Một số đặc điểm dinh dưỡng của cá dảnh (Puntioplites proctozystron)

Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 8(117)/2020  
Isolation and selection of carotenoid-biosynthesis bacteria strains  
from Cam mountain, Tinh Bien district, An Giang province  
Bang Hong Lam, Van Vien Luong  
Abstract  
Fify-five bacteria strains were isolated and identified by the morphology and biochemistry characteristics from  
20 soil samples collected in Cam mountain, Tinh Bien district, An Giang province. e extracts which were extracted  
by methanol: chloroform (1: 2 v/v) were measured absorption at wavelengths of 400 - 600 nm. e result showed  
that all strains were able to synthesize carotenoids; among them, there were 10 strains with the highest ability of  
carotenoids-biosynthesissuchasNC1-6(2,79µg/mL),NC3-3(3,10µg/mL),NC4-3(2,41µg/mL),NC7-4(3,40µg/mL),  
NC8-3 (2,50 µg/mL), NC10-2 (2,69 µg/mL), NC12-2 (2,58 µg/mL), NC13-2 (2,90 µg/mL), NC15-7 (2,75 µg/mL)  
và NC20-6 (3,17 µg/mL). Bacterial identification by sequencing the 16S rRNA gene displayed that NC1-6, NC3-3,  
NC4-3, NC7-4, NC8-3, NC10-2, NC12-2, NC13-2, NC15-7, NC20-6 showed 100% similarity with Corynebacterium  
xerosis FDAARGOS-674, Exiguobacterium aurantiacum var. Colo. Road, Geobacillus stearothermophilus AHBR12,  
Serratia marcescens XPn-6, Stenotrophomonas maltophilia XS 8-4, Burkholderia cenocepacia FDAARGOS-720,  
Bacillus infantis NRRL B-14911, Chryseobacterium shandongense H5143, Kocuria rhizophila TB19, Brevundimonas  
vesicularis Os-Ep-VSA-58, respectively.  
Keywords: Bacteria strains, isolation, selection, Cam mountain, Tinh Bien district, An Giang province  
Ngày nhận bài: 4/8/2020  
Ngày phản biện: 12/8/2020  
Người phản biện: PGS.TS. Lê Như Kiểu  
Ngày duyệt đăng: 28/8/2020  
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DINH DƯỠNG CỦA CÁ DẢNH  
(Puntioplites proctozystron)  
Nguyễn Hoàng Huy1,2, Âu Văn Hóa2 và Phạm anh Liêm2  
TÓM TẮT  
Đặc điểm dinh dưỡng cá dảnh (Puntioplites proctozystron) thuộc bộ và họ cá chép được khảo sát tại Búng Bình  
iên, An Giang trong mùa mưa và mùa khô nhằm cung cấp thông tin đặc điểm hình thái và tập tính ăn phục vụ  
nuôi đối tượng này. Kết quả cho thấy cá dảnh có miệng cận dưới, không có răng hàm, răng vòm miệng nhưng có  
răng hầu (2.3.4 - 4.3.2); lược mang màu trắng, dài và xếp thưa nằm xoang miệng hầu; không có dạ dày thật; ruột dài  
và cuộn nhiều vòng nằm trong xoang bụng. Chiều dài ruột tương đối dao động từ 1,67 - 2,86, cá có chiều dài trên  
6 cm có chiều dài ruột gấp 2,5 lần so với chiều dài thân. ành phần thức ăn của cá dảnh không có sự khác biệt giữa  
mùa khô và mùa mưa gồm tảo lam, tảo lục, tảo mắt, tảo giáp, Protozoa, Rotifera, Cladocera, Copepoda, mùn bã hữu  
cơ và thức ăn khác, trong đó mùn bã hữu cơ chiếm cao nhất cả về tần suất xuất hiện và tỉ lệ số lượng. Kết quả trên  
cho thấy cá dảnh là loài ăn mùn bã hữu cơ và thực vật.  
Từ khóa: Cá dảnh, chiều dài ống tiêu hóa, thành phần thức ăn, mùa khô, mùa mưa.  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Cá dảnh có thịt thơm ngon, nhưng sản lượng tương  
đối thấp (Mai Đình Yên và ctv., 1992; Nguyễn Văn  
Hảo và Ngô Sỹ Vân, 2001). Hiện nay, nhu cầu thực  
phẩm tăng cao, hoạt động khai thác thủy điện, biến  
đổi khí hậu và khác thác nguồn lợi thủy sản quá mức  
nên sản lượng thủy sản càng giảm sút nghiêm trọng,  
trong đó có sản lượng cá dảnh. Do vậy, để phát triển  
đối tượng nuôi mới với loài cá bản địa có triển vọng  
về kinh tế giống như cá dảnh là cần thiết. Trước đây,  
việc nghiên cứu cá dảnh chỉ dừng lại ở mô tả, phân  
loại và phân bố (Mai Đình Yên và ctv., 1992; Trương  
Cá dảnh Puntioplites proctozystron (Bleeker, 1865)  
là loài cá nước ngọt thuộc họ và bộ cá chép, phân bố  
ở ái Lan, Lào, Campuchia và Đồng bằng sông Cửu  
Long (ĐBSCL) Việt Nam (Trương ủ Khoa và Trần  
ị u Hương, 1993). Chúng sống trong cả nước  
tĩnh và nước chảy, di chuyển vào các vùng có thảm  
thực vật ngập trong nước hay đầm lầy trong mùa lũ.  
eo Rainboth (1996), cá dảnh ăn được một số loài  
tảo, côn trùng và động vật phiêu sinh. Ở ĐBSCL, cá  
sống trong các sông, kênh rạch, thường bắt gặp có  
kích thước từ 10 đến 20 cm, cỡ tối đa trên 30 cm.  
1 Chi Cục thủy sản, tỉnh An Giang; 2 Khoa ủy sản, Trường Đại học Cần ơ  
157  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 8(117)/2020  
ủ Khoa và Trần ị u Hương, 1993; Rainboth,  
1996; Nguyễn Văn Hảo và Ngô Sỹ Vân, 2001; Trần  
Đắc Định và ctv., 2013) nhưng về đặc điểm dinh  
dưỡng của chúng chưa nhiều. Chính vì thế, cần tìm  
hiểu tính ăn loài cá này ngoài tự nhiên nhằm cung  
cấp thông tin về đặc điểm dinh dưỡng của chúng  
để phục vụ cho xu hướng ương nuôi đối tượng này  
trong tương lai.  
cố định trong formalin 10% và chuyển về Khoa uỷ  
sản, Trường Đại học Cần ơ để phân tích.  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
Mẫu cá được giải phẩu để quan sát cấu tạo của  
ống tiêu hóa như miệng, răng, hầu, lược mang ruột  
và xác định chiều dài tương đối của ruột. Hình thái  
ống tiêu hóa được mô tả và ghi nhận bằng máy chụp  
ảnh Canon-IXUS 160. Chiều dài ruột tương đối  
(Relative Length of Gut viết tắt là RLG) được xác  
định theo công thức Li/ Lt, trong đó Li là chiều dài  
ruột và Lt là chiều dài thân cá (Al-Hussainy, 1949  
trích bởi Phạm anh Liêm và Trần Đắc Định,  
2004). ành phần thức ăn trong toàn bộ ống tiêu  
hóa được lấy ra và cố định trong dung dịch formalin  
2%. Sau đó, phân tích thành phần thức ăn trong ống  
tiêu hóa của cá dảnh theo phương pháp tần suất xuất  
hiện và phương pháp đếm điểm của (Hynes, 1950).  
ành phần thực vật và động vật phiêu sinh được  
định danh đến giống theo Shirota (1966).  
II. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. Vật liệu nghiên cứu  
Mẫu cá dảnh nhiều kích cỡ từ cá giống (1 gram)  
tới giai đoạn trưởng thành bằng các ngư cụ như dớn,  
lưới giăng, chài và 12 cửa ngục tại Búng Bình iên  
thuộc huyện An Phú, tỉnh An Giang. Mẫu cá dảnh  
được tiến hành định kỳ mỗi tháng một lần trong  
mùa mưa (tháng 8 - 9 năm 2018) và mùa khô (tháng  
2 - 3 năm 2019). Mẫu cá sau khi thu được giết ngay,  
Hình 1. Địa điểm thu mẫu cá dảnh tại Búng Bình iên, An Giang  
2.3. ời gian và địa điểm nghiên cứu  
dảnh được thể hiện như sau:  
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 7 năm 2018  
đến tháng 6 năm 2019 tại Búng Bình iên thuộc  
huyện An Phú, tỉnh An Giang.  
- Răng miệng: Miệng cá dảnh thuộc dạng miệng  
cận dưới, nhỏ, co duỗi được, phù hợp với tính ăn  
tầng giữa và tầng đáy. Cá dảnh không có răng hàm  
và răng vòm miệng (răng lá mía và răng khẩu cái).  
Tuy nhiên, răng hầu cá tương đối lớn nhưng không  
bén, hơi tù, sắp xếp theo công thức 2.3.4 - 4.3.2  
(Hình 2A, 2B & 2C).  
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
3.1. Hình thái giải phẩu ống tiêu hóa của cá dảnh  
Kết quả giải phẩu và quan sát cơ quan tiêu hóa cá  
Hình 2. Miệng (A), răng hàm (B) và răng hầu (C) của cá dảnh  
158  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 8(117)/2020  
- Lược mang: Lược mang ở cung mang thứ nhất  
hơn. Trên cung mang thứ 2, 3 và 4, lược mang ngắn  
hơn ở cung mang thứ nhất nhưng lược mang ở  
3 cung mang này dài tương đương nhau (Hình 3A  
& 3B).  
có màu trắng, dài, mảnh, thô và xếp thưa nằm trên  
các cung mang và hướng vào xoang miệng hầu.  
Hàng lược mang thứ 2 ở cung mang thứ nhất ngắn  
Hình 3. Mặt trước (A), mặt sau (B) cung mang thứ nhất và thứ hai; ruột cuộn (C) trong xoang nội quan  
và dạ dày và ruột (D) tháo xoắn ruột của cá dảnh không phân biệt được dạ dày  
- Dạ dày: Cá dảnh không có dạ dày thật. Ngay  
sau thực quản là dạ dày và không phân biệt được  
khoảng ngăn giữa dạ dày và ruột, chỉ là một ống dài  
giống như ruột, phình to ra dùng để chứa thức ăn  
(Hình 3D).  
- Ruột: Ruột cá dảnh thuộc dạng ruột cuộn, dài,  
không phân chia rõ giữa ruột trước, ruột giữa và  
ruột sau, ruột cuộn vào nhau thành nhiều vòng xếp  
chồng lên nhau nằm trong xoang bụng, thành ruột  
mỏng (Hình 3C & 3D).  
trên 120 mẫu được phân chia thành 6 nhóm kích  
thước. Kết quả cho thấy, trong mùa mưa và mùa khô  
với chiều dài chuẩn dao động lần lượt là 3,5 - 15,7 cm  
và 5,0 - 18,0 cm thì RLG biến động trong khoảng  
1,67 - 2,48 (Bảng 1). eo Alikunhi và Rao (1951),  
chiều dài ống tiêu hóa của các loài cá phụ thuộc vào  
loại thức ăn tư nhiên mà chúng tiêu hóa, chiều dài  
ống tiêu hóa tăng theo sự gia tăng tỉ lệ các loại thức  
ăn thực vật trong khẩu phần ăn của cá. Giá trị Li/Lt  
không những thay đổi giữa các loài khác nhau mà  
chúng còn thay đổi trong từng cá thể theo từng giai  
đoạn phát triển.  
3.2. Chiều dài tương đối của ruột  
Chiều dài tương đối của ruột RLG được xác định  
Bảng 1. Chiều dài tương đối của ruột cá dảnh ở 6 nhóm kích cỡ theo mùa mưa và mùa khô  
Mùa mưa  
Số mẫu (n=120)  
Mùa khô  
Số mẫu (n=120)  
Chiều dài cá  
(Lt, cm)  
STT  
RLG  
RLG  
1
2
3
4
5
6
≤ 6 cm  
6 ≤ 8 cm  
8 ≤ 10 cm  
10 ≤ 12 cm  
12 ≤ 14 cm  
14 cm trở lên  
1,67 0,14  
2,65 0,41  
2,86 0,36  
2,80 0,30  
2,53 0,19  
2,48 0,12  
n=19  
n=15  
n=25  
n=33  
n=20  
n=8  
1,78 0,17  
2,50 0,20  
2,82 0,11  
2,64 0,10  
2,50 0,04  
2,46 0,09  
n=53  
n=35  
n=18  
n=6  
n=3  
n=5  
Bảng 1 cho thấy chỉ số trung bình RLG của cá  
dảnh ở 6 nhóm kích cỡ có sự khác biệt, ở 3 nhóm  
kích cỡ đầu tiên (1, 2 và 3) chỉ số RLG tăng dần từ  
1,67 0,14 tăng đến 2,86 0,36 vào mùa mưa và  
1,78 0,17 tăng đến 2,82 0,11 vào mùa khô nhưng  
khi cá dảnh tăng trưởng đến kích cỡ đạt >10 cm thì  
chỉ số RLG giảm dần cả vào mùa mưa và mùa khô.  
eo Nikolski (1963), những loài cá có tính ăn tạp  
thiên về động vật sẽ có trị số Li/Lt ≤ 1, cá ăn tạp có  
Li/Lt = 1 - 3 và cá ăn tạp thiên về thực vật khi Li/Lt  
>3. Với nhận định này thì cá dảnh thuộc nhóm cá  
ăn tạp với trị số RLG dao động từ 1,67 - 2,86 ở cả 6  
nhóm kích cỡ khác nhau. eo một số nghiên cứu  
về đặc điểm dinh dưỡng của một số loài cá ăn tạp  
ở ĐBSCL, thì chỉ số RLG ở cá đỏ mang (Systomus  
rubripinnis) đạt giá trị dao động từ 1,03 - 2,63 (Âu  
Văn Hóa, 2017), cá linh ống (Cirrhinus jullieni) và  
cá linh rìa (Labiobarbus lineatus) dao động lần lượt  
là 3,07 - 9,80 và 2,37 - 8,7 (Lê ị Mai Xuân, 2008)  
và cá ét mọi (Morulius chrysophekadion) dao động  
trung bình từ 4,28 - 9,08 (Trần Hồng Ửng, 2010).  
eo Girgis (1952, trích dẫn bởi Phạm anh Liêm  
và Trần Đắc Định, 2004), cũng cho rằng giá trị RLG  
thấp ở giai đoạn cá hương và cao ở giai đoạn cá  
trưởng thành. Trong quá trình tăng trưởng, ống tiêu  
hóa của cá sẽ gia tăng về chiều dài và gia tăng các nếp  
gấp để tiêu hóa và hấp thu các vật chất có nguồn gốc  
từ thực vật.  
159  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 8(117)/2020  
3.3. ành phần thức ăn trong ống tiêu hóa của  
cá dảnh  
Giang bao gồm 10 nhóm thức ăn và tần suất xuất  
hiện (TSXH) của chúng chiếm lần lượt là: đạt cao  
nhất 100% là MBHC; tiếp theo tảo khuê 95,0% và  
97,5%; kế đến tảo lam, tảo lục, tảo mắt, Rotifera,  
Cladocera, Coppepoda và thức ăn khác dao động từ  
12,5 - 79,2%, thấp nhất Protozoa chiếm 11,7% vào  
mùa mưa và 13,3 vào mùa khô (Hình 4).  
3.3.1. Tần suất xuất hiện  
ành phần thức ăn trong ống tiêu hóa của cá  
dảnh (n = 120) mẫu được tìm thấy trong ruột vào  
mùa mưa và mùa khô tại Búng Bình iên, An  
Hình 4. Tần suất xuất hiện các loại thức ăn có trong ruột của cá dảnh vào mùa mưa và mùa khô  
Hình 4 cho thấy tần suất xuất hiện các loại thức  
ăn phân tích được trong ruột cá dảnh vào mùa khô  
thì nhóm thực vật phiêu sinh, nhóm Rotifera và  
Protozoa có xu hướng xuất hiện cao hơn so với mùa  
mưatrongkhicácnhómcònlạicótầnsuấtxuấthiệnở  
mùa khô thấp hơn mùa mưa. Các loài tảo thường gặp  
trong ruột cá dảnh như: Melosira granulata, Synedra  
acus, Melosira granulata var. valida, Merismopedia  
elegans, Lyngbya birgei, Pediastrum biradiatum,  
Microspore willeana, Moina sp., Cyclops sp...  
Bên cạnh đó, thức ăn khác được tìm thấy gồm rong,  
rễ cây thực vật thượng đẳng, ấu trùng của côn trùng.  
Đối với rễ cây thực vật thượng đẳng, rong được tìm  
thấy có hình dạng nguyên vẹn nằm ở phần ruột sau  
của cá dảnh, do vậy chúng không phải là thức ăn mà  
chỉ được cá ăn vào ngẫu nhiên hoặc ăn cùng lúc với  
thức ăn khác. eo Lê ị Mai Xuân (2008), kết quả  
thành phần thức ăn của các loài thuộc bộ cá chép  
như cá linh rìa và cá linh ống gần tương đồng với  
kết quả nghiên cứu này. Ngoài ra, kết quả nghiên  
cứu của Trần Đắc Định và cộng tác viên (2002) trên  
cá kèo đã cho thấy cá ăn thiên về thực vật và thành  
phần thức ăn chủ yếu là tảo khuê, tảo lam và mùn bả  
hữu cơ, các động vật phù du (Copepoda, Cladocera)  
cũng có trong thành phần thức ăn của chúng nhưng  
với tỉ lệ rất ít. eo Phạm anh Liêm và Trần Đắc  
Định (2004), các nghiên cứu về thức ăn và tập tính  
dinh dưỡng của cá rất phức tạp và đòi hỏi nhiều công  
đoạn phân tích trong phòng thí nghiệm. Do không  
thể quan sát trực tiếp tính bắt mồi của cá trong tự  
nhiên nên cách tốt nhất để xác định tập tính dinh  
dưỡng cá là phân tích thành phần thức ăn có trong  
ruột (dạ dày) của cá. Tuy nhiên, các phương pháp  
phân tích ruột cá cũng có nhưng giới hạn. Khi đánh  
bắt cá hay khi cố định cá trong formaline, do bị sốc  
đột ngột cá thường mửa phần thức ăn mới ăn vào.  
Không phải bất cứ loài vật chất nào có trong ruột cá  
cũng được quy cho là thức ăn của cá.  
3.1.2. Tỉ lệ số lượng của các nhóm thức ăn  
Điểm số các loại thức ăn tùy thuộc vào số lần bắt  
gặp và kích cỡ của mỗi loại thức ăn mà cá ăn vào.  
Kết quả phân tích thức ăn trong ống tiêu hóa của  
cá dảnh (Puntioplites proctozystron) vào mùa mưa  
và mùa khô bằng phương pháp đếm điểm được thể  
hiện về điểm số lần lượt là: mùn bã hữu cơ chiếm  
cao nhất với 65,8% và 61,3%; kế đến tảo khuê chiếm  
9,4% và 13,7; tiếp theo tảo lam, tảo lục, Cladocera,  
Copepoda, thức ăn khác và Rotifera dao động từ  
1 - 6,6%, thấp nhất là tảo lam và Protozoa từ  
0,1 - 0,2% (Hình 5).  
160  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 8(117)/2020  
Hình 5. Điểm số các loại thức ăn của cá dảnh vào mùa mưa và mùa khô  
Tương tự tần suất xuất hiện, kết quả về phần trăm  
điểm số các nhóm thức ăn được phát hiện trong ống  
tiêu hóa của cá dảnh thì nhóm thực vật phiêu sinh  
ở mùa mưa thấp hơn mùa khô. eo kết quả nghiên  
cứu cho thấy MBHC có điểm số chiếm cao nhất và  
thấp nhất ở các loại thức ăn còn lại tương đồng với  
nghiên cứu của Lê ị Mai Xuân (2008) và Trần  
Hồng Ửng (2010) thuộc họ cá chép.  
vào mùa mưa và mùa khô rộng với 10 nhóm thức  
ăn gồm MBHC cao nhất với 76,6% và 70,5, kế đến  
là tảo khuê 10,4% và 15,4%; Protozoa chiếm tỉ lệ  
rất thấp 0,01% (Hình 6). Đối với các nhóm thực vật  
phiêu sinh (tảo khuê, tảo lam, tảo lục và tảo mắt)  
chúng xuất hiện trong các mẫu phân tích với tần số  
xuất hiện cao và khá đa dạng về thành phần loài. Tuy  
nhiên, chúng có kích thước quá nhỏ nên về phần  
trăm điểm số của chúng chiếm rất thấp. eo Sinha  
và Moitra (1976), khi cá tăng trưởng thì tập tính  
dinh dưỡng của chúng sẽ thay đổi từ tập tính ăn thịt  
sang ăn tạp và ăn thực vật.  
3.1.3. Phổ dinh dưỡng của cá dảnh  
Phổ dinh dưỡng được xác định dựa trên kết quả  
theo phương pháp tần số xuất hiện và phương pháp  
đếm - điểm cho thấy phổ dinh dưỡng của cá dảnh  
Hình 7. Phổ dinh dưỡng của cá dảnh theo mùa mưa và mùa khô  
Nhìn chung, ngoài thức ăn là MBHC thì phổ  
dinh dưỡng của cá dảnh hoàn toàn phù hợp với  
nghiên cứu được mô tả bởi Rainboth (1996), chúng  
ăn được một số loài tảo, côn trùng và động vật phiêu  
sinh. Ngoài ra, phổ dinh dưỡng của cá dảnh giống  
với kết quả nghiên cứu (Lê ị Mai Xuân, 2008; Trần  
Hồng Ửng, 2010 và Âu Văn Hóa, 2017) ở một số loài  
cá thuộc họ cá chép, MBHC chiếm cao nhất trong  
ruột cá. Mặt khác, dựa vào hình thái giải phẩu các  
cơ quan tiêu hóa, tỉ lệ giữa chiều dài ruột và chiều  
dài chuẩn, tần xuất xuất hiện và phương pháp đếm-  
điểm cho thấy cá dảnh thuộc loài cá hiền, thức ăn  
chủ yếu là nhóm thực vật phiêu sinh.  
IV. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ  
4.1. Kết luận  
Cá dảnh có cấu tạo cơ quan tiêu hóa và chỉ số  
RLG = 1,67 - 2,86 phù hợp với loài cá ăn thực vật.  
ức ăn của chúng là MBHC, tảo khuê, tảo lam, tảo  
lục, tảo mắt, Rotifera, Cladocera, Coppepoda, thức  
ăn khác, Protozoa. Mùn bã hữu cơ chiếm cao nhất về  
tần suất xuất hiện lẫn phần trăm điểm số trong ruột  
161  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 8(117)/2020  
Trần Hồng Ửng, 2010. Nghiên cưu một số đặc điểm sinh  
cá. ực vật phiêu sinh có vào mùa khô cao hơn mùa  
mưa ở tần xuất xuất hiện và tỉ lệ số lượng. Cá dảnh  
thuộc loài cá hiền.  
học cùa cá ét mọi Morulius chrysophekadion Bleeker,  
1850. Luận văn cao học, chuyên ngành nuôi trồng  
thủy sản. Khoa ủy sản, Trường Đại học Cần ơ:  
52 trang.  
4.2. Đề nghị  
Tiếp tục nghiên cứu về thành phần thức ăn của  
cá dảnh ở giai đoạn cá bột và cá giống để làm cơ sở  
cho việc ương nuôi trong tương lai.  
Lê ị Mai Xuân, 2008. Nghiên cưu một số đặc điểm  
sinh học cá linh ống (Cirrhinus jullieni) và linh rìa  
(Labiobarbus lineatus). Luận văn cao học chuyên  
ngành nuôi trồng thủy sản. Trường Đại học Cần  
ơ: 89 trang.  
Mai Đình Yên, Nguyễn Văn Trọng, Nguyễn Văn iện,  
Lê Hoàng Yến, Hứa Bạch Loan, 1992. Định loại các  
loài cá nước ngọt Nam Bộ. Nhà xuất bản Khoa học và  
Kỹ thuật, Hà Nội: 351 trang.  
Alikunhi, K. H. and S.N. Rao., 1951. Notes and the  
metamorphosisofEZopssaurusLinn. andMegaZops  
cyprinoides (Broussonet) with observations on their  
growth. J. Soc. India, 3 (1): 99-109.  
Hynes, H.B.N., 1950. efoodoffreshwatersticklebacks  
(Gasterosteus aculeatus and Pygosteus pungitius)  
with a review of methods used in studies of the food  
of fishes. J. Anim. Ecol., Oxford, 19: 36-58.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Trần Đắc Định, K. Shibukawa, Nguyễn anh  
Phương, Hà Phước Hùng, Trần Xuân Lợi, Mai Văn  
Hiếu và K. Utsugi, 2013. Mô tả định loại cá đồng  
bằng sông Cửu Long. Nhà xuất bản Đại học Cần ơ:  
174 trang.  
Trần Đắc Định, Nguyễn Văn Lành, Lê ị Ngọc  
anh và Nguyễn Trọng Hồ, 2002. Nghiên cứu đặc  
điểm sinh học của cá kèo Pseudapocryptes elongatus  
(Cuvier, 1816) phân bố vùng Đồng bằng sông Cửu  
Long. Báo cáo đề tài khoa học và công nghệ cấp  
trường: 15 trang.  
Trương ủ Khoa và Trần ị u Hương, 1993. Định  
loại cá nước ngọt Đồng bằng sông Cửu Long. Tủ  
sách Đại học Cần ơ: 361 trang.  
Nguyễn Văn Hảo và Ngô Sỹ Vân, 2001. Cá nước ngọt  
Việt Nam, tập 1. Nhà xuất bản nông nghiệp, Hà Nội:  
622 trang.  
Âu Văn Hóa, 2017. Một số đặc điểm sinh học của cá  
đỏ mang (Systomus rubripinnis) phân bố trên tuyến  
sông Hậu. Luận văn cao học, chuyên ngành Quản lý  
nguồn lợi thủy sản. Khoa ủy sản, Trường Đại học  
Cần ơ: 68 trang.  
Phạm anh Liêm và Trần Đắc Định, 2004. Phương  
pháp nghiên cưu sinh học cá. Khoa ủy sản, Trường  
Đại học Cần ơ: 80 trang.  
Nikolski, G.V., 1963. Ecology of fishes. Assessment and  
Management. Fishing News Books, 352p.  
Rainboth, W. J., 1996. Fishes of the Cambodian Mekong.  
FAO species identification field guide for fishery  
puposes. FAO Rome, 265p.  
Shirota, A., 1966. e plankton of the south in Viet Nam  
fresh water and marine plankton. Overseas Technical  
Cooperation Agency, Japan, 462 p.  
Sinha, G.M. and S.K. Moitra, 1976. Studies on  
the morphohistology of the alimentary canal of  
freshwater fishes of India. I. e alimentary canal of  
young Cirrhinus reba Ham. With a comparison with  
that of the adult in relation to food. Vestn. Spol. Zool,  
40: 221-231.  
Nutritional characteristics of Puntioplites proctozystron  
Nguyen Hoang Huy, Au Van Hoa and Pham anh Liem  
Abstract  
e study aimed to determine nutritional characteristics of Smith’s barb (Puntioplites proctozystron) that observed  
in dry and rainy seasons. Fish samples from the wild were collected from Bung Binh ien, An Giang province and  
determined the diet composition in the gut tract in order to require knowledge on the cultivation and domestication  
of this object. Results showed that of Puntioplites proctozystron is a species of ray-finned fish, has small and stretching  
mouth, no teeth, palate teeth, but there is pharynx teeth (2.3.4-4.3.2); gill rakers is white, long, slender, rough and  
stacking in the mouth sinus; not stomach and intestines long, thick-walled and multiple lines than on the inside.  
Puntioplites proctozystron was omnivorous with relative length of gut ranged from 1.67 to 2.86, the gut length have been  
listed as 2.5 times body lengths when fish is over 6 cm in body length. e diet composition including Cyanobacteria,  
Chlorophyta, Euglenaphyta, Bacillariophyta, Protozoa, Rotifera, Cladocera, Copepoda, organic matter and others and  
there was not found to differ (p>0.05) between the dry and rainy seasons. In which organic matter accounted for the  
highest figures about the frequency of appearance and the percentage points in the diet composition of fish.  
Keywords: Puntioplites proctozystron, gut length, diet composition, dry season, rainy season  
Ngày nhận bài: 07/8/2020  
Ngày phản biện: 16/8/2020  
Người phản biện: TS. Huỳnh anh Tới  
Ngày duyệt đăng: 28/8/2020  
162  
pdf 6 trang yennguyen 18000 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số đặc điểm dinh dưỡng của cá dảnh (Puntioplites proctozystron)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_dac_diem_dinh_duong_cua_ca_danh_puntioplites_proctozy.pdf