Tài liệu Kỷ yếu Nhiệm vụ khoa học và công nghệ (2016-2020)

LỜI MỞ ĐẦU  
Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lần thứ  
XIX xác định: “Hỗ trợ ứng dụng và chuyển giao tiến bộ khoa học,  
công nghệ cho các vùng nông thôn, miền núi, xây dựng nông thôn mới;  
hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, áp dụng hệ thống quản lý chất  
lượng tiên tiến”. Thực hiện chủ trương đó, trong thời gian qua, hoạt  
động khoa học và công nghệ (KH&CN) tỉnh ta đã có bước phát triển  
vượt bậc, đạt được nhiều thành tựu quan trọng, từng bước khẳng định  
vai trò động lực trong phát triển kinh tế - xã hội; đóng góp thiết thực  
trong nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, bảo vệ môi  
trường, bảo đảm an ninh, quốc phòng, cải thiện an sinh xã hội và chất  
lượng cuộc sống.  
Nhằm đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao  
khoa học và công nghệ vào sản xuất và đời sống, Sở Khoa học và  
Công nghệ Quảng Ngãi biên tập và xuất bản cuốn “Kỷ yếu nhiệm vụ  
khoa học và công nghệ giai đoạn 2016-2020” nhằm giới thiệu kết quả  
nghiên cứu các nhiệm vụ khoa học và công nghệ giai đoạn 2016-2020  
để phục vụ cán bộ và nhân dân trong tỉnh. Kỷ yếu, bao gồm 55 nhiệm  
vụ thuộc 5 lĩnh vực:  
(1) Nông nghiệp, nông thôn;  
(2) Kỹ thuật công nghệ;  
(3) Y dược;  
(4) Tài nguyên, môi trường;  
(5) Khoa học Xã hội - Nhân văn;  
Kỷ yếu được xuất bản không chỉ nhằm chia sẻ nguồn tư liệu bổ  
ích này đến các nhà quản lý, cán bộ nghiên cứu, nhân dân trên địa bàn  
tỉnh mà còn phản ánh sự đóng góp và thành tựu của đội ngũ cán bộ  
khoa học thuộc các tổ chức, doanh nghiệp và các viện, trường đại học.  
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song do thời gian và năng lực có  
hạn, nên không tránh khỏi những thiếu sót trong khâu biên tập các báo  
cáo tóm tắt nhiệm vụ KH&CN, chúng tôi rất mong nhận được những  
ý kiến đóng góp của bạn đọc để lần xuất bản sau được hoàn thiện hơn.  
SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ  
TỈNH QUẢNG NGÃI  
MỤC LỤC  
LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN  
1. Ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ xây dựng cánh đồng mẫu sản xuất mía  
trên đất đồi gò nhằm nâng cao thu nhập cho người dân trồng mía tại huyện Sơn  
Hà, tỉnh Quảng Ngãi.  
13  
2. Trồng và phát triển cây Mây nước, cây Sa nhân tím dưới tán rừng phòng hộ  
cho đồng bào dân tộc Hrê ở huyện Ba Tơ tỉnh Quảng Ngãi.  
17  
22  
3. Hỗ trợ xây dựng làng nghề trồng nấm (nấm ăn và nấm dược liệu) phục vụ  
chuyển đổi nghề nghiệp cho lao động từ các lò gạch thủ công xã Đức Nhuận  
và Đức Chánh, huyện Mộ Đức.  
4. Ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ phát triển cây ăn quả hàng hóa tại huyện  
Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi.  
26  
30  
35  
5. Điều tra, đánh giá tiềm năng và hoạt động khai thác thủy sản, đề xuất mô hình  
quản lý khai thác bền vững tại đầm An Khê, huyện Đức Phổ.  
6. Hỗ trợ áp dụng tiến bộ khoa học và công nghệ phát triển sản xuất nông nghiệp  
phục vụ xây dựng nông thôn mới tại xã Hành Dũng, huyện Nghĩa Hành, tỉnh  
Quảng Ngãi.  
7. Hỗ trợ xây dựng vùng chuyên canh cây thanh long ruột đỏ LĐ1 tại thị trấn Trà  
Xuân, xã Trà Phú và xã Trà Bình huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi.  
39  
43  
8. Thực nghiệm các giải pháp kỹ thuật trong canh tác tỏi ở huyện đảo Lý Sơn tỉnh  
Quảng Ngãi (canh tác tỏi không bổ sung đất, không thay cát).  
9. Tuyển chọn, nuôi lưu giữ, bảo tồn nguồn gen giống gà H’re Quảng Ngãi.  
50  
56  
10. Ứng dụng các giải pháp kỹ thuật thực hiện tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp tại  
Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp Đức Vĩnh, xã Đức Phú, huyện Mộ Đức.  
11. Xây dựng vùng chuyên canh rau an toàn đạt tiêu chuẩn VietGap tại xã Nghĩa  
Dũng, thành phố Quảng Ngãi.  
61  
12. Hỗ trợ ứng dụng khoa học và công nghệ để nâng cao hiệu quả sản xuất trên  
đơn vị diện tích đất sản xuất nông nghiệp ở xã Tịnh Bắc, huyện Sơn Tịnh.  
69  
76  
81  
13. Xây dựng mô hình phát triển chăn nuôi bò thành nghề sản xuất chính của nông  
hộ trên địa bàn huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.  
14. Chăm sóc vườn cây ăn quả (bưởi da xanh, chôm chôm Java, sầu riêng hạt lép)  
nhằm tuyển chọn và cung cấp nguồn giống cây ăn quả có chất lượng.  
15. Thử nghiệm công nghệ sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá ngựa đen  
(Hippocampus kuda Pleeker 1852) tại tỉnh Quảng Ngãi.  
90  
96  
16. Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật sản xuất giống và thử nghiệm nuôi thương phẩm  
lươn đồng (Monopterus albus) tại Quảng Ngãi.  
17 Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật thử nghiệm ương giống cá Bớp (Rachycentron 103  
canadum) giai đoạn từ trứng lên cá giống tại Quảng Ngãi.  
18. Hỗ trợ ứng dụng kỹ thuật sản xuất lúa gạo hữu cơ chất lượng cao tại Quảng 112  
Ngãi.  
19. Quản lý và phát triển Nhãn hiệu Chứng nhận chè Minh Long.  
118  
20. Chọn tạo và phát triển một số giống lúa mới ngắn ngày có năng suất cao, phẩm 127  
chất gạo tốt phục vụ sản xuất để tăng thu nhập cho nông dân Quảng Ngãi và  
một số tỉnh khu vực miền Trung.  
21. Hỗ trợ ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ phát triển đàn bò lai hướng 132  
thịt trên nền bó cái zêbu tại các xã miền núi huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi.  
22. Hỗ trợ ứng dụng tiến bộ kỹ thuật phát triển chăn nuôi bò lai tăng thu nhập cho 137  
nông dân góp phần xây dựng nông thôn mới ở các xã miền núi huyện Đức Phổ,  
tỉnh Quảng Ngãi.  
LĨNH VỰC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ  
1. Đổi mới thiết bị, công nghệ bảo quản hạt giống lúa.  
145  
148  
2. Đổi mới công nghệ, thiết bị chế biến và bảo quản hạt giống lúa.  
3. Đổi mới thiết bị, công nghệ chế biến gỗ ở Công Ty TNHH Sản Xuất Thương 152  
Mại và Đầu Tư Tam Minh.  
4. Ứng dụng đồng bộ các thiết bị cơ khí trong sản xuất nấm ăn và nấm dược liệu. 155  
5. Sản xuất tỏi đen từ tỏi Lý Sơn.  
162  
6. Thiết kế và chế tạo máy cắt Plasma, Oxy CNC dạng trung bình.  
7. Đổi mới công nghệ, thiết bị trong chế biến và bảo quản hạt giống lúa.  
172  
176  
8. Đổi mới thiết bị công nghệ chế biến gỗ ở Công ty Cổ phần Lâm sản Tân Tân 180  
Thành.  
9. Đổi mới thiết bị, công nghệ chế biến gỗ ở Công Ty TNHH chế biến gỗ Minh 184  
Dương Dung Quất.  
10. Đổi mới thiết bị, công nghệ trong dây chuyền sản xuất mộc dân dụng xuất 188  
khẩu.  
11. Đổi mới thiết bị, công nghệ chế biến gỗ ở Công Ty TNHH Hoàn Vũ.  
191  
12. Đầu tư đổi mới thiết bị, công nghệ trong lĩnh vực sản xuất kết cấu thép tại Nhà 195  
máy cơ khí Quảng Ngãi.  
13. Đầu tư đổi mới thiết bị, công nghệ sản xuất gạch Terrazzo nội thất khổ 60x60. 199  
14. Đổi mới công nghệ, thiết bị đóng gói hạt giống rau màu.  
204  
207  
15. Đổi mới thiết bị, công nghệ trong dây chuyền sản xuất bánh ngọt.  
16. Đầu tư đổi mới thiết bị, công nghệ nhằm nâng cao chất lượng và năng lực sản 212  
xuất sản phẩm tại Nhà máy chế biến thủy sản Tấn Thành.  
17. Đầu tư đổi mới thiết bị, công nghệ trong cấp đông sản phẩm tại Nhà máy chế 216  
biến thuỷ sản Hưng Phong.  
18. Ứng dụng công nghệ thông tin thí điểm xây dựng mô hình quản lý, vận hành 219  
hệ thống tưới nước tự động trên một phần diện tích tưới của kênh NVC2 thuộc  
hệ thống kênh chính Nam Thạch Nham tại xã Nghĩa Lâm, huyện Tư Nghĩa,  
tỉnh Quảng Ngãi.  
LĨNH VỰC Y DƯỢC  
1. Nghiên cứu một số bệnh học đường thường gặp ở học sinh cấp tiểu học tỉnh 225  
Quảng Ngãi và đề xuất các giải pháp phòng chống.  
2. Hỗ trợ chuyển giao ứng dụng kỹ thuật phẫu thuật điều trị trĩ bằng phương pháp 233  
Longo tại tỉnh Quảng Ngãi.  
3. Điều tra, đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp can thiệp đối với trẻ tự 238  
kỷ trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.  
LĨNH VỰC TÀI NGUYÊN, MÔI TRƯỜNG  
1. Thử nghiệm giải pháp kỹ thuật nhiệt phân để xử lý thu hồi dầu từ cặn dầu thải 243  
của Nhà máy lọc dầu Dung Quất.  
2. Chuyển giao công nghệ chăn nuôi heo trên nền đệm lót sinh học (ứng dụng 248  
công nghệ lên men vi sinh vật) cho hộ chăn nuôi.  
3. Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trồng phục hồi rạn san hô khu vực biển ven bờ 253  
huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.  
LĨNH VỰC KHOA HỌC XÃ HỘI - NHÂN VĂN  
1. Nghiên cứu, biên soạn tài liệu dạy-học tiếng Co cho cán bộ, công chức (người 261  
Kinh) công tác tại huyện Trà Bồng và huyện Tây Trà, tỉnh Quảng Ngãi.  
2. Nghiên cứu tình hình bạo lực gia đình ở tỉnh Quảng Ngãi.  
267  
3. Phân tích, đánh giá kết quả thực hiện các nhóm giải pháp trong công tác phòng 273  
chống tham nhũng ở tỉnh Quảng Ngãi.  
4. Điều tra, khảo sát, đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp hỗ trợ trẻ em 277  
có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.  
5. Nghiên cứu hành vi phạm tội và vi phạm pháp luật trong thanh thiếu niên tỉnh 283  
Quảng Ngãi.  
6. Nghiên cứu, đề xuất giải pháp phát huy vai trò của doanh nghiệp đối với sự 294  
phát triển kinh tế-xã hội tỉnh Quảng Ngãi.  
7. Sưu tầm, dịch thuật, phân loại và đánh giá tư liệu Hán Nôm ở Quảng Ngãi.  
306  
8. Phát huy vai trò của tổ chức cơ sở đảng các xã ven biển, hải đảo tỉnh Quảng 312  
Ngãi trong lãnh đạo phát triển kinh tế gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo của  
Tổ quốc.  
9. Nghiên cứu, đề xuất giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động phòng cháy, 319  
chữa cháy ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.  
MỘT SỐ HÌNH ẢNH HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ  
324  
330  
CÁC PHẦN THƯỞNG CAO QUÝ CỦA ĐẢNG  
VÀ NHÀ NƯỚC TRAO TẶNG  
KỶ YẾU NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ GIAI ĐOẠN 2016 - 2020  
LĨNH VỰC  
NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN  
KỶ YẾU NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ GIAI ĐOẠN 2016 - 2020  
ỨNG DỤNG TIẾN BỘ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ  
XÂY DỰNG CÁNH ĐỒNG MẪU SẢN XUẤT MÍA  
TRÊN ĐẤT ĐỒI, GÒ NHẰM NÂNG CAO THU NHẬP  
CHO NGƯỜI TRỒNG MÍA TẠI HUYỆN SƠN HÀ,  
TỈNH QUẢNG NGÃI  
Chủ nhiệm dự án: CN. Tạ Công Tường  
Cơ quan chủ trì: Nhà máy Đường Phổ Phong – Công ty CP Đường Quảng Ngãi  
Năm nghiệm thu: 2016  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Huyện Sơn Hà có điều kiện thời tiết khí hậu, tính chất đất đai phù hợp với sự sinh trưởng  
phát triển của cây mía, đặc điểm diện tích đất đồi, gò có độ dốc từ 5÷100 rất lớn, có khả năng  
mở rộng sản xuất mía công nghiệp theo hướng tập trung, hiệu quả, bền vững. Hiện diện tích  
mía ở vùng dự án khoảng 300ha nhưng phân tán, ít tập trung và còn thấp so với tiềm năng đất  
đai của vùng.  
Vì vậy để sản xuất mía có hiệu quả cao và bền vững trên đất, gò, nhất là vùng có địa hình  
rửa trôi khá mạnh, trình độ canh tác và điều kiện ứng dụng các tiến bộ khoa học còn hạn chế cần  
phải xây dựng cánh đồng mẫu theo hướng tập trung thâm canh nhằm nâng cao năng suất chất  
lượng mía bình quân của toàn huyện đạt 60÷65tấn/ha và 10CCS so với bình quân chung của cả  
nước. Do đó, việc triển khai thực hiện dự án “Ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ xây dựng  
cánh đồng mẫu sản xuất trên đất đồi, gò nhằm nâng cao thu nhập cho người dân trồng mía tại  
huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi” là rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay.  
II. MỤC TIÊU  
Hình thành vùng sản xuất mía bền vững, nâng cao nhận thức trong sản xuất và tăng thu  
nhập cho người dân trồng mía tại huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi.  
III. KẾT QUẢ THỰC HIỆN  
1. Kết quả xây dựng mô hình cánh đồng mẫu canh tác mía theo phương thức tiểu  
bậc thang  
Địa điểm triển khai mô hình tại xã Sơn Hạ, Sơn Thành, Sơn Cao, Sơn Giang, Sơn Kỳ,  
với qui mô thực hiện 113,646ha. Trong đó, mía tơ: 69,978ha (năm 2014: 43,668ha; năm 2015:  
26,31ha); mía gốc: 43,668ha (năm 2015)  
Kết quả thực hiện mô hình:  
+ Đối với vụ mía tơ trồng 2014: (thu hoạch vụ 2014-2015)  
Năng suất mía bình quân trong mô hình (tính bình quân ở các xã xây dựng mô hình và  
sử dụng 2 loại giống k88-92 và ROC27) đạt 74,12 tấn/ha cao hơn 56,7% so với ngoài mô hình  
cùng thời vụ và giống sử dụng để trồng (chỉ đạt bình quân 47,3tấn/ha). Ngoài ra, hàm lượng  
đường trong mô hình đạt 9,54%, trong khi đó ngoài mô hình đạt 9,2% thấp hơn 0,34%.  
Qui đổi theo hàm lượng đường 10%, năng suất bình quân của vụ tơ năm 2014 đạt 70,71tấn/  
ha cao hơn 62,55% so với ngoài mô hình (chỉ đạt bình quân 43,5tấn/ha).  
13  
LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN  
KỶ YẾU NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ GIAI ĐOẠN 2016 - 2020  
+ Đối với vụ mía tơ trồng năm 2015 (thu hoạch vụ 2015-2016)  
Năng suất mía bình quân trong mô hình đạt 80,75tấn/ha cao hơn 59,4% so với ngoài mô  
hình cùng thời vụ trồng và giống sử dụng để trồng (chỉ đạt bình quân 50,65tấn/ha). Hàm lượng  
đường trong mô hình đạt 9,5%, trong khi đó ngoài mô hình đạt 9,2%, thấp hơn 0,3% so với mô  
hình.  
Tương tự như vụ mía tơ 2014, năng suất vụ mía tơ 2015 quy đổi hàm lượng đường 10%  
đạt 76,71tấn/ha (tính trung bình ở các xã xây dựng mô hình trên 2 giống K88-92 và ROC27) và  
cao hơn 64,6% so với ngoài mô hình (chỉ đạt 46,6tấn/ha) cùng thời điểm.  
+ Đối với mía gốc năm thứ nhất (thu hoạch vụ 2015-2016):  
Năng suất bình quân của vụ mía gốc 1 đạt 77,4tấn/ha cao hơn so với ngoài mô hình cùng  
thời điểm trồng và giống sản xuất là 64,7% (ngoài mô hình đạt 47,0tấn/ha).  
Bên cạnh năng suất qui theo hàm lượng đường thực tế, năng suất bình quân của mía gốc 1  
qui theo hàm lượng đường 10% của mô hình đạt 73,53tấn/ha, cao hơn 70,2% so với ngoài mô  
hình (đạt bình quân 43,20tấn/ha).  
Từ kết quả trên cho thấy năng suất bình quân của chu kỳ mía tơ và mía gốc 1 trong mô  
hình canh tác theo phương thức tiểu bậc thang ở các điểm sau hai năm thực hiện đạt năng suất  
bình quân qui đổi theo hàm lượng đường 10% là: 73,14tấn/ha cao hơn mục tiêu của dự án đề  
ra là 61,75tấn/ha (65tấn/ha x 9,5%) và cao hơn so với ngoài mô hình cùng thời điểm là 61,1%  
(ngoài mô hình đạt 45,4tấn/ha). Tuy nhiên, trong hai năm thực hiện dự án do điều kiện thời tiết  
nắng hạn cục bộ kéo dài tại các xã Sơn Hạ, Sơn Thành, Sơn Giang, Sơn Cao không có điều kiện  
tưới đã làm ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng phát triển của cây mía nên năng suất mía của  
một số hộ còn thấp... Vì vậy, năng suất bình quân chung mía mô hình cánh đồng mẫu tiểu bậc  
thang của chu kỳ mía tơ và mía gốc 1 tuy vượt mục tiêu nhưng chưa cao so với tiềm năng.  
Bên cạnh năng suất mía theo từng vụ, từng thời điểm và từng năm, kết quả đánh giá năng  
suất mía bình quân quy đổi theo hàm lượng đường 10% của chu kỳ “1 vụ mía tơ + 1 vụ mía gốc  
1” và hiệu quả kinh tế cho thấy: Năng suất bình quân quy đổi theo hàm lượng đường 10% của  
chu kỳ “1 vụ mía tơ + 1 vụ mía gốc 1” đạt 146,39tấn/ha và cao hơn 67,72% so với ngoài mô  
hình (đạt 87,28 tấn/ha).  
Kết quả phân tích về hiệu quả kinh tế của mô hình canh tác mía theo phương thức tiểu  
bậc thang với chu kỳ “2 vụ mía tơ + 1 vụ mía gốc 1” cho thấy: Tổng doanh thu hai vụ thu  
hoạch đạt 125.420.880đồng/ha theo giá mía Nhà máy Đường Phổ Phong mua trong năm 2015  
và 2016, tỷ suất lợi nhuận so với vốn đầu tư đạt 0,63 lần. Tính bình quân cho 1 năm lãi của mô  
hình là 24.475.440đồng/ha và thu nhập (Lãi tính cả công lao động) là 48.475.440đồng/ha. Hiệu  
quả kinh tế như trên của mô hình sẽ vượt hơn so với thu nhập bình quân trên diện tích đất sản  
xuất nông nghiệp của huyện Sơn Hà.  
So với ngoài mô hình thì mía trong mô hình đạt năng suất cao hơn 67,72%, lãi thuần cao  
hơn 410,3% sau hai vụ thu hoạch. Nguyên nhân chính là trong mô hình một số chi phí thấp hơn  
như: giá làm đất bằng cơ giới, giá giống được phân bổ trong 4 năm (1 vụ tơ + 3 vụ gốc), trong  
khi đó mía ngoài mô hình phân bổ trong 3 năm (1 vụ tơ + 2 vụ gốc). Hơn nữa, đất trong mô hình  
làm được tơi xốp hơn, giữ ẩm và dinh dưỡng tốt hơn, bên cạnh đó việc đầu tư phân bón hợp lý  
hơn (bón vôi, lân, phân hữu cơ vi sinh) nên đã làm tăng hiệu quả sử dụng phân bón của cây mía.  
Ngoài ra, cây mía của mô hình tiểu bậc thang cũng hiệu quả hơn cây mỳ 14.875.440đ/ha/  
14  
LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN  
KỶ YẾU NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ GIAI ĐOẠN 2016 - 2020  
năm, gấp 2,25 lần (lợi nhuận cây mỳ 9.600.000đ/ha/năm) và cây keo 15.250.440đ/ha/năm, gấp  
2,65 lần (lợi nhuận cây keo 9.225.000đ/ha/năm).  
2. Kết quả xây dựng mô hình cánh đồng mẫu canh tác mía theo đường đồng mức  
+ Đối với vụ mía tơ:  
Trong vụ mía tơ 2014-2015, năng suất bình quân (tính trung bình ở các điểm xây dựng mô  
hình và trên 2 giống ROC27 và K88-92) của mía trong mô hình theo hàm lượng đường thực  
tế đạt 82,81tấn/ha cao hơn so với mía ngoài mô hình là 51,78% (ngoài mô hình năng suất bình  
quân 54,56tấn/ha). Bên cạnh năng suất, hàm lượng đường của mía trong mô hình cũng đạt cao  
hơn so với ngoài mô hình cùng giống cùng thời vụ, cụ thể: Hàm lượng đường của mía trong mô  
hình được xác định mua tại ruộng bình quân là 9,5% trong khi đó hàm lượng đường của mía  
ngoài mô hình chỉ đạt bình quân 9,2%.  
Tương tự, trong vụ mía tơ 2015-2016, năng suất bình quân của mía trong mô hình theo  
hàm lượng đường thực tế đạt 90,99tấn/ha, trong khi đó ngoài mô hình chỉ đạt 52,87tấn/ha thấp  
hơn 70,1% so với mía mô hình. Hàm lượng đường được xác định mua bình quân tại ruộng là  
9,5CCS đối với mía mua trong mô hình cao hơn 0,3% so với mía ngoài mô hình (mía ngoài mô  
hình bình quân tại ruộng là 9,2%).  
+ Đối với mía gốc 1 (vụ 2015-2016)  
Năng suất mía bình quân của vụ gốc 1 trong mô hình theo hàm lượng đường thực tế là  
80,11tấn/ha cao hơn 42,6% so với ngoài mô hình (ngoài mô hình đạt 56,17tấn/ha). Với hàm  
lượng đường mua bình quân tại ruộng được xác định là 9,5% cao hơn hàm lượng đường mía  
mua bình quân tại ngoài mô hình là 0,3%, ngoài mô hình là 9,2%.  
Bên cạnh năng suất theo hàm lượng đường thực tế, năng suất bình quân của hai giống tại  
các điểm trong mô hình được quy đổi theo hàm lượng đường 10% đạt 81,57tấn/ha đối với mía  
tơ và 76,1tấn/ha đối với mía gốc 1. Mặc dù các điểm thực hiện mô hình cánh đồng mẫu theo  
phương thức đường đồng mức trong hai năm không bị nắng nóng cục bộ gay gắt kéo dài như ở  
các điểm mô hình tiểu bậc thang, song cũng bị ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng của mía nên  
năng suất mía chỉ vượt hơn so với mục tiêu của dự án là 25,46% đối với mía tơ và 17,07% đối  
với mía gốc 1 và cao hơn so với mía ngoài mô hình cùng giống cùng thời vụ trồng là 65,9% đối  
với mía tơ và 47,25% đối với mía gốc 1.  
Kết quả phân tích về hiệu quả kinh tế của mô hình canh tác mía theo đường đồng mức với  
chu kỳ “1 vụ mía tơ + 1 vụ mía gốc 1” tại huyện Sơn Hà cho thấy: Tổng doanh thu của 2 vụ thu  
hoạch 134.790.750đồng/ha theo giá mía Nhà máy Đường Phổ Phong mua trong 2 năm 2015 và  
2016, tỷ suất lợi nhuận so với vốn đầu tư 0,71lần. Tính bình quân cho 1 năm, lãi thuần của mô  
hình là 28.010.375đồng/ha/năm và thu nhập (lãi tính cả công lao động) là 53.135.375đồng/ha/  
năm. Hiệu quả kinh tế như trên của mô hình chắc chắn sẽ vượt so với thu nhập bình quân trên  
diện tích đất sản xuất nông nghiệp của huyện Sơn Hà.  
Cũng như mô hình canh tác tiểu bậc thang, so với mía ngoài mô hình thì mía trong mô hình  
đạt năng suất cao hơn 56,35%; lãi thuần cao hơn 178,4% sau hai vụ thu hoạch và lợi nhuận cao  
hơn cây mỳ là: 18.410.375đ/ha/năm tương ứng với 191,77%; cây keo là: 18.785.375đ/ha/năm  
tương ứng với 203,64%.  
Tuy có một số hộ không đạt được mục tiêu dự án về năng suất – chất lượng nhưng đa  
số các hộ đều vượt mục tiêu của dự án nên có thể khẳng định việc ứng dụng giải pháp kỹ thuật  
15  
LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN  
KỶ YẾU NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ GIAI ĐOẠN 2016 - 2020  
thâm canh mía xây dựng cánh đồng mẫu theo phương thức đường đồng mức, không những đạt  
được năng suất và chất lượng cao hơn so với phương thức canh tác truyền thống của nông dân  
đang sử dụng tại huyện Sơn Hà, mà còn vượt cao hơn so với mục tiêu của dự án đã được UBND  
tỉnh Quảng Ngãi phê duyệt.  
Tương tự như mô hình tiểu bậc thang, đối với mô hình cánh đồng mẫu theo phương thức  
đường đồng mức khi nhân rộng kết quả của dự án cũng cần tập trung hơn nữa việc hướng dẫn  
nâng cao trình độ canh tác mía theo hướng thâm canh và đôn đốc nhắc nhở hộ chăm sóc, bón  
phân kịp thời vụ. Bởi vì, biến động về năng suất mía của các hộ trong mô hình dao động từ  
55,7÷118 tấn/ha đối với vụ mía tơ 2014-2015, 62,5÷125t/ha đối với mía tơ vụ 2015-2016 và đối  
với vụ mía gốc vụ 2015-2016: 60,0÷105,26t/ha, làm cho khoảng cách về năng suất giữa các hộ  
khá lớn, có hộ chỉ đạt 55,7tấn/ha không đạt mục tiêu dự án, nhưng có hộ đạt đến 125tấn/ha do  
hộ chăm sóc kịp thời. Tuy vậy năng suất bình quân của mô hình đạt được mục tiêu của dự án đề  
ra.  
3. Kết quả xây dựng mô hình cánh đồng mía mẫu  
Kết quả sau 2 năm triển khai thực hiện đã xây dựng được 11 cánh đồng mẫu tại 7 xã trong  
vùng dự án đạt diện tích lớn bình quân 10,18ha/cánh đồng.  
Trong 11 cánh đồng mẫu được xây dựng trong hai năm phần lớn đạt chỉ tiêu cánh đồng  
lớn: 5ha trở lên, có 3 cánh đồng đạt qui mô diện tích dưới 5ha đó là: Làng Rê (Sơn Kỳ); Tà Cơm  
(Sơn Thủy) và Đèo Rơn (Sơn Hạ), tuy nhiên có hai xứ đồng liền kề nên diện tích trên 10ha,  
trong đó: cánh đồng Dinh Điền (Sơn Cao) đạt diện tích 23,948ha.  
Nguyên nhân: Địa hình đồi núi chia cắt, diện tích nhỏ lẻ, nhiều bờ thửa, nhiều hộ nông  
dân không tham gia dự án trồng mía theo đăng ký ban đầu mà chuyển sang trồng mì, keo, vì  
vậy làm chia cắt cánh đồng ra làm nhiều khu nhỏ, đây là nguyên nhân chính làm cho qui mô  
diện tích CĐL chưa đạt được yêu cầu từ 20ha trở lên. Mặt khác, sự quan tâm chỉ đạo của lãnh  
đạo các xã trong vùng dự án chưa tích cực trong chỉ đạo thực hiện qui hoạch, còn để người dân  
tùy tiện. Bên cạnh đó còn có yếu tố khách quan tác động rất lớn trong quá trình triển khai thực  
hiện, đó là tác động của nền kinh tế thị trường làm cho ngành mía đường thế giới và trong nước  
bị khủng hoảng, giá giảm sút nghiêm trọng nên chưa khuyến khích được nông dân… Những  
tồn tại trên đã làm cho kế hoạch khối lượng của dự án đạt thấp.  
V. KẾT LUẬN  
Sau 2 năm thực hiện, Ban quản lý dự án đã tổ chức triển khai tương đối đầy đủ các nội  
dung và đảm bảo tiến độ như thuyết minh đã phê duyệt. Mặc dù về số lượng diện tích mô hình  
thực hiện trong hai năm là 181,996ha đạt 60,66% so với kế hoạch. Nhưng kết quả của dự án  
khẳng định đóng góp của khoa học công nghệ trong việc xây dựng cánh đồng mẫu canh tác mía  
trên đất đồi, gò tại huyện Sơn Hà không những đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người trồng mía  
mà còn tạo cho nông dân biết sử dụng đất đai một cách bền vững, hợp lý, thông qua đó các hộ  
nông dân được tiếp cận với khoa học kỹ thuật để áp dụng vào sản xuất và tư duy kinh tế trong  
sản xuất hàng hóa của nền kinh tế thị trường biết kết hợp giữa sản xuất và tiêu thụ một cách bền  
vững. Hiệu quả kinh tế từ sản xuất mía góp phần đáng kể trong việc xóa đói, giảm nghèo ở khu  
vực nông thôn và miền núi  
16  
LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN  
KỶ YẾU NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ GIAI ĐOẠN 2016 - 2020  
TRỒNG VÀ PHÁT TRIỂN CÂY MÂY NƯỚC, CÂY SA NHÂN  
TÍM DƯỚI TÁN RỪNG PHÒNG HỘ CHO ĐỒNG BÀO  
DÂN TỘC H’RE Ở HUYỆN BA TƠ, TỈNH QUẢNG NGÃI  
Chủ nhiệm dự án: KS. Nguyễn Thanh Lực  
Chủ trì dự án: Trạm Khuyến nông huyện Ba Tơ  
Năm nghiệm thu: 2016  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Cây Mây nước và Sa nhân tím là hai cây bản địa sinh sống và phát triển dưới tán rừng  
tự nhiên trên địa bàn huyện. Sản phẩm của hai loại cây này đã được người dân thu hoạch,  
hái bán có giá trị trên thị trường nhưng 2 loại cây này chủ yếu phát sinh tự nhiên, chưa được  
người dân tổ chức trồng và chăm sóc.  
Cùng với sự phát triển của hai loại cây này trong tự nhiên, kết quả đề tài “Nghiên cứu  
gây trồng cây Sa nhân tím ở miền núi tỉnh Quảng Ngãi” năm 2011 của TS. Nguyễn Thanh  
Phương - Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Duyên hải Nam Trung bộ đã xác định cây  
sa nhân tím trồng dưới tán rừng phòng hộ ra hoa và đậu quả được. Vậy việc triển khai trồng  
cây mây nước và cây sa nhân tím này dưới tán rừng phòng hộ trên địa bàn huyện Ba Tơ là  
khả thi; góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp vùng miền núi ngày càng phát triển bền  
vững cả về chiều rộng lẫn chiều sâu.  
II. MỤC TIÊU  
Hỗ trợ ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ trồng và phát triển cây Mây nước, Sa  
nhân tím nhằm tăng thu nhập cho các hộ dân nhận giao khoán quản lý, bảo vệ rừng phòng  
hộ; Tạo nguồn lợi của lâm sản ngoài gỗ dưới tán rừng phòng hộ để tăng thêm thu nhập và  
hạn chế xâm lấn rừng phòng hộ, nâng cao ý thức bảo vệ rừng cho người dân sống gần rừng  
phòng hộ.  
III. KẾT QUẢ THỰC HIỆN  
1. Mô hình trồng cây Mây nước  
1.1. Quy mô, địa điểm thực hiện  
Tổng diện tích xây dựng mô hình cây Mây nước: 80 ha/75 hộ.  
Trồng đợt 1 và đợt 2 tại tiểu khu 398 thuộc thôn Con Dốc và thôn Bùi Hui; Trồng đợt  
3 tại tiểu khu 414 thuộc thôn Nước Đang. Cụ thể:  
- Đợt 1: Diện tích trồng 20,4 ha/18 hộ, tại thôn Con Dốc và Bùi Hui  
- Đợt 2: Diện tích 14,6 ha/14 hộ (có 4 hộ trồng 2 đợt), tại thôn Con Dốc và Bùi Hui.  
- Đợt 3: Diện tích trồng 45 ha/47 hộ, tại thôn Nước Đang.  
1.2. Hướng dẫn và thực hiện mô hình cây mây nước:  
1.2.1. Chọn đất, chọn độ tàn che rừng trong rừng phòng hộ để trồng cây Mây nước  
Chọn rừng phòng hộ có độ tàn che 0,2 - 0,4, đất tương đối tốt, giàu mùn, tơi xốp, tầng  
đất dày, đủ ẩm quanh năm (Không trồng trên đất rừng phòng hộ trồng cây dầu, thông, keo,  
17  
LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN  
KỶ YẾU NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ GIAI ĐOẠN 2016 - 2020  
trên đất này thường không đảm bảo độ ẩm quanh năm và rừng có độ tàn che dày >0,6 thiếu  
ánh sáng cho cây quang hợp nhất là thời kỳ cây mây chưa vươn đốt).  
1.2.2. Phát dọn thực bì, mật độ trồng, đào hố, bón lót phân  
- Phát dọn thực bì: Dưới tán rừng, thực bì được phát, chặt sát gốc là những cây thực bì  
có đường kính < 5 cm, chiều cao thấp phi tác dụng rừng, có 2 cách phát dọn thực bì: Trồng  
đợt 1 phát hết diện tích trên lô rừng trồng và được dọn sạch nơi đào hố trồng (Cách này tạo  
điều kiện tốt cho chăm sóc năm 1, năm 2, nhưng tốn nhiều công dọn thực bì lần đầu). Trồng  
đợt 2, 3 phát dọn sạch thực bì theo băng rộng 1,5m, băng phát cách nhau 1,5-2m.  
- Mật độ trồng: Cây Mây nước bố trí bình quân mật độ 1.500 cây/ha. Cụ thể: Trồng đợt  
1, độ tàn che 0,3 - 0,4 hàng cách hàng 3 m, cây cách cây 2 m, độ tàn che 0,4 - 0,5 (Cây rừng  
dày hơn) có điểm hàng cách hàng 3m, cây cách cây 3 m. Trồng đợt 2, 3 rừng có độ tàn che  
0,2 - 0,3 (rừng nghèo, cây gỗ rừng thưa) trồng cây Mây theo hình tam giác.  
- Đào hố, bón lót phân: Đào cục bộ theo hố, đào hố 20 x 20 x 20 cm, cách gốc cây rừng  
0,8 - 1,5m và đào hố đến đâu bón phân lót đến đó, trước khi trồng 10 -15 ngày. Bón lót phân  
NPK 0,05kg/hố.  
1.2.3. Tiêu chuẩn cây giống đem trồng  
Giống cây Mây nước: Trong vườn ươm cây giống được 12 - 18 tháng tính từ khi gieo  
hay một năm từ khi cấy cây mạ, có chiều cao cây con từ 25 – 35 cm với 5 – 6 lá là có thể  
mang đi trồng. Cây khỏe mạnh, đã có gai cứng, đường kính cổ rễ từ 0,4 cm trở lên.  
1.2.4. Thời vụ trồng  
Cây Mây nước trồng dưới tán rừng có thể trồng được ở các thời điểm trong năm. Trồng  
đợt 1 vào tháng 1/2013, cây sống đạt >90%; Trồng đợt 2 vào tháng 7/2014, cây sống thấp  
đạt 75 - 80%; Trồng đợt 3 vào tháng 3/2015 cây đạt tỉ lệ sống 85% .  
1.2.5. Chăm sóc  
Trồng năm thứ nhất, sau trồng 1-2 tháng tiến hành kiểm tra có cây chết trồng dặm.  
Làm cỏ kết hợp vun xới 2 lần (Tháng 3 và tháng 8). Trồng năm 2 - 4, phát thực bì, dây leo,  
bụi rậm vào tháng 3-4 và tháng 7-8 trong năm.  
1.3. Kết quả sinh trưởng cây Mây nước  
* Đợt 1: Sau trồng 3,5 năm.  
Khả năng tái sinh rễ giai đoạn cây con chậm, cây đã phân cành lá từ 4-5 cành, có chiều  
cao 1- 1,2 m, tán lá so với gốc rộng 40-50 cm (đường kính tán 0,8 - 1m).  
* Đợt 2: Sau trồng gần 2 năm.  
Chiều cao cây 30-40cm, phân cành lá từ 2-3 cành, tán lá so với gốc rộng 20-25 cm  
* Đợt 3: Sau trồng 1 năm, cây Mây nước đã phát triển chồi lá non.  
Cây Mây nước sau trồng 2 năm mới có tốc độ sinh trưởng chồi và nhánh lá vươn nhanh  
hơn và đều hơn so với sau trồng năm thứ nhất. Với khả năng sinh trưởng của cây trồng sau  
trồng 3 năm, trong tương lai đến năm thứ 4 cây Mây vươn lóng, đến năm thứ 5 có sợi Mây  
leo lên cây giá đỡ, năm thứ 6 (năm 2018) thu hoạch lứa đầu và các năm tiếp theo thu hoạch  
quanh năm.  
18  
LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN  
KỶ YẾU NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ GIAI ĐOẠN 2016 - 2020  
Bảng 2: Tình hình sinh trưởng cây Mây nước.  
Thời gian sau  
trồng  
Đường  
kính gốc  
Đường kính Tỷ lệ sống  
TT  
Chiều cao  
Sâu bệnh  
tán  
(%)  
1
Đợt 1(3,5 năm)  
120 cm  
3 cm  
100cm  
90  
Không  
2
3
Đợt 2 (2 năm)  
Đợt 3 (1 năm)  
40 cm  
30 cm  
1,5 cm  
0,5 cm  
50 cm  
20 cm  
75  
80  
Không  
Không  
2. Mô hình trồng cây Sa nhân tím  
2.1. Quy mô, địa điểm thực hiện  
Tổng diện tích xây dựng mô hìnhcây Sa nhân tím: 20 ha/31 hộ.  
Trồng đợt 1 và đợt 2 tại tiểu khu 398 thuộc thôn Con Dốc và thôn Bùi Hui; Trồng đợt  
3 tại tiểu khu 414 thuộc thôn Nước Đang. Cụ thể:  
- Đợt 1: Diện tích trồng 2 ha/4 hộ, tại thôn Bùi Hui  
- Đợt 2: Diện tích trồng 8 ha/14 hộ (có 2 hộ trồng 2 đợt), tại thôn Bùi Hui  
- Đợt 3: Diện tích trồng 10 ha/15 hộ, tại thôn Nước Đang.  
2.2. Hướng dẫn và thực hiện mô hình  
2.2.1. Chọn đất, chọn độ tàn che rừng trong rừng phòng hộ để trồng cây Mây nước và  
Sa nhân tím  
Các dạng rừng tự nhiên thứ sinh nghèo, rừng phục hồi có độ tàn che 0,3 (0,4 - 0,6).  
Đất tương đối tốt, giàu mùn, đủ ẩm quanh năm, thoát nước tốt, độ cao so với mặt nước biển  
>300 m. Không trồng khu đất sỏi đá, khô cằn. Không trồng Sa nhân tím nơi đất trống không  
có tàn che, còi cọc.  
2.2.2. Phát dọn thực bì, mật độ trồng, đào hố, bón lót phân  
- Phát dọn thực bì: Dưới tán rừng, thực bì được phát, chặt sát gốc là những cây thực bì  
có đường kính < 5 cm, chiều cao thấp phi tác dụng rừng. Đối với cây Sa nhân tím, phát hết  
diện tích trên lô rừng trồng và được dọn sạch nơi đào hố trồng.  
- Mật độ trồng: Bố trí hàng theo đường đồng mức, mật độ bình quân 2.500 cây/ha (2  
m x 2m), độ tàn che rừng 0,4 (Có cây rừng dày hơn) mật độ 2m x 1,5m chủ yếu trồng đợt 1.  
- Đào hố, bón lót phân: Đào cục bộ theo hố, đào hố 20 x 20 x 20 cm, cách gốc cây rừng  
0,8 - 1,5m và đào hố đến đâu bón phân lót đến đó, trước khi trồng 10 -15 ngày. Bón lót phân  
NPK 0,02 kg/hố.  
2.2.3. Tiêu chuẩn cây giống đem trồng  
Giống ươm vô tính (từ chồi), cây có bầu là túi polyetylen (PE) cỡ 15 x 20 cm, cây con  
ươm 5 tháng tuổi xuất vườn trồng được. Chiều cao cây 60 - 70 cm, số lá trên cây 12 - 13 lá,  
số cây/bầu 1 - 2 cây, cây sinh trưởng tốt không bị sâu bệnh hại.  
2.2.4. Thời vụ trồng  
Cây Sa nhân tím trồng dưới tán rừng có thể trồng được ở các thời điểm trong năm.  
Trồng đợt 1 vào tháng 1/2013, cây sống đạt >90%; Trồng đợt 2 vào tháng 7/2014, cây sống  
19  
LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN  
KỶ YẾU NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ GIAI ĐOẠN 2016 - 2020  
thấp đạt 75 - 80%; Trồng đợt 3 vào tháng 3/2015 cây đạt tỉ lệ sống 85% .  
2.3. Chăm sóc  
Sau khi trồng 1 - 2 tháng thì trồng dặm. Năm thứ 1: Bón thúc phân NPK (16-16-8), liều  
lượng: 0,025 kg/ cây. Bón 2 lần khi phát dọn thực bì và xới gốc. Năm 2, 3: Phát dọn thực bì,  
xới gốc từ 1- 2 lần vào tháng 2 -3 và tháng 7 - 8 hàng năm. Hàng năm sau lần thu hoạch, điều  
chỉnh độ tàn che, đảm bảo 0,3 – 0,4. Loại bỏ các cây Sa nhân già > 8 tuổi để tạo điều kiện  
cho các chồi non phát triển, đồng thời thường xuyên rào vườn, cấm thả trâu bò dẫm, phá  
hoại cây, phòng chống cháy rừng. Riêng trồng đợt 3 tại tổ Đèo Ải, thôn Nước Đang, người  
dân còn chăn thả rông trâu bò vào dẫm phá cây Sa nhân tím.  
2.4. Thu hoạch  
Đến nay chỉ mới thu hoạch Sa nhân tím trồng đợt 1 (sau trồng 3,5 năm), năm 2016 đã ra  
hoa cuối tháng 5, thời kỳ trái vào chắc – chín tháng 7 đến đầu tháng 8, thu hoạch cuối tháng  
8 và tháng 9. Cây Sa nhân tím ra hoa 2 đợt, đợt đầu ra hoa cuối tháng 5, đợt 2 ra hoa rộ vào  
trung tuần tháng 6, chiếm 65-70% quả chắc. Giai đoạn đang ra hoa, kết trái không để gia súc  
và người đi vào đám Sa nhân để dẫm đạp quả. Chỉ thu hoạch 1 lần khi có 65-70% quả già  
chín vào cuối tháng 8 và đầu tháng 9 là lúc năng suất cao nhất.  
2.5. Tình hình sinh trưởng, phát triển cây Sa nhân tím  
* Đợt 1: Sau trồng 3,5 năm.  
Cây sinh trưởng khỏe từ 15-18 cây/bụi. Năm 2015 sau trồng 2,5 năm để 10-12 cây/bụi  
và ra trái bói đầu vụ, năng suất đạt 400 kg tươi = 60 kg khô/ha đạt 50% mục tiêu dự án vào  
thời kỳ kinh doanh (cụ thể: Có vườn hộ ông Sơn vào mùa Sa nhân tháng 6/2015 đã ra hoa,  
đậu quả bói vụ đầu tiên, năng suất thực thu 30 kg/0,5 ha, giá trị 30 kg x 250.000đ/kg = 7,5  
triệu đồng). Năm 2016 vào thời kỳ kinh doanh, sau trồng 3,5 năm cây ra hoa, kết trái gấp  
đôi năm ra trái bói đầu vụ.  
* Đợt 2: Sau trồng 2 năm tuổi  
Cây đã đẻ chồi từ 6-8 cây/bụi, cây mẹ cao từ 1-1,2 m, các cây sau cao trung bình 0,6-  
0,7 m, thân ngầm bò dưới mặt đất dài bình quân 25-40 cm, thân ngầm bò dưới mặt đất dài  
bình quân 25-40 cm, cây sinh trưởng khỏe. Hiện nay có diện tích đất độ phì cao và tán rừng  
thưa hơn ra hoa vụ tháng 6/2016  
* Đợt 3: Sau trồng 1 năm.  
Cây đẻ được 2-3 chồi, cao 0,35-0,45 cm.  
Kết quả thực hiện mô hình trồng sa nhân tím: Tổng diện tích trồng 20 ha, tỉ lệ sống đạt  
90%. Cây Sa nhân tím dưới tán rừng sau trồng 2 đến 3 năm ra trái. Thời kỳ ra hoa chính vụ  
cuối tháng 5, thời kỳ trái vào chắc tháng 7,8; Chín cuối tháng 8 và tháng 9 thu hoạch.  
Bảng 4: Tình hình phát triển cây Sa nhân tím trồng đợt 1.  
Tỉ lệ ra  
hoa (%)  
Cụm hoa/  
bụi  
NS tươi  
(kg/ha)  
NS khô  
(kg/ha)  
TT T/gian sau trồng  
Số quả/cụm  
1
2,5 năm  
3,5 năm  
35  
75  
10  
15  
8-10  
400  
750  
60  
2
10-12  
105  
20  
LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN  
KỶ YẾU NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ GIAI ĐOẠN 2016 - 2020  
3. Hiệu quả thực hiện dự án  
* Hiệu quả về xã hội:  
Cây Mây nước và cây Sa nhân tím trồng dưới tán rừng phòng hộ là phù hợp và sinh  
trưởng, phát triển khá trên địa bàn xã Ba Trang. Trồng cây Mây nước và Sa nhân tím dưới  
tán rừng góp phần hạn chế xói mòn, ngăn chặn và hạn chế lũ lụt nhằm phục vụ cho sản xuất  
và đời sống. Ngoài ra còn góp phần bảo vệ giống cây trồng bán địa quí hiếm và tạo thêm  
giống cây trồng mới có giá trị kinh tế cao và đa dạng cây trồng cho tỉnh Quảng Ngãi và  
huyện Ba Tơ.  
* Hiệu quả về kinh tế  
Cây Mây nước: Mô hình dự án đến nay đang trong thời kỳ kiến thiết cơ bản, với theo  
dõi đánh giá cây Mây nước trồng đợt 1, đến năm thứ 3 về sau tốc độ sinh trưởng nhanh gấp  
đối so với các năm trước. Từ đó đến năm thứ 5 có sợi Mây cho đủ chiều dài thu hoạch bói,  
đến năm thứ 6 về sau vào thời kỹ kinh doanh hàng năm thu hoạch 3 cây/bụi, tỉ lệ sống 85%  
(425 bụi), năng suất đạt 3 cây/bụi x 3kg x 425 = 38 tạ/ha, giá 3.500đ/kg, thu nhập 13,3 triệu  
đồng/ha. Cây Mây nước là cây trồng lâu năm có thời kỳ kinh doanh 30 năm.  
Cây Sa nhân tím: Là cây trồng dược liệu, ra hoa kết trái phụ thuộc rất lớn vào điều kiện  
khí hậu thời tiết hàng năm. Mô hình dự án trồng đợt 1 diện tích 2 ha, sau trồng 2 năm (năm  
2015) ra trái bói năng suất đạt 60 kg khô/ha, sau trồng 3 năm (năm 2016) cây vào thời kỳ  
kinh doanh ước năng suất 105 kg khô/ha, thu nhập 21 triệu đồng/ha. Cây Sa nhân tím có  
thời kỳ kinh doanh 10 năm.  
IV. KẾT LUẬN  
Cây Sa nhân tím sau trồng 3 năm ra hoa kết trái; Cây Mây nước sau trồng 3,5 năm sinh  
trưởng phát triển tốt, là cây trồng lâu năm nên mô hình của dự án chủ yếu đang thời kỳ kiến  
thiết cơ bản, chỉ đánh giá được sinh trưởng phát triển bước đầu; và kết quả của mô hình sau  
khi tiếp tục theo dõi, có số liệu về hiệu quả kinh tế cụ thể sẽ là cơ sở để xây dựng kế hoạch  
phát triển sản xuất, góp phần tăng thu nhập cho người dân, giảm nghèo và bảo vệ rừng bền  
vững.  
Về công nghệ chuyển giao, áp dụng: Từ thực tế triển khai cần bổ sung và điều chỉnh  
nội dung sau:  
- Thời vụ: Trồng vào đầu mùa mưa (Tháng 9,10) và cuối mùa mưa (tháng 12, tháng 1  
năm sau)  
- Làm đất: Phát dọn sạch thực bì ( những cây phi tác dùng rừng), không phát theo băng  
(vì dưới tán rừng không có xói mòn và phát sạch thực bì dễ chăm sóc và cây sinh trưởng  
nhanh hơn).  
- Mật độ: Cây Mây nước trồng dưới tán rừng không bố trí hình tam giác (Vì trong rừng  
có cây giá đỡ cho sợi mây leo), mật độ bố trí 3m x3 m  
21  
LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN  
KỶ YẾU NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ GIAI ĐOẠN 2016 - 2020  
HỖ TRỢ XÂY DỰNG LÀNG NGHỀ TRỒNG NẤM PHỤC VỤ  
CHUYỂN ĐỔI NGHỀ NGHIỆP CHO LAO ĐỘNG TỪ CÁC  
LÒ GẠCH THỦ CÔNG XÃ ĐỨC NHUẬN VÀ ĐỨC CHÁNH,  
HUYỆN MỘ ĐỨC, TỈNH QUẢNG NGÃI  
Chủ nhiệm dự án: KS. Vũ Nhân  
Cơ quan chủ trì: UBND huyện Mộ Đức  
Năm nghiệm thu: 2016  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Tại xã Đức Chánh và xã Đức Nhuận có điều kiện thuận lợi cho nghề trồng nấm phát  
triển như có nhiều phế phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp như mùn cưa, rơm, bã mía, lõi ngô…;  
có hơn 400 lao động đang hoạt động sản xuất gạch thủ công cần chuyển đổi sang nghề khác  
khi xóa bỏ lò gạch. Từ thực tế đó, UBND huyện Mộ Đức đã xây dựng và triển khai dự án  
“Hỗ trợ xây dựng làng nghề trồng nấm phục vụ chuyển đổi nghề nghiệp cho lao động từ các  
lò gạch thủ công xã Đức Nhuận và Đức Chánh, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi” nhằm  
mục đích xóa bỏ các lò gạch thủ công, góp phần thúc đẩy sự phát triển của Hợp tác xã sản  
xuất và kinh doanh nấm Đức Nhuận, hướng đến hình thành làng nghề trồng nấm tại xã Đức  
Nhuận, xã Đức Chánh và hơn hết là giải quyết việc làm cho số lao động sau khi thực hiện  
chủ trương xóa các lò gạch thủ công của tỉnh.  
II. MỤC TIÊU  
Chuyển đổi nghề nghiệp cho lao động từ các lò gạch thủ công của xã Đức Nhuận và  
Đức Chánh huyện Mộ Đức; Hình thành làng nghề sản xuất nấm tại xã Đức Nhuận và Đức  
Chánh, huyện Mộ Đức  
III. KẾT QUẢ THỰC HIỆN  
1. Khảo sát hiện trạng  
Báo cáo kết quả khảo sát trên địa bàn huyện đến tháng 6/2013 có hơn 100 hộ, với gần  
300 lao động đang tham gia hoạt động sản xuất gạch thủ công mong muốn được chuyển đổi  
sang nghề nuôi trồng nấm ăn và nấm dược liệu. Đây là cơ sở vũng chắc để hình thành dự án  
“Hỗ trợ xây dựng làng nghề trồng nấm phục vụ chuyển đổi nghề nghiệp cho lao động từ các  
lò gạch thủ công xã Đức Nhuận và Đức Chánh, huyện Mộ Đức”.  
2. Xây dựng đội ngũ cộng tác viên ở cơ sở để triển khai các nội dung dự án. Cộng  
tác viên gồm các cán bộ ở xã, thôn  
- Từ 10/11/2013 đến ngày 10/01/2014, tại xã Đức Nhuận đã xây dựng hoàn thành và  
đưa vào nuôi trồng được 10 trại nấm Sò và 10 trại nấm Linh Chi, tại 09 điểm xây dựng trại,  
cho 10 hộ đã được chọn và Cam kết với UBND xã Đức Nhuận.  
- Từ tháng 03/2014 đến tháng 07/2014, tại xã Đức Chánh đã xây dựng hoàn thành 28  
trại nấm Sò và 28 trại nấm Linh Chi, tại 28 điểm xây dựng; đã đưa vào nuôi trồng tại 16  
điểm với 32 trại; đến ngày 10/8/2016 hoàn thành 30 trại nấm Sò và 30 trại nấm Linh Chi,  
tại 29 điểm xây dựng.  
22  
LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 332 trang yennguyen 8880 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu Kỷ yếu Nhiệm vụ khoa học và công nghệ (2016-2020)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftai_lieu_ky_yeu_nhiem_vu_khoa_hoc_va_cong_nghe_2016_2020.pdf