghiệp trong nước, giữa doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp ngoài  
quốc doanh; Giữa các doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ và vừa… để đảm bảo sự phát triển  
kinh tế mang tính ổn định và bền vững.  
- Cần có những thay đổi theo hướng gia tăng yếu tố công nghệ để có thêm phần giá trị gia  
tăng và vị trí tốt hơn, cao hơn trong chuỗi giá trị sản phẩm. Cần có chiến lược phát triển công nghệ  
quốc gia rõ ràng với hệ thống các chính sách nhằm khuyến khích nhập, tiếp thu ứng dụng và phát  
triển công nghệ trong sản xuất. Điều này có ý nghĩa rất lớn vì nó sẽ tự động giải tỏa áp lực tăng  
trưởng phải dựa vào vốn, một nhược điểm lớn trong mô hình tăng trưởng hiện nay. Việc phát triển  
và ứng dụng công nghệ sẽ giúp cải thiện được cấu trúc của nền kinh tế dựa chủ yếu vào các lĩnh  
vực nguyên khai (khai khoáng và nông nghiệp). Thay vào đó tạo dựng và phát triển được lĩnh vực  
công nghệ chế tạo, một cơ sở quyết định cho tăng trưởng bền vững trong tương lai.  
- Chiến lược hướng về xuất khẩu theo hướng khai thác thị trường toàn cầu là yếu tố quan  
trọng để phát huy hết tiềm năng của nền kinh tế. Đầu tư công cần được thay đổi theo hướng giảm  
để nhường chỗ cho đầu tư tư nhân.  
Hai là, tăng cường thu NSNN từ nội lực nền kinh tế, giảm dần sự phụ thuộc từ các nguồn  
thu từ dầu thô. Cải cách thuế cần tập trung vào việc thu hẹp những bóp méo của thuế, đi đôi với  
việc mở rộng cơ sở thuế và giảm thuế suất. Đồng thời, chính sách thuế phải bao quát hết tất cả  
nguồn thu, cần đưa vào áp dụng các loại thuế mới để quản lý nguồn thu và nâng cao vai trò điều  
tiết. Rà soát lại các loại thuế đang áp dụng đối với từng lĩnh vực cụ thể để đảm bảo thu công bằng,  
thu nhiều hơn đối với những nhóm ngành nhiều lợi nhuận nhưng lại đóng góp thuế chưa tương  
xứng. Chú trọng thuế môi trường, thuế tài nguyên…  
Mở rộng cơ sở thu thuế GTGT: Thông lệ quốc tế thường chỉ có một mức thuế suất GTGT  
duy nhất và diện miễn giảm rất hạn chế. Trong khi đó, Việt Nam hiện quy định 26 nhóm mặt hàng  
không chịu thuế GTGT, 15 nhóm mặt hàng chịu thuế 5%, còn các mặt hàng còn lại chịu thuế 10%.  
Điều này không chỉ làm hẹp cơ sở thuế mà còn làm ngắt chuỗi khấu trừ đầu vào đầu ra thuế GTGT,  
gây phức tạp cho công tác quản lý. Để xử lý các vấn đề này, cần cân nhắc từng bước thu hẹp danh  
mục các mặt hàng không thuộc diện chịu thuế GTGT, chuyển các mặt hàng chịu thuế 5% sang 10%,  
tiến tới áp dụng thuế suất thuế GTGT duy nhất 10%. Các biện pháp này ước tính có thể giúp tăng thu  
thuế GTGT so hiện nay lần lượt là khoảng 1,3%, 0,4% và 11,1%.  
Mở rộng cơ sở thu thuế TNDN và rà soát các hình thức ưu đãi thuế : Việc rà soát và điều  
chỉnh hợp lý các quy định ưu đãi thuế là cần thiết nhằm phát huy đúng hiệu quả của các chính sách  
ưu đãi, tránh ưu đãi không phù hợp, dàn trải, gây lãng phí nguồn lực, đồng thời đảm bảo công khai,  
minh bạch và tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng hơn giữa các doanh nghiệp mà không làm ảnh  
49  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ KINH DOANH BỀN VỮNG TRONG ĐIỀU KIỆN TOÀN CẦU HÓA  
hưởng môi trường kinh doanh chung của Việt Nam, do mức thuế suất TNDN hiện nay đã giảm khá thấp  
và cạnh tranh so với các quốc gia khác. Ngoài sử dụng công cụ ưu đãi thuế, tăng cường cải thiện  
môi trường kinh doanh cũng là biện pháp quan trọng giúp thu hút đầu tư dựa trên lợi thế cạnh tranh  
thực sự của Việt Nam. Kết quả đánh giá một cách có hệ thống về tác động của các chính sách ưu  
đãi thuế đối với việc thu hút đầu tư và mở rộng cơ sở thuế cũng sẽ hỗ trợ cho các quyết định chính  
sách tài chính của Quốc hội và Chính phủ trong thời gian tới.  
Tăng thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt: Ở Việt Nam, thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt còn tương  
đối thấp đối với một số mặt hàng không khuyến khích tiêu dùng (ví dụ như thuốc lá, rượu, bia).  
Từng bước tăng thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt đối với những mặt hàng này không chỉ giúp huy  
động thu được cao hơn, mà còn hạn chế được những thói quen không lành mạnh. Từng bước mở  
rộng phạm vi áp dụng và tăng thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt đối với một số mặt hàng lựa chọn  
sẽ đem lại tác động tích cực đối với ngân sách về huy động thu, đồng thời thay đổi thói quen của  
người tiêu dùng theo hướng giảm tiêu dùng các mặt hàng không có lợi cho sức khỏe và môi trường.  
Ví dụ, Ngân hàng Thế giới ước tính một mức tăng hợp lý nhưng mạnh hơn so với tốc độ tăng thuế  
16  
suất thuế thuốc lá theo quy định hiện hành sẽ giúp tăng 12% số thu từ các sản phẩm thuốc lá chịu  
thuế tiêu thụ đặc biệt và giảm mức tiêu thụ thuốc lá trên mỗi người lớn khoảng 10%, từ năm 2016  
tới năm 2020.  
Mở rộng cơ sở thu thuế TNCN phù hợp với thông lệ quốc tế: Quy định hiện nay về việc  
xác định số thuế phải nộp theo các bậc thuế suất hiện còn phức tạp, bên cạnh đó chính sách thuế  
TNCN cũng chưa bao quát các nguồn thu nhập thuộc diện chịu thuế một cách hợp lý như thu nhập từ  
chuyển nhượng tài nguyên số, hoạt động thương mại điện tử hay thu nhập từ trúng thưởng xổ số với  
giá trị trúng thưởng lớn,... Trong thời gian tới, chính sách thuế TNCN cần được điều chỉnh theo  
hướng mở rộng cơ sở thu thuế, điều chỉnh số lượng thuế suất phù hợp với thu nhập chịu thuế và đối  
tượng nộp thuế để nâng cao tính tuân thủ pháp luật, khuyến khích tổ chức hoạt động theo hình thức  
doanh nghiệp, tăng cường tính minh bạch và tạo thuận lợi cho công tác quản lý thuế.  
Xây dựng hệ thống thuế tài sản hiện đại: Nghiên cứu, xây dựng chính sách thuế tài sản  
thống nhất thay cho chính sách thuế sử dụng đất phi nông nghiệp và thuế sử dụng đất nông nghiệp  
hiện hành, mở rộng đối tượng thu thuế tài sản đối với tài sản gắn liền với đất và các tài sản có giá  
trị khác, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam và thông lệ quốc tế, đưa  
thuế tài sản trở thành một trong những nguồn thu quan trọng và ổn định cho ngân sách nhà nước, đặc  
biệt là nguồn thu này cần được phân cấp cho ngân sách địa phương hưởng, đồng thời nâng cao động lực  
sử dụng đất đai và tài sản hiệu quả hơn.  
Hợp lý hóa các chính sách thu liên quan đến tài nguyên và bảo vệ môi trường: (a) Đối với  
thuế tài nguyên: cần sửa đổi, bổ sung để phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội, bảo  
vệ và sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên, thúc đẩy khai thác tài nguyên gắn liền với chế biến sâu,  
bảo vệ môi trường, hạn chế tối đa xuất khẩu tài nguyên chưa qua chế biến, góp phần khuyến khích khai  
thác hiệu quả, hợp lý, tiết kiệm và bền vững nguồn tài nguyên khoáng sản quốc gia; (b) Đối với thuế bảo  
vệ môi trường: cần nghiên cứu bổ sung đối tượng chịu thuế, thời điểm tính thuế, điều chỉnh khung, mức  
thuế suất đảm bảo phù hợp với chính sách phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn tới dựa theo mức  
độ gây tác động xấu đến môi trường của hàng hóa và các thông lệ quốc tế, khuyến khích sản xuất, sử  
dụng, tiêu dùng hàng hóa thân thiện với môi trường, góp phần động viên nguồn thu cho NSNN.  
50  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ KINH DOANH BỀN VỮNG TRONG ĐIỀU KIỆN TOÀN CẦU HÓA  
Bốn là, tăng cường các biện pháp quản lý của cơ quan thuế. Cần tiếp tục rà soát có hệ thống  
và thực hiện tái thiết kế quy trình nghiệp vụ, chuyển sang các hoạt động quản lý thuế dựa trên  
thông tin minh bạch và áp dụng kiểm tra dựa trên rủi ro để quản lý tuân thủ tốt hơn. Nếu được triển  
khai đầy đủ, các biện pháp trên không chỉ giúp tăng cường hiệu suất và hiệu quả quản lý thuế để  
tối đa hóa số thu mà còn giảm được chi phí tuân thủ cho người nộp thuế và cải thiện môi trường kinh  
doanh một cách căn bản. Các biện pháp cải cách khác cần được tiến hành bao gồm nghiên cứu khả  
thi để thành lập một bộ phận quản lý doanh nghiệp lớn theo đúng nghĩa, theo thông lệ quốc tế tốt nhất.  
Ngoài ra, Tổng cục Thuế cần tăng cường phối hợp với Quỹ bảo hiểm xã hội trong thu thuế TNCN  
và đóng góp bảo hiểm xã hội, theo hướng giao Tổng cục Thuế chịu trách nhiệm thu đóng góp bảo hiểm  
xã hội thay cho Quỹ bảo hiểm xã hội.  
Hiện đại hóa công tác quản lý thu (mở rộng thực hiện hóa đơn điện tử, khai thuế qua mạng  
cho các doanh nghiệp, triển khai nộp thuế điện tử…), đơn giản hóa thủ tục, rút ngắn thời gian, vừa  
tạo thuận lợi tối đa cho người nộp thuế, vừa tập trung đầy đủ kịp thời nguồn thu vào NSNN.  
Năm là, nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng tài sản công. Tài sản công là một bộ phận  
quan trọng trong tổng nguồn của cải của mỗi quốc gia. Quản lý và khai thác tài sản công tốt sẽ góp  
phần chống lãng phí, thất thoát, tham nhũng, phát huy nguồn lực nhằm tái tạo tài sản và phát triển kinh  
tế - xã hội, giảm thiểu rủi ro tài khóa, đặc biệt trong bối cảnh tình hình tài khóa gặp nhiều khó khăn,  
quá trình chuyển đổi mục đích và quyền sử dụng tài sản đang diễn ra nhanh chóng. Thông lệ quốc tế tốt  
cho thấy khai thác tốt hơn một đồng từ tài sản công sẽ giúp giảm vay nợ, tăng chi hay hạn chế đánh  
thuế một đồng tương ứng. Đây cũng là nội dung quan trọng góp phần thúc đẩy quá trình tái cấu  
trúc và chuyển đổi nền kinh tế theo hướng thị trường, khuyến khích đầu tư, đồng thời tăng niềm  
tin của người dân và cộng đồng quốc tế vào khả năng quản lý của quốc gia.  
Theo đó: (i) Phân loại tài sản công làm cơ sở cho việc thiết kế chính sách quản lý cho phù  
hợp, từ đó cải thiện, chuyên nghiệp hóa công tác quản lý; (ii) Chuyên nghiệp hóa công tác quản lý  
đặc biệt với tài sản mang tính thương mại; (iii) Tạo một khuôn khổ pháp lý và thể chế đồng bộ làm  
nền tảng cho việc cải thiện, chuyên nghiệp hóa công tác quản lý tài sản; (iv) Gắn giao quyền với  
việc tăng cường trách nhiệm giải trình về hiệu quả sử dụng tài sản công; (v) Cải thiện, tăng cường  
các hệ thống thông tin quản lý và báo cáo tài sản công;  
Sáu là, chú trọng hơn đến việc nuôi dưỡng nguồn thu và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ  
thống điều hòa ngân sách. Cần tạo ra các động lực mới để kích thích kinh tế phát triển, thông qua  
việc ưu tiên đầu tư hơn vào các ngành kinh tế có tiềm năng (như đã thảo luận các phần trên). Các  
biện pháp này sẽ giúp duy trì động lực tăng trưởng công bằng của quốc gia đồng thời đem lại tác  
động tích cực qua các chính sách tái phân phối giữa các địa phương. Rủi ro hiện nay là khoảng  
cách giữa địa phương nghèo và địa phương khá giả ngày càng rộng ra, vì các địa phương nghèo kém  
phát triển về kinh tế do vậy có xu hướng thu kém hơn. Cần có cơ chế hợp lý hơn để các địa phương  
nghèo không trở nên phụ thuộc nhiều hơn vào nguồn bổ sung của ngân sách trung ương.  
Cần nâng cao tự chủ về thu và tiềm năng thu của các địa phương. Trong giai đoạn 2011-2015,  
theo phân cấp ngân sách, có 13 trên 63 địa phương có khả năng chủ động cân đối được ngân sách của  
mình và có điều tiết về ngân sách trung ương. Các địa phương còn lại (50 địa phương), mặc dù đã  
được giữ lại toàn bộ số thu trên địa bàn (trừ thu từ dầu thô và thu xuất nhập khẩu) nhưng vẫn phải  
nhận bổ sung cân đối từ ngân sách trung ương để đảm bảo nhiệm vụ chi, bình quân lên đến 40% tổng  
51  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ KINH DOANH BỀN VỮNG TRONG ĐIỀU KIỆN TOÀN CẦU HÓA  
chi của các địa phương đó.  
Do vậy, để nâng cao tự chủ về thu và tiềm năng thu của các địa phương: (i) Thứ nhất là cần  
cân nhắc tạo thêm cơ hội nâng cao tự chủ về thu cho các địa phương. Chẳng hạn như áp dụng thuế  
bất động sản hiện đại (là sắc thuế rất phổ biến ở cấp địa phương trên toàn thế giới), tạo điều kiện  
cho phép các tỉnh áp dụng một cách thận trọng phụ thu trên một số sắc thuế (như thuế thu nhập cá  
nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế tiêu thụ), đồng thời nâng cao tự chủ cho các địa phương  
trong việc xác định mức phí trên địa bàn. Các biện pháp đó có thể giúp đem lại nguồn lực bổ sung,  
đặc biệt ở các địa phương có tiềm năng tăng trưởng cao. (ii) Hai là, cơ chế phân chia nguồn thu  
đối với một số sắc thuế lớn cũng cần được rà soát lại để công bằng và minh bạch hơn. Theo kinh  
nghiệm quốc tế, cơ chế phân chia nguồn thu công bằng hơn sẽ khuyến khích địa phương phát  
triển kinh tế đồng đều hơn. Theo Luật NSNN (2015), thuế gián thu (như thuế GTGT và TTĐB)  
vẫn được phân chia ở địa phương có cơ sở sản xuất trong khi đó đây thực chất là thuế hàng hóa  
do người tiêu dùng (ở các địa phương) nộp. Khuyến nghị ở đây là cần tiếp tục nghiên cứu phương  
thức phân chia các nguồn thu này một cách hợp lý hơn. Theo kinh nghiệm quốc tế, một số nước  
phân chia nguồn thu từ thuế GTGT dựa trên công thức (ví dụ theo dân số ở địa phương, GDP và/  
hoặc mức tiêu dùng theo đầu người).  
KẾT LUẬN  
Bài viết phân tích thực trạng cơ cấu thu ngân sách ở Việt Nam trong giai đoạn 2006- 2018, chỉ  
ra những kết quả đạt được, các hạn chế và nguyên nhân của cơ cấu thu ngân sách ảnh hưởng đến  
tính bền vững của NSNN. Một số giải pháp được bài viết đề xuất như hoàn thiện hệ thống chính  
sách thuế để tăng thu NSNN theo hướng mở rộng phạm vi áp dụng, mở rộng cơ sở thuế, thu hẹp  
các trường hợp ưu đãi thuế…. hay hiện đại hóa công tác quản lý thuế; cải cách cơ cấu kinh tế theo  
hướng tăng trưởng bền vững… là những giải pháp mà bài viết cũng chú trọng nhằm đổi mới cơ  
cấu thu ngân sách ở Việt Nam theo hướng bền vững.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1.Bộ Tài Chính, Báo cáo Dự toán/Quyết toán thu NSNN qua các năm 2006- 2018.  
2.Bộ trưởng Bộ Tài Chính Đinh Tiến Dũng (2019), Hoàn thiện hệ thống chính sách thuế để  
cơ cấu lại nguồn thu ngân sách bền vững, Tạp chí Cộng sản, số 924, tháng 8/2019.  
3.Nghị Quyết số 07-NQ/TW ngày 18/11/2016 của Bộ Chính trị về chủ trương, giải pháp cơ  
cấu lại NSNN, quản lý nợ công để đảm bảo nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững.  
4.Vụ Chính sách Thuế, Bộ Tài Chính (2019), Cái cách chính sách thuế góp phần thúc đẩy  
đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế, Diễn đàn Tài Chính Việt Nam tháng 9/2019.  
5.Vương Thị Thu Hiền (2008), Cải cách hệ thống chính sách thuế ở Việt Nam trong điều kiện  
gia nhập WTO, Luận án tiến sỹ kinh tế tại Học viện Tài Chính.  
pdf 13 trang yennguyen 13660 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đổi mới cơ cấu thu ngân sách nhà nước ở Việt Nam theo hướng bền vững", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdoi_moi_co_cau_thu_ngan_sach_nha_nuoc_o_viet_nam_theo_huong.pdf