Khóa luận Tiến trình “Tái khởi động” quan hệ Nga – Mỹ từ 2009 đến 2012: Hướng triển khai và kết quả

BỘ NGOẠI GIAO  
HỌC VIỆN NGOẠI GIAO  
KHOA CHÍNH TRỊ QUỐC TẾ VÀ NGOẠI GIAO  
--------------------  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP  
Sinh viên thực hiện: Đặng Thành Đạt  
Lớp: CT35A  
Hà Nội – 2012  
BỘ NGOẠI GIAO  
HỌC VIỆN NGOẠI GIAO  
KHOA CHÍNH TRỊ QUỐC TẾ VÀ NGOẠI GIAO  
--------------------  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP  
TIẾN TRÌNH “TÁI KHỞI ĐỘNG” QUAN HỆ NGA – MỸ  
TỪ 2009 ĐẾN 2012: HƯỚNG TRIỂN KHAI VÀ KẾT QUẢ  
Giáo viên hướng dẫn: PGS. TS. Tạ Minh Tuấn  
Sinh viên thực hiện: Đặng Thành Đạt  
Lớp: CT35A  
Hà Nội – 2012  
LỜI CẢM ƠN  
Nếu muốn gửi lời cám ơn đầu tiên  
Cho em gửi tới những người thầy đáng trọng  
Những “ngọn lửa thần” đã cho em hi vọng  
Trong suốt tháng năm em theo học tại trường.  
Đó là thầy Tạ Minh Tuấn thân thương  
Người hỗ trợ em hoàn thành bài khóa luận  
Dù biết rằng công việc thầy rất bận  
Nhưng vẫn cho em những nhận xét kịp thời.  
Em cũng muốn cám ơn một lời  
Tới thầy Đỗ Sơn Hải trưởng khoa  
Tới cô Đỗ Thị Thủy  
Cùng những thầy cô khoa chính trị  
Những người giúp em trang bị kiến thức ngành.  
Lời tri ân xin gửi tới gia đình  
Là mẹ cha công sinh thành nuôi dưỡng  
Hai Người đã cho con phương hướng  
Nâng đỡ con trên những bước đường đời  
Ngày mai đây bay tới những chân trời  
Sẽ vẫn không quên những lời khuyên răn ấy.  
Những người bạn – cảm ơn họ biết mấy  
Đã bên tôi suốt chừng ấy quãng đường  
Những tình cảm quá đỗi thân thương  
Một lời tri ân biết nhường nào cho đủ  
Nguyện giữ trong tim và luôn thầm nhắc nhở…  
Hà Nội, tháng 5 năm 2012  
Đặng Thành Đạt  
MỤC LỤC  
1
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT  
Từ viết tắt  
Nghĩa tiếng Anh  
Nghĩa tiếng Việt  
NATO  
The North Atlantic  
Treat Organization  
Organization for  
Economic Cooperation  
and Development  
Strategic Arms  
Tổ chức Hiệp ước Bắc  
Đại Tây Dương  
Tổ chức hợp tác và  
phát triển kinh tế  
OECD  
START  
NPT  
Hiệp ước cắt giảm vũ  
khí chiến lược  
Hiệp ước không phổ  
biến vũ khí hạt nhân  
Quỹ Tiền tệ quốc tế  
Reduction Treaty  
Non – proliferation  
Treaty  
IMF  
International Monetary  
Fund  
G8  
The Group of Eight  
Nhóm 8 nền kinh tế lớn  
nhất thế giới  
IAEA  
WTO  
International Atomic  
Energy Agency  
World Trade  
Cơ quan năng lượng  
nguyên tử quốc tế  
Tổ chức thương mại  
thế giới  
Organization  
WB  
SNG (CIS)  
World Bank  
Ngân hàng thế giới  
Cộng đồng các quốc gia  
độc lập  
Commonwealth of  
Independent States  
National Missile  
Defense  
NMD  
Phòng thủ tên lửa  
quốc gia  
EU  
ABM  
European Union  
Anti-Ballistic Missile  
Treaty  
Liên minh châu Âu  
Hiệp ước chống  
tên lửa đạn đạo  
PLO  
Palestine Liberation  
Organization  
Tổ chức giải phóng  
Palestine  
SORT  
Strategic Offensive  
Reductions Treaty  
Hiệp ước cắt giảm vũ  
khí tiến công chiến lược  
2
 
MỞ ĐẦU  
1. Tính cấp thiết của đề tài  
Sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, quan hệ giữa Nga và Mỹ trải qua  
nhiều thăng trầm. Liên Xô tan rã, Mỹ trở thành siêu cường số một thế giới với  
sức mạnh vượt trội trên nhiều lĩnh vực. Trong khi đó, nước Nga sau một thời  
gian dài lâm vào khủng hoảng, đã từng bước tìm lại vị thế cường quốc trước  
kia trong một thập niên gần đây. Sự kiện ngày 11/9/2001 đã đưa Nga và Mỹ  
xích lại gần nhau trong cuộc chiến chống khủng bố trên phạm vi toàn cầu, tuy  
nhiên, quãng thời gian hòa dịu ngắn ngủi đó đã bị chấm dứt sau khi cuộc  
chiến giữa Nga và Grudia nổ ra vào tháng 8 năm 2008. Không lâu sau đó, vào  
năm 2009, tân Tổng thống Mỹ Barack Obama, cùng với Tổng thống Nga  
Dmitry Medvedev, đã quyết định thổi một làn gió mới vào “đám tro tàn” quan  
hệ Nga – Mỹ bằng tiến trình tái khởi động (reset) đầy tham vọng nhưng thể  
hiện quyết tâm cao từ lãnh đạo hai nước. Trải qua chặng đường ba năm, tiến  
trình này đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, góp phần không nhỏ trong việc  
cải thiện quan hệ Nga – Mỹ nói riêng, cũng như làm gia tăng những nhân tố  
tích cực trong quan hệ quốc tế nói chung. Tuy nhiên, không thể phủ nhận  
rằng, tiến trình này vẫn còn tồn tại những hạn chế xuất phát từ nhiều nguyên  
nhân khách quan và chủ quan, cùng với đó là những lo ngại về khả năng tiến  
xa hơn trong thời gian sắp tới, khi Tổng thống Nga Vladimir Putin lên nắm  
quyền tại điện Kremlin. Câu hỏi về sự ra đời của tiến trình “tái khởi động”  
quan hệ Nga – Mỹ như thế nào, nội dung của tiến trình này là gì, thành tựu  
cũng như hạn chế của tiến trình ra sao đã trở thành một trong những vấn đề  
nổi trội thu hút sự quan tâm của nhiều học giả, nhà nghiên cứu và dư luận trên  
toàn thế giới. Tuy nhiên, hầu hết các công trình trước đây nghiên cứu về  
chặng đường “tái khởi động” đều chỉ dừng lại ở thời điểm giữa năm 2011, do  
vậy, cấp thiết cần có một đề tài nghiên cứu mới tính đến thời điểm gần đây  
3
(năm 2012) để có cái nhìn tổng quan hơn về tiến trình này, và đặc biệt xem  
xét tiến trình đó dưới vai trò lãnh đạo của Tổng thống mới nước Nga V. Putin.  
Đề tài nghiên cứu về tiến trình “tái khởi động” quan hệ Nga – Mỹ ra  
đời còn mang ý nghĩa sâu sắc hơn khi hiện nay, Việt Nam đang đẩy mạnh sự  
nghiệp đổi mới, thực hiện đường lối đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa  
dạng hóa các quan hệ quốc tế, nhằm tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài  
nhằm phục vụ công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong  
đường lối đối ngoại đó, quan hệ các nước lớn luôn là một trong những ưu tiên  
trọng tâm. Vì vậy, nghiên cứu mối quan hệ quốc tế đặc biệt Nga – Mỹ mang  
một ý nghĩa quan trọng đối với Việt Nam trong việc đánh giá tình hình quốc  
tế và hoạch định chính sách quốc gia.  
Từ những nhận thức trên, tác giả đã chọn đề tài: “Chặng đường “tái  
khởi động” quan hệ Nga – Mỹ từ năm 2009 đến 2012: hướng triển khai và kết  
quả” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành quan hệ quốc tế.  
2. Tình hình nghiên cứu đề tài  
Tiến trình “tái khởi động” quan hệ Nga – Mỹ là một trong số những đề  
tài thu hút sự quan tâm của đông đảo các học giả, các nhà nghiên cứu trong và  
ngoài nước. Trong đó, đáng chú ý có thể kể đến một số công trình sau:  
Với các tác giả nước ngoài có thể kể đến bài nghiên cứu “The U.S –  
Russia relations after the “Reset”: Building a new agenda. A view from  
Russia” (tạm dịch Mối quan hệ Nga – Mỹ sau khi “tái khởi động”: Xây dựng  
một lộ trình mới. Quan điểm từ nước Nga) [29] của các tác giả người Nga  
thuộc Câu lạc bộ thảo luận quốc tế Valdai đã nêu ra một số thành tựu, hạn chế  
cơ bản của tiến trình và đề xuất xây dựng một chương trình nghị sự mới với  
những lĩnh vực hợp tác mở rộng trong quan hệ Nga – Mỹ trong tương lai.  
Bài: “Results of the “Reset” in US – Russian relations” (tạm dịch Kết quả của  
việc “Tái khởi động” trong quan hệ Mỹ - Nga) [46] của Giáo sư R. Craig  
4
Nation tại Viện nghiên cứu Âu – Á và Nga thuộc Trường Cao học Hải quân  
Mỹ, cũng đã khái quát những nội dung chính trong tiến trình “tái khởi động”  
quan hệ Nga – Mỹ, những lợi ích còn mâu thuẫn, những thành tựu cơ bản mà  
hai bên đã đạt được, từ đó dự báo về tương lai của tiến trình trong thời gian  
tới. Gần đây, vào tháng 2 năm 2012, Jim Nichol, một chuyên gia nghiên cứu  
về Nga và Âu – Á đã có bài : “Russian Political, Economic, and Security  
Issues and U.S. Interests” [47] (tạm dịch Các vấn đề chính trị, kinh tế và an  
ninh của Nga và lợi ích của Mỹ), trong đó có đề cập tới quan hệ Nga – Mỹ từ  
khi “tái khởi động” tới nay, cụ thể là những tính toán lợi ích của hai bên cũng  
như những thành tựu mà cả hai đã đạt được trong thời gian vừa qua.  
Với các tác giả trong nước, phải kể tới bài viết “Quan hệ Mỹ - Nga đến  
2020” trong cuốn “Cục diện thế giới đến 2020” [4] của tác giả Đỗ Văn Minh,  
trong đó cung cấp cái nhìn tổng quan về thực trạng quan hệ Nga – Mỹ hiện  
nay và tương lai phát triển của mối quan hệ này trong thập niên tới. Bài viết  
“Chuyển biến trong quan hệ Mỹ - Nga dưới chính quyền Obama: Nguyên  
nhân và triển vọng” [10] của tác giả Lê Linh Lan đã chỉ ra những nguyên  
nhân dẫn tới dấu hiệu “tan băng” trong quan hệ Nga – Mỹ, đồng thời đánh giá  
các nhân tố tác động tới triển vọng trong ngắn hạn cũng như dài hạn của mối  
quan hệ này. Ngoài những bài nghiên cứu trên đây còn có một số bài viết của  
nhiều tác giả khác việc đánh giá tiến trình “tái khởi động” quan hệ Nga – Mỹ  
từ nhiều góc độ khác nhau. Nhìn chung, có hai luồng quan điểm chính khi  
đánh giá tiến trình này. Thứ nhất là quan điểm “bi quan” về sự thành công của  
tiến trình bởi nhiều người cho rằng, giữa Nga và Mỹ tồn tại quá nhiều mâu  
thuẫn khó dung hòa. Một số bài viết ủng hộ quan điểm này như “The US –  
Russian Reset in Recess” (tạm dịch Tiến trình “tái khởi động” quan hệ Nga –  
Mỹ lâm vào khủng hoảng) [60] của tác giả Dmitri Trenin, hay bài “U.S –  
Russian Relations Difficult to Revive” (tạm dịch Quan hệ Nga – Mỹ khó có  
5
thể hồi phục) [43] của tác giả Ji Zhiye. Thứ hai là quan điểm trung lập của  
một số tác giả khi nhìn vào những thành tựu mà cả hai cường quốc đã đạt  
được cũng như những hạn chế, và cho rằng khó có thể nói trước tiến trình này  
là thành công hay thất bại, ít nhất cho tới thời điểm hiện tại. Một trong số đó  
là bài “Evaluating the US – Russian “Reset” (tạm dịch Đánh giá tiến trình  
“tái khởi động” quan hệ Nga – Mỹ) [61] của hai tác giả Eric Edelman và Bob  
Joseph, hay bài “The US – Russia reset: A skeptical View” (tạm dịch Tái khởi  
động quan hệ Nga – Mỹ: Góc nhìn hoài nghi) [39] của tác giả Volodymyr  
Duboryk.  
3. Mục tiêu nghiên cứu  
Đề tài của khóa luận không nằm ngoài mục tiêu làm rõ những nét cơ  
bản trong tiến trình "tái khởi động" quan hệ Nga - Mỹ từ năm 2009 đến 2012,  
bao gồm nội dung và hướng triển khai ưu tiên, đồng thời đánh giá kết quả của  
tiến trình này sau ba năm thực hiện.  
Như vậy, khóa luận sẽ tập trung giải quyết hai câu hỏi nghiên cứu  
chính: Thứ nhất, nội dung và hướng triển khai chính của tiến trình “tái khởi  
động” quan hệ Nga – Mỹ là gì. Thứ hai, tiến trình đã đạt được những thành  
tựu gì, và còn những hạn chế nào tồn đọng.  
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu  
Đề tài tập trung nghiên cứu cơ sở hình thành, nội dung, thành tựu và  
hạn chế của tiến trình “tái khởi động” quan hệ Nga – Mỹ từ năm 2009 đến  
nay (tháng 5/2012); tuy nhiên trong quá trình nghiên cứu sẽ có sự liên hệ với  
các giai đoạn trước đó.  
6
5. Phƣơng pháp nghiên cứu  
Dựa trên mục tiêu và định hướng nghiên cứu đã đề ra, đề tài sẽ sử dụng  
phương pháp nghiên cứu chủ đạo là phương pháp lịch sử - logic, kết hợp với  
phương pháp liệt kê, phương pháp phân tích so sánh và tổng hợp.  
6. Bố cục khóa luận: gồm 3 chƣơng  
Chương I : Cơ sở ra đời tiến trình “tái khởi động” quan hệ Nga – Mỹ.  
Chương này tập trung làm rõ những yếu tố cơ bản làm nền tảng cho sự  
ra đời của tiến trình, giải thích tại sao Nga và Mỹ quyết định nhấn nút “tái  
khởi động” quan hệ vào thời điểm năm 2009.  
Chương II : Nội dung tiến trình “tái khởi động” quan hệ Nga – Mỹ  
Đây là chương tập trung làm nổi bật những nội dung cơ bản trong tiến  
trình “tái khởi động” được thỏa thuận bởi lãnh đạo hai nước Nga và Mỹ, thể  
hiện trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Đồng thời, khai thác và làm rõ những  
hướng ưu tiên triển khai chính.  
Chương III : Đánh giá kết quả của tiến trình “tái khởi động” quan hệ Nga –  
Mỹ sau ba năm (2009 – 2012)  
Nội dung chính của chương này là nêu rõ những thành tựu và hạn chế  
của tiến trình sau ba năm khởi động, đồng thời khai thác nguyên nhân cơ bản  
dẫn tới những những hạn chế đó và rút ra hướng giải quyết.  
Do sự dàn trải của vấn đề nghiên cứu, cùng với đó là giới hạn về thời  
gian và trình độ chuyên môn của tác giả, do vậy những nội dung trình bày  
trong khóa luận chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả rất mong  
nhận được những ý kiến đóng góp, phê bình từ thầy cô và bạn đọc quan tâm  
để hoàn chỉnh hơn nội dung của đề tài.  
7
CHƢƠNG I: CƠ SỞ HÌNH THÀNH TIẾN TRÌNH “TÁI KHỞI ĐỘNG”  
QUAN HỆ NGA – MỸ  
Với sức mạnh vượt trội sau Chiến tranh lạnh, Mỹ luôn duy trì mối quan  
hệ “không cân xứng” với Nga, mà theo Giáo sư Stephen F. Cohen thì ở đó  
“kẻ thắng được tất cả, kẻ thua phải mất tất cả” [35]. Quan hệ Mỹ - Nga dưới  
chính quyền Tổng thống B. Clinton căng thẳng xung quanh các vấn đề như  
mở rộng NATO, Kosovo và phòng thủ tên lửa. Dưới chính quyền G. Bush,  
sau một thời kỳ nồng ấm ngắn ngủi sau sự kiện 11/9/2001, quan hệ Mỹ - Nga  
lại bước vào thời kỳ khó khăn với đỉnh điểm là xung đột quân sự Nga –  
Georgia năm 2008. Đây là va chạm chiến lược gián tiếp đầu tiên giữa Nga và  
Mỹ kể từ sau Chiến tranh lạnh [10;42]. Nhìn chung, trên bản đồ toàn cầu của  
Mỹ, nước Nga vẫn luôn được theo dõi chặt chẽ về mọi mặt, đảm bảo sự phát  
triển của Nga không đi ngược lại lợi ích của Mỹ. Trong khi đó, Nga luôn cố  
gắng kế thừa tích cực những “di sản” đáng giá do lịch sử để lại, đồng thời  
theo đuổi đường lối đối ngoại đa phương, “thực dụng”, đặc biệt là với Mỹ, để  
thực hiện mục tiêu trở thành một cực lớn trong thế giới đa cực [23;20]. Do đó,  
với mục tiêu hàn gắn mối quan hệ Nga – Mỹ nhằm hướng đến những lợi ích  
chiến lược lâu dài, chính quyền Tổng thống Obama đã khởi xướng chính sách  
“tái khởi động” quan hệ hai nước ngay sau khi ông bước vào Nhà Trắng năm  
2009. Tuy nhiên, xét từ cách tiếp cận của chủ nghĩa hiện thực mới có thể thấy,  
sự ra đời của tiến trình này chịu sự tác động mạnh mẽ của nhiều nguyên nhân  
chủ quan và khách quan, bao gồm bối cảnh thế giới, lợi ích của Nga, Mỹ và  
nhân tố lãnh đạo.  
1. Bối cảnh thế giới  
1.1. Xu thế chung trong thời đại toàn cầu hóa  
Chiến tranh lạnh kết thúc với sự tan rã của tình trạng đối đầu Đông –  
Tây, mà đại diện là Liên Xô và Mỹ, cũng từ đây, hòa bình, hợp tác và phát  
triển đã trở thành xu thế chính trong quan hệ quốc tế. Các nước đều nhận thức  
8
     
được tầm quan trọng của môi trường quốc tế ổn định mà ở đó họ có thể bắt  
tay với nhau, cùng phát huy những lợi thế so sánh của từng nước nhằm phục  
vụ cho mục tiêu phát triển. Ngoài ra, xu thế hội nhập khu vực và quốc tế buộc  
các quốc gia phải điều chỉnh và thay đổi chính sách đối ngoại của mình. Theo  
đó, tư duy mới về quan hệ quốc tế hình thành thay thế tư duy cũ, đó là cách  
tiếp cận cùng thắng (win – win approach). Hầu hết các nước đều đặt lợi ích  
dân tộc lên trên hết, trên cơ sở tìm mọi cách duy trì môi trường hòa bình và ổn  
định về mọi mặt ở trong nước, trong khu vực cũng như trên thế giới [1;62].  
Đầu thế kỷ XXI, thế giới chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của cách  
mạng khoa học công nghệ với mũi nhọn là công nghệ thông tin, kinh tế tri  
thức và toàn cầu hóa. Cuộc cách mạng này làm thay đổi tư duy của các nước  
về thế giới quan và chiến lược đối ngoại, thay đổi phương thức quan hệ giữa  
các nước, và là động lực chính đẩy nhanh sự thay đổi tương quan lực lượng  
giữa các quốc gia [20;12]. Xã hội thông tin toàn cầu và sự phát triển của nền  
kinh tế tri thức mở ra cho các nước những cơ hội tiếp cận và tiếp nhận những  
thành quả của khoa học và công nghệ để xây dựng những ngành nghề mới có  
hàm lượng kĩ thuật và tri thức cao [11;153]. Trên thực tế, cả Nga và Mỹ đều  
là những nước lớn, có tiềm năng phát triển mạnh và đóng vai trò nhất định  
trên bản đồ kinh tế thế giới. Mỹ hiện là nền kinh tế lớn nhất thế giới với GDP  
đạt khoảng hơn 15 nghìn tỷ USD (2011), chiếm khoảng 25% GDP thế giới  
[63]. Mỹ cũng là nước đi đầu trong việc xây dựng “nền kinh tế mới” dựa trên  
cơ cấu dịch vụ là chủ yếu, lấy công nghệ thông tin là cơ hở hạ tầng và chất  
xám là yếu tố căn bản [15;308]. Trong khi đó Nga với thế mạnh của một  
“cường quốc năng lượng” cũng đang vươn lên mạnh mẽ và luôn đứng trong  
tốp những nền kinh tế hàng đầu thế giới. Tại Diễn đàn Kinh tế quốc tế năm  
2008, Tổng thống Nga D. Medvedev đã nói rằng sự phát triển của nền kinh tế  
Nga trong những năm tới sẽ dựa trên 5 trụ cột lớn, 5 trụ cột quan trọng nhất  
tương đương với 5 chữ “I”, đó là: thể chế (institution), cách tân (innovation),  
9
hạ tầng (infrastructure), đầu tư (investment) và tri thức (intellect) [23;22]. Rõ  
ràng, cả Mỹ và Nga đều mong muốn “hòa mình” một cách tích cực nhất vào  
xu thế chung của thời đại, tranh thủ nhiều hơn nữa những mặt tích cực do  
cuộc cách mạng khoa học công nghệ và nền kinh tế tri thức mang lại. Toàn  
cầu hóa đã làm cho Mỹ và Nga phụ thuộc chặt chẽ vào nhau và với các nước  
khác. Và “khi lợi ích giữa các quốc gia đan xen vào nhau đồng thời ngày càng  
phụ thuộc lẫn nhau thì tư duy về đối ngoại và phương thức quan hệ quốc tế  
cũng thay đổi mạnh mẽ” [20;13].  
1.2. Tính phức tạp của các vấn đề toàn cầu  
Hiện nay, những vấn đề toàn cầu phức tạp đang thách thức mọi quốc  
gia trên toàn thế giới. Việc giải quyết các vấn đề toàn cầu đòi hỏi phải có sự  
đầu tư về phương tiện vật chất, sự hợp tác quốc tế về mọi mặt không phân  
biệt chế độ xã hội, tôn giáo, chính kiến, hệ tư tưởng; đòi hỏi sự nỗ lực tối đa  
của cả nhân loại về mặt nhận thức lẫn hành động thực tế [12;12]. Thực tế, cả  
Mỹ và Nga đều là những quốc gia phải đối mặt trực tiếp với hàng loạt các vấn  
đề toàn cầu từ nhiều thập kỷ nay. Với vai trò là những nước lớn, Nga và Mỹ  
còn đóng vai trò là những nhân tố then chốt trong các cơ chế giải quyết vấn đề  
toàn cầu trong phạm vi khu vực và quốc tế. Năm 2001, sau sự kiện 11/9, một  
mặt trận chống khủng bố trên phạm vi toàn cầu do Mỹ lãnh đạo đã trở thành  
“chất keo dính” quan hệ Nga – Mỹ, đưa hai quốc gia vốn lạnh nhạt trở thành  
những người bạn đứng trên cùng một chiến tuyến. Thậm chí Mỹ đã tuyên bố  
rằng: chống khủng bố đã trở thành ưu tiên của chính sách đối ngoại Mỹ, là  
tiêu chí để phân định bạn thù trong thời điểm hiện nay [5;24]. Sau nhiều nỗ  
lực của cả hai quốc gia, vẫn chưa thể khẳng định rằng cuộc chiến này đã  
thành công, bởi lẽ mạng lưới khủng bố vẫn đang hoạt động rộng khắp, với  
những hình thức ngày càng tinh vi hơn. Đây chính là bàn đạp để Nga và Mỹ  
vẫn cần đến nhau trong nỗ lực chung giải quyết vấn đề toàn cầu này. Tuy  
nhiên, khủng bố không chỉ là vấn đề toàn cầu duy nhất gắn kết mối quan hệ  
10  
 
Nga – Mỹ. Trong hơn nửa thế kỷ qua, cộng đồng quốc tế đã chứng kiến  
những cố gắng đáng kể của hai nước trong việc hướng tới một thế giới không  
có vũ khí hạt nhân. Tuy nhiên, trên thực tế số nước có vũ khí hạt nhân lại  
đang tăng lên mặc dù, nhìn tổng thể số lượng vũ khí hạt nhân đã giảm đi.  
Theo thống kê, trên thế giới hiện nay có 10 nước có vũ khí hạt nhân và có thể  
còn tăng lên trong tương lai [28;37]. Sau những thành công bước đầu của cả  
Nga và Mỹ trong việc cắt giảm số lượng vũ khí hạt nhân, cộng đồng quốc tế  
vẫn rất cần sự hợp tác sâu rộng hơn nữa của hai cường quốc này. Do đó, quan  
hệ hợp tác Nga – Mỹ nhiều khả năng vẫn còn kéo dài trong thời gian tới.  
Ngoài ra, còn nhiều vấn đề toàn cầu khác như biến đổi khí hậu, sự gia tăng số  
lượng tội phạm xuyên quốc gia, khó khăn của nền kinh tế thế giới, sự phức  
tạp của vấn đề nhân quyền,… đang thách thức hầu hết các quốc gia. Rõ ràng,  
hiệu quả giải quyết những vấn đề đó chỉ có thể đạt được thông qua cơ chế đa  
phương, mà cụ thể là thông qua vai trò của hai cường quốc Nga, Mỹ với  
những ưu thế nổi trội về tài chính, khoa học công nghệ và sự tín nhiệm.  
1.3. Sự thay đổi trong tương quan lực lượng giữa các nước lớn  
Dưới tác động của quy luật phát triển không đồng đều giữa các quốc  
gia, tương quan lực lượng giữa các nước liên tục thay đổi. Nếu như tại thời  
điểm đầu những năm 90 của thế kỷ XX, Mỹ là siêu cường duy nhất còn lại  
trên thế giới với sức mạnh ưu việt trên tất cả các lĩnh vực, thì ở thời điểm hiện  
tại, vị trí ấy của Mỹ đang bị thách thức bởi nhiều nước và nhóm nước khác,  
trong đó có Nga. Hiện nay, nhiều ý kiến cho rằng, cục diện cơ bản của thế  
giới tuy vẫn là “nhất siêu đa cường” nhưng vận động nhanh hơn theo hướng  
đa cực, đa trung tâm hóa, trong đó vị thế siêu cường của Mỹ ngày càng suy  
yếu và so sánh lực lượng ngày càng bất lợi hơn cho Mỹ.  
Về kinh tế, Mỹ hiện đang phải đối mặt với nhiều khó khăn lớn, đặc biệt  
là tỷ lệ thất nghiệp vẫn ở mức cao (9%), thâm hụt ngân sách nặng (nếu như  
trong những năm 90, thặng dư mậu dịch hằng năm lên tới hàng trăm tỉ USD  
11  
 
thì đến 2009, thâm hụt ngân sách liên bang chiếm khoảng 10% GDP  
[22;100]), nợ công tăng gần 100% GDP (khoảng 15 nghìn tỷ USD vào quý III  
năm 2011, được coi là ngưỡng nguy hiểm với nền kinh tế Mỹ), đồng thời bị  
đánh tụt hạng về mức độ tín ngưỡng tài chính. Mỹ cũng bị tụt xuống vị trí thứ  
ba về thương mại quốc tế (sau Trung Quốc và EU). Hệ thống tài chính Mỹ  
bộc lộ rõ những khuyết điểm mang tính hệ thống, đây là nguyên nhân dẫn tới  
làn sóng biểu tình mang tên “Chiếm lấy phố Wall” tại quốc gia này năm 2011.  
Mỹ cũng không còn chiếm vị trí số một trong lĩnh vực khoa học – công nghệ  
mà bị một số đối thủ khác như Nhật Bản, Tây Âu, Trung Quốc,…cạnh tranh.  
Về quân sự, tuy có quân đội mạnh nhất thế giới nhưng bị “căng mỏng” vì  
triển khai quá nhiều nơi, sức mạnh của quân đội Mỹ không phát huy hết tác  
dụng trước các thách thức an ninh mới. Sự ủng hộ của dân chúng và Quốc hội  
Mỹ dành cho các cuộc phiêu lưu quân sự giảm sút, cùng với đó là những khó  
khăn về kinh tế đã làm giảm khả năng triển khai quân sự của Mỹ [21;58].  
Việc Mỹ chỉ nắm quyền chỉ huy trong thời gian đầu của cuộc không kích  
Libya và sau đó trao quyền chỉ huy cho NATO vào tháng 3/2011 là minh  
chứng rõ rệt cho điều này. Về ngoại giao, uy tín của Mỹ trên thế giới đang  
trên đà suy giảm, đặc biệt là ở Trung Đông, các nước Mỹ La-tinh, Cộng đồng  
các quốc gia độc lập (SNG) và trên các diễn đàn quốc tế sau khi Washington  
can thiệp một cách máy móc, nhiều khi là thô bạo vào công việc nội bộ của  
nước khác, xuất phát từ thuyết “Ngoại giao chuyển hoán” cũng như sự tin  
tưởng của quốc gia này vào sức mạnh dân chủ, tiền bạc và vũ khí [22;102].  
Trong khi đó, Nga ngày càng chứng tỏ tiềm năng mạnh mẽ của mình  
trên nhiều lĩnh vực với mong muốn lấy lại vị thế “siêu cường” đã từng có  
trong thời kỳ Chiến tranh lạnh. Sau một thời gian dài khủng hoảng do hệ quả  
của đối đầu Xô – Mỹ, từ năm 2000, dưới sự lãnh đạo của Tổng thống V.  
Putin, nước Nga từng bước thoát khỏi khó khăn, lập lại ổn định chính trị và  
cải thiện vị thế quốc tế. Trên cơ sở thế và lực ngày càng tăng, chính quyền  
12  
Nga đặt mục tiêu chấn hưng đất nước thông qua việc thực hiện Chiến lược  
phát triển đến năm 2020, Học thuyết quân sự và đối ngoại mới. Trong đó  
Chương trình Phát triển kinh tế - xã hội từ nay đến 2020 chia thành hai giai  
đoạn (từ năm 2007 đến 2012 và từ năm 2013 đến 2020), dự kiến GDP của  
Nga vào năm 2012 sẽ tăng 35-36% so với năm 2007, năm 2020 sẽ tăng 63-  
69% so với 2012 [23;19]. Nga quyết tâm đứng vào nhóm 5 nước có tiềm lực  
kinh tế hàng đầu thế giới, duy trì cân bằng chiến lược với phương Tây và khôi  
phục lại vị trí cường quốc vốn có. Nga được đánh giá đã vượt qua cuộc khủng  
hoảng tài chính toàn cầu giai đoạn 2008 – 2009 khá tốt, và khôi phục lại mức  
sản lượng tiền khủng hoảng chỉ hai năm sau đó (2011). So với năm 2005,  
GDP trên đầu người của Nga đã tăng gấp đôi, ước tính đạt khoảng 10,360  
USD vào năm 2010 [84]. Nga đã trở thành thành viên chính thức của WTO,  
thành viên của G8, G20 và đang đứng trong hàng ngũ các nhà cung cấp chính  
cho các quỹ đối phó với khủng hoảng và viện trợ phát triển. Giới phân tích  
cho rằng, tuy chưa hết khó khăn nhưng rõ ràng nước Nga đang có tiềm năng  
lớn mạnh về kinh tế để thực hiện mơ ước của mình [23;19]. Nước Nga ngày  
nay đang nỗ lực để gia tăng tiếng nói và tầm ảnh hưởng trong SNG, sẵn sàng  
tham gia đóng góp cùng cộng đồng quốc tế để giải quyết các vấn đề toàn cầu,  
tăng cường quan hệ với các đối tác nước ngoài, đồng thời tham gia vào các  
luật chơi mới để thực hiện mục tiêu trở thành một cực lớn trong một thế giới  
đa cực. Điều này được thể hiện rất rõ trong “Những định hướng cơ bản trong  
chính sách đối ngoại của Liên bang Nga” do Tổng thống D. Medvedev thông  
qua năm 2008, trong đó nhấn mạnh “nước Nga ngày nay đã trỗi dậy với thế  
và lực mới, có được vai trò đầy đủ trong các vấn đề toàn cầu” [14;104].  
Như vậy, trong khi Nga đang nỗ lực vươn lên vị thế của một cường  
quốc như đã từng có trong quá khứ thì Mỹ cũng nỗ lực vực dậy những khó  
khăn của quốc gia này để đảm bảo chiếc ghế siêu cường không bị thách thức.  
13  
Mỹ cũng phải chấp nhận một thực tế đó là thế giới đang dần trở nên bằng  
phẳng hơn và việc duy trì một môi trường quốc tế đơn cực là điều không thể.  
2. Lợi ích chung của hai bên  
Có thể nói, trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa  
các quốc gia ngày càng chặt chẽ như hiện nay, hợp tác có lẽ là cách tốt nhất  
để đảm bảo những lợi ích chung của cả Nga và Mỹ.  
2.1. Về chính trị - an ninh  
Không chỉ riêng Tổng thống Obama mà từ trước đó, khi Tổng thống G.  
Bush còn đương nhiệm, Mỹ đã coi khủng bố hạt nhân là nguy cơ lớn nhất đe  
dọa tới an ninh quốc gia. Với sức mạnh hạt nhân như hiện tại, sự ủng hộ và  
hợp tác của Nga có ý nghĩa rất quan trọng với Mỹ trong việc ngăn ngừa một  
cuộc chiến tranh hạt nhân có thể xảy ra bởi cả hai nước nắm trong tay 95% số  
đầu đạn hạt nhân của toàn thế giới. Bên cạnh đó, Nga cũng đóng vai trò đáng  
kể cùng với Mỹ ngăn chặn sự lan rộng của vũ khí hạt nhân, sự phổ biến của  
công nghệ chế tạo vũ khí hạt nhân mà không chỉ các quốc gia, mà cả các lực  
lượng phi quốc gia cũng nỗ lực để sở hữu chúng trên phạm vi toàn cầu [31;9].  
Với Mỹ, khủng bố vẫn luôn là một mối đe dọa về an ninh, nếu Nga không hỗ  
trợ, Mỹ sẽ phải đối mặt với không ít khó khăn để bảo đảm lợi ích của chính  
nước Mỹ, cũng như sự an toàn của cả nhân loại. Ngược lại, nếu đồng ý hợp  
tác trong việc ký kết một hiệp ước kiểm soát vũ khí hạt nhân mới, hay đứng  
cùng hàng ngũ với Mỹ trong cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu, Nga sẽ đạt  
được những lợi ích nhất định. Thứ nhất, về mặt uy tín, việc Mỹ mong muốn  
hợp tác với Nga chứng tỏ Mỹ đã thừa nhận vị thế của Nga như một cường  
quốc trong cân bằng chiến lược với Mỹ. Nói cách khác, việc ngồi vào bàn  
đàm phán với Mỹ để thảo luận những vấn đề quan trọng đã thể hiện uy thế  
của nước Nga với tư cách là một đối tác ngang tầm và đặc biệt của Mỹ [44;9].  
Thứ hai, về mặt an ninh, hợp tác với Mỹ cho phép Nga giữ được cân bằng hạt  
nhân với quốc gia này, hơn nữa, trong cuộc chiến chống khủng bố với Mỹ,  
14  
   
Nga có thể lợi dụng nó để đẩy mạnh chiến dịch chống lực lượng ly khai  
Chechnya, cũng như kiềm chế lực lượng Hồi giáo quá khích ở Nga [4;382].  
Hợp tác với Mỹ còn giúp Nga có cơ hội đàm phán về vấn đề hệ thống phòng  
thủ tên lửa ở châu Âu cũng như việc mở rộng lãnh thổ của NATO tại khu vực  
ảnh hưởng của Nga – đây đều là những vấn đề Nga đang rất quan tâm ở thời  
điểm hiện tại.  
Với tư cách là hai nước lớn, đồng thời là những nhân tố quan trọng  
trong các cơ chế hợp tác quốc tế, cả Nga và Mỹ đều mong muốn sự hợp tác  
giữa hai nước sẽ góp phần mang lại những giải pháp hữu hiệu cho các vấn đề  
toàn cầu hiện nay. Nga hiện là quốc gia đứng thứ 3 thế giới về lượng khí thải  
nên Mỹ cần sự hợp tác chặt chẽ của Nga trong việc tìm ra hướng giải quyết  
cho các cuộc thảo luận về biến đổi khí hậu vốn đang bị bế tắc. Nga cũng là  
quốc gia phải đối mặt với sự bùng nổ của các tổ chức tội phạm, ước tính có  
khoảng 3.500 tổ chức đang hoạt động trên toàn lãnh thổ từ sau khi Liên Xô  
tan rã [12;147], do đó, Nga thực sự cần đến sự hỗ trợ của Mỹ để giải quyết  
vấn để này. Ngoài ra, còn nhiều vấn đề toàn cầu phức tạp khác đã trở thành  
“chất keo dính” giữa Washington và Moscow trong nỗ lực chung nhằm tìm ra  
những giải pháp hiệu quả như buôn lậu ma túy, nạn rửa tiền hoặc làn sóng di  
dân,…Đặc biệt, Nga và Mỹ còn cần đến nhau trong việc giải quyết các cuộc  
xung đột quốc tế như vòng đàm phán 6 bên về vấn đề hạt nhân trên bán đảo  
Triều Tiên, chương trình hạt nhân của Iran, vấn đề nhân quyền tại Syri,…  
Trong tính toán chiến lược của Mỹ, Nga luôn được coi là ưu tiên hàng  
đầu vì nước này có có vị trí địa – chính trị đặc thù, đó là vị trí án ngữ giữa các  
cường quốc Đại Tây Dương cũ và các cường quốc châu Á – Thái Bình Dương  
mới, như lời một quan chức Ngoại giao Mỹ từng nói: nước Nga giữ chiếc chìa  
khóa có thể mở hoặc đóng những cánh cửa khác [6;71]. Do vậy, những cuộc  
xung đột quốc tế có thể xảy ra trong tương lai do hệ quả của quá trình toàn  
cầu hóa sẽ làm vị trí của Nga ở trung tâm Âu – Á trở thành thứ “hàng hóa  
15  
chiến lược” mà Mỹ không thể không quan tâm. Thực tế, tất cả các cuộc xung  
đột quốc tế (nhất là những cuộc xung đột ở bên cạnh lãnh thổ Nga) khiến Mỹ  
lo ngại sẽ không thể được giải quyết triệt để nếu thiếu sự tham gia trực tiếp  
hay gián tiếp của Nga [16;51]. Ngoài ra, những mối quan hệ truyền thống, các  
kênh ảnh hưởng và uy tín của Nga ở một loạt nước và khu vực trên thế giới  
biến Nga thành một trung gian có hiệu quả giữa các nước và khu vực đó với  
Mỹ [16;52]. Ngoài ra, một mối quan ngại chung mà cả Nga và Mỹ đều đang  
chia sẻ với nhau đó là sự vươn lên mạnh mẽ của một số quốc gia cạnh tranh  
trực tiếp với lợi ích của Nga và Mỹ, đặc biệt là Trung Quốc. Rõ ràng, nếu bản  
đồ quyền lực thế giới có sự thay đổi và được phân bổ lại với vai trò ngày càng  
tăng của các quốc gia này, thì không chỉ Mỹ mà cả Nga cũng sẽ bị ảnh hưởng  
đáng kể về mặt lợi ích. Không chỉ có vậy, nếu Nga, Mỹ không hợp tác với  
nhau, thay vào đó một trong hai bên thực thi chiến lược kiềm chế bên còn lại,  
thì rất có khả năng hoặc Nga hoặc Mỹ sẽ thắt chặt quan hệ với một quốc gia  
thứ ba để tạo đối trọng quyền lực với bên kia. Trên thực tế, Nga đã từng rất lo  
ngại về nhóm G2 Trung – Mỹ, coi đây là thách thức lớn đối với lợi ích của  
Nga khi hai nền kinh tế lớn nhất thế giới hợp tác với nhau. Trong khi đó, việc  
Nga và Trung Quốc có những động thái “thân mật” 1 cũng trở thành nguy cơ  
thực sự đối với Mỹ trong việc duy trì vị trí lãnh đạo toàn cầu. Do vậy, để bảo  
vệ những lợi ích của cả Nga và Mỹ trước những thách thức từ bên ngoài, hai  
nước cần thiết phải hợp tác với nhau trên nhiều phương diện.  
2.2. Về kinh tế - tài chính  
Nền kinh tế thế giới đang gặp phải những khó khăn sau cuộc khủng  
hoảng tài chính, do vậy, hai nước nhận thấy sự cần thiết phải hợp tác với nhau  
1 Nga và Trung Quốc đã ký “Quan hệ đối tác chiến lược hướng tới thế kỷ XXI” (1996), “Tuyên bố  
Nga – Trung về thế giới đa cực và thiết lập trật tự thế giới mới” (1997), và “Hiệp ước láng giềng  
hữu nghị và hợp tác” (2001). Theo Hoàng Anh Tuấn (2005), “Quan hệ đối tác chiến lược Nga –  
Trung Quốc: thực chất và triển vọng”, Tạp chí Nghiên cứu quốc tế (3/2005), (60), tr.37  
16  
 
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 72 trang yennguyen 10260 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Tiến trình “Tái khởi động” quan hệ Nga – Mỹ từ 2009 đến 2012: Hướng triển khai và kết quả", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhoa_luan_tien_trinh_tai_khoi_dong_quan_he_nga_my_tu_2009_de.pdf