Bài giảng Nghệ thuật lãnh đạo - Chương 2: Các đặc điểm, hành vi và các mỗi liên hệ

Khóa 31k thang 9/2008  
Chương 2  
CÁC ĐẶC ĐIỂM, HÀNH VI VÀ CÁC MỖI LIÊN HỆ  
“Sau khi đọc xong chương này bạn sẽ có thể  
- Nhận diện các đặc trưng cá nhân và các đặc điểm liên quan đến lãnh  
đạo có hiệu quả.  
- Nhận thức được sự đối lập giữa hành vi lãnh đạo độc đoán và dân chủ  
và tác động của mỗi cách thức đó.  
- Biết được sự khác biệt giữa phong cách lãnh đạo định hướng vào con  
người và định hướng vào công việc và xem xét khi nào thì nên dùng  
phong cách lãnh đạo nào là thích hợp nhất  
- Hiểu được thuyết lãnh đạo cá nhân có tác dụng tăng cường mối quan  
hệ cam kết giữa lãnh đạo và nhân viên như thế nào  
- Biết được cần phải làm gì để sự cộng tác trở nên hiệu quả hơn.  
Mở đầu  
Những nhà lãnh đạo xuất sắc gần như chắc chắn xuất hiện với những đặc  
điểm như: can đảm, tự chủ, nỗ lực, nghị lực, và sự sẵn sàng đương đầu với  
những rủi ro. Có lẽ một phần của những đặc điểm cá nhân làm cho họ trở  
thành một nhà lãnh đạo giỏi. Thật vậy, những đặc điểm cá nhân là những gì  
mà những nhà nghiên cứu lãnh đạo đầu ngày trước đã nghĩ đến. Nhiều nhà  
lãnh đạo có những đặc điểm mà các nhà nghiên cứu cho là có tác động mạnh  
mẽ đến việc lãnh đạo của họ.  
Những đặc điểm của nhà lãnh đạo thể hiện qua những chuẩn mực hành vi  
của họ. Do đó, nhiều nhà nghiên cứu đã tìm hiểu hành vi của nhà lãnh đạo  
để xác định những đặc điểm hành vi của phong cách lãnh đạo và những hành  
vi đặc biệt có thể làm nên hiệu quả của lãnh đạo. Sau đó nghiên cứu lý  
thuyết hành vi giữa người lãnh đạo và mỗi nhân viên của họ, nêu lên sự khác  
biệt giữa hành vi lãnh đạo trực tiếp và lãnh đạo nhóm.  
Chương này sẽ cung cấp một cách tổng quát những nghiên cứu sơ khai về  
lãnh đạo của thế kỷ 20. Chúng ta sẽ tìm hiểu sự phát triển của cách tiếp cận  
đặc điểm, cách tiếp cận hành vi và giới thiệu các thuyết cá nhân về lãnh đạo.  
Cách giải thích dựa trên nghiên cứu này về đặc điểm và hành vi lãnh đạo là  
cơ sở cho lĩnh vực nghiên cứu lãnh đạo và việc giải thích sự thành công  
cũng như thất bại trong lãnh đạo.  
Trang 1  
Khóa 31k thang 9/2008  
1. CÁCH TIẾP CẬN LÃNH ĐẠO DỰA VÀO ĐẶC ĐIỂM  
1.1. Sự phát triển của cách tiếp cận đặc điểm  
Hình ảnh những người lãnh đạo xuất sắc đã lưu lại trong tâm trí những  
người phục tùng bằng những đặc điểm khiến họ kính trọng và ủng hộ. Có lẽ  
vì thế, các nghiên cứu trước đây, người ta đã cố gắng giải thích thành công  
của lãnh đạo chủ yếu dựa trên đặc điểm cá nhân của người lãnh đạo. Những  
đặc điểm hay những đặc trưng cá nhân đó là những nét tính cách riêng  
thường thấy ở những nhà lãnh đạo như: sự thông minh, chân thành, tự chủ,  
và tướng mạo.  
Cách tiếp cận dựa vào đặc điểm hay còn gọi là cách tiếp cận Vĩ Nhân xuất  
hiện từ đầu thế kỷ 20. Xuất phát điểm của cách tiếp cận này là những nghiên  
cứu, tìm hiểu về những nhà lãnh đạo đã thành công nhất định ở mức độ nhất  
định. Tư tưởng chủ yếu của cách tiếp cận này cho rằng một số người sinh  
ra vốn đã có sẵn những đặc điểm của nhà lãnh đạo.  
Thuyết Vĩ Nhân cố gắng tìm ra những đặc điểm khác biệt của một nhà lãnh  
đạo so với người bình thường. Đáng tiếc là các nghiên cứu theo hướng tiếp  
cận này nhiều nhất cũng chỉ có thể đưa ra những mối liên hệ không chặt chẽ  
giữa một vài đặc điểm cá nhân với việc trở thành người lãnh đạo thành công.  
Thật vậy, sự đa dạng về những đặc điểm của những nhà lãnh đạo thành công  
đã chỉ ra rằng khả năng lãnh đạo không phải là một cái gì đó thiên phú.  
Sự tiến bộ của ngành tâm lý học vào những năm 40-50 của thế kỷ 20 đã giúp  
những nhà nghiên cứu theo cách tiếp cận đặc điểm phát triển hơn nữa các  
nghiên cứu của họ về các đặc điểm cá nhân qua các bài trắc nghiệm kỹ năng  
và tâm lý. Những nghiên cứu này đã nhận thấy những đặc điểm cá nhân như  
tính sáng tạo, tính tự chủ; những đặc điểm sinh lý như tuổi tác, sức khỏe; các  
đặc điểm về khả năng như sự hiểu biết, khả năng nói trôi chảy; những đặc  
điểm về xã hội như mức độ được yêu mến, sự thân thiện; và những đặc điểm  
liên quan đến công việc như sự khao khát được khẳng định, tính kiên trì.  
Trong đó, các nhà lãnh đạo hữu hiệu thường được nhìn nhận qua việc họ đã  
thực hiện được những điều đặc biệt, giữ vị trí cao trong một tổ chức hay  
hưởng mức lương cao hơn những người cùng địa vị.1  
Các nghiên cứu của Stogdill năm 1948 đã khám phá ra một vài đặc điểm có  
liên quan đến hiệu quả của công tác lãnh đạo như sự thông minh, sáng tạo,  
khả năng gây ảnh hưởng, sự tự tin, khả năng chịu trách nhiệm,và sự chính  
trực. Song chính ông vẫn cho rằng tác động của những đặc điểm đó phụ  
thuộc rất nhiều vào hoàn cảnh. Chẳng hạn như sự sáng tạo sẽ đem lại hiệu  
quả cho nhà lãnh đạo nếu ở trong tình huống này, nhưng trong tình huống  
1
Yukl, Leadership in Organizations, 254.  
Trang 2  
Khóa 31k thang 9/2008  
khác thì nó có thể không thích hợp. Vì vậy, những đặc điểm cá nhân đó  
không thể bảo đảm cho sự thành công  
Một số ít các nhà nghiên cứu theo cách tiếp cận này vẫn duy trì các công  
trình của mình cho đến những năm 1970, cuối cùng họ cũng chỉ có thể kết  
luận rằng ngoài những đặc điểm đã nêu có thể kể đến các đặc điểm khác như  
khả năng làm việc độc lập, và khả năng chịu đựng căng thẳng. Tuy nhiên,  
như Stogdill vẫn nhấn mạnh, giá trị thực tế của những đặc điểm này hay  
khuynh hướng thay đổi của chúng phụ thuộc vào tình huống của tổ chức.2  
Bảng 2. 1 Những đặc điểm cá nhân của nhà lãnh đạo  
Những đặc điểm cá nhân  
Nghị lực  
Sức chịu đựng của cơ thể  
Sự thông minh và khả năng nhận thức  
Sự hiểu biết  
Những đặc điểm xã hội  
Tính cộng đồng,kỹ năng giao tiếp  
Sự sẵn sàng hợp tác  
Khả năng hợp tác không giới hạn  
Tài ứng biến,tài ngoại giao  
Những đặc điểm liên quan đến công  
việc  
Óc phán đóan,sựdứt khoát  
Tính cách  
Tự tin  
Năng lực, có ước muốn vươn lên  
Trách nhiệm trong việc hoàn thành mục  
tiêu  
Chân thành và liêm chính  
Nhiệt tình  
Có ước muốn lãnh đạo  
Độc lập  
Đương đầu với thử thách  
Sự kiên quyết  
Môi trường xã hội  
Giáo dục  
Linh động  
Tóm lại, cách tiếp cận đặc điểm là bộ phận quan trọng của những nghiên cứu  
về lãnh đạo trong suốt thế kỷ 20. Theo cách tiếp cận này có một số đặc điểm  
cốt yếu để đạt được sự lãnh đạo hữu hiệu, nhưng chỉ trong trường hợp nó  
phải kết hợp với những nhân tố khác. Bảng 2.1 đưa ra một số đặc điểm và  
phạm trù tương ứng được xác định bởi nghiên cứu đặc điểm qua nhiều năm.  
Một vài đặc điểm được xem là cốt yếu đó là sự tự tin, thật thà và chính trực,  
và có năng lực  
1.2. Các đặc điểm của người lãnh đạo  
Kết quả của cách tiếp cận đặc điểm là đã mô tả được những đặc điểm hay  
những đức tính rất quan trọng thường ẩn chứa trong nhiều nhà lãnh đạo đã  
đạt được những thành công. Có thể đây không phải là hoàn toàn phổ biến ở  
2
R. M. Stogdill, Handbook of Leadership: A Survey of the Literature  
(New York:Free Press, 1974); and Bernard M. Bass, Bass & Stogdill’s  
Handbook of Leadership: Theory, Research, and Managerial Applications,  
3rd ed. (New York:  
The Free Press, 1990)  
Trang 3  
Khóa 31k thang 9/2008  
tất cả những nhà lãnh đạo thành công, và cũng không có quan hệ chặt với  
lãnh đạo hữu hiệu, song bài học rút ra cho các nhà lãnh đạo từ những nghiên  
cứu theo cách tiếp cận này đó là có những đặc tính quan trọng mà nhà lãnh  
đạo nên có.  
Tính cách tự tin. Tự tin được hiểu là sự tin tưởng của ai đó vào sự nhìn  
nhận, ra quyết định, ý kiến và năng lực của chính mình. Một nhà lãnh đạo  
với sự nhận thức đúng đắn về bản thân sẽ biểu lộ một cách chắc chắn khả  
năng của mình, nhờ đó truyền dẫn niềm tin đến cho người phục tùng, chiếm  
được sự tôn trọng và ngưỡng mộ, và khiến mọi người sẵn sàng đương đầu  
với thử thách.  
Thật vậy, người lãnh đạo thực sự rất cần tự tin. Nhà lãnh đạo là người khởi  
đầu sự thay đổi và họ cũng thường phải ra quyết định mà không có đầy đủ  
thông tin, hơn nữa, họ phải giải quyết các vấn đề. Nếu chính họ không có sự  
tự tin để tiến lên và tin rằng mọi thứ sẽ ổn, thì chỉ một sai lầm nhỏ ở một  
quyết định không quan trọng cũng có thể làm nhà lãnh đạo lâm vào thế bị  
động. Nhà lãnh đạo tự tin phải dám vượt qua thất bại, phải chấp nhận những  
rủi ro…. Tự tin chính là một đức tính có thể giúp cho nhà lãnh đạo vượt qua  
các thử thách.  
Tính trung thực và chính trực. Tính trung thực chính là sự thật thà và  
không lừa dối. Phẩm chất này khiến cho người lãnh đạo trở nên cởi mở, và  
những người phục tùng luôn nhận thấy họ đang được quan tâm.  
Tính chính trực là tính cách của nhà lãnh đạo được tích hợp và dựa trên  
những nguyên tắc đạo đức vững chắc, họ hành động gắn với những nguyên  
tắc đó.  
Nhà lãnh đạo được ngưỡng mộ, tôn trọng, trung thành bởi họ đã thuyết phục  
được mọi người bằng những hành động hằng ngày của mình. Tính trung  
thực và chính trực tạo nên niềm tin giữa nhà lãnh đạo và những người phục  
tùng. Nhà lãnh đạo không thể tạo dựng niềm tin, thiết lập các quan hệ nếu  
chính trong bản thân họ không có tính trung thực và chính trực.  
Ngày nay, người ta thường thận trọng với quyền lực và hay lầm lẫn trong  
việc sử dụng quyền hành, và những người phục tùng muốn người lãnh đạo  
phải giữ chuẩn mực cao và ủng hộ họ qua hoạt động hằng ngày.  
Những nhà lãnh đạo thành công phải có tính kiên định cao, và phải thực hiện  
chính xác, ngay lập tức những gì mà họ hứa là sẽ làm. Những nhà lãnh đạo  
như vậy sẽ dễ dàng tạo được lòng tin. Họ có những nguyên tắc cơ bản và áp  
dụng chúng một cách thích hợp. Một cuộc khảo sát đã được thực hiện với  
1500 nhà lãnh đạo về đức tính gì là đáng quý nhất đối với một người lãnh  
đạo, thì người ta đã trả lời rằng đó chính là sự chính trực. Các tác giả đã thực  
hiện khảo sát này kết luận rằng trung thực là điều tối cốt yếu trong lãnh đạo.  
Xét cho cùng, nếu chúng ta quyết chí phục tùng ai đó, bất kể là bước vào  
Trang 4  
Khóa 31k thang 9/2008  
một cuộc chiến hay là trong phòng họp của ban giám đốc, điều đầu tiên mà  
chúng ta muốn là được đảm bảo rằng người đó đáng để chúng ta trung thành.  
Chúng ta muốn những người đó phải là những người đáng để tin cậy, có đạo  
đức, và có nguyên tắc. Chúng ta muốn có thể hoàn toàn tin tưởng vào sự  
chính trực của người lãnh đạo chúng ta.3  
Nghị lực. Phẩm chất thứ ba được coi là cốt yếu cho sự lãnh đạo hiệu lực  
chính là nghị lực. Nghị lực được xem như là động lực để tạo ra nỗ lực cao  
độ của nhà lãnh đạo. Những nhà lãnh đạo mang trong mình nghị lực tìm  
kiếm những thành tích cao, họ thường có năng lực và sự kiên trì, họ cũng  
thường được coi là có tham vọng, sáng tạo để đạt được mục tiêu của mình.  
Những nhà lãnh đạo thành công thường là do họ theo đuổi đến cùng những  
mục tiêu của mình. Tham vọng có thể giúp họ đạt được những mục tiêu  
thách thức và luôn sáng tạo để đạt được những mục tiêu đó.  
Nghị lực cao cũng đòi hỏi một sức khỏe tốt. Những nhà lãnh đạo làm việc  
nhiều giờ quanh năm suốt tháng. Họ phải có sức chịu đựng và phải mạnh  
khỏe để kiểm soát sự tiến triển, những yêu cầu và những thách thức của việc  
lãnh đạo. Hơn nữa, những nhà lãnh đạo cũng phải thường xuyên có trách  
nhiệm khởi xướng những kế hoạch mới cũng như các hướng dẫn để thực  
hiện kế hoạch thành công hoàn toàn.  
Những đặc điểm như sự nghị lực, tự tin, và chính trực có tác động rất lớn  
đến các nhà lãnh đạo. Tất nhiên, nếu chỉ có những đặc điểm này cũng không  
thể tạo nên sự lãnh đạo hiệu quả.  
Dù cho cách tiếp cận đặc điểm không hoàn toàn khẳng định tất cả các đặc  
điểm có thể giúp nhà lãnh đạo trở nên hữu hiệu. Song điều rõ ràng mà chúng  
ta có kết luận là những phẩm chất của nhà lãnh đạo có ý nghĩa quyết định  
chất lượng của tổ chức. Một nhà lãnh đạo mà không thông minh, đạo đức, và  
kinh nghiệm thì không thể mong đợi thành công. Tất nhiên, hoàn cảnh cũng  
ảnh hưởng đến kết quả. Song những nhà lãnh đạo tốt có thể thành công trong  
hoàn cảnh bất lợi, còn những nhà lãnh đạo kém thì có thể thất bại ngay cả  
trong những điều kiện thuận lợi.  
Vì vậy, muốn trở thành những nhà lãnh đạo tốt phải không ngừng hoàn thiện  
mình, hạn chế những thiếu sót có thể làm hỏng những nỗ lực của mình. Khi  
tất cả các yếu tố khác là như nhau, thì đặc điểm của nhà lãnh đạo đóng góp  
vào thành công của tổ chức.  
3
James M. Kouzes and Barry Z. Posner, Credibility: How Leaders Gain and  
Lose  
It, Why People Demand It (San Francisco: Jossey-Bass Publishers, 1993),  
14.  
Trang 5  
Khóa 31k thang 9/2008  
2. TIẾP CẬN HÀNH VI  
Tiếp cận hành vi cho rằng bất cứ ai có những hành vi thích hợp đều có thể  
trở thành một nhà lãnh đạo tốt. So với cách tiếp cận đặc điểm, cách tiếp cận  
hành vi đã được nghiên cứu hơn. Điều quan trọng bởi vì các hành vi có thể  
học tập được một cách dễ dàng hơn là những đặc điểm.  
2.1. Phong cách lãnh đạo độc đoán và lãnh đạo dân chủ.  
Nghiên cứu tạo tiền đề cho tiếp cận hành vi đã nhận ra phong cách lãnh đạo  
độc đoán và dân chủ.  
Phong cách lãnh đạo độc đoán: có khuynh hướng tập trung quyền lực và có  
được quyền hành dựa trên vị trí của người lãnh đạo, có quyền khen thưởng  
và gây áp lực.  
Phong cách lãnh đạo dân chủ: sử dụng cách phân quyền cho người khác,  
khuyến khích sự tham gia, tin tưởng vào sự hiểu biết của nhân viên trong  
việc hòan thành nhiệm vụ, và có sự ảnh hưởng dựa trên sự kính trọng của  
cấp dưới.  
Kurt Lewin và những người cộng tác ở đại học Iowa đã tập trung nghiên cứu  
các nhóm trẻ khác nhau với những nhà lãnh đạo có phong cách độc đoán và  
dân chủ để tìm ra sự ảnh hưởng của phong cách lãnh đạo đến hoạt động và  
hiệu quả của tổ chức.  
Những nhóm có lãnh đạo độc đoán chỉ thực hiện công việc tốt khi người  
lãnh đạo có mặt để giám sát. Dù vậy, các thành viên trong nhóm cảm thấy  
không hài lòng với cách lãnh đạo độc đoán của người lãnh đạo và thường  
xuất hiện cảm giác chống đối.  
Việc thực hiện công việc của những nhóm có nhà lãnh đạo theo kiểu dân chủ  
thì hầu hết là tốt, và những nhóm này có đặc điểm là tích cực thay vì chống  
đối. Hơn nữa, dưới sự lãnh đạo của phong cách dân chủ, những thành viên  
trong nhóm thực hiện công việc tốt ngay cả khi vắng mặt người lãnh đạo.  
Phương pháp tham gia và ra quyết định theo nguyên tắc đa số dưới sự hướng  
dẫn của người lãnh đạo và sự đóng góp của nhân viên đã làm cho công việc  
được thực hiện tốt dù có hay không có sự hiện diện của người lãnh đạo.  
Những đặc điểm này của cách lãnh đạo dân chủ đã giải thích vì sao khuynh  
hướng phân quyền cho nhân viên trở nên phổ biến ngày nay.  
Cách tiếp cận này cũng ngụ ý rằng cách thức của các nhà lãnh đạo có thể  
đồng thời có sự độc đoán và dân chủ. Tuy nhiên những nghiên cứu sâu hơn  
của Tannenbaum và Schmidt đề cập đến sự tác động theo những hướng khác  
nhau do có sự tham gia của nhân viên đến hành vi lãnh đạo. Vì vậy một  
người lãnh đạo có thể trở nên độc đoán (tập trung vào người chủ), người  
khác thì trở nên dân chủ (tập trung vào nhân viên), hoặc có sự trung hòa giữa  
hai phong cách. Sự lãnh đạo liên tiếp được minh họa ở hình 2. 2  
Trang 6  
Khóa 31k thang 9/2008  
Tannenbaum và Schmidt cũng cho rằng người lãnh đạo hướng vào người  
chủ hay hướng vào nhân viên phụ thuộc vào hòan cảnh của tổ chức, và  
người lãnh đạo có thể điều chỉnh hành vi của họ để phù hợp với hòan cảnh.  
Chẳng hạn, khi có áp lực về thời gian với người lãnh đạo, hoặc nếu như mất  
rất nhiều thời gian để cho cấp dưới học cách ra quyết định, thì người lãnh  
đạo thường sử dụng phong cách lãnh đạo độc đoán. Khi những nhân viên có  
khả năng học cách ra quyết định một cách dễ dàng, kiểu lãnh đạo tham gia  
có thể được sử dụng. Vì vậy, khi càng cần nhiều kỹ năng khác nhau, thì càng  
phải lãnh đạo theo kiểu độc đoán, vì nhân viên khó có thể đạt được sự tinh  
thông như người lãnh đạo.  
.
Những phát hiện trong nghiên cứu của đại học Michigan chỉ ra rằng hành vi  
lãnh đạo đã có tác động rõ ràng đến kết quả như mức độ thực hiện công việc  
và thỏa mãn. Một điều quan trọng nữa là sự nhận định việc lãnh đạo hiệu  
quả phản ánh hành vi của người lãnh đạo chú không chỉ có những đặc điểm  
cá nhân của người lãnh đạo. Sự nhận thức này đã đem lại một sự trọng tâm  
cho những nghiên cứu sau này của tiếp cận hành vi.  
2.2. Phong cách quan tâm và cấu trúc  
Những nhà nghiên cứu ở đại học Ohio cũng đã sớm có những nghiên cứu về  
hành vi lãnh đạo. đã tiến hành khảo sát dựa trên bản câu hỏi mô tả về hành  
vi lãnh đạo. Sau khi liệt kê ra 2000 hành vi lãnh đạo, người ta đã thu hẹp lại  
thành 150 hành vi lãnh đạo cuối cùng và thiết kế bảng câu hỏi phát cho  
người lao động. Hàng trăm người lao động đã trả lời rằng các chuẩn mực về  
hành vi phụ thuộc vào mức độ đa dạng của những hành vi mà nhà lãnh đạo  
của họ thực hiện. Kết quả, các nhà nghiên cứu đã phân loại hai nhóm chính  
của hành vi lãnh đạo, và gọi đó là phong cách hay kiểu hành vi quan tâm và  
cấu trúc.  
Phong cách quan tâm (consideration) chỉ mức độ mà nhà lãnh đạo thông  
cảm với cấp dưới, tôn trọng những ý kiến và tình cảm của họ, và thiết lập sự  
tin cậy lẫn nhau. Các nhà lãnh đạo với phong cách này sẽ đưa ra đánh giá,  
tích cực lắng nghe các vấn đề và cho phép nhân viên tham gia vào những  
quyết định quan trọng.  
Phong cách cấu trúc khởi xướng hay cấu trúc, mô tả mức độ một nhà  
lãnh đạo định hướng vào công việc và giám sát những hoạt động của nhân  
viên nhằm đạt được mục tiêu. Những hành vi lãnh đạo dạng này bao gồm  
việc phân công nhiệm vụ, khuyến khích mọi người làm việc chăm chỉ hơn,  
lập kế hoạch và lịch làm việc cụ thể cho các hoạt động của công việc, đề ra  
những qui tắc nghiêm ngặt.  
Trang 7  
Khóa 31k thang 9/2008  
Mặc dù, nhiều nhà lãnh đạo sử dụng cả 2 phong cách vừa quan tâm và vừa  
cấu trúc, nhưng 2 phạm trù này vẫn độc lập với nhau. Như thế, một người  
lãnh đạo có thể kết hợp hai kiểu hành vi ở mức độ cao hoặc ở mức độ thấp,  
hoặc nghiêng về quan tâm hơn, hoặc nghiêng về cấu trúc hơn. Nhiều nghiên  
cứu chỉ ra rằng khi các phong cách lãnh đạo này được kết hợp một cách  
khéo léo với nhau sẽ đem lại hiệu quả cao.  
Những nghiên cứu thêm về tương quan giữa 2 loại hành vi lãnh đạo và tác  
động của chúng lên nhân viên đã cho thấy rằng các giám sát “quan tâm”  
làm cho nhân viên thỏa mãn cao hơn so với kiểu “cấu trúc”. Chẳng hạn như,  
khi tiêu chí cho một nhà lãnh đạo hiệu quả là doanh thu và mức độ phàn  
nàn của thuộc cấp, thì những nhà lãnh đạo “quan tâm” thường có ít doanh  
thu và những lời phàn nàn hơn. Nhưng nếu đề cao những tiêu chuẩn thực thi  
của công việc, và năng suất thì kiểu hành vi cấu trúc tỏ ra hữu hiệu hơn..  
2.3. Phong cách định hướng vào nhân viên và định hướng  
vào công việc  
Những nghiên cứu của đại học Michigan có nét khác biệt ở chỗ chúng so  
sánh trực tiếp hành vi của nhà lãnh đạo hữu hiệu và không hữu hiệu. Sự hữu  
hiệu của nhà lãnh đạo được đánh giá qua hiệu quả hoạt động của nhân viên.  
Những cuộc nghiên cứu sơ cấp và những cuộc phỏng vấn đã được thực hiện  
bằng bảng câu hỏi trên nhiều lĩnh vực nghề nghiệp khác nhau được gọi là  
nghiên cứu về tổ chức.  
Chủ yếu các nhà nghiên cứu của đại học Michigan phân chia hành vi lãnh  
đạo ra làm hai kiểu và mỗi kiểu lại bao gồm 2 mức độ.  
Đầu tiên là nhà lãnh đạo định hướng vào nhân viên. Những nhà lãnh đạo  
này chú trọng vào các đặc điểm cần có của nhân viên. Mức độ ủng hộ và tạo  
điều kiện hợp tác là hai yếu tố chủ yếu của kiểu lãnh đạo tập trung vào nhân  
viên. Điều này có nghĩa là để tăng cường khích lệ nhân viên, các nhà lãnh  
đạo phải tạo điều kiện để các nhân viên hợp tác tốt với nhau và hạn chế thấp  
nhất những mâu thuẫn.  
Phong cách lãnh đạo tập trung vào nhân viên tương tự như kiểu “quan tâm”  
của đại học Ohio. Bởi vì các mối quan hệ rất quan trọng trong môi trường  
làm việc ngày nay, nhiều tổ chức đang tìm kiếm những nhà lãnh đạo có thể  
giúp các thành viên khác hợp tác tốt với nhau.  
Trái lại, nhà lãnh đạo tập trung vào công việc sẽ gắn mọi hoạt động đến hiệu  
quả, giảm chi phí, và lập chương trình. Tầm quan trọng của mục tiêu và sự  
tạo điều kiện trong công việc là hai yếu tố của hành vi lãnh đạo này. Đó là,  
tập trung vào việc hoàn thành mục tiêu và tạo điều kiện để thực hiện nhiệm  
vụ. Phong cách lãnh đạo tập trung vào công việc tương tự như cấu trúc.  
Trang 8  
Khóa 31k thang 9/2008  
Tuy nhiên, khác với kiểu quan tâm và cấu trúc được đề cập bởi đại học  
Ohio, những nhà nghiên cứu của đại học Michigan cho rằng kiểu lãnh đạo  
tập trung vào nhân viên và tập trung vào công việc là hoàn toàn trái ngược  
nhau. Một người lãnh đạo chỉ có thể được xem là có một trong hai phong  
cách lãnh đạo này, chứ không thể cả hai. Thông thường những hành vi  
hướng đến các mục tiêu quan trọng, sự thuận lợi trong công việc, sự ủng hộ,  
và sự cộng tác ăn ý có thể được thực hiện tốt với những người cùng cấp hơn  
là với người lãnh đạo chỉ định. Những thành viên khác trong nhóm có thể  
tạo ra những hành vi giúp cho công việc được thực hiện tốt hơn.  
Trong khi các hành vi lãnh đạo được xem như có ảnh hưởng đến công việc  
và sự thỏa mãn của nhân viên, thì công việc cũng còn phụ thuộc vào từng  
hoàn cảnh làm việc của người lãnh đạo và nhân viên.  
2.4. Lưới quản trị  
1. 9  
9. 9  
“câu lạc bộ”  
Cùng làm việc với nhau  
để hòan thành nhiệm  
vụ, quan hệ tin cậy, chia  
sẻ mục tiêu chung  
Quan tâm đến những nhu  
cầu của con người nhằm  
thỏa mãn các mối quan hệ  
tạo ra sự thoải mái và thân  
thiện  
5. 5  
Quản trị trung dung  
Kết hợp hài hòa giữa  
mối quan tâm vào con  
người lẫn công việc  
Tập trung vào hiệu quả  
nỗ lực tối thiểu để duy  
trì các mối quan hệ giữa  
con người hoặc hoàn  
thành công việc  
công việc trên cơ sở tạo  
ra điều kiện làm việc  
theo đó yếu tố con  
người ở mức tối th9iể.u1  
1. 1  
Mức độ định hướng kết quả  
Lưới quản trị  
Blake và Mouton ở đại học Texas đã đưa ra hai khía cạnh của thuyết hành vi  
lãnh đạo được gọi là Lưới lãnh đạo. Lưới lãnh đạo xây dựng trên cơ sở  
nhũng nghiên cứu của đại học Ohio và Michigan. Các nhà nghiên cứu đã  
xem nhà lãnh đạo ở mức độ từ 1 đến 9 dựa trên 2 tiêu chí: mối quan tâm vào  
con người và mối quan tâm vào công việc. Điểm cho những tiêu chí này  
được vẽ trên một lưới với mỗi trục tương ứng với mỗi tiêu chí. Mô hình 2  
Trang 9  
Khóa 31k thang 9/2008  
chiều và 5 phong cách lãnh đạo chính được mô tả ở hình 2. 3. Quản trị nhóm  
thường (9. 9)được coi là phong cách hiệu quả nhất và được đánh giá cao bởi  
những thành viên trong tổ chức cùng làm việc với nhau để hòan thành nhiệm  
vụ. Quản trị câu lạc bộ (1. 9) sử dụng khi những nỗ lực hướng vào con người  
hơn vào công việc. Quản trị định hướng công việc(9. 1), vị trí này thích hợp  
khi hiệu quả hoạt động là quan tâm chủ yếu. Quản trị trung dung (5. 5)là sự  
kết hợp hài hòa giữa mối quan tâm vào con người lẫn công việc. Quản trị  
nghèo nàn(1. 1) gần như là không có một phong cách lãnh đạo nào, người  
lãnh đạo theo mức độ này chỉ nỗ lực tối thiểu để duy trì các mối quan hệ  
giữa con người hoặc hoàn thành công việc.  
2.5. Thuyết lãnh đạo “cao-cao”  
Tiếp cận nghiên cứu theo hành vi hướng tới hai thái cực đó là hai kiểu hành  
vi lãnh đạo nổi trội: định hướng vào con người và định hướng vào nhiệm vụ.  
Những khám phá về về hai đặc tính định hướng và khả năng của các nhà  
lãnh đạo được đánh giá cao ở cả hai đặc tính này đã đặt ra bốn câu hỏi cần  
nghĩ đến. Đó là:  
• Thứ nhất, hai yếu tố này có được được đánh giá là quan trọng nhất  
hay không? Dĩ nhiên hai hành vi này đều rất quan trọng. Chúng được  
xem là những khía cạnh hành vi con người cơ bản và nền tảng mà các  
tổ chức cần quan tâm để đạt được thành công. Lý do khiến hai yếu tố  
trên trở nên thuyết phục, đó là những phát hiện này đều xuất phát từ  
thực tiễn, tức là các nhà nghiên cứu đã xâm nhập vào các lĩnh vực  
khác nhau để nghiên cứu về các nhà lãnh đạo. Khi các kết quả nghiên  
cứu độc lập cho ra các kết luận tương tự, họ đã miêu tả nhũng đặc  
điểm cơ bản của hành vi lãnh đạo. Chẳng hạn, các nghiên cứu trong  
vòng 50 năm về lãnh đạo, nhận định về hành vi định hướng vào con  
người và định hướng vào nhiệm vụ là những phạm trù cơ sở có liên hệ  
mật thiết với rất nhiều nghiên cứu về hiệu quả lãnh đạo.  
• Thứ hai, các nhà lãnh đạo có thể vừa định hướng vào con người và  
vừa định hướng hay không và bằng cách nào? Thuyết lưới lãnh đạo  
cho rằng khi con người làm việc với hoặc thông qua người khác để  
hoàn thành một hoạt động thì người ta sẽ định hướng cả hai. Mặc dù  
một nhà lãnh đạo có thể định hướng cao ở một trong 2 khía cạnh trên,  
nhưng nhà lãnh đạo giỏi nhất là người biết định hướng tốt ở cả 2 khía  
cạnh. Làm thế nào để nhà lãnh đạo có được cả hai hành vi đó? Một số  
nhà nghiên cứu cho rằng một nhà lãnh đạo “cao –cao” sẽ có cách ứng  
xử phù hợp, họ biết khi nào thì cần định hướng vào con người, và lúc  
nào thì phải định hướng vào công việc. Những tiếp cận khác lại cho  
rằng nhà lãnh đạo “cao-cao” kết hợp cả hai hành vi đó theo một cách  
Trang 10  
Khóa 31k thang 9/2008  
hoàn toàn khác so với những người chỉ sử xự theo cách này hay một  
cách khác. Ví dụ, một nhà lãnh đạo định hướng vào công việc có thể  
đặt ra những mục tiêu khó khăn và những áp lực lên nhân viên để cải  
thiện chất lượng. Ngược lại nhà lãnh đạo định hướng vào con người  
có thể không chú tâm lắm đến điểm số của sinh viên hay việc đạt  
được mục tiêu mà chỉ đơn giản tìm kiếm sự cải thiên bằng cách tham  
khảo ý kiến giáo viên và tạo mối quan hệ chủ động với họ. Những nhà  
lãnh đạo “cao-cao” dường như rất khéo léo trong việc thể hiện định  
hướng vào cả công việc và nhiệm vụ trong hầu hết những hành vi của  
mình.  
• Thứ ba, phong cách lãnh đạo cao –cao là một kiểu phổ biến hay chỉ là  
tình thế? Phổ biến có nghĩa là kiểu hành vi này sẽ thành công trong  
mọi tình huống. Còn nếu chỉ là tình thế có nghĩa là nó chỉ thành công  
trong những trường hợp nhất định. Nói cách khác, hành vi của nhà  
lãnh đạo định hướng vào nhân viên sẽ làm tăng sự thỏa mãn của nhân  
viên và làm giảm những vấn đề rắc rối xung quanh những tình huống  
phức tạp. Tương nhự như vậy, những nhà lãnh đạo định hướng vào  
công việc sẽ làm tăng hiệu quả hoạt động mặc dù phải đối mặt với rất  
nhiều tình huống.  
• Thứ tư, một người có thể thay đổi chính mình thành người lãnh đạo  
định hướng vào công việc hoặc định hướng vào con người hay không?  
Trong thập niên 50, 60 khi những nghiên cứu đại học Ohio và  
Michigan giả định rằng hành vi lãnh đạo hiệu quả được quyết định bởi  
chính những người muốn trở thành nhà lãnh đạo hiệu quả. Điều đó có  
vẻ như là một người có thể học cách lãnh đạo mới. Như thế, phong  
cách lãnh đạo "cao-cao" là một phong cách đáng để theo đuổi, bởi vì  
nhà lãnh đạo sẽ đương đầu với những yêu cầu đồng thời xảy ra cùng  
một lúc. Mặc dù các nhà nghiên cứu không cho rằng kiểu lãnh đạo  
“cao-cao”là kiểu lãnh đạo duy nhất mang lại hiệu quả, nhưng họ vẫn  
xem đó như là một cách hữu hiệu nhất để đạt được thành công.  
3. LÃNH ĐẠO CÁ NHÂN  
3.1. Quan niệm về bộ đôi  
Các tiếp cận đặc điểm và hành vi truyền thống một nhà lãnh đạo chấp nhận  
một phong cách lãnh đạo chung áp sử dụng cho tất cả những thành viên  
nhóm. Cách tiếp cận hành vi lãnh đạo gần đây theo hướng lãnh đạo cá nhân,  
giả định tồn tại mối quan hệ giữa lãnh đạo với mỗi cá nhân.  
Trang 11  
Khóa 31k thang 9/2008  
Lãnh đạo cá nhân dựa trên quan điểm cho rằng một nhà lãnh đạo có thể phát  
triển một mối quan hệ với từng người phục tùng hay thành viên nhóm.4  
Trong những mối quan hệ như vậy người lãnh đạo quyết định phải cư xử thế  
nào đối với từng thành viên và thành viên cư xử lại với lãnh đạo ra sao.  
Trong quan điểm này, lãnh đạo là một chuỗi những bộ đôi quan hệ, đó là  
chuỗi các cặp tương tác giữa hai người với nhau.  
Lãnh đạo cá nhân xem xét lý do tại sao nhà lãnh đạo lại ảnh hưởng hay có sự  
tác động đến một vài thành viên mạnh hơn với những thành viên khác. Để  
hiểu rõ sự lãnh đạo, cần có cái nhìn sâu hơn vào mối quan hệ cụ thể trong bộ  
đôi lãnh đạo-nhân viên.5 Quan điểm bộ đôi tập trung vào khái niệm sự trao  
đổi, mỗi bên tham gia sẽ cho và nhận điều gì trong mỗi bộ đôi. Nhà lãnh đạo  
có thể đáp ứng những nhu cầu xúc cảm và sẵn sàng ủng hộ cấp dưới, trong  
khi cấp dưới cung cấp cho nhà lãnh đạo sự tận tụy và thành tích cao. Một  
vài bộ đôi có thể "giàu", nghĩa là có mức độ cao của sự cho và nhận bởi cả  
hai người trong tương tác, trong khi một số bộ đôi khác thì rất "nghèo", sự  
cho và nhận giữa hai người rất ít.  
Quan điểm lãnh đạo cá nhân đầu tiên được giới thiệu hơn 25 năm trước và  
nó không thay đổi kể từ thời điểm mới ra đời. Sự phát triển của quan điểm  
này được mô tả trong hình 2. 5. Giai đoạn đầu là sự nhận thức về mối quan  
hệ giữa lãnh đạo và từng cá nhân, hơn là giữa nhà lãnh đạo và một nhóm các  
cộng sự. Giai đoạn hai kiểm tra những thuộc tính cụ thể của mối quan hệ  
tương tác. Giai đoạn ba khảo sát tỉ mỉ liệu những nhà lãnh đạo có thể cố tình  
phát triển với mỗi thành viên nhóm, và giai đoạn bốn mở rộng quan điểm bộ  
đôi đến bao gồm những hệ thống và mang lưới lớn hơn.  
3.2. Mô hình liên kết dọc(VDI)  
Mô hình liên kết dọc (VDI) tranh luận về tầm quan trọng của bộ đôi được  
hình thành bởi một nhà lãnh đạo với mỗi thành viên trong nhóm. Những  
phát hiện ban đầu cho rằng những thuộc cấp có những miêu tả rất khác nhau  
về cùng một người lãnh đạo. Ví dụ, một vài cộng sự miêu tả mối quan hệ  
giữa họ với nhà lãnh đạo rất tốt, họ rất tin tưởng, tôn trọng lẫn nhau, và nhận  
thức rõ ràng về nghĩa vụ và bổn phận giữa họ. Những mối quan hệ chất  
lượng cao có thể được mô tả là cao về cả định hướng công việc và định  
hướng con người. Những người cộng sự khác cho thấy một mối quan hệ chất  
lượng thấp đối với cùng một nhà lãnh đạo, ví dụ như sự tin tưởng, tôn trọng,  
nghĩa vụ và bổn phận giữa họ ở mức độ thấp. Những cộng sự này nhận thấy  
nhà lãnh đạo nghèo nàn về những hành vi lãnh đạo quan trọng.  
4
37  
38  
5
Trang 12  
TIẾN TRIỂN CỦA THUYẾT LÃNH
ĐẠ
O CÁ NHÂN  
Khó
1. Bộ đôi liên kết dọc  
Những hành vi và nét tiêu biểu của nhà lãnh  
đạo có sự tác động khác nhau đến cấp dưới, tạo  
những nhóm cùng chung quyền lợi và những  
nhóm riêng.  
2. Tương tác giữa lãnh đạo –thành  
viên  
Lãnh đạo được cá nhân hóa đối với mỗi cộng  
sự. Mỗi bộ đôi bao hàm sự tương tác độc lập  
với mỗi bộ đôi khác.  
3. Hình thành sự cộng tác  
Nhà lãnh đạo cần phải cố gắng hình thành một  
sự tương tác tích cực với mỗi cộng sự. Làm  
việc này có thể gia tăng thành tích.  
4 Hệ thống và mạng lưới  
Những bộ đôi lãnh đạo có thể được hình thành  
trong tất cả các phương diện vượt qua các cấp độ  
và ranh giới để xây dựng một mạng lưới nhằm  
nâng cao thành tích.  
Hình 2. 6 phác họa sự khác nhau trong hành vi lãnh đạo hướng tới sự đối  
đầu với những thành viên ngoài nhóm. Hầu hết chúng ta, những người đã  
trải nghiệm với bất kỳ loại nhóm nào, có thể đó là một lớp học, một đội thể  
thao, hay một nhóm làm việc, đều nhận ra rằng một vài nhà lãnh đạo có thể  
dùng khoảng thời gian không cân xứng đối với một vài người, và rằng  
những người trong cuộc này thường được tin tưởng và có được một vài đặc  
quyền, đặc lợi. Trong thuật ngữ của mô hình VDL, những người này được  
xem như tham gia vào mối quan hệ tương tác bên trong nhóm với nhà lãnh  
đạo, trong khi những thành viên khác trong nhóm không có kinh nghiệm để  
ý thức về sự tin tưởng và sự đánh giá cao hơn sẽ tham gia vào sự tương tác  
bên ngoài.  
Những thành viên bên trong nhóm, những người đánh giá cao vị lãnh đạo  
của mình, đã phát triển một mối quan hệ thân mật với lãnh đạo và thường trở  
thành trợ lý người đóng vai trò chính trong thực hiện các đơn vị công việc.  
Những thành viên ngoài nhóm không đóng vai trò quan trọng trong các đơn  
Trang 13  
Khóa 31k thang 9/2008  
vị. Bởi vì những sự khác nhau này, giữa những cá nhân có sự phân nhóm, có  
nhóm ủng hộ, cũng có nhóm coi lãnh đạo là kẻ đối đầu. Một vài nhân viên  
có thể được đáp ứng nhu cầu của mình, trong khi số khác thì không. Những  
điểm khác nhau này dựa trên bộ đôi nhà lãnh đạo với mỗi nhân viên. Những  
thành viên trong nhóm có sự gần gũi lãnh đạo cao, trong khi những thành  
viên ngoài nhóm có khuynh hướng thụ động và không có sự ảnh hưởng hay  
gần gũi lãnh đạo. Những thành viên trong nhóm có sự ảnh hưởng và nỗ lực  
cộng tác với lãnh đạo cao hơn, họ có cơ hội nhận được những phần thưởng  
và những nhiệm vụ tăng thêm. Những thành viên ngoài nhóm chưa trải  
nghiệm mối quan hệ và sự ảnh hưởng tích cực với lãnh đạo, còn nhà lãnh  
đạo thì thích sử dụng quyền lực chính thức và những hành vi ép buộc hơn  
đối với những cộng sự này. Những thành viên trong nhóm thường được chú  
ý nhiều hơn, nhận được nhiều sự tán thành hơn, có thể có địa vị cao hơn,  
nhưng họ cũng được mong đợi phải trung thành, tận tụy, và làm việc có hiệu  
quả.  
Hình 2. 6 Hành vi lãnh đạo hướng tới sự đối đầu giữa thành viên trong nhóm và thành  
viên ngoài nhóm.  
Trong nhóm  
Ngoài nhóm  
Thảo luận về những mục tiêu, để cho  
nhân viên có sự tự do trong việc giải  
quyết vấn đề và đạt được mục tiêu  
* Lắng nghe những ý kiến và đề nghị  
của nhân viên về công việc  
Đưa cho nhân viên dẫn cụ thể làm thế nào  
để hoàn thành nhiệm vụ và đạt được mục  
tiêu  
* Chỉ ra những lợi ích trong những lời  
dẫn giải và đề nghị của nhân viên  
Coi sự mắc lỗi như là cơ hội để học tập  
Chỉ trích hoặc phạt nhân viên khi mắc lỗi  
Giao cho nhân viên những công việc thú  
vị, có thể cho phép nhân viên tự chọn  
công việc  
Phân công những công việc thường lệ và  
giám sát nhân viên kỹ lưỡng  
Thỉnh thoảng chiều theo ý nhân viên  
mình  
Thường buộc chấp nhận quan điểm của  
Tập trung vào những thành tích yếu kém  
Ca ngợi sự hoàn thành công việc  
Như vậy, bằng cách tập trung vào mối quan hệ giữa một lãnh đạo và mỗi  
cá nhân, VDL đã tìm thấy sự khác biệt rất lớn giữa những phong cách lãnh  
đạo và sự tác động trong một nhóm cộng sự.  
3.3. Trao đổi Lãnh đạo – Thành viên (Leader-Member Exchange - LMX)  
Giai đoạn hai trong sự phát triển quan điểm lãnh đạo cá nhân khảo sát sự  
tương tác giữa lãnh đạo và thành viên một cách chi tiết hơn, và khám phá ra  
rằng sự tác động đến đầu ra phụ thuộc vào sự tương tác lãnh đạo-thành viên  
Trang 14  
Khóa 31k thang 9/2008  
phát triển theo thời gian. Nghiên cứu đặc điểm của quan hệ LMX đã khảo  
sát những khía cạnh như chuỗi thông tin, sự tán thành, tính cách của cấp  
dưới, sự thỏa mãn trong công việc, không khí làm việc, sự cộng tác. Lãnh  
đạo có khuynh hướng hình thành những mối quan hệ tương tác trong nhóm  
với những cá nhân có tính cách tương tự với họ, như tương đồng về hoàn  
cảnh, sở thích, nguyên tắc, và với những ai thể hiện trình độ năng lực cao, và  
niềm say mê trong công việc. Nói chung, nghiên cứu đã tìm ra chất lượng  
của mối quan hệ tương tác về thực chất là cao hơn đối với những thành viên  
trong nhóm. Quan điểm LMX cho rằng quan hệ chất lượng cao sẽ dẫn tới  
thành tích và sự thỏa mãn trong công việc cao hơn đối với các thành viên  
trong nhóm.6 Mối quan hệ LMX chất lượng cao có thể viện dẫn cho những  
đầu ra tích cực cho lãnh đạo, cấp dưới, đơn vị công việc, và tổ chức. Đối với  
cấp dưới, mối quan hệ tương tác chất lượng cao có thể là những nhiệm vụ  
thú vị, trách nhiệm, quyền hành cao hơn, những phần thưởng vật chất, và sự  
thăng tiến. Lãnh đạo và tổ chức rõ ràng được lợi từ sự gia tăng nỗ lực và  
đóng góp của những đồng sự trong nhóm để thực hiện những nhiệm vụ một  
cách cẩn thận.  
Những nhà nghiên cứu LMX xác định rằng có ba giai đoạn mà bộ đôi trải  
qua trong mối quan hệ công việc giữa họ.  
• Trong giai đoạn đầu, lãnh đạo và cấp dưới là những người xa lạ, họ  
thăm dò lẫn nhau để tìm ra hành vi nào để tạo sự thoải mái. Mối quan  
hệ được hình thành một cách thân mật giữa cấp dưới và lãnh đạo. Sự  
xác định vai trò của mỗi thành viên trong nhóm định ra những gì lãnh  
đạo mong muốn thành viên làm.  
• Tiếp theo, khi lãnh đạo và thành viên trở nên quen thuộc, họ ăn khớp  
với nhau và làm việc cùng nhau.  
• Cuối cùng, trong giai đoạn thứ ba, khi vai trò đã chín chắn, trong mối  
quan hệ đạt được những hành vi chuẩn mực. Sự tương tác giữa lãnh  
đạo và thành viên thật khó để thay đổi. Sự tương tác có khuynh hướng  
xác định địa vị trong nhóm và ngoài nhóm.  
Hình thành sự cộng tác  
Trong giai đoạn ba của sự tiến triển thuyết lãnh đạo cá nhân tập trung vào  
khảo sát lãnh đạo có thể phát triển mối quan hệ tích cực đối với một số  
lượng lớn cộng sự hay không.  
Những nhà phê bình quan điểm LMX chỉ ra sự nguy hiểm khi có sự phân  
hóa thành viên trong nhóm và ngoài nhóm, điều nay có thể dẫn đến cảm giác  
oán giận hay thậm chí là chống đối trong số các thành viên ngoài nhóm.7  
6
40  
41  
7
Trang 15  
Khóa 31k thang 9/2008  
Nếu người lãnh đạo trao những lợi ích và sự thuận lợi cho các thành viên  
trong nhóm, thì các thành viên ngoài nhóm có thể chống đối lại và dẫn đến  
những tổn hại đối với toàn bộ tổ chức. Hơn thế nữa, một vài nghiên cứu đã  
phát hiện ra rằng những nhà lãnh đạo có khuynh hướng phân loại nhân viên  
của mình thành trong nhóm và ngoài nhóm ngay từ năm ngày bắt đầu mối  
quan hệ.8  
Như vậy, vấn đề là liệu nhà lãnh đạo có thể phát triển mối quan hệ tích cực  
với toàn bộ cấp dưới hay không chứ không phải chỉ với một vài người mà họ  
yêu thích. Điều đáng nhấn mạnh ở đây không phải là làm thế nào hay tại sao  
có sự phân biệt đối giữa các đồng nghiệp mà làm thế nào để nhà lãnh đạo có  
thể làm việc với từng cấp dưới trên cơ sở một- một để phát triển mối quan hệ  
cộng tác. Ý kiến cho rằng nhà lãnh đạo có thể phát triển một mối quan hệ  
đơn nhất với từng cá nhân và cung cấp cho tất cả nhân viên cách để đạt đến  
sự tương tác lãnh đạo-nhân viên có chất lượng cao, nhờ tạo ra một môi  
trường công bằng và cùng có lợi cho cả lãnh đạo, nhân viên và tổ chức.  
Trong cách tiếp cận này, nhà lãnh đạo cho thấy sự độc lập của từng người,  
và có thể đối xử với họ theo nhiều cách khác nhau nhưng phải theo hướng  
tích cực. Nhà lãnh đạo cố gắng chủ động phát triển mối quan hệ tích cực với  
từng cấp dưới, mặc dù mối quan hệ tích cực đó sẽ mang hình thức khác nhau  
đối với mỗi người. Ví dụ một người có thể được đối xử với "phần thưởng",  
người khác thì với "cấu trúc", dựa trên những nhu cầu của cấp dưới về việc  
cảm thấy mình được tham dự và thành công.  
Trong những trường hợp mà lãnh đạo được đào tạo để tạo cơ hội cho một  
mối quan hệ chất lượng cao đối với tất cả các thành viên nhóm, cấp dưới sẽ  
nhận được những cơ hội cải thiện thành tích của mình một cách đáng kể. Khi  
những mối quan hệ đã trở nên chín chắn, toàn bộ các nhóm làm việc trở nên  
hiệu quả hơn, việc hối lộ, nịnh nọt cũng trở nên nghiêm trọng hơn. Lãnh đạo  
có thể kỳ vọng ở cấp dưới để cung cấp sự hỗ trợ để có thành tích cao hơn, và  
cấp dưới có thể tham gia và ảnh hưởng đến quyết định. Lãnh đạo cung cấp  
sự ủng hộ, khuyến khích, và đào tạo cấp dưới vì vậy họ sẽ có thành tích cao  
hơn.  
3.4. Hệ thống và mạng lưới  
Giai đoạn cuối cùng của tiếp cận này cho rằng bộ đôi lãnh đạo có thể mở  
rộng đến một hệ thống lớn hơn. Không chỉ tập trung vào lãnh đạo và cấp  
dưới, cách tiếp cận này nghiên cứu cách thức để cho mối quan hệ bộ đôi  
vượt ra khỏi ranh giới để đạt đến một hệ thống lớn hơn. Mạng lưới lớn hơn  
này đối với nhà lãnh đạo có thể xóa bỏ ranh giới giữa những đơn vị bao gồm  
8
42  
Trang 16  
Khóa 31k thang 9/2008  
cả những người cùng địa vị, đồng đội, và những người có liên quan khác.  
Nhà lãnh đạo cần xây dựng mạng lưới mối quan hệ một-một và sử dụng  
những nét tiêu biểu của chúng một cách chọn lọc để tạo nên mối quan hệ  
tích cực với nhiều người nhất có thể. Phần lớn mọi người bằng cách này có  
thể bị ảnh hưởng bởi lãnh đạo, và những người liên quan có thẻ đạt được  
những thành công trong công việc.  
Tóm tắt và diễn giải  
Chương này tập trung tìm hiểu tầm quan trọng của những đặc điểm và hành  
vi trong sự phát triển của các học thuyết và nghiên cứu về lãnh đạo. Những  
đặc điểm này bao gồm sự tự tin, thành thật, và nghị lực. Có rất nhiều những  
đặc điểm cá nhân có thể tạo nên sự khác biệt giữa một nhà lãnh đạo tài năng  
và một con người bình thường. Tiếp cận hành vi đã khảo sát sự đối lập giữa  
cách lãnh đạo dân chủ và lãnh đạo độc đoán, giữa mối quan tâm và cấu trúc  
khởi xướng, giữa phong cách lãnh đạo tập trung vào nhân viên và cách lãnh  
đạo tập trung vào người chủ, và sự khác biệt giữa lãnh đạo định hướng vào  
con người và lãnh đạo định hướng vào công việc, và lãnh đạo chú trọng vào  
nhân viên và chú trọng vào săn xuất. Sự đối lập giữa những quan điểm định  
hướng vào con người và nhiệm vụ là chủ đề bàn luận quan trọng trong lãnh  
đạo, làm nảy sinh những những hành vi chủ yếu mà thông qua đó các nhà  
lãnh đạo có thể đáp ứng được những nhu cầu của nhân viên. Cũng có một  
vài sự tranh cãi trong quá trình nghiên cứu đó là có hay không một nhà lãnh  
đạo chỉ định hướng vào con người hoặc chỉ định hướng vào nhân viên hay  
có thể định h ướng cả hai. Ngày nay, người ta đều nhất trí rằng một nhà lãnh  
đạo có thể đạt được kiểu lãnh đạo “cao-cao”.  
Một phương pháp nữa là sự song hành giữa nhà lãnh đạo và nhân viên. Nhân  
viên có những mối quan hệ khác nhau với người lãnh đạo, và nhà lãnh đạo  
có thể xây dựng nên những mối quan hệ vững chắc với mỗi nhân viên để  
cùng đóng góp vào việc thực hiện công việc của nhóm. Thuyết tư ơng t ác  
giữa lãnh đạo -nh ân viên nói rằng những mối quan hệ bền vững có những  
tác động to lớn đến cả người lãnh đạo, nhân viên, lượng công việc, và tổ  
chức. Các nhà lãnh đạo có thể xây dựng được những mối quan hệ song  
phương với từng nhân viên theo theo cách vừa chiếu cố đến họ mà vẫn giữ  
được các nguyên tắc.  
Lịch sử phát triển của thuyết lãnh đạo hiện diện trong chương này mang lại  
những ý kiến quan trọng về lãnh đạo. Mặc dù có một số các đặc điểm các  
nhân có thể đem đến sự thành công trong lãnh đạo, những bản thân chúng  
không tạo ra sự lãnh đạo hiệu quả. Đúng hơn, những hành vi mới thật sự  
quan trọng, như các nghiên cứu của nhiều trường đại học đã chứng minh.  
Bởi vậy, phong cách lãnh đạo của một cá nhân có tác động rất lớn đến kết  
Trang 17  
Khóa 31k thang 9/2008  
quả của những nỗ lực của họ. Thông thường, sự kết hợp các phong cách trên  
là hiệu quả nhất. Để hiểu được tác động của việc lãnh đạo lên két quả nhận  
được, cần phải xem xét đền những mói quan hệ cụ thể giữa một nhà lãnh đạo  
với từng nhân viên.  
Câu hỏi thảo luận  
1. Ngày nay quan niệm lãnh đạo “Vĩ Nhân” có còn tồn tại hay không? Hãy  
nghĩ về những bộ phim nổi tiếng gần đây mà trong đó người ta nhấn mạnh  
đến vai trò của một cá nhân như là một vị anh hùng hay một vị cứu tinh. Và  
cũng như vậy với những câu chuyện kinh doanh. Hãy thảo luận vần đề này.  
2. Hãy nêu ra một vài đặc điểm cá nhân của nhà lãnh đạo mà bạn biết. Đặc  
điểm nào bạn cho là hữu ích nhất?Tại sao?  
3. Sự khác biệt giữa thuyết đặc điểm cá nhân và thuyết hành vi về lãnh đạo  
là gì?  
4. Bạn thích làm việc cho một người lãnh đạo theo kiểu “mối quan tâm” hơn  
hay là theo kiểu “cấu trúc ” hơn? Hãy giải thích lý do của bạn  
5. Mô hình liên kết dọc cho rằng nhân viên có những phản ứng khác nhau  
đối với cùng một nhà lãnh đạo. Và nếu như vậy, thì bạn nên khuyên những  
nhà lãnh đạo thể hiện hành vi định hướng vào nhân viên hay định hướng vào  
công việc  
6. Bạn có nghĩ rằng một nhà lãnh đạo nên phát triển những mới quan hệ  
riêng rẽ với từng nhân viên? Hãy giải thích những thuận lợi và bất lợi của  
phương pháp này.  
7. Tại sao khi vắng mặt người lãnh đạo, những nhân viên dưới quyền nhà  
lãnh đạo dân chủ lại làm việc tốt hơn nhân viên dưới quyền nhà lãnh đạo độc  
đoán?  
8. Theo bạn, nhà lãnh đạo định hướng vào nhiệm vụ hay định hướng vào  
nhân viên sẽ dễ dàng trở thành nhà lãnh đạo “cao-cao”hơn. Tại sao?  
Trang 18  
pdf 18 trang yennguyen 14600 Free
Bạn đang xem tài liệu "Bài giảng Nghệ thuật lãnh đạo - Chương 2: Các đặc điểm, hành vi và các mỗi liên hệ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbai_giang_nghe_thuat_lanh_dao_chuong_2_cac_dac_diem_hanh_vi.pdf