Nghiên cứu chế tạo vật liệu nanocomposite để tăng hiệu suất hấp thu năng lượng mặt trời ứng dụng nâng cao hiệu quả sản xuất nước ngọt từ nước mặn

Giải thưởng Sinh viên nghiên cứu khoa học Euréka lần thứ 21 năm 2019  
Kỷ yếu khoa học  
NGHIÊN CỨU CHẾ TẠO VẬT LIỆU NANOCOMPOSITE ĐỂ TĂNG HIỆU SUẤT  
HẤP THU NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI ỨNG DỤNG NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN  
XUẤT NƯỚC NGỌT TỪ NƯỚC MẶN  
Lê Thị Nguyện*, Lê Quốc Anh  
Trường Đại học Mỏ - Địa chất Hà Nội  
*Tác giả liên hệ: [email protected]  
TÓM TẮT  
Trong công trình này, hệ vật liệu nanocomposite có từ tính trên cơ sở graphene oxit (Al2O3/GO,  
Fe3O4/GO, Fe3O4 – Al2O3/GO) đã được tổng hợp và đặc trưng bằng các phương pháp X-ray,  
phổ hồng ngoại, SEM và EDX. Graphene oxide (GO) được tổng hợp từ graphite bằng phương  
pháp Hummers cải tiến và các vật liệu composite được tổng hợp bằng phương pháp trộn huyền  
phù. Sau khi tổng hợp và đặc trưng, dãy vật liệu cơ sở GO và được phân tán vào nước mặn và  
đo khả năng hấp thu nhiệt. Kết quả cho thấy khi dùng phối hợp các vật liệu thì hiệu quả hấp  
thu nhiệt hơn khi dùng đơn lẻ. Fe3O4-Al2O3/GO cho hiệu quả hấp thu cao nhất (chênh lệch  
nhiệt độ giữa mẫu trắng và mẫu có phân tán vật liệu nồng độ 5mg/mL là 6oC). Ảnh hưởng của  
hàm lượng vật liệu đến khả năng hấp thu nhiệt đã được khảo sát và lựa chọn được nồng độ phù  
hợp là 5mg/mL, khi tăng nồng độ cao hơn 1.5 mg/mL và thời gian dài thì khả năng hấp thu  
giảm. Ảnh hưởng của cường độ ánh sáng đến khả năng hấp thu nhiệt của vật liệu cũng được  
khảo sát, khi dùng 2 bóng đèn thì chênh lệch nhiệt độ giữa mẫu trắng và mẫu có phân tán vật  
liệu tăng lên nhiều so với dùng một bóng.  
Từ khóa: Vật liệu nanocomposite, cường độ ánh sáng, nước mặn.  
STUDY ON CREATING NANOCOMPOSITE MATERIALS TO INCREASE THE  
SOLUTION OF SOLAR ENERGY APPLICATION TO IMPROVE THE  
EFFICIENCY OF WATER PRODUCTION FROM SALT WATER  
Le Thi Nguyen*, Le Quoc Anh  
Hanoi University of Mining and Geology  
*Corresponding Author: [email protected]om  
ABSTRACT  
Research, nanocomposite materials are magnetically based on graphene oxide (Al2O3/GO,  
Fe3O4/GO, Fe3O4 – Al2O3/GO) synthesized and characterized by X-ray methods, infrared  
spectroscopy, SEM and EDX. Graphene oxide (GO) is synthesized from graphite by means of  
an improved Hummers method and composite materials are synthesized by suspension  
blending. After synthesis and characterization, the range of GO base materials is dispersed into  
saline water and measured for heat absorption. Results show that when used in combination  
with materials, the effect of heat absorption is greater than when used alone. Fe3O4-Al2O3/GO  
gives the highest absorption efficiency (the temperature difference between the blank sample  
and the material dispersion material with a concentration of 5 mg/mL is 6°C). The effect of the  
material content on the heat absorption capacity was investigated and selected the appropriate  
concentration is 5 mg/mL, the increase in concentration is higher than 1.5 mg/mL and the  
longer time the absorption capacity decreases. The effect of light intensity on the material's  
ability to absorb heat was also investigated; when using two bulbs, the temperature difference  
between the blank sample and the material dispersed sample increased significantlycompared  
to using a light bulb.  
Keywords: Nanocomposite material, light intensity, salt water.  
lượng mặt trời cho các mục đích khác nhau.  
Một phương pháp hiệu quả là phân tán các vật  
liệu nano có khả năng nâng cao hiệu suất hấp  
thu nhiệt vào trong môi trường chất lỏng:  
GIỚI THIỆU  
Các nhà khoa học đang quan tâm nghiên cứu  
công nghệ để nâng cao hiệu suất hấp thu nhiệt  
và bay hơi nước của các hệ thống hấp thu năng  
13  
Giải thưởng Sinh viên nghiên cứu khoa học Euréka lần thứ 21 năm 2019  
Kỷ yếu khoa học  
nước, glycol, dầu… gọi là nanofluid. thu được dung dịch màu vàng sáng. Sau 30  
Nanofluid chứa các hạt nano khác nhau: dạng phút, nhỏ từ từ dung dịch NH3 đến khi pH=10.  
Khuấy tiếp trong 30 phút. Sau khi phản ứng  
xảy ra hoàn toàn, các hạt kết tủa màu đen được  
thu lấy bằng nam châm, sau đó rửa nhiều lần  
với nước và ethanol đến pH=7. Các hạt nano  
Fe3O4 được sấy ở 60oC. Hòa tan 0,3 g GO  
trong 300 ml nước cất, sau đó đem đi siêu âm  
trong 30 phút, thu được huyền phù GO. Thêm  
0,15 g nano Fe3O4 vào dung dịch và siêu âm  
30 phút. Sau khi siêu âm thu được một huyền  
phù đồng nhất, Fe3O4/GO được thu lại bằng  
nam châm và sấy ở 60oC.  
kim loại (Cu, Ag, Au, Ni), oxit kim loại  
(Al2O3, Cu2O, TiO2…), cacbua kim loại (AlN,  
SiN), dạng C (carbon nanotubes, graphite…)  
đã được nghiên cứu. Một số nanocomposite  
(hybrid nanopaticles) đã được đưa vào chất  
lỏng và cho hiệu quả cao hơn dạng hạt nano  
một thành phần. Các nanofluid thường được  
sử dụng trong chưng cất nước mặn ở dạng:  
đưa vào thiết bị trao đổi nhiệt để gia nhiệtcho  
nước mặn và đưa vào trong bình chưng cất  
chứa nước mặn (phương pháp hấp thu nhiệt  
trực tiếp).  
Tổng hợp Fe3O4 -Al2O3/GO  
Phân tán 0,3 g Al2O3/GO trong 300 ml nước  
cất, sau đó đem đi siêu âm trong 30 phút, thu  
được huyền phù Al2O3/GO tiếp theo thêm 0,3  
g các hạt nano Fe3O4 vào huyền phù  
Al2O3/GO và siêu âm 30 phút. Sau khi siêu  
âm thu được một huyền phù đồng nhất, Fe3O4-  
Al2O3/GO được thu lại bằng nam châm và để  
khô tự nhiên.  
Trong công trình này, với mong muốn kết hợp  
nhiều thành phần để tăng hiệu quả hấp thu  
nhiệt, hệ vật liệu nanocomposite có từ tính  
trên cơ sở graphene oxit (Al2O3/GO,  
Fe3O4/GO, Fe3O4–Al2O3/GO) được tổng hợp  
và đặc trưng bằng các phương pháp X-ray,  
phổ hồng ngoại, SEM và EDX. Khả năng hấp  
thu nhiệt của các vật liệu và khả năng thu hồi  
tái sử dụng vật liệu được nghiên cứu một cách  
hệ thống.  
Đánh giá khả năng hấp thu nhiệt của vật  
liệu  
Pha dung dịch nước muối 3,5% và 0,5 mg/mL  
vật liệu, siêu âm các mẫu vật liệu phân tán tốt  
trong nước muối. Các mẫu được ký hiệu là  
M1, M2... Các mẫu thí nghiệm được xếp thành  
1 vòng tròn, sau đó đặt bóng đèn ở giữa vòng  
tròn. Đo nhiệt độ ban đầu trong mỗi cốc đựng  
mẫu. Bật bóng đèn, sau mỗi 10 phút ghi lại  
nhiệt độ trong mỗi mẫu thí nghiệm.  
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP  
Graphite loại tinh khiết (99%) mua của Công  
ty Sigma- Aldrich, H2SO4 (98%), KMnO4  
(loại tinh thể, 99%), H2O2 (30%), FeCl3.6H2O  
(99%), HCl (36-38%), NaNO3 (99%),  
FeSO4.7H2O (99%), AlCl3.6H2O Ethanol  
(99,7%) và NH3 (25%) mua của Công tyđược  
cung cấp bởi nhà máy hóa chất Guangdong  
Guanghua, Trung Quốc.  
Thực nghiệm đánh giá khả năng thu hồi  
và tái sinh vật liệu  
Đánh giá khả năng thu hồi vật liệu  
Tổng hợp Al2O3/GO  
Lấy mẫu vật liệu có khả năng hấp thu nhiệt  
cao nhất đem đi đánh giá khả năng thu hồivật  
liệu. Ghi lại thời gian mẫu được thu hồi hoàn  
toàn bằng nam châm và tính hiệu suất thu hồi  
mẫu vật liệu. Mẫu vật liệu sau khi thu hồi và  
thử nghiệm khả năng hấp thu nhiệt  
Phương pháp nghiên cứu đặc trưng của vật  
liệu  
Cấu trúc đặc trưng bằng các phương pháp X-  
ray (D8 ADVANCE BRUKER); SEM (Jeol  
6490 JED 2300 (Nhật Bản); EDX (JED-2300  
Pha dung dịch AlCl3 1 M trong ethanol cho  
vào bình định mức 100 ml, sau đó khuấy dung  
dịch trong khoảng 30 phút. Nhỏ từ từ dung  
dịch NH3 vào dung dịch đến khi pH=9 (lúc  
này xuất hiện kết tủa màu trắng). Cho hỗn hợp  
kết tủa vào autoclave, sấy ở 200oC trong 3 giờ.  
Rửa kết tủa đến pH=7 và sấy ở 80oC. Cuối  
cùng, nung kết tủa ở 500oC trong 5h thu được  
Al2O3. Để tổng hợp vật liệu hỗn hợp GO và  
Al2O3, hòa tan 0,1g GO trong 200 ml, sau đó  
đem đi siêu âm trong 1h. Thêm Al2O3 vào  
huyền phù GO và khuấy đều trong vòng 6h.  
-
JEOL (Nhật Bản);và FTIR (4600 JASCO).  
o
Cuối cùng, sản phẩm được sấy ở 70 C trong  
vòng 12h.  
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
Tổng hợp Fe3O4/GO  
Kết quả đặc trưng vật liệu  
Phổ hồng ngoại của các vật liệu Phổ hồng  
ngoại của GO (Hình 1a) có khoảng phổ chân  
Hòa tan FeCl3.6H2O và FeSO4.7H2O vào 150  
ml nước cất. Khuấy trên bếp từ trong 30 phút,  
14  
Giải thưởng Sinh viên nghiên cứu khoa học Euréka lần thứ 21 năm 2019  
Kỷ yếu khoa học  
rộng với đỉnh ở 3480 cm-1 là dao động của Al2O3 và GO hỗn hợp với Al2O3 (hình 2b) cho  
nhóm –OH. Các đỉnh tại 1692 cm-1, 1572 cm thấy phổ hồng ngoại của Al2O3/GO có đầy đủ  
-1, 1258 cm -1, 1062 cm -1 là hấp thụ đặc trưng  
đỉnh đặc trưng của GO và Al2O3 (hình 3.4),  
tuy nhiên, cường độ của các đỉnh phổ đặc  
của nhóm C=O, C=C, C-OH và C-O. Cácdao  
động này đã minh chứng cho sự hiện diện các trưng cho GO (1692 cm-1, 1572 cm-1, 1258  
cm-1 và 1062 cm-1 của các nhóm C=O, C=C,  
nhóm chức chứa oxy trong GO. Phổ hồng  
ngoại của Al2O3 (Hình 1), thể hiện đầy đủ các  
đỉnh đặc trưng của Al2O3. Đỉnh có chân rộng  
ở 3487 cm-1 là của nhóm OH, 1636 cm-1 là của  
nhóm OH là H-O-H, đỉnh đặc trưng của nhóm  
Al-O ở khoảng khoảng 600 – 800 cm-1. Theo  
C-OH và C-O) bị giảm do nồng độ GO trong  
mẫu giảm đi. Tương tự, phổ của của  
Fe3O4/GO (hình 2b) cũng có đầy đủ các đỉnh  
đặc trưng của GO và Fe3O4 (Hình 1a và 2a),  
nhưng với cường độ giảm do nồng độ GO  
Hình 1 đỉnh phổ ở 571 cm-1 là dao động hóa trong mẫu giảm đi.Từ phổ của GO, Al2O3/GO,  
trị của nhóm chức Fe-O. Số sóng trong khoảng  
Fe3O4/GO, Fe3O4-Al2O3/GO ta thấy phổ của  
1625 cm-1 đến 1400 cm-1 chỉ ra sự có mặt của các vật liệu hỗn hợp có đầy đủ các đỉnh đặc  
dao động biến dạng của nhóm H-O-H, trong  
khi đó nhóm O-H có dao động hoá trị ở  
khoảng 3380 cm-1. So sánh phổ của GO,  
trưng của các vật liệu riêng rẽ nhưng với  
cường độ giảm đi.  
Fe  
Fe  
O
O
-Al  
-Al  
O
O
/GO  
3
3
4
4
2
2
3
3
/GO tái sinh  
4000  
3500  
3000  
2500  
2000  
1500  
1000  
500  
(a)  
(b)  
Hình 1. Phổ hồng ngoại của (a) các vật liệu TH; (b) vật liệu tái sinh  
Nhiễu xạ tia X của các vật liệu  
tương tự cũng thu được khi đo phổ X-ray của  
mẫu Fe3O4-Al2O3/GO.  
Từ giản đồ XRD ta thấy góc 2θ=11,2o là góc  
đặc trưng cho vật liệu GO, ở graphite, đỉnh Kết quả đo SEM và EDX của vật liệu  
hấp thu đặc trưng ở 2θ=26,5o. Đồng thời,  
Kết quả đo SEM của vật liệu Fe3O4-Al2O3/GO  
(Hình 6) cho thấy bề mặt của vật liệu có sự  
phân tán đều của Al2O3, Fe3O4 và GO. Kết quả  
ảnh SEM cho thấy vật liệu có kích thước  
khoảng 20 nm. Kết quả EDX của Fe3O4-  
Al2O3/GO cho thấy vật liệu chứa 4 nguyên tố  
C, O, Al và Fe (Bảng 1).  
khoảng cách giữa các lớp đã được nâng lên  
đáng kể. Ở graphite, đỉnh hấp thu đặc trưng ở  
2θ=26,5o, khoảng cách giữa các lớp chỉ là 3,35  
Å , nhưng ở mẫu GO thì khoảng cách giữa các  
lớp tăng lên đến 8,327Å. Kết quả này là do  
quá trình oxy hóa đã giúp cho các nhóm chức  
có oxygen như –OH, –O–, –C=O và –COOH  
Đánh giá khả năng hấp thu nhiệt của các  
chèn vào giữa các lớp dẫn đến làm nâng rộng vật liệu tổng hợp được  
Kết quả đo khả năng hấp thu nhiệt của các  
khoảng cách giữa các lớp graphite.  
Kết quả nhiễu xạ tia X của Al2O3/GO cho thấy vật liệu khác nhau  
việc đưa Al2O3 đã làm cho đỉnh đặc trưng của Để đánh giá sự tăng khả năng hấp thu nhiệt  
GO ở góc 2θ=10,58o không còn, thay vào đó  
của các vật liệu tổng hợp được, các vật liệu  
là sự xuất hiện các đỉnh mới ở giá trị 2θ tương được phân tán vào nước biển với nồng độ 0,5  
ứng là 37,1o; 45,6o và 67,1o phù hợp với dữ  
mg/ml. Đem chiếu sáng các hỗn hợp và đo  
nhiệt độ định kỳ tại các thời điểm khác nhau  
để so sánh.  
liệu nhiễu xạ tia X của γ-Al2O3, thể hiện cho  
sự xen phủ γ -Al2O3 lên bề mặt GO. Kết quả  
15  
Giải thưởng Sinh viên nghiên cứu khoa học Euréka lần thứ 21 năm 2019  
Kỷ yếu khoa học  
Bảng 1. Kết quả đo EDX của vật liệu Fe3O4-Al2O3/GO  
Nguyên tố  
Thành phần khối  
lượng (%)  
14.40  
Thành phần nguyên tố (%)  
C K  
O K  
Al K  
22.55  
53.82  
19.80  
3.84  
45.79  
28.41  
11.40  
Fe K  
Tổng số  
100.00  
Từ kết quả đo cho thấy, tất cả các vật liệu năng hấp thu nhiệt cao nhất. Vì vậy nồng độ  
nghiên cứu đều làm tăng khả năng hấp thu 1,5 mg/ml để thử nghiệm sự ảnh hưởng của  
nhiệt của nước muối 3,5%. So sánh các mẫu cường độ ánh sáng đến khả năng hấp thu nhiệt  
M2, M3 và M4 ta thấy khi hỗn hợp Al2O3 và của vật liệu. Khi tăng cường độ chiếu sáng từ  
1 bóng đèn lên 2 bóng đèn thì nhiệt độ hấp thu  
GO thì nhiệt hấp thu bởi dung dịch chứa vật  
liệu tăng lên cao hơn so với mẫu dung dịch chỉ của vật liệu càng tăng lên. Chênh lệch nhiệt độ  
cao giữa khi sử dụng 1 bóng đèn với 2 bóng  
đèn là 9oC.  
Kết quả thử nghiệm đánh giá khả năng thu  
hồi và tái sinh vật liệu  
Khi không có nam châm sự thu hồi vật liệu  
chậm và không hoàn toàn. Tuy nhiên, khi sử  
dụng nam châm để thu hồi thì sau 10 phút, vật  
liệu đã bị nam châm hút hết về phía đáy cốc.  
Kết quả sau khi gạn bỏ nước và sấy, hiệu suất  
thu hồi đạt 98%. Điều này chứng tỏ vật liệu  
chế tạo được có khả năng thu hồi tốt.  
có GO hoặc Al2O3. Tương tự, sự so sánh các  
mẫu M2, M5, M6 cho thấy hỗn hợp của Fe3O4  
với GO cũng làm tăng khả năng hấp thu nhiệt  
của nước muối so với mẫu chỉ có GO hoặc  
Fe3O4. Đặc biệt, ở mẫu có sự kết hợp của  
Fe3O4, Al2O3 và GO thì khả năng hấp thu nhiệt  
cao nhất, cao hơn 6oC so với mẫu trắng. Sự  
khác biệt này sẽ càng tăng khí nhiệt độ môi  
trường càng cao (trời nằng to). Điều này  
chứng tỏ vật liệu GO hỗn hợp với cảFe3O4 và  
Al2O3 là mẫu vật liệu có khả năng hấp thu  
nhiệt và dẫn nhiệt tốt nhất trong các mẫu vật  
liệu tổng hợp được.  
Sau khi thu hồi, vật liệu được rửa bằng nước  
sạch, sấy khô, đo phổ hồng ngoại và đánh giá  
Kết quả khảo sát sự ảnh hưởng của hàm khả năng hấp thu nhiệt. Phổ hồng ngoại của  
lượng đến khả năng hấp thu nhiệt của vật vật liệu ban đầu và vật liệu sau khi tái sinh cho  
liệu  
thấy, vật liệu sau khi tái sinh có các đỉnh đặc  
trưng giống với các đỉnh của vật liệu ban đầu.  
Khi tăng hàm lượng vật liệu phân tán trong  
nước từ 0,5mg/ml đến 1,5mg/ml thì nhiệt hấp  
thu tăng lên 1-2 độ. Tuy nhiên khi tăng nồng  
KẾT LUẬN  
độ của chất hấp thu lên 2mg/ml và ở nhiệt độ Đã tổng hợp thành công các vật liệu hấp thu  
cao trên 80oC thì khả năng hấp thu nhiệt lại  
trên cơ sở GO là: Al2O3/GO, Fe3O4/GO và  
Fe3O4-Al2O3/GO. Kết quả phân tích bằng phổ  
FT-IR, X-ray, SEM, EDX đã chứng tỏ sự tạo  
thành của các vật liệu. Kết quả đo khả năng  
hấp thu cho thấy các vật liệu khi dùng phối  
hợp cho hiệu quả hấp thu nhiệt hơn khi dùng  
đơn lẻ. Fe3O4-Al2O3/GO cho hiệu quả hấpthu  
cao nhất (chênh lêch nhiệt độ giữa mẫu trắng  
và mẫu có phân tán vật liệu nồng độ 0,5  
mg/mL là 6oC và 8oC tương ứng. Kết quả khảo  
sát sự ảnh hưởng của hàm lượng đến khả năng  
hấp thu nhiệt của vật liệu và khảo sát sự ảnh  
hưởng của cường độ ánh sáng đến khả năng  
hấp thu nhiệt của vật liệu cho thấy khi tăng  
nồng độ hơn 1.5mg/mL thì hiệu suất hấp thu  
giảm khi chiếu sáng lâu hơn 80 phút và khi  
giảm. Điều này có thể giải thích là nhiệt độ  
cao và hàm lượng chất hấp thu lớn dẫn đến các  
hạt này có xu hướng hút kết tụ với nhau tạo  
thành các hạt lớn hơn và lắng xuống dưới, vì  
vậy làm giảm khả năng hấp thu nhiệt và dẫn  
nhiệt. Kết quả cho thấy, ở hàm lượng 1,5  
mg/ml của Fe3O4-Al2O3/GO thì mẫu thí  
nghiệm có kết quả hấp thu nhiệt cao nhất. Tuy  
nhiên, để tiết kiệm chi phí và giảm sự kết tụ  
khi dùng thời gian dài có thể dùng nồng độ  
chất hấp thu trong nước là 0,5mg/ml.  
Kết quả khảo sát sự ảnh hưởng của cường  
độ ánh sáng đến khả năng hấp thu nhiệt  
Kết quả trên cho thấy, vật liệu Fe3O4-  
Al2O3/GO với hàm lượng 1,5 mg/ml có khả  
16  
Giải thưởng Sinh viên nghiên cứu khoa học Euréka lần thứ 21 năm 2019  
Kỷ yếu khoa học  
dùng 2 bóng đèn thì chênh lệch nhiệt độ giữa cao tới 98%, vật liệu sau thu hồi có đặc trưng  
mẫu trắng và mẫu có phân tán vật liệu tăng lên nhóm chức không thay đổi và hiệu quả hấp thu  
nhiều. Vật liệu có từ tính nên hiệu quả thuhồi nhiệt xấp xỉ vật liệu mới.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
RAJ P, SUBUDHI S., A review of studies using nanofluids in flat-plate and direct absorption  
solar Collectors, Renewable and Sustainable Energy Reviews, 84 (2018) pp 54–74.  
SARSAM W.S., KAZI S.N., A. BADARUDIN, A review of studies using nanofluids in flat-  
plate and direct absorption solar Collectors, Solar Energy, 122 (2015) pp 1245–1265.  
17  
pdf 5 trang yennguyen 7420 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu chế tạo vật liệu nanocomposite để tăng hiệu suất hấp thu năng lượng mặt trời ứng dụng nâng cao hiệu quả sản xuất nước ngọt từ nước mặn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_che_tao_vat_lieu_nanocomposite_de_tang_hieu_suat.pdf