Cơ sở ngôn ngữ học đối với việc nhận thức các khái niệm cơ bản của phong cách học

No.18_Oct 2020|Số 18 – Tháng 10 năm 2020|p.66-71  
DOI:  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC TÂN TRÀO  
ISSN: 2354 - 1431  
CƠ SỞ NGÔN NGỮ HỌC ĐỐI VỚI VIỆC NHẬN THỨC  
CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA PHONG CÁCH HỌC  
Hoàng Tất Thắng1*  
1 Đại học Khoa học Huế  
Thông tin bài viết  
Tóm tắt  
Xuất phát từ nguyên lí về tính võ đoán của tín hiệu ngôn ngữ, đồng thời đi sâu  
khai thác một trong những hệ quả của tính võ đoàn - tồn tại các biến thể, bài  
báo đã phân tích và chứng minh sự hình thành của khái niệm ý nghĩa tu từ.  
Đồng thời nhận thức một cách sâu sắc nội dung khái niệm ý nghĩa tu từ và các  
đặc điểm của nó.  
Ngày nhận bài:  
07/8/2020  
Ngày duyệt đăng:  
20/9/2020  
Tương tự, xuất phát từ tiền đề về lí thuyết giao tiếp, mà cụ thể là đặc điểm ba  
dạng lời nói cơ bản - lời nói hoàn toàn nói về đối tượng, lời nói không hoàn  
toàn nói về đối tượng và lời nói hoàn toàn không nói về đối tượng, bài báo đã  
đi sâu phân tích đặc điểm của mỗi dạng lời nói. Từ đó, bài báo trình bày nhận  
thức về nội dung khái niệm “quy tắc tu từ”.  
Từ khóa:  
ngôn ngữ học, phong cách  
học, ý nghĩa tu từ, quy tắc  
tu từ, tính võ đoán.  
Việc nhận thức đúng nội dung và đặc điểm của các khái niệm “ý nghĩa tu từ”  
và “quy tắc tu từ” sẽ là tiền đề, là cơ sở hình thành phương pháp phân tích  
phong cách học nói chung, phân tích ý nghĩa tu từ và quy tắc tu từ nói riêng,  
trong nghiên cứu và giảng dạy văn học ở nhà trường hiện nay.  
1. MỞ ĐẦU  
Khi nghiên cứu các vấn đề thuộc bình diện phong  
cách học, một trong những nội dung cơ bản mà người  
nghiên cứu cần phải nhận thức một cách đầy đủ là ba  
khái niệm cơ bản của phong cách học (ý nghĩa tu từ,  
quy tắc tu từ và phong cách ngôn ngữ). Các công  
trình nghiên cứu về phong cách học tiếng Việt từ  
trước đến nay, ở những mức độ khác nhau, đã đề cập  
đến các khái niệm này. Có thể kể đến các công trình  
như “Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt”  
(1992) của Cù Đình Tú, “Phong cách học tiếng Việt”  
(1995) của Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hòa,  
“Giáo trình Phong cách học tiếng Việt hiện đại”  
(2003) của Hoàng Tất Thắng, “Từ điển tu từ-phong  
cách, thi pháp học” của Nguyễn Thái Hòa, “Phong  
cách học và các phong cách chức năng tiếng Việt ”  
(2000) của Nguyễn Hữu Đạt, “Phong cách học tiếng  
Việt hiện đại” (2013) của Nguyễn Thế Truyền,...  
Khi trình bày các khái niệm nói trên, các tác giả  
thường chỉ tập trung làm sáng tỏ hai vấn đề chính: a)  
Các khái niệm nghĩa tu từ, quy tắc tu từ, phong cách  
ngôn ngữ là gì? b) Phân tích một số ví dụ cụ thể để  
minh họa. Việc nhận thức nội dung các khái niệm  
như trên sẽ gặp khó khăn khi nhận diện và vận dụng  
các phương pháp để phân tích các sự kiện ngôn ngữ  
cụ thể trong giao tiếp. Về nội dung của các khái niệm  
“ý nghĩa tu từ”, “quy tắc tu từ”, “phong cách chức  
năng ngôn ngữ”, các tài liệu của các nhà nghiên cứu  
nhìn chung đã trình bày khá rõ ràng, đầy đủ. Tuy  
nhiên, cơ sở lí thuyết ngôn ngữ học để nhận thức nội  
dung các khái niệm ấy thì hầu như các tác giả chưa  
thực sự quan tâm (nói đúng hơn là quan tâm chưa  
đúng mức). Cũng như các nhà nghiên cứu phê bình  
ngữ văn thường đã trình bày một cách khá đầy đủ nội  
H.T.Thang/ No.18_Oct 2020|p.66-71  
hai mặt của tín hiệu ngôn ngữ (mặt biểu đạt/CBĐ và  
dung các đặc trưng thẩm mỹ của ngôn ngữ thơ ca  
như: ngôn ngữ thơ ca giàu nhạc điệu, ngôn ngữ thơ  
ca giàu hình ảnh, ngôn ngữ thơ ca mang tính tổng  
hợp, hàm súc,... Nhưng lí giải cơ sở ngôn ngữ học  
của các đặc trưng thẩm mỹ đó thì các nhà nghiên cứu  
ngữ văn cũng chưa quan tâm đúng mức.  
mặt được biểu đạt/CĐBĐ) là mối quan hệ “không có  
lí do”, “không giải thích được” (F. de Saussure).  
Cũng theo F. de Saussure, nguyên lí tính võ đoán  
của tín hiệu ngôn ngữ dẫn đến “hệ quả nhiều vô kể”.  
Một trong những hệ quả đó chính là tín hiệu ngôn  
ngữ hình thành các biến thể.  
Việc nhận thức nội dung các khái niệm cơ bản  
của phong cách học phải nhằm đạt được các mục  
đích sau đây: a) Nguồn gốc hình thành nội dung khái  
niệm của các hiện tượng tu từ. b) Nhận diện chính  
xác sự tồn tại của các hiện tượng tu từ. c) Vận dụng  
đúng phương pháp phân tích phong cách học nói  
chung, các hiện tượng tu từ nói riêng.  
Tín hiệu ngôn ngữ có hai mặt là CBĐ và CĐBĐ,  
vì vậy hình thành hai loại biến thể: biến thể về CBĐ  
và biến thể về CĐBĐ. Biến thể về CBĐ nghĩa là  
cùng một nội dung nhưng tương ứng với nhiều hình  
thức khác nhau, cùng một ý nghĩa nhưng được biểu  
đạt bằng nhiều hình thức âm thanh khác nhau. Thực  
chất của biến thể về CBĐ chính là sự tồn tại của các  
hiện tượng đồng nghĩa. Biến thể về CĐBĐ nghĩa là  
cùng một hình thức nhưng biểu thị nhiều nội dung  
khác nhau, cùng một hình thức âm thanh nhưng biểu  
thị nhiều ý nghĩa khác nhau. Thực chất của biến thể  
về CĐBĐ chính là sự tồn tại các hiện tượng đồng âm  
và đa nghĩa.  
Vì vậy, bài viết này sẽ đi sâu khai thác cơ sở  
ngôn ngữ học trong việc nhận thức nội dung các  
khái niệm “ý nghĩa tu từ” và “quy tắc tu từ”. Các dẫn  
chứng tiếng Việt sẽ là nguồn ngữ liệu để phân tích và  
chứng minh các nội dung trên.  
2. NỘI DUNG  
2.1 Về khái niệm “ý nghĩa tu từ”  
2.1.2. Ý nghĩa tu từ được nảy sinh trên cơ sở các  
hình thức biểu đạt đồng nghĩa  
Khái niệm Ý nghĩa tu từ (rhetorical meaning), một  
số tác giả còn gọi là sắc thái tu từ, màu sắc tu từ  
(rhetorical colour, là một trong ba khái niệm cơ bản  
của phong cách học. Tuy quan niệm của mỗi tác giả  
có đôi chỗ khác nhau do góc nhìn khác nhau nhưng  
đều thống nhất ở những đặc trưng bản chất của khái  
niệm. Chẳng hạn, Nguyễn Thái Hòa quan niệm  
“Màu sắc tu từ (phong cách) là lượng nghĩa bổ sung  
có tính chất xã hội và tâm lí cho một thông báo cơ  
sở: tính chất xã hội là những quy ước tập thể trong  
sử dụng ngôn ngữ và tính chất tâm lí là những biểu  
hiện tình cảm, những cảm xúc của cá nhân trong  
việc sử dụng ngôn ngữ” [3,138] . Trong khi Hữu Đạt  
lại tách ra thành hai khái niệm - màu sắc tu từ và  
màu sắc phong cách: “Màu sắc phong cách là khái  
niệm gắn với phong cách ngôn ngữ, tức là gắn với  
một phong cách chức năng cụ thể. Còn màu sắc tu từ,  
trái lại, gắn liền với phong cách lời nói (…) Màu sắc  
phong cách là cái có tính chất ổn định tương đối và  
có giá trị thong dụng. Màu sắc tu từ là cái hình thành  
có tính chất lâm thời.” [2,40-41]…Vấn đề quan trọng  
không phải ở chỗ định nghĩa Ý nghĩa tu từ là gì mà  
quan trọng ở chỗ ý nghĩa tu từ hình thành từ đâu và  
hình thành như thế nào? Nói cách khác là cơ cở lí  
thuyết ngôn ngữ học để nhận thức nội dung khái  
niệm ý nghĩa tu từ.  
Như đã phân tích ở 2.1.1, ý nghĩa tu từ chỉ có thể  
nảy sinh trên cơ sở các hình thức biểu đạt đồng  
nghĩa. Tuy nhiên, các hình thức đồng nghĩa tồn tại  
dưới hai dạng: dạng cố định và dạng lâm thời.  
Dạng cố định (chuẩn mực) là dạng tồn tại có sẵn,  
do tập thể người nói tạo ra, cùng chấp nhận và cùng  
sử dụng, không mang sắc thái tu từ - biểu cảm.  
Chẳng hạn, các từ hy sinh, tạ thế, chết, băng hà, viên  
tịch,... là những từ đồng nghĩa cố định. được cộng  
đồng sử dụng như nhau ở mọi nơi, mọi lúc. Mỗi từ  
dùng để chỉ một lớp đối tượng riêng: hi sinh (người  
lính chết ở chiến trường), băng hà (các bậc vua chúa  
chết), viên tịch (giới tu hành chết),...  
Dạng lâm thời (lệch chuẩn) là dạng tồn tại do mỗi  
cá nhân sáng tạo ra trong từng văn cảnh cụ thể, xuất  
phát từ mục đích tu từ - biểu cảm riêng, được cộng đồng  
chấp nhận nhưng không cùng sử dụng. Vì vậy, dạng  
lâm thời luôn luôn mang đậm sắc thái tu từ - biểu cảm.  
Ví dụ 1  
“Người là Cha, là Bác, là Anh  
Quả tim lớn lọc trăm dòng máu nhỏ  
Người ngồi đó với cây chì đỏ  
Vạch đường đi từng bước, từng giờ” (Tố Hữu)  
2.1.1 Nguyên lí về tính võ đoán của tín hiệu  
ngôn ngữ  
Ngay ở câu thơ đầu tiên đã tồn tại các từ đồng  
nghĩa lâm thời: Người, Cha, Bác và Anh. Bởi vì các  
từ ấy vốn là những danh từ mang nghĩa định danh  
khác nhau, nhưng trong văn cảnh cụ thể này, tác giả  
Một trong những thuộc tính bản chất của tín hiệu  
ngôn ngữ là tính võ đoán, nghĩa là mối quan hệ giữa  
H.T.Thang/ No.18_Oct 2020|p.66-71  
đã lâm thời vận dụng chúng với chức năng xưng hô  
vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc - Chủ tịch Hồ Chí  
Minh, đồng thời bày tỏ tình cảm và lòng biết ơn vô  
hạn đối với công lao trời biển của Người.  
(tất cả đều nhằm gọi tên một đối tượng – Chủ tịch Hồ  
Chí Minh, vị lãnh tu kính yêu của dân tộc). Mỗi cách  
gọi mang một sắc thái nghĩa khác nhau (sẽ phân tích  
sắc thái nghĩa ở phần sau).  
Hiện tượng đồng nghĩa lâm thời cũng được thể  
hiện ở hai dạng thức. Dạng thứ nhất là các hình thức  
biểu đạt đồng nghĩa đều cùng tồn tại trên lời nói  
(thông qua các cách tu từ như đồng nghĩa kép và biến  
thể cùng nghĩa, so sánh tu từ,...). Dạng thứ hai là một  
hình thức đồng nghĩa tồn tại tường minh và hình thức  
đồng nghĩa khác tồn tại hàm ẩn (thông qua các cách  
tu từ như ẩn dụ tu từ, hoán dụ tu từ, nhân hóa,...). Có  
thể chứng minh luận điểm trên thông qua hai ví dụ về  
so sánh tu từ và ẩn dụ tu từ sau đây:  
Vì vậy, có thể nói, ý nghĩa tu từ được nảy sinh  
trên cơ sở các hình thức biểu đạt đồng nghĩa lâm  
thời. Chẳng hạn, ta có thể hình dung có 4 hình thức  
biểu đạt đồng nghia: A, Ai, Aii và Aiii. Tất cả 4 hình  
thức đồng nghĩa ấy đều có chung một ý nghĩa là (a):  
A(a), Ai(a), Aii(a) và Aiii(a). Ý nghĩa (a) được gọi là  
ý nghĩa lô gich, có mặt trong tất cả các hình thức  
biểu đạt đồng nghĩa. Ý nghĩa này chỉ phản ánh  
những đặc điểm lô gich – khách quan, vốn có của đối  
tượng. Bên cạnh ý nghĩa (a), mỗi hình thức đồng  
nghĩa còn mang kèm theo một ý nghĩa riêng mà các  
hình thức đồng nghĩa khác không có: A(a-x), Ai(a-y),  
Aii(a-m) và Aiii(a-n). Các ý nghĩa “x, y, m, n” được  
gọi là ý nghĩa tu từ. Ý nghĩa này không phản ánh  
những đặc điểm lô gich – khách quan, vốn có của đối  
tượng mà biểu thị thái độ, cảm xúc, cách nhìn, sự  
đánh giá chủ quan của người nói đối với đối tượng  
được nói đến; nói cách khác, nhằm mục đích tu từ-  
biểu cảm.  
a) Ở dạng thứ nhất, ví dụ 2:  
“Quê hương là chùm khế ngọt” (Đỗ Trung Quân)  
Hai hình ảnh “quê hương” và “chùm khế ngọt” là  
những hình thức đồng nghĩa lâm thời cùng tồn tại  
tường minh trên lời nói. Qua câu thơ trên, nhà thơ đã  
thiết lập một phương trình A(x) = B(x), nghĩa là hai  
hình ảnh “quê hương” và “chùm khế ngọt” đều có  
một đặc điểm giống nhau, đó là “hương vị ngọt  
ngào”. Chỉ khác nhau ở chỗ (sắc thái tu từ - biểu  
cảm) là “hương vị ngọt ngào” của chùm khế ngọt là  
hương vị ngọt ngào của vật chất, trong khi “hương vị  
ngọt ngào” của quê hương là hương vị ngọt ngào của  
tinh thần, tình cảm, tâm trạng. Có thể nói, bằng thủ  
pháp nghệ thuật so sánh tu từ, nhà thơ đã hình tượng  
hóa một khái niệm trừu tượng “quê hương”. Thông  
qua hình ánh so sánh chùm khế ngọt, người tiếp nhận  
sẽ cảm nhận và nhận thức một cách sâu sắc thuộc  
tính bản chất của đối tượng được so sánh quê hương.  
Trở lại với ví dụ 1, bốn từ đồng nghĩa lâm thời  
“Người, Cha, Bác, Anh” đều tồn tại hai loại ý nghĩa:  
ý nghĩa lô gich và ý nghĩa tu từ. Như đã phân tích,  
bốn từ Người, Cha, Bác, Anh trong đoạn thơ trên đều  
có cùng một ý nghĩa lô gich là gọi tên một đối tượng  
– Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ kính yêu của dân  
tộc. Bên cạnh ý nghĩa lô gich ấy, mỗi từ còn mang  
kèm một ý nghĩa riêng mà các từ khác không có:  
b) Ở dạng thứ hai, ví dụ 3:  
- Người: biểu thị lòng thành kính, thiêng liêng đối  
“Nếu đi chệch khỏi tính đảng sẽ sa vào vũng bùn  
của chủ nghĩa cá nhân tư sản”  
với Bác.  
- Cha: biểu thị tình cảm và lòng biết ơn về người  
đã có công khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng  
hòa, nhà nước dân chủ mới đầu tiên ở Đông Nam Á.  
(Trường Chinh)  
Bằng thao tác tư duy liên tưởng, hình ảnh ẩn dụ  
“vũng bùn” đồng nghĩa với đối tượng “hệ ý thức tư  
tưởng và quan điểm”, trong đó, “vũng bùn” tồn tại  
tường minh, “hệ ý thức tư tưởng và quan điểm” của  
chủ nghĩa cá nhân tư sản tồn tại hàm ẩn. Tác giả đã  
thiết lập một cấu trúc so sánh ngầm:  
- Bác: biểu thị tình cảm và lòng biết ơn về người  
thuộc thế hệ cách mạng tiền bối, đã có công dìu dắt  
con thuyền cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi.  
- Anh: biểu thị quan hệ tình cảm giữa vị lãnh tụ  
với toàn thể nhân dân Việt Nam thân thiết như ruột  
thịt, như người thân trong gia đình.  
B(x) vũng bùn (cặn bã)  
A(x) hệ ý thức tư tưởng và quan điểm (cặn bã)  
Các ý nghĩa riêng của mỗi từ nói trên chính là ý  
nghĩa tu từ, biểu thị thái độ, cách nhìn, tình cảm và  
cảm xúc của nhà thơ Tố Hữu cũng như nhân dân Việt  
Nam đối với Bác Hồ. Với việc nhận thức và cảm  
nhận ý nghĩa tu từ như trên, ta có thể nói rằng, chỉ  
bằng câu thơ đầu tiên (Người là Cha, là Bác, là Anh)  
nhà thơ đã phác thảo một cách đầy đủ bức chân dung  
Như vậy, qua hình ảnh ẩn dụ vũng bùn, người đọc  
có thể liên tưởng và hiểu được rằng “Nếu đi chệch  
khỏi tính đảng sẽ sa vào hệ ý thức tư tưởng và quan  
điểm của chủ nghĩa cá nhân tư sản”. Hai đối tượng  
vũng bùn và hệ ý thức tư tưởng và quan điểm của chủ  
nghĩa cá nhân tư sản giống nhau ở đặc điểm đều là  
thứ cặn bã. Chỉ khác một điều (ý nghĩa tu từ): vũng  
H.T.Thang/ No.18_Oct 2020|p.66-71  
[3,19]. Tác giả Cù Đình Tú cũng có quan niệm tương  
bùn là thứ cặn bã về vật chất, trong khi hệ ý thức tư  
tưởng và quan điểm của chủ nghĩa cá nhân tư sản là  
thứ cặn bã về tinh thần. So với cặn bã về vật chất thì  
loại cặn bã về tinh thần vô cùng nguy hiểm và gây  
tác hại vô cùng to lớn, cần phải cảnh giác phòng  
tránh và loại bỏ. Như vậy, với thủ pháp nghệ thuật ẩn  
dụ tu từ, tác giả đã hình tượng hóa một đối tượng vô  
hình, trừu tượng là hệ ý thức tư tưởng và quan điểm  
của chủ nghĩa cá nhân tư sản.  
tự: “Quy tắc tu từ là những cách thức vận dụng các  
đơn vị ngôn ngữ một cách đặc biệt, không bình  
thường, lặp đi lặp lại, nhằm tạo nên sự mới mẻ cho  
lời nói.” [6, 135]  
Tuy nhiên, điều quan trọng cần nhận thức là ở  
chỗ, nội dung của khái niệm “quy tắc tu từ” được  
hình thành như thế nào, từ cơ sở nào?  
2.2.1 Các dạng lời nói cơ bản  
2.1.3 Nội dung khái niệm “ý nghĩa tu từ”  
Theo tác giả Nguyễn Phan Cảnh (1987), tất cả  
những lời nói mà con người nói ra hoặc viết ra  
(trong hoạt động giao tiếp hàng ngày đều có thể quy  
về ba dạng lời nói cơ bản:  
Những phân tích ở trên dẫn đến việc nhận thức  
nội dung khái niệm “ý nghĩa tu từ” như sau: Ý nghĩa  
tu từ là phần ý nghĩa riêng (bổ sung) kèm theo phần ý  
nghĩa lô gich trong nội dung biểu đạt của các  
phương tiện ngôn ngữ.  
a) Lời nói hoàn toàn nói về đối tượng  
b) Lời nói không hoàn toàn nói về đối tượng  
c) Lời nói hoàn toàn không nói về đối tượng  
- Lời nói hoàn toàn nói về đối tượng là lời nói mà  
nội dung chỉ phản ánh những đặc điểm lô gich -  
khách quan của đối tượng (mang ý nghĩa lô gich –  
thực tại), không kèm theo bất kì một sắc thái chủ  
quan nào của người nói đối với đối tượng được nói  
đến.  
Khác với ý nghĩa lô gich của đơn vị ngôn ngữ, ý  
nghĩa tu từ có các đặc điểm sau đây:  
a) Ý nghĩa tu từ là phần ý nghĩa riêng (bổ sung)  
chứ không phải là ý nghĩa phụ, bởi vì trong nhiều  
trường hợp giao tiếp, ý nghĩa tu từ lại trở thành ý  
nghĩa trung tâm, là mục đích của sự biểu đạt, đặc biệt  
là trong lĩnh vực giao tiếp nghệ thuật.  
Chẳng hạn, khi ta đọc một câu trong tài liệu  
chuyên môn về ngôn ngữ học: “Âm vị là đơn vị phát  
âm - thính giác nhỏ nhất, có giá trị khu biệt, được  
phân xuất từ một chuỗi lời nói.”  
b) Ý nghĩa tu từ là ý nghĩa liên tưởng, hình thành  
trong từng văn cảnh cụ thể, phụ thuộc vào khả năng  
liên tưởng, cảm nhận của mỗi người tiếp nhận.  
c) Ý nghĩa tu từ là loại ý nghĩa văn cảnh nên rất  
tinh tế, sâu kín, khó phát hiện, vì nó không phải do ý  
nghĩa tự thân của các phương tiện ngôn ngữ mang lại.  
Lời nói trên là một định nghĩa về âm vị (một loại  
đơn vị của ngôn ngữ). Lời nói này ngoài nội dung  
biểu thị những thuộc tính bản chất bên trong của âm  
vị thì không thể hiện bất kì một thái độ, cảm xúc,  
cách nhìn hoặc sự đánh giá chủ quan nào của ngời  
nói. Vì vậy, về hình thức, từ ngữ, câu văn, phải chuẩn  
mực, đúng văn phạm.  
Những đặc điểm trên dẫn đến phương pháp và  
những yêu cầu khi phân tích ý nghĩa tu từ. Phương  
pháp chủ đạo trong phân tích ý nghĩa tu từ là thao tác  
tư duy liên tưởng, so sánh và đối lập (so sánh, đối  
lập các hình thức biểu đạt đồng nghĩa). Trên thực tế,  
các hình thức biểu đạt đồng nghĩa có thể cùng tồn tại  
tường minh ở trên lời nói (như các quy tắc so sánh tu  
từ, đồng nghĩa kép và biến thể cùng nghĩa,...) hoặc  
vừa tồn tại tường minh, vừa tồn tại hàm ẩn (như các  
quy tắc ẩn dụ, hoán dụ,...).  
Xét về nội dung ý nghĩa, lời nói hoàn toàn nói về  
đối tượng chỉ biểu thị một loại ý nghĩa là ý nghĩa lô  
gich thực tại (phản ánh những đặc điểm lô gich  
khách quan của đối tượng).  
- Lời nói không hoàn toàn nói về đối tượng là lời  
nói bên cạnh nội dung phản ánh những đặc điểm lô  
gich-khách quan của đối tượng (mang ý nghĩa lô gich  
– thực tại), còn kèm theo sắc thái chủ quan của  
người nói đối với đói tượng được nói đến (biểu thị  
thái độ, cảm xúc, cách nhìn hoặc sự đánh giá chủ  
quan của ngời nói).  
2.2 Về khái niệm “quy tắc tu từ”  
Khái niệm “quy tắc tu từ” (rhetorical principle)  
hay còn gọi là “biện pháp tu từ” (rhetorical means),  
“phương thức tu từ” (figures of style) cũng được các  
nhà nghiên cứu quan niệm theo những cách nhìn  
khác nhau. Đồng quan điểm với Đinh Trọng Lạc,  
Nguyễn Thái Hòa cho rằng: “Biện pháp tu từ là  
những cách phối hợp sử dụng trong lời nói các  
phương tiện ngôn ngữ (không kể là trung hòa hay  
diễn cảm) để tạo ra hiệu quả tu từ (tức tác dụng gợi  
hình, gợi cảm, nhấn mạnh, làm nổi bật,…) do sự tác  
động qua lại của các yếu tố trong một ngữ cảnh rộng”  
So sánh hai hình thức biểu đạt cùng nghĩa sau  
đây:  
a) Cô ấy nước da ngăm đen.  
b) Cô ấy nước da không được trắng cho lắm.  
Rõ ràng cả hai hình thức biểu đạt cùng một nội  
dung lô gich-thực tại là “nêu ra nhận xét về nước da  
của một người con gái”. Tuy nhiên, ở hình thức (a),  
H.T.Thang/ No.18_Oct 2020|p.66-71  
ngoài nhận xét lô gich khách quan ấy, người nói  
rằng “nguyên nhân sâu xa dẫn đến cuộc hôn nhân tan  
vỡ chính là lễ giáo phong kiến, là nguyên nhân khiến  
cho bao cuộc tình đầy nước mắt”.  
không kèm theo sắc thái chủ quan nào. Về hình thức,  
cấu trúc của câu nói là cấu trúc chuẩn mực. Ở hình  
thức (b), bên cạnh nội dung lô gich khách quan ấy,  
người nghe còn nhận ra sắc thái chủ quan về thái độ,  
cảm xúc của người nói “mối quan hệ tình cảm giữa  
người nói với cô gái ấy là trên mức bình thường,  
người nói rất trân trọng cô gái ấy và không muốn làm  
tổn thương mối quan hệ tình cảm giữa mình và cố gái  
ấy”. Để thể hiện sắc thái đánh giá chủ quan của mình,  
người nói phải lựa chọn một hình thức không chuẩn  
mực (còn gọi là lệch chuẩn) “ ... không được.... cho  
lắm”. Hình thức này thường được gọi là cách tu từ  
uyển ngữ hay nói giảm, nói tránh.  
Để biểu hiện các nội dung thuộc về tình cảm, cảm  
xúc, tâm trạng (các đối tượng vô hình, trừu tượng),  
người nói thường vận dụng thủ pháp hình tượng hóa  
thông qua các hình ảnh so sánh, ẩn dụ, hoán dụ,...  
Nói cách khác, các cách tu từ như so sánh, ẩn dụ,  
hoán dụ,... là những cách thức của lời nói nhằm biểu  
hiện thế giới nội tâm của con người.  
Xét về nội dung ý nghĩa, lời nói hoàn toàn không  
nói về đối tượng biểu thị hai loại ý nghĩa: ý nghĩa mỹ  
học và ý nghĩa tu từ-biểu cảm. Ý nghĩa mỹ học là ý  
nghĩa liên tưởng (ý nghĩa văn cảnh) do hệ thống hình  
ảnh mang lại; ý nghĩa tu từ-biểu cảm do việc lựa  
chọn hệ thống hình ảnh của người nói mang lại.  
Xét về nội dung ý nghĩa, lời nói không hoàn toàn  
nói về đối tượng bên cạnh biểu thị ý nghĩa lô gich –  
thực tại còn kèm theo ý nghĩa tu từ-biểu cảm (biểu  
thị thái độ, cảm xúc, cách nhìn hoặc sự đánh giá chủ  
quan của ngời nói).  
2.2.2 Nội dung khái niệm “quy tắc tu từ”  
Từ việc phân tích đặc điểm của ba dạng lời nói cơ  
bản ở trên, ta thấy, ở dạng lời nói hoàn toàn nói về  
đối tượng là dạng lời nói chuẩn mực, không tồn tại  
hình thức biểu đạt đặc biệt, không bình thường (nói  
cách khác là cách tu từ). Ở dạng lời nói không hoàn  
toàn nói về đối tượng, do nhu cầu biểu thị thái độ,  
cảm xúc, cách nhìn chủ quan của người nói, nên về  
hình thức đã tồn tại các yếu tố đặc biệt, không bình  
thường (cách tu từ uyển ngữ hay nói giảm, nói tránh).  
Ở dạng lời nói hoàn toàn không nói về đối tượng, do  
nhu cầu hình tượng hóa các đối tượng vô hình, trừu  
tượng (không gian, thời gian, tâm trạng, thế giới nội  
tâm của con người,...), nên về hình thức biểu đạt đã  
tồn tại một hệ thống các hình ảnh tu từ (so sánh, ẩn  
dụ, hoán dụ,...), các cách thức biểu đạt đặc biệt,  
không bình thường.  
- Lời nói hoàn toàn không nói về đối tượng là lời  
nói về hình thức ngôn từ phản ánh các đối tượng vật  
chất trong thế giới hiện thực khách quan, nhưng nội  
dung lại biểu hiện thế giới nội tâm của con người.  
Nói cách khác, đây là lời nói dùng hình ảnh để biểu  
hiện thế giới nội tâm (tình cảm, cảm xúc, tâm trạng)  
của con người.  
Ví dụ 4:  
“Thầy mẹ cho em sang một chuyến đò nghiêng  
Thuyền chòng chành đôi mạn em ôm duyên trở  
về” (Ca dao)  
Thoạt đầu ta cứ tưởng rằng cô gái dân gian đang  
kể về câu chuyện đi đò qua sông (!). Nhưng khi nghe  
đến kết hợp “ôm duyên trở về” thì câu chuyện đi đò  
ấy không còn tồn tại. Các từ ngữ “chuyến đò  
nghiêng”, “thuyền chồng chành đôi mạn”, “ôm  
duyên trở về” đã trở thành các hình ảnh biểu trưng  
cho những đối tượng thuộc về tình cảm, cảm xúc nào  
đó. Chính kết hợp “ôm duyên” đã biến đổi các từ ngữ  
nói trên trở thành các hình ảnh, đồng thời là định  
hướng và giới hạn của sự liên tưởng về nghĩa biểu  
trưng ở người tiếp nhận đối với các hình ảnh đó.  
Vì vậy, ở dạng lời nói hoàn toàn nói về đối  
tượng không tồn tại các quy tắc tu từ. Ở dạng lời nói  
không hoàn toàn nói về đối tượng đã xuất hiện các  
yếu tố (cách thức) tu từ và đặc biệt là ở dạng lời nói  
hoàn toàn không nói về đối tượng tồn tại dày đặc các  
quy tắc tu từ.  
Đến đây, có thể nhận thức nội dung khái niệm  
“quy tắc tu từ” như sau: Quy tắc tu từ là những cách  
thức lựa chọn và vận dụng các phương tiện ngôn ngữ  
một cách đặc biệt, không bình thường, lặp đi lặp lại,  
nhằm tạo ra những lời nói mang ý nghĩa tu từ-biểu  
cảm và ý nghĩa mỹ học.  
Theo định hướng và giới hạn của tư duy liên  
tưởng ở trên, người tiếp nhận hiểu được rằng: nghĩa  
biểu trưng của hình ảnh chuyến đò nghiêng là “cuộc  
hôn nhân không cân xứng”, nghĩa biểu trưng của  
hình ảnh thuyền chòng chành đôi mạn là “cuộc hôn  
nhân tan vỡ”, nghĩa biểu trưng của hình ảnh ôm  
duyên trở về là “ôm mối hận tình”. Từ những ý nghĩa  
biểu trưng do các hình ảnh mang lại, người tiếp nhận  
lần lượt nhận thức được rằng đây là “lời than trách  
của người con gái khi cuộc hôn nhân không thành”,  
Nhận thức nội dung khái niệm “quy tắc tu từ” như  
trên có ý nghĩa quan trọng đối với phương pháp phân  
tích các quy tắc tu từ nói riêng, phân tích phong cách  
học nói chung.  
Thứ nhất, trong hệ thống các phong cách chức  
năng tiếng Việt thì phong cách ngôn ngữ hành chính  
H.T.Thang/ No.18_Oct 2020|p.66-71  
tích đặc điểm chúng. Kết quả phân tích cho thấy hai  
tuyệt nhiên không vận dụng các quy tắc tu từ. Trái  
lại, phong cách ngôn ngữ nghệ thuật lại xem việc vận  
dụng các quy tắc tu từ là nguyên tắc sống còn trong  
sáng tác văn chương. Bởi vì, quy tắc tu từ không chỉ  
có tác dụng giúp cho người nói giải quyết được mâu  
thuẫn giữa sự hữu hạn về số lượng của các đơn vị  
ngôn ngữ và sự vô hạn về nhu cầu biểu đạt của con  
người mà còn giúp cho người nói biểu thị những  
trạng thái tâm lí-cảm xúc một cách chính xác nhất,  
tinh tế nhất và sâu sắc nhất.  
dạng lời nói không hoàn toàn và hoàn toàn không  
nói về đối tượng luôn luôn nhằm mục đích tu từ-biểu  
cảm, vừa làm cho lời nói sinh động, gợi cảm, giàu  
hình ảnh, vừa cô đọng, hàm súc về ý nghĩa. Đó là cơ  
sở để nhận thức nội dung khái niệm “quy tắc tu từ”.  
Việc nhận thức đúng nội dung và đặc điểm của  
các khái niệm “ý nghĩa tu từ” và “quy tắc tu từ” sẽ là  
tiền đề, là cơ sở hình thành phương pháp phân tích  
phong cách học nói chung, phân tích ý nghĩa tu từ và  
quy tắc tu từ nói riêng, trong nghiên cứu và giảng dạy  
văn học ở nhà trường hiện nay.  
Thứ hai, các quy tắc tu từ mà người nói lựa chọn và  
vận dụng trong giao tiếp là vô cùng đa dạng và phong  
phú, thể hiện trên các cấp độ ngữ âm, từ vựng và ngữ  
pháp của ngôn ngữ. Vai trò, tác dụng của các quy tắc tu  
từ ở các cấp độ ngôn ngữ thể hiện rất khác nhau. Vì vậy,  
khi phân tích, cần phải nhận diện xem quy tắc tu từ ấy  
thuộc cấp độ nào của ngôn ngữ cũng như cách thức cấu  
tạo của chúng; đồng thời phải gắn quy tắc tu từ ấy trong  
mối liên hệ biện chứng với văn cảnh cụ thể. Bởi vì, nếu  
tách khỏi văn cảnh cụ thể thì dù cách thức biểu đạt ấy có  
kĩ thuật kĩ xảo như thế nào chăng nữa cũng chỉ như  
những “cái xác không hồn”.  
REFERENCES  
[1] Nguyen Phan Canh, Poetic Language,  
University and High School Publishing House,  
Hanoi, 1978.  
[2] Huu Dat, Learning styles and functional styles  
in Vietnamese, Culture-Information Publishing  
House, Hanoi, 2000.  
[3] Nguyen Thai Hoa, Vocabulary - Style  
Dictionary, Poetry Study, Educational Publishing  
House, Hanoi 2005.  
[4] Dinh Trong Lac-Nguyen Thai Hoa,  
Vietnamese Language Learning Style, Educational  
Publishing House, Hanoi, 1995.  
3. Kết luận  
Xuất phát từ nguyên lí về tính võ đoán của tín  
hiệu ngôn ngữ, chúng tôi đã phân tích và chứng minh  
sự hình thành khái niệm ý nghĩa tu từ cũng như các  
đặc điểm của nó. Tương tự, xuất phát từ tiền đề lí  
thuyết giao tiếp, cụ thể là mô hình ba dạng lời nói cơ  
bản ( lời nói hoàn toàn nói về đối tượng, lời nói  
không hoàn toàn nói về đối tượng và lời nói hoàn  
toàn không nói về đối tượng), bài viết đã đi sâu phân  
[5] Hoang Tat Thang, Modern Vietnamese  
Learning Style, Educational Publishing House,  
Hanoi, 2003.  
[6] Cu Dinh Tu, Vietnamese language learning  
styles and rhetoric characteristics, Educational  
Publishing House, Hanoi, 1992.  
LINGUISTIC BASE FOR THE ACQUISITION OF FUNDAMENTAL CONCEPTS  
OF STYLISTICS HOANG TAT THANG – HUE UNIVERSITY OF SCIENCES  
Article info  
Abstract  
Depending on the principal of arbitrariness of linguistic semiotics, as well as  
exploring one of consequences of the arbitrariness that is existence of variants, the  
article analyses and demonstrates the formation of concepts of rhetorical meaning.  
Also, it presents a profound understanding of rhetorical meaning concepts and  
their characteristics.  
Recieved:  
07/8/2020  
Accepted:  
20/9/2020  
Likewise, based on the theory of three basic speech acts – which are speech  
referring to the subject entirely, speech referring to the subject incompletely, and  
speech not referring to the subject, this article analyses characteristics of every  
speech act. Based on this analysis, the article presents further understanding of  
contents of rhetorical principle concepts.  
Keywords:  
linguistics, stylistics,  
rhetorical meaning,  
rhetorical principle,  
arbitrariness.  
The accurate acquisition of contents and characteristics of concepts of rhetorical  
meanings and principles is fundamental for formation of analytical methods in  
stylistics in general, and in rhetorical meanings and principles in particular, in  
researching and teaching literature in schools today.  
pdf 6 trang yennguyen 16700 Free
Bạn đang xem tài liệu "Cơ sở ngôn ngữ học đối với việc nhận thức các khái niệm cơ bản của phong cách học", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfco_so_ngon_ngu_hoc_doi_voi_viec_nhan_thuc_cac_khai_niem_co_b.pdf