Giáo trình mô đun Chẩn đoán trạng thái kỹ thuật ô tô - Nghề: Công nghệ ô tô

1
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH  
TRƯỜNG CAO ĐẲNG LÀO CAI  
GIÁO TRÌNH  
Mô đun: Chẩn đoán trạng thái  
kỹ thuật ô tô.  
NGHỀ: CÔNG NGHỆ Ô TÔ  
TRÌNH ĐỘ: CAO ĐẲNG  
LƯU HÀNH NỘI BỘ  
Lào Cai 2017  
2
TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN:  
Tài liệu này thuộc loại sách giáo trình nên các nguồn thông tin có thể  
được phép dùng nguyên bản hoặc trích dùng cho các mục đích về đào tạo và  
tham khảo.  
Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinh  
doanh thiếu lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm.  
MÃ TÀI LIỆU: MĐ 25.  
3
MỤC LỤC  
TT  
1
TÊN ĐỀ MỤC  
TRANG  
Lời giới thiệu.  
Mục lục.  
1
2
2
Bài 1: Tổng quan và nhận biết các bộ phận của hệ thống cung cấp  
nhiên liệu diesel  
3
4
3-12  
Bài 2: Bảo dưỡng và sửa chữa thùng nhiên liệu và các đường ống và  
bầu lọc  
13- 22  
5
6
Bài 3: Bảo dưỡng và sửa chữa bơm thấp áp (bơm chuyển nhiên liệu)  
Bài 4: Bảo dưỡng và sửa chữa bơm cao áp  
Bài 5: Bảo dưỡng và sửa chữa vòi phun cao áp  
23-31  
32-118  
7
119-138  
Bài 6: Bảo dưỡng và sửa chữa bộ điều khiển điện tử hệ thống nhiên  
8
liệu diesel  
139-152  
4
BÀI 1. KHÁI NIỆM CHUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP CHẨN ĐOÁN  
TRẠNG THÁI KỸ THUẬT Ô TÔ.  
Mục tiêu của bài  
- Phát biểu đúng các khái niệm chung về chẩn đoán trạng thái kỹ thuật ô tô.  
- Giải thích và phân tích đúng các thông số kết cấu và thông số chẩn đoán.  
- Phân biệt các phương pháp chẩn đoán trạng thái kỹ thuật ô tô.  
- Chấp hành đúng quy trình, quy phạm trong nghề công nghệ ô tô.  
- Rèn luyện tính kỷ luật, cẩn thận, tỉ mỉ.  
Nꢀi dung bài  
1. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ CHẨN ĐOÁN TRẠNG THÁI KỸ THUẬT Ô TÔ.  
1.1 Khái niệm về chẩn đoán kỹ thuật.  
Chẩn đoán kỹ thuật là ngành khoa học nghiên cứu các hình thái xuất  
hiện hư hỏng, các phương pháp và các thiết bị phát hiện ra chúng, dự đoán  
thời hạn sẽ xuất hiện hư hỏng, mà không phải tháo rời các tổng thành và ô tô.  
Ngoài ra chẩn đoán kỹ thuật còn nghiên cứu các công nghệ và tổ chức công  
nghệ chẩn đoán.  
Chẩn đoán là một quá trình lôgíc nhận và phân tích các tin truyền đến  
người tiến hành chẩn đoán từ các thiết bị sử dụng chẩn đoán nhằm xác định  
trạng thái kỹ thuật của đối tượng (xe, tổng thành máy, hộp số, gầm, ...).  
Trạng thái kỹ thuật của ôtô, của tổng thành cũng như triệu chứng hư  
hỏng của chúng khá phức tạp, trong khi đó lượng thông tin lại không đầy đủ  
lắm. Vì vậy việc chọn các tham số chẩn đoán (triệu chứng chẩn đoán) đặc  
trưng cho trạng thái kỹ thuật của đối tượng phải được tiến hành trên cơ sở số  
lượng tin tức nhận được đối với từng triệu chứng cụ thể. Trong chẩn đoán  
thường sử dụng lý thuyết thông tin để xử lý kết quả.  
Trong quá trình sử dụng, trạng thái kỹ thuật của xe ôtô thay đổi dần khó  
biết trước được. Tiến hành chẩn đoán xác định trạng thái kỹ thuật của ôtô dựa  
trên cơ sở số liệu thống kê xác suất của các trạng thái kỹ thuật đó. Ví dụ, trạng  
thái kỹ thuật của bóng đèn pha ôtô có thể ở hai trạng thái: tốt (sáng), không  
5
tốt (không sáng). Ta giả thiết rằng, xác suất của trạng thái kỹ thuật tốt là rất  
lớn (0,9), còn xác suất của hư hỏng (0,1). Bóng đèn như một hệ thống vật lý  
có rất ít độ bất định - hầu như lúc nào cũng đều thấy bóng đèn ở trạng thái kỹ  
thuật tốt. Ví dụ khác, bộ chế hòa khí do có thể có nhiều hư hỏng như mức độ  
tắc ở các giclơ, mòn các cơ cấu truyền động, các hư hỏng khác, ... nên có thể  
rơi vào nhiều trạng thái kỹ thuật khác nhau.  
Tóm lại, chẩn đoán kỹ thuật ô tô là một loại hình tác động kỹ thuật vào  
quá trình khai thác sử dụng ô tô nhằm đảm bảo cho ô tô hoạt động có độ tin  
cậy, an toàn và hiệu quả cao bằng cách phát hiện và dự báo kịp thời các hư  
hỏng và tình trạng kỹ thuật hiện tại mà không cần phải tháo rời ô tô hay tổng  
thành của ô tô.  
1.2 Các định nghĩa trong chẩn đoán kỹ thuật ô tô.  
Quản lý chất lượng của một sản phẩm phải dựa vào các tính năng yêu  
cầu của sản phẩm trong những điều kiện sử dụng nhất định, bởi vậy mỗi sản  
phẩm đều được quản lý theo những chỉ tiêu riêng biệt. Một trong các chỉ tiêu  
quan trọng là độ tin cậy. Khi đánh giá độ tin cậy phải dựa vào các tính chất và  
chức năng yêu cầu, các chi tiêu sử dụng của đối tượng trong khoảng Thực  
hành sử dụng thiết bị để chẩn đoán tình trạng kỹ thuật hệ thốngời gian nhất  
định tương ứng với chế độ và điều kiện khai thác cụ thể.  
Một tổng thành bao gồm nhiều cụm chi tiết và một cụm bao gồm nhiều  
chi tiết tạo thành. Chất lượng làm việc của tổng thành sẽ do chất lượng của  
các cụm, các chi tiết quyết định.  
Do đó chúng ta sẽ tìm hiểu một số khái niệm cơ bản trong chẩn đoán kỹ  
thuật ô tô sau.  
a. Hệ thống chẩn đoán: là hệ thống tổ chức được tạo nên bởi công cụ chẩn  
đoán và đối tượng chẩn đoán với mục đích xác định trạng thái kỹ thuật của  
đối tượng chẩn đoán. Qua việc xác định trạng thái kỹ thuật có thể đánh giá  
chất lượng hiện trạng, sự cố đã xảy ra và khả năng sử dụng trong tương lai.  
Hệ thống chẩn đoán có thể là đơn giản hay phức tạp. Chẳng hạn như hệ  
thống chẩn đoán được tạo nên bởi người lái và ô tô, hay bởi thiết bị chẩn đoán  
điện tử cùng với các phần mềm hiện đại với ô tô.  
b. Công cụ chẩn đoán: là tập hợp các trạng thái kỹ thuật, phương pháp và  
trình tự để tiến hành đo đạc, phân tích và đánh giá tình trạng kỹ thuật.  
Công cụ chẩn đoán có thể là trạng thái kỹ thuật có sẵn của đối tượng  
chẩn đoán, hay là các trạng bị độc lập. Nó có thể bao gồm: cảm nhận của con  
người, sự phân tích đánh giá của các chuyên gia, và cũng có thể là các cảm  
biến có sẵn trên ô tô, các bộ vi xử lý, các phần mềm tính toán, chuyển đổi, các  
màn hình hoặc tín hiệu giao diện, ...  
6
c. Đối tượng chẩn đoán: là đối tượng áp dụng chẩn đoán kỹ thuật. Đối tượng  
chẩn đoán có thể là: một cơ cấu, một tập hợp các cơ cấu, hay toàn bộ hệ thống  
phức hợp.  
d. Tình trạng kỹ thuật của đối tượng: là tập hợp các đặc tính kỹ thuật bên  
trong tại một thời điểm, tình trạng kỹ thuật biểu thị khả năng thực hiện chức  
năng yêu cầu của đối tượng trong điều kiện sử dụng xác định.  
Trạng thái kỹ thuật được đặc trưng bởi các thông số cấu trúc, các quan  
hệ vật lý của quá trình làm việc, tức là các đặc tính kỹ thuật bên trong liên  
quan tới cơ cấu, mối liên kết, hình dáng các quá trình vật lý, hóa học, ... Việc  
xác định các thông số trạng thái kỹ thuật nhằm xác định chất lượng chi tiết  
nói chung và tổng thể hệ thống nói riêng là hết sức cần thiết, nhưng lại không  
thể thực hiện trực tiếp trong quá trình khai thác kỹ thuật.  
e. Thông số ra: đặc trưng cho tình trạng hoạt động tốt hay xấu của cụm chi  
tiết và được xác định bằng việc kiểm tra đo đạc. Ví dụ: công suất, thành phần  
khí thải, nhiệt độ nước, dầu, áp suất dầu bôi trơn, lượng mạt kim loại trong  
dầu bôi trơn, tiếng ồn, tiếng gõ, rung động, tình trạng lốp, quãng đường  
phanh...  
g. Thông số ra giới hạn là những giá trị mà khi nếu tiếp tục vận hành sẽ  
không đảm bảo tính kinh tế kỹ thuật hoặc không cho phép. Khi đối chiếu kết  
quả kiểm tra với các giá trị giới hạn, cho phép xác định, dự báo được tình  
trạng của cụm máy. Các thông số ra giới hạn do nhà chế tạo qui định hoặc xác  
định bằng thống kê kinh nghiệm trên loại cụm máy đó.  
Chỉ cần một thông số ra đạt giá trị giới hạn bắt buộc phải ngừng máy để  
xác định nguyên nhân và tìm cách khắc phục.  
1.3 Công nghệ chẩn đoán.  
1.3.1 Sơ đồ quá trình chẩn đoán.  
Công nghệ chẩn đoán được thiết lập trên cơ sở mục đích của chẩn đoán.  
Ta thường tiến hành chẩn đoán để xác định tình trạng kỹ thuật của ô tô với  
mục đích nâng cao hiệu quả sử dụng, song trong hoạt động kinh doanh có thể  
dung chẩn đoán để đánh giá chất lượng tổng thể và thiết lập giá thành. Với cả  
2 mục đích này, công nghệ chẩn đoán bao gồm các bước lớn trình bày trên  
hình 2.1.  
Công nghệ chẩn đoán phụ thuộc vào qui mô chẩn đoán, mức độ phát triển  
kinh tế của các quốc gia. Khi qui mô khai thác nhỏ (với số lượng, đối tượng  
nhỏ và vừa) thường sử dụng phương pháp chẩn đoán đơn giản (trực quan hay  
dụng cụ đơn giản) để tiến hành. Phương pháp này có độ chính xác không cao  
nhưng có giá thành chẩn đoán thấp. Với qui mô khai thác lớn (số lượng lớn  
7
hay các nhà sản xuất có chế độ bảo hành hoàn thiện) thường dung thiết bị  
chuyên dụng, có độ chính xác cao.  
1. Xác định các thông số kết cấu, thông  
số biểu hiện kết cấu, thông số chẩn  
2. Lập ra quan hệ giữa thông số kết cấu,  
thông số chẩn đoán.  
3. Thiết lập giá trị thông tin của các  
thông số chẩn đoán.  
4. Bằng thiết bị chẩn đoán xác định các  
thông số chẩn đoán.  
5. Phân tích các thông số chẩn đoán, xác  
định trạng thái kỹ thuật của đối tượng chẩn  
6. Kết luận về trạng thái, các  
6. Kết luận về trạng thái còn lại  
biện pháp kỹ thuật sau chẩn  
của đối tượng.  
7. Đánh giá giá trị còn lại của  
7. Dự báo hư hỏng (% còn lại).  
đối tượng.  
MỤC ĐÍCH ĐÁNH GIÁ  
MỤC ĐÍCH KHAI THÁC  
CHẤT LƯỢNG TỔNG THỂ.  
HIỆU QUẢ.  
Hình 1.2. Sơ đồ công nghệ chẩn đoán.  
Công nghệ chẩn đoán cũng phụ thuộc vào kinh nghiệm của các chuyên  
gia (gọi là tri thức chuyên gia), nhất là kinh nghiệm trong chế tạo, khai thác ô  
tô. Để nâng cao chất lượng chẩn đoán và ít phụ thuộc vào con người, ngày  
nay hình thành công nghệ hoàn thiện do máy móc thực hiện, trong đó sự phân  
tích đánh giá được sử dụng thông qua tri thức máy (trí tuệ nhân tạo) trên cơ sở  
có sẵn tri thức chuyên gia.  
Công nghệ chẩn đoán phụ thuộc vào đặc điểm khai thác vì vậy phụ  
thuộc vào tính chất địa lý của từng vùng mà đề ra các chế độ hợp lý như: chu  
kỳ chẩn đoán, ngưỡng chẩn đoán.  
8
1.3.2 Phân loại chẩn đoán theo công nghệ chẩn đoán.  
+ Chẩn đoán theo tiêu chuẩn pháp lý.  
Các tiêu chuẩn pháp lý đề cập chủ yếu mang tính cộng đồng, bắt buộc  
phải thực hiện, bởi vậy bao giờ cũng bao gồm các chỉ tiêu đảm bảo an toàn  
giao thông, vệ sinh môi trường, hình thức mỹ thuật và tiện nghi.  
Tiến hành chẩn đoán mang tính tổng thành toàn xe, không đi sâu chẩn  
đoán đánh giá riêng biệt, không cần chỉ ra hư hỏng. Tuy nhiên do tính chất an  
toàn giao thông, các chỉ tiêu cụ thể có thể là có thể là các thông số chẩn đoán  
của cụm riêng biệt.  
+ Chẩn đoán đánh giá tuổi thọ còn lại.  
Mục đích của dạng chẩn đoán là: xác định mức độ tin cậy của ô tô để  
tiếp tục khái thác. Trên cơ sở dự báo này có thể thiết lập qui trình vận tải tổng  
quát cho công ty, đơn vị, lập kế hoạch hay chuyển nhượng (kinh doanh).  
Chẩn đoán đòi hỏi tổng thể, có thể tiến hành bởi các chuyên gia hay  
thiết bị chẩn đoán tổng hợp.  
+ Chẩn đoán để xác định tính năng và phục hồi tính năng.  
Chẩn đoán dạng này chiếm số lượng lớn các chẩn đoán: xuất xưởng xe  
mới sản xuất, đánh giá chất lượng sau sửa chữa, xác định hư hỏng trong khai  
thác sử dụng. Dạng chẩn đoán này có thể tiến hành ở mức độ tổng thể, cụm  
hay nhóm chi tiết. Việc thực hiện chẩn đoán cần có chuyên gia giỏi, thiết bị  
chuyên dụng. Các tiêu chuẩn cần cụ thể, tỷ mỷ cho các đối tượng chẩn đoán.  
Công việc này thường được thực hiện ở các gara sửa chữa, các cơ sở  
dịch vụ sau bán hàng của các công ty sản xuất ô tô. Tại đây các công việc  
chẩn đoán được thực hiện tốt hơn cả các trạm chẩn đoán thông thường. Kết  
quả của chẩn đoán phải chỉ ra các hư hỏng cụ thể của ô tô, của các cụm và tới  
các chi tiết.  
+ Chẩn đoán dùng trong nghiên cứu qui luật.  
Trong việc nghiên cứu về tuổi thọ, độ tin cậy của các loại ô tô sản xuất  
hàng loạt lớn cần thiết phải tiến hành thí nghiệm xác định qui luật đầy đủ,  
công việc chẩn đoán cần tiến hành trên các thiết bị thí nghiệm hiện đại có đủ  
độ chính xác, với số lượng lớn, thực hiện trong một thời gian dài thì các chẩn  
đoán này được tiến hành.  
Công việc này thường được tiến hành bởi các viện nghiên cứu an toàn  
giao thông quốc gia, các tập đoàn công nghiệp mạnh có uy tín, sản xuất với số  
lượng lớn, dưới sự tài trợ của nhà nước hoặc các tập đoàn kinh tế.  
2. THÔNG SỐ KẾT CẤU, THÔNG SỐ CHẨN ĐOÁN.  
2.1 Các thông số kết cấu:  
Là tập hợp các thông số kỹ thuật thể hiện đặc điểm kết cấu của cụm chi  
tiết hay chi tiết. Chất lượng các cụm, các chi tiết do các  
9
thông số kết cấu quyết định: Hình dáng, kích thước, vị trí tương quan, độ  
bóng bề mặt, chất lượng lắp ghép.  
Số lượng tổng thành, các hệ thống, các khâu và từng chi tiết trong ô tô  
rất lớn. Chúng được chế tạo theo các bản vẽ có kích thước và dung sai qui  
định, có các yêu cầu kỹ thuật cụ thể. Tất cả các chi tiết lắp thành nhóm, cụm  
khâu, tổng thành, toàn bộ ô tô, được gọi là kết cấu. Mỗi đối tượng chẩn đoán  
có kết cấu cụ thể, đảm nhiệm một chức năng cụ thể. Tập hợp các cơ cấu trên ô  
tô đảm nhận chức năng di chuyển và vận tải của ô tô.  
Kết cấu được đánh giá bằng các thông số kết cấu và tại một thời điểm  
nhất định được gọi là thông số trạng thái kỹ thuật của kết cấu. Các thông số  
kết cấu biểu thị bằng các đại lượng vật lý, có thể xác định được giá trị của  
chúng như: kích thước(độ dài, diện tích, thể tích); cơ (lực, áp suất, tần số, biên  
độ); nhiệt (độ, calo), ... các thông số này xuất hiện khi ô tô hoạt động hay tồn  
tại cả khi ô tô không hoạt động.  
Trong quá trình sử dụng ô tô các thông số kết cấu biến đổi từ giá trị ban  
đầu H0 nào đó đến giá trị giới hạn Hgh, tức là từ mới đến hỏng, liên quan chặt  
chẽ với thời gian sử dụng. Trên ô tô, thời gian sử dụng thường thay bằng  
quãng đường xe chạy.  
Hình 1.2. Tương quan giữa thông số kết cấu và quãng đường xe chạy.  
2.2 Thông số chẩn đoán.  
Trong qui trình chẩn đoán chúng ta cần có thông số biểu hiện kết cấu  
để, xác định trạng thái kết cấu bên trong, vì vậy thông số chẩn đoán là thông  
số biểu hiện kết cấu được chọn trong quá trình chẩn đoán, nhưng không phải  
toàn bộ các thông số biểu hiện kết cấu sữ được coi là thông số chẩn đoán.  
Như vậy trong chẩn đoán coi: đối tượng chẩn đoán phức tạp được tạo  
nên bởi tập hợp các thông số kết cấu. Đối tượng chẩn đoán có tập hợp của các  
thông số biểu hiện kết cấu. Các thông số biểu hiện kết cấu được chọn để xác  
định tình trạng kỹ thuật của đối tượng cũng là một tập hợp các thông số chẩn  
đoán. Mối quan hệ của các tập này biến đổi theo nhiều qui luật, đan xen.  
10  
Khi tiến hành chẩn đoán xác định tình trạng của một kết cấu có thể chỉ  
dùng một thông số biểu hiện kết cấu, song trong nhiều trường hợp cần chọn  
nhiều thông số khác để có thêm cơ sở suy luận. Các thông số kết cấu nằm  
trong các cụm, tổng thành, nếu tháo rời có thể đo đạc xác định. Nhưng khi  
không tháo rời, việc xác định phải thông qua các thông số biểu hiện kết cấu.  
Khi lựa chọn đúng các thông số biểu hiện kết cấu được dùng làm thông  
số chẩn đoán sẽ cho phép dễ dàng phân tích và quyết định trạng thái kỹ thuật  
của đối tượng chẩn đoán.  
3. LOGIC TRONG CHẨN ĐOÁN.  
Logic là một ngành khoa học nghiên cứu các qui tắc xây dựng mệnh đề  
khẳng định (đúng, sai) được rút ra từ các mệnh đề khác, tức là nó nghiên cứu  
sự hình thành các qui luật và hình thái lập luận.  
Việc sử dụng logic trong chẩn đoán kỹ thuật giúp con người có khả  
năng suy luận và nhanh chóng đưa ra các kết luận hợp lý về tình trạng kỹ  
thuật của đối tượng, bao gồm kết luận” tốt, xấu; hỏng, không hỏng. Mặt khác  
con người dễ dàng tạo nên suy luận logic bằng máy tính, thông qua việc xây  
dựng mạng trí tuệ nhân tạo dung trong công tác chẩn đoán tình trạng kỹ thuật.  
Có thể nói sử dụng luật trong logic thực chất là sử dụng lý luận “nhân quả”  
trong việc suy luận.  
Các bài toán logic được xem xét thuận lợi và nhanh chóng hơn khi sử  
dụng đại số Boole.  
Trạng thái kỹ thuật của đối tượng được xác định bằng hàm số boole,  
hàm này tương ứng với trạng thái 0, 1 (tốt hay xấu; hỏng hay không hỏng)  
của nó. Sử dụng toán logic thuận lợi đối với đối tượng bằng hàm quen thuộc  
và cấu trúc khối. Mỗi khối có Thực hành sử dụng thiết bị để chẩn đoán tình  
trạng kỹ thuật hệ thốngể có đầu vào và ra. Mô hình logic có Thực hành sử  
dụng thiết bị để chẩn đoán tình trạng kỹ thuật hệ thốngể cho ở dạng đồ Thực  
hành sử dụng thiết bị để chẩn đoán tình trạng kỹ thuật hệ thốngị, bảng, ma  
trận chuyển đổi.  
Khi sử dụng đại số boole trong chẩn đoán kỹ thuật ta cần quan tâm các  
vấn đề sau:  
Biến logic: biến logic biểu thị hai trạng thái hay hai tính chất đối lập nhau (0,  
1) như: tốt và xấu, đúng và sai, có và không, ... khi chẩn đoán chúng ta có: các  
thông số trạng thái, thông số biểu hiện là các biến logic.  
Các thông số trạng thái kỹ thuật là tập dữ liệu và ký hiệu:  
Hj = h1; h2; h3; …; hn  
Các thông số biểu hiện dùng để chẩn đoán là tập dữ liệu và ký hiệu:  
Cj = c1; c2; c3; …; cn  
11  
Các thông số này tạo thành tập thông số chẩn đoán của ô tô.  
Trong chẩn đoán ô tô, các biến logic là thông số trạng thái kỹ thuật ô tô  
như: mòn vòng găng động cơ, mòn bạc biên, mòn bánh răng …; là các thông  
số chẩn đoán như: công suất động cơ, vận tốc ô tô, lượng tiêu hao nhiên liệu,  
lượng tiêu hao dầu nhờn, dao động xoắn trong hệ thống truyền lực …  
4. CÁC PHƯƠNG PHÁP CHẨN ĐOÁN.  
4.1 Các phương pháp chẩn đoán đơn giản.  
Các phương pháp chẩn đoán đơn giản được thực hiện bởi các chuyên  
gia có nhiều kinh nghiệm, thông qua các giác quan cảm nhận của con người  
hay thông qua các dụng cụ đo.  
4.1.1 Thông qua cảm nhận của các giác quan con người  
Các thông tin thu được qua cảm nhận của con người thường ở dưới  
dạng ngôn ngữ (ở dạng mờ): tốt, xấu, nhiều, ít, vừa, ít có khả năng cho bằng  
trị số cụ thể. Các kết luận cho ra không cụ thể như: hỏng, không hỏng; được,  
không được, ...  
a. Nghe âm thanh trong vùng con người cảm nhận được: tiến hành nghe âm  
thanh cần phải đạt được các nội dung sau:  
+ Vị trí nơi phát ra âm thanh.  
+ Cường độ và đặc điểm riêng biệt âm thanh.  
+ Tần số âm thanh.  
Để phân biệt các trạng thái kỹ thuật, yêu cầu phải nắm chắc âm thanh  
chuẩn khi đối tượng chẩn đoán còn ở trạng thái tốt. Các yếu tố về: cường độ,  
tần số âm thanh được cảm nhận bởi hệ thính giác trực tiếp hay qua ống nghe  
chuyên dụng. Các sai lệnh so với âm thanh chuẩn thông qua kinh nghiệm chủ  
quan của chuyên gia là cơ sở đánh giá chất lượng.  
Với các bộ phận đơn giản, có hình thù nhỏ gọn của đối tượng chẩn  
đoán có thể nhanh chóng kết luận: chỗ hư hỏng, mức độ hư hỏng.  
Với các cụm phức tạp, hình thù đa dạng (chẳng hạn như cụm động cơ)  
để có thể chẩn đoán đúng, phải tiến hành nhiều lần ở các vị trí khác nhau.  
b. Dùng cảm nhận màu sắc.  
Đối với ô tô có thể dùng cảm nhận màu sắc để chẩn đoán tình trạng kỹ  
thuật của động cơ. Thông qua cảm nhận màu sắc khí xả, bugi (động cơ xăng),  
màu sắc dầu nhờn bôi trơn động cơ.  
c. Dùng cảm nhận mùi.  
Khi ô tô hoạt động các mùi có thể cảm nhận được là: mùi cháy từ sản  
phẩm dầu nhờn, nhiên liệu, vật liệu ma sát. Các mùi đặc trưng dễ nhận biết là:  
Mùi khét do dầu nhờn rò rỉ bị cháy xung quanh động cơ, do dầu bôi trơn bị  
cháy thoát ra theo đường khí xả, các trường hợp này nói lên chất lượng bao  
12  
kín bị suy giảm, dầu nhờn bị lọt vào buồng cháy.  
Mùi nhiên liệu cháy không hết thải ra theo đường khí xả hoặc mùi  
nhiên liệu thoát ra theo các thông áp của buồng trục khuỷu. Mùi của chúng  
mang theo mùi đặc trưng của nhiên liệu nguyên thủy. Khi lượng mùi tăng có  
thể nhận biết rõ ràng thì tình trạng kỹ thuật của động cơ bị xấu nghiêm trọng.  
Mùi khét đặt trưng từ vật liệu ma sát như tấm ma sát ly hợp, má phanh. Khi  
xuất hiện mùi khét này chứng tỏ ly hợp đã bị trượt quá mức, má phanh đã bị  
đốt nóng tới trạng thái nguy hiểm.  
Mùi khét đặc trưng từ vật liệu cách điện. Khi xuất hiện mùi khét, tức là  
có hiện tượng bị đốt cháy quá mức tại các điểm nối của mạch điện, từ các tiếp  
điểm có vật liệu cách điện như: tăng điện, các cuộn dây điện trở, các đường  
dây, ...  
Mùi khét đặc trưng từ vật liệu bằng cao su hay nhựa cách điện.  
Nhờ tính đặc trưng của mùi khét có thể phán đoán tình trạng hư hỏng  
hiện tại của các bộ phận ô tô.  
d. Dùng cảm nhận nhiệt.  
Sự thay đổi nhiệt độ các vùng khác nhau trên động cơ là khác nhau.  
Khả năng trực tiếp sờ, nắm các vật có nhiệt độ cao là không có thể, hơn nữa  
sự cảm nhận thay đổi nhiệt độ trong một giới hạn nhỏ cũng không đảm bảo  
chính xác, do vậy trên ô tô ít sử dụng phương pháp này để chẩn đoán. Trong  
một số hạn hữu các trường hợp có thể dùng cảm nhận về nhiệt độ nước làm  
mát hay dầu bôi trơn động cơ.  
Đa số cảm nhận nhiệt thực hiện trên các cụm của hệ thống truyền lực:  
các hộp số chính, hộp phân phối, cầu xe, cơ cấu lái…Các bộ phận này cho  
phép làm việc tối đa tới (75 - 800C). Nhiệt độ cao hơn giá trị này tạo cảm giác  
quá nóng là do ma sát bên trong quá lớn (do thiếu dầu hay hư hỏng khác).  
e. Kiểm tra bằng cảm giác lực hay mômen.  
Trong phần này chỉ đề cập đến việc xác định trạng thái của đối tượng  
chẩn đoán thông qua cảm nhận của con người. Điều này thực hiện bằng việc  
phân biệt nặng nhẹ của dịch chuyển các cơ cấu điều khiển, các bộ phận  
chuyển động tự do như:  
+ Phát hiện độ rơ dọc của hai bánh xe nằm trên trục của nó, khả năng quay  
trơn bánh xe trong khoảng độ rơ bánh xe trên hệ thống truyền lực.  
+ Khả năng di chuyển tự do trong hành trình tự do của các cơ cấu điều khiển  
như: bàn đạp phanh, bàn đạp ly hợp, cần số, vành lái.  
+ Phát hiện độ rơ theo các phương của bánh xe dẫn hướng khi đã nâng bánh  
xe lên khỏi mặt đường.  
Độ chùng của các đai cao su bên ngoài như: dây đai bơm nước, bơm  
13  
hơi, bơm ga máy lạnh, máy phát điện, ...  
Phát hiện độ rơ của các mối liên kết, đặc biệt các khớp cầu, khớp trụ  
trong hệ thống treo, hệ thống lái. Trên hình 1.1a. mô tả vị trí kiểm tra độ rơ  
khớp cầu bằng cách nắm tay, lắc nhẹ và cảm nhận độ rơ trong khớp. Trên  
hình 1.1.b mô tả vị trí kiểm tra độ rơ vành lái bằng cách nắm tay, xoay nhẹ và  
cảm nhận góc xoay tự do vành lái.  
a. Kiểm tra độ rơ khớp cầu lái.  
Hình 1.1. Dùng cảm giác lực kiểm tra đꢀ rơ.  
4.1.2 Thông qua dụng cụ đo.  
b. Kiểm tra góc xoay tự do tay lái.  
Trong các điều kiện sử dụng thông thường, để xác định giá trị của  
thông số chẩn đoán có thể dùng các loại dụng cụ đo đơn giản.  
a. Đối với động cơ.  
- Nghe tiếng gõ bằng tai nghe và đầu dò âm thanh.  
Khắc phục một phần các ảnh hưởng tiếng ồn chung do động cơ phát ra,  
có thể dùng ống nghe và đầu dò âm thanh. Các dụng cụ đơn giản, mức độ  
chính xác phụ thuộc vào người kiểm tra. Hình dạng của ống nghe và đầu dò  
âm thanh trình bày trên hình 1.2.  
a.  
Tai nghe  
b. Đầu dò âm thanh.  
Hình 1.2. Mꢀt số dụng cụ nghe âm thanh.  
- Sử dụng đồng hồ đo áp suất.  
+ Đồng hồ đo áp suất khí nén.  
Ở trạng thái mài mòn giới hạn của pít tông - xy lanh - xéc măng áp suất  
14  
cuối kỳ nén pc giảm khoảng (15 ÷ 20%). Sự giảm áp suất pc cho phép kết luận  
về tình trạng mài mòn của nhóm chi tiết rất quan trọng trong động cơ: pít tông  
- xy lanh - xéc măng, chất lượng bao kín của khu vực buồng cháy.  
+ Đồng hồ đo áp suất chân không trên đường nạp.  
Đồng hồ đo áp suất chân không trên đường nạp dùng để đo độ chân  
không trên đường nạp sau bộ chế hòa khí hay tại buồng chứa chân không trên  
động cơ hiện đại. Các loại ô tô ngày nay có một lỗ chuyên dụng ở cổ hút của  
động cơ, do vậy với động cơ nhiều xy lanh thực chất là xác định độ chân  
không trên đường nạp của động cơ. Nhờ giá trị áp suất chân không đo được  
có thể đánh giá chất lượng bao kín của buồng cháy. Các đồng hồ dạng này  
thường cho bằng chỉ số milimet thủy ngân hay inch thủy ngân.  
Mặc dù thông số áp suất này không có khả năng chuyển đổi trong tính  
toán thành công suất động cơ như việc đo pc, nhưng thuận lợi hơn nhiều khi  
cần chẩn đoán tình trạng kỹ thuật của buồng đốt, nó là phương pháp dễ dàng  
khi chăm sóc và sửa chữa động cơ ô tô tại các gara.  
Loại đồng hồ đo áp suất chân không thường được sử dụng có trị số lớn  
nhất là: 30 inch Hg (750mm Hg)  
+ Đồng hồ đo áp suất dầu bôi trơn  
Việc xác định áp suất dầu bôi trơn trên đường dầu chính của thân máy  
cho phép xác định được tình trạng kỹ thuật của bạc thanh truyền, bạc cổ trục  
khuỷu. Khi áp suất dầu giảm có khả năng khe hở của bạc, cổ trục bị mòn quá  
lớn, bơm dầu mòn hay tắc một phần đường dầu.  
Áp suất dầu bôi trơn trên đường dầu chính thay đổi phụ thuộc vào số  
vòng quay động cơ, chất lượng hệ thống bôi trơn: bơm dầu, lưới lọc trong đáy  
dầu, bầu lọc thô, tinh.  
Khi kiểm tra có thể dùng ngay đồng hồ của bảng điều khiển. Nếu đồng  
hồ của bảng điều khiển không đảm bảo chính xác cần thiết, thì lắp thêm đồng  
hồ đo áp suất trên thân máy, nơi có đường dầu chính. Đồng hồ kiểm tra cần  
có giá trị lớn nhất đến 800KPa, độ chính xác của đồng ho đo ở mức ±10kPa.  
+ Đồng hồ đo áp suất nhiên liệu diesel.  
Đồng hồ đo áp suất nhiên liệu diesel dùng để đo áp suất nhiên liệu thấp  
áp (từ bơm chuyển nhiên liệu đến bơm cao áp). Loại đồng hồ đo áp suất thấp  
có giá trị đo áp suất lớn nhất đến 400kPa và được lắp sau bơm chuyển. Loại  
đồng hồ đo áp suất cao của hệ thống nhiên liệu thuộc loại chuyên dùng.  
- Đo số vòng quay động cơ.  
Đa số các trường hợp việc xác định số vòng quay động cơ cần thiết bổ  
sung thông tin chẩn đoán cho trạng thái đo các giá trị mômen, công suất  
(mômen ở số vòng quay xác định, công suất ở số vòng quay xác định).  
15  
Các đồng hồ đo có thể ở dạng thông dụng với chỉ số và độ chính xác  
phù hợp:  
+ Với động cơ diesel chỉ số tới (5000 - 6000) vòng/phút.  
+ Với động cơ xăng chỉ số tới (10.000 - 12.000) vòng/phút.  
Một loại đồng hồ đo chuyên dụng là đồng hồ đo số vòng quay từ tín hiệu  
áp suất cao của nhiên liệu động cơ diesel, hay bằng cảm ứng điện từ cặp trên  
đường dây cao áp ra bugi.  
b. Đối với hệ thống truyền lực.  
- Sử dụng các loại thước đo.  
+ Đo khoảng cách:  
Đo hành trình tự do, hành trình làm việc của bàn đạp phanh.  
Đo quãng đường tăng tốc, quãng đường phanh.  
+ Đo góc:  
Dùng để kiểm tra độ rơ của các cơ cấu quay: độ rơ của trục các đăng,  
độ rơ của bánh xe. Các góc này gọi là các góc quay tự do. Góc quay tự do  
biểu thị tổng hợp độ mòn của cơ cấu trong quá trình làm việc như: bánh răng,  
trục, ổ, ... đồng thời nêu lên chất lượng của cụm như các đăng, hộp số, cầu, hệ  
thống lái, ...  
Các thông số này đem so với thông số chuẩn (trạng thái ban đầu, hay  
trạng thái cho phép) và suy diễn để tìm ra hư hỏng, đánh giá chất lượng của  
cơ cấu hoặc cụm.  
- Đo bằng lực kế.  
Nhiều trường hợp khi xác định hành trình tự do, cần thiết phải cần lực  
kế, chẳng hạn trên ô tô có tải trọng lớn các giá trị góc quay tự do trên bánh xe  
phải dùng lực kế để xác định chính xác, trên hệ thống có cường hóa, cảm giác  
nặng nhẹ khi bộ cường hóa làm việc không những chỉ thông qua thông số  
hành trình mà còn cần đo lực tác dụng ở trên cơ cấu điều khiển.  
c. Đối với hệ thống điện.  
Các thiết bị thường dùng là:  
- Đồng hồ đo điện (vạn năng kế) dùng để đo cường độ dòng điện, điện áp trên  
mạch (một chiều, xoay chiều), điện trở thuần, ...  
- Đồng hồ đo cách điện (mogommet).  
- Đồng hồ đo điện áp ắc- qui (ampe kế kìm).  
Các loại dụng này này thuộc dụng cụ dùng phổ biến tại các trạm, ga ra  
và có thể sử dụng đo để biết khả năng thông mạch, điện áp và cường độ trên  
các bo mạch chính trong hệ thống, cuộn dây, linh kiện điện. Vài dạng điển  
hình trình bày trên hình 1.3.  
16  
a. Đồng hồ đo điện trở vòi phun.  
b. Đồng hồ đo điện áp ắc- qui.  
Hình 1.3. Các dụng cụ đo điện thường dùng.  
Trong những điều kiện khó khăn về trang thiết bị đo đạc, công tác chẩn  
đoán có thể tiến hành theo phương pháp đối chứng. Trong phương pháp này  
cần có mẫu chuẩn, khi cần xác định chất lượng của đối tượng chẩn đoán,  
chúng ta đem các giá trị xác định được so với mẫu chuẩn và đánh giá.  
Mẫu chuẩn cần xác định là mẫu cùng chuẩn loại, có trạng thái kỹ thuật  
ở ngưỡng ban đầu, hay ở ngưỡng giới hạn sử dụng của đối tượng chẩn đoán.  
Công việc này được tiến hành như khi đánh giá chất lượng dầu nhờn bôi trơn,  
đánh giá công suất động cơ theo thử nghiệm leo dốc, ...  
4.2 Phương pháp tự chẩn đoán.  
4.2.1 Khái niệm về tự chẩn đoán: tự chẩn đoán là một công nghệ tiên tiến  
trong lĩnh vực chế tạo và sản xuất ô tô.  
Khi các hệ thống và cơ cấu của ô tô hoạt động có sự tham gia của các  
máy tính chuyên dụng (ECU) thì khả năng tự chẩn đoán được mở ra một cách  
thuận lợi. Người và ô tô có thể giao tiếp với các thông tin chẩn đoán (số lượng  
thông tin này tùy thuộc vào khả năng của máy tính chuyên dùng) qua các hệ  
thống thông báo, do vậy các sự cố hay triệu chứng hư hỏng được thông báo  
kịp thời, không cần chờ đến định kỳ chẩn đoán.  
Như vậy, mục đích chính của tự chẩn đoán là đảm bảo ngăn ngừa tích  
cực các sự cố xảy ra. Trên ô tô hiện nay có thể gặp các các hệ thống tự chẩn  
đoán: hệ thống đánh lửa, hệ thống nhiên liệu, động cơ, hộp số tự động, hệ  
thống phanh, hệ thống treo, hệ thống điều hòa nhiệt độ, ...  
4.2.2 Nguyên lý hình thành hệ thống tự chẩn đoán.  
Nguyên lý hình thành hệ thống tự chẩn đoán dựa trên cơ sở các hệ  
thống tự động điều chỉnh. Trên các hệ thống tự động điều chỉnh đã có các  
thành phần cơ bản: cảm biến đo tín hiệu, bộ điều khiển trung tâm (ECU), cơ  
cấu chấp hành. Các bộ phận này làm việc theo nguyên tắc điều khiển mạch  
kín (liên tục).  
Yêu cầu cơ bản của thiết bị tự chẩn đoán gồm: cảm biến đo các giá trị  
thông số chẩn đoán tức thời, bộ xử lý và lưu trữ thông tin, tín hiệu thông báo.  
17  
Do những hạn chế về giá thành, không gian trên ô tô do vậy các bộ  
phận tự chẩn đoán không phải là hệ thống hoàn thiện so với thiết bị chẩn đoán  
chuyên dụng, song sự có mặt của nó là một yếu tố tích cực trong sử dụng.  
Ưu việt cơ bản của hệ thống tự chẩn đoán trên ô tô là:  
+ Nhờ việc sử dụng các tín hiệu từ các cảm biến của hệ thống tự động điều  
chỉnh trên xe, các thông tin thường xuyên được cập nhật và xử lý, bởi vậy  
chúng dễ dàng phát hiện ngay các sự cố và thông báo kịp thời, ngay cả khi xe  
đang hoạt động.  
+ Việc sử dụng kết hợp các bộ phận như trên tạo khả năng hoạt động của hệ  
thống chẩn đoán rộng hơn thiết bị chẩn đoán độc lập, nó có khả năng báo hư  
hỏng, hủy bỏ chức năng hoạt động của hệ thống trong xe, thậm chí hủy bỏ  
khả năng làm việc của ô tô, nhằm hạn chế tối đa hư hỏng tiếp sau, đảm bảo an  
toàn chuyển động. Nhưng mặt khác thiết bị cũng không cồng kềnh, đảm bảo  
tính kinh tế cao trong khai thác .  
+ Tự chẩn đoán là một biện pháp phòng ngừa tích cực mà không cần chờ tới  
định kỳ chẩn đoán. Ngăn chặn kịp thời các hư hỏng, sự cố hoặc khả năng có  
thể mất an toàn chuyển động đến tối đa. Hạn chế cơ bản hiện nay là giá thành  
còn cao, cho nên số lượng các ô tô như trên chưa nhiều, mặt khác hệ thống tự  
chẩn đoán không sử dụng với mục đích đánh giá kỹ thuật tổng thể.  
4.2.3 Các hình thức giao tiếp người - xe.  
a. Bằng tín hiệu đèn, âm thanh (chuông hay còi).  
Dạng đơn giản nhất trong giao tiếp là sử dụng đèn, tín hiệu âm thanh,  
hoặc cả haị Thông thường các bộ phận báo hiệu để tại vị trí dễ thấy, dễ nghe  
như trên bảng táp lô, màu đèn có màu đỏ là báo nguy hiểm, còn màu xanh,  
vàng là báo an toàn. Khi các giá trị đo từ cảm biến còn nằm trong ngưỡng sử  
dụng thì đèn báo an toàn (không sáng). Khi tín hiệu vượt ngưỡng đèn báo  
sáng (nguy hiểm).  
Dạng báo hiệu bằng âm thanh xuất hiện chỉ khi có sự cố, âm thanh ở  
vùng nghe thấy có tần số cao liên tục hay đứt quãng.  
Cách giao tiếp như trên chỉ thông báo ở dạng tốt, xấu, mà không cho  
biết dạng sự cố, cụm có sự cố.  
b. Báo mã bằng băng giấy đục lỗ.  
Tương tự như việc báo mã bằng đèn nháy, trên một số xe dùng băng  
giấy đục lỗ. Khi có sự cố, máy tự động đẩy ra một băng giấy đục lỗ báo sự cố.  
Đọc mã sự cố theo tài liệu sử dụng kèm theo ôtô.  
c. Báo bằng mã ánh sáng.  
Từ thập kỷ 90 lại đây, các thông số báo dạng mã ánh sáng được dùng  
phổ biến hơn. Các dạng báo này được gọi là “mã chẩn đoán” và được tạo nên  
18  
trên cơ sở ngôn ngữ ASSEMBLY nhip đèn sáng tương ứng như hoạt động  
của mạch có hai ngưỡng “ON”, “OFF” và làm việc kéo dài 0,15 giây một  
nhịp, liên tục hay đứt quãng tùy theo mã lỗi cần thông báọ Đèn thông báo  
thường dùng loại đèn LED màu xanh chói hay màu đỏ dễ thấy, đặt ngay trên  
ECU, hay ở bảng táp lô  
Thông thường các thông tin giao tiếp dạng này chỉ xuất hiện khi thực  
hiện đóng mạch báo chẩn đoán. Trong trạng thái khởi động xe (chìa khóa điện  
ở vị trí ON), các hệ thống cần thiết được kiểm tra (đèn báo trên táp lô sáng),  
sau đó đèn báo tắt, toàn bộ hệ thống sẵn sàng làm việc, nếu còn đèn nào sáng,  
chứng tỏ phần hệ thống đó có sự cố cần tiến hành kiểm tra sâu hơn.  
Sau khi đã sửa chữa sự cố cần tiến hành xóa mã trong bộ nhớ của ECU  
Bằng cách báo mã như trên số lượng thông tin tăng lên đáng kể (có thể  
tới vài chục mã khác nhau). Việc đọc mã cần phải theo các tài liệu chuyên  
môn của các hãng sản xuất xe  
d. Giao tiếp nhờ màn hình.  
Giao diện nhờ màn hình là một ứng dụng tiên tiến trong công nghệ  
chẩn đoán trên xe. Màn hình thường ở dạng tinh thể lỏng mỏng, nhỏ gọn. Khi  
cần thiết kiểm tra, màn hình được nối với hệ thống nhờ bộ đầu nối chờ, còn  
lại được bảo quản chu đáo trong vỏ bảo vệ.  
Có hai loại màn hình với các phương pháp điều khiển khác nhau:  
Loại thực hiện điều khiển bằng phím ấn như bàn phím máy tính thông  
thường.  
Loại thực hiện điều khiển bằng phím ấn, có các phần tự chọn bằng cảm ứng  
nhiệt trực tiếp trên màn hình tinh thể lỏng.  
Cả hai loại này đều cho các MENU tùy chọn. Mọi trình tự, thủ tục ra  
vào đều được các nhà sản xuất cài đặt sẵn, rất rất tiện lợi cho người sử dụng  
khi cần biết về trạng kỹ thuật của chúng.  
Nhờ màn hình giao tiếp, các sự cố nhanh chóng được chỉ rõ và công tác  
chẩn đoán không còn khó khăn và tốn kém nhiều công sức.  
19  
BÀI 2. CHẨN ĐOÁN TÌNH TRẠNG KỸ THUẬT CHUNG Ô TÔ.  
Mục tiêu của bài  
- Trình bày được trình tự các bước chẩn đoán trạng thái kỹ thuật động cơ ô tô.  
- Giải thích và phân tích đúng các thông số kết cấu và thông số chẩn đoán.  
- Phân biệt các phương pháp chẩn đoán trạng thái kỹ thuật động cơ ô tô.  
- Chấp hành đúng quy trình, quy phạm trong nghề công nghệ ô tô.  
- Rèn luyện tính kỷ luật, cẩn thận, tỉ mỉ.  
Nꢀi dung bài  
1. Trình tự và yêu cầu kỹ thuật chẩn đoán động cơ.  
Nꢀi dung chính:  
NHIỆM VỤ, YÊU CẦU CỦA CHẨN ĐOÁN KỸ THUẬT CHUNG Ô TÔ.  
Khái niệm: chẩn đoán kỹ thuật chung ô tô là công việc sử dụng các trang  
thiết bị kỹ thuật và những kinh nghiệm của người cán bộ kỹ thuật, để tiến hành  
kiểm tra, phân tích và xác định hư hỏng để đánh giá tình trạng kỹ thuật các hệ  
thống của ô tô.  
Yêu cầu.  
- Chẩn đoán theo đúng trình tự, đúng phương pháp và chính xác.  
- Đảm bảo an toàn trong quá trình chẩn đoán.  
1. Trình tự và yêu cầu kỹ thuật chẩn đoán đꢀng cơ.  
Chẩn đoán ô tô là việc tổng hợp tất cả các chẩn đoán các hệ thống, cơ  
cấu trên xe, vì vậy công việc này phụ thuộc nhiều vào các biểu hiện cụ thể  
trong thực tế của ô tô. Ví dụ khi động cơ không khởi động được thì có thể do  
nhiều nguyên nhân như: hỏng bu di, hết điện bình ắc qui, máy khởi động  
không quay, ... (thuộc hệ thống điện); bơm xăng hỏng không bơm được xăng,  
hỏng vòi phun, hết xăng, ... (thuộc hệ thống nhiên liệu). Do đó sẽ khó để có  
thể có được một qui trình chung khi chẩn đoán ô tô, việc chẩn đoán này sẽ  
phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm và kiến thức của người thợ.  
Để có được kiến thức và kỹ năng khi chẩn đoán chung ô tô, cần tìm  
hiểu một số nội dung sau đây.  
Quản lý chất lượng của một sản phẩm phải dựa vào các tính năng yêu  
cầu của sản phẩm trong những điều kiện sử dụng nhất định, bởi vậy mỗi một  
sản phẩm đều được quản lý theo những chỉ tiêu riêng biệt. Một trong những  
chỉ tiêu quan trọng là độ tin cậy. Khi đánh giá độ tin cậy phải dựa vào các tính  
chất và chức năng yêu cầu, các chỉ tiêu sử dụng của đối tượng trong khoảng  
thời gian nhất định tương ứng với chế độ và điều kiện khai thác cụ thể.  
Độ tin cậy là một trong những đặc trưng quan trọng nhất về chất lượng  
máy và chi tiết máy nói chung và ô tô nói riêng. Độ tin cậy cao được thể hiện  
bằng khả năng đảm bảo các chức năng đã định mà hầu như không hư hỏng,  
20  
đồng thời các chỉ tiêu sử dụng (hiệu suất mức tiêu thụ năng lượng, tính an  
toàn, ...) được duy trì ở mức độ cho phép trong khoảng thời gian yêu cầu hoặc  
trong một quá trình thực hiện một khối lượng công việc qui định.  
Độ tin cậy được đánh giá theo các tính chất chính sau: tính không hỏng,  
tính bền lâu, tính thích ứng sửa chữa, tính sẵn sàng.  
1.1 Các yếu tố làm giảm đꢀ tin cậy.  
Trong quá trình sử dụng ô tô, trạng thái kỹ thuật của các hệ thống, các  
cơ cấu trên ô tô thay đổi theo hướng dần xấu đi, dẫn tới hay hỏng hóc và giảm  
độ tin cậy. Quá trình thay đổi ấy có thể kéo dài theo thời gian (hay km sử  
dụng) và phụ thuộc vào nhiều nguyên nhân:  
- Chất lượng vật liệu, công nghệ chế tạo, lắp ghép, ...  
- Điều kiện sử dụng: môi trường, trình độ người sử dụng, điều kiện bảo quản  
chăm sóc, chất lượng nhiên liệu, dầu mỡ bôi trơn, ...  
- Sự mài mòn vật liệu giữa các bề mặt có chuyển động tương đối.  
- Sự xuất hiện các hư hỏng do vật liệu chịu tải thay đổi (giới hạn mỏi của vật  
liệu sử dụng).  
- Hư hỏng kết cấu do ăn mòn hóa học. do lão hóa trong môi trường làm việc  
(đặc biệt đối với các vật liệu làm bằng chất dẻo, cao su).  
Các nguyên nhân trên có thể nhận biết được (hữu hình) và không nhận  
biết được (vô hình), và được đánh giá theo thời gian. Nếu xem xét chủ yếu  
theo hiệu quả công việc của ô tô thì có thể sử dụng chỉ tiêu đánh giá theo  
quãng đường xe chạy. Việc đánh giá theo quãng đường xe chạy được không  
hoàn thiện bằng việc đánh giá theo thời sử dụng, nhưng lại thuận tiện hơn.  
Để duy trì trạng thái kỹ thuật ô tô ở trạng thái làm việc với độ tin cậy  
cao nhất, người khai thác phải luôn tác động kỹ thuật vào đối tượng khai thác:  
bảo dưỡng, sửa chữa theo chu kỳ.  
1.2 Qui luật biến đổi đꢀ tin cậy theo thời gian sử dụng.  
1.2.1 Đꢀ tin cậy và cường đꢀ hư hỏng của ô tô khi không sửa chữa lớn.  
Trong khai thác và sử dụng ô tô hàm xác suất không hỏng R(t) được coi  
là chỉ tiêu chính của độ tin cậy. Độ tin cậy của mỗi tổng thành ô tô có thể biểu  
diễn bằng những mối quan hệ phức tạp khác nhau và ảnh hưởng tới đội tin  
cậy chung của ô tô cũng khác nhau.  
Một tổng thành ô tô gồm hàng nghìn chi tiết, trong đó có khoảng (6   
7)% chi tiết là có ảnh hưởng lớn đến độ tin cậy chung của ô tô. Các hư hỏng  
của ô tô có đặc trưng ngẫu nhiên điển hình. Qui luật của xác suất hư hỏng và  
cường độ hư hỏng theo hành trình làm việc của ô tô khi không sửa chữa lớn  
trình bày trên hình 2.1. Trên hình vẽ sự biến đổi của xác suất hư hỏng và  
cường độ hư hỏng có thể chia làm 3 giai đoạn a, b, c.  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 76 trang yennguyen 11461 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình mô đun Chẩn đoán trạng thái kỹ thuật ô tô - Nghề: Công nghệ ô tô", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_mo_dun_chan_doan_trang_thai_ky_thuat_o_to_nghe_co.pdf