Các nhân tố ảnh hưởng đến tiếp cận tín dụng chính thức của hộ ngư dân đánh bắt xa bờ tại thành phố Nha Trang

Nguyễn Hoài Bảo  
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam- Chi nhánh tỉnh Khánh Hòa  
Ngày nhận: 03/01/2021  
Ngày nhận bản sửa: 26/01/2021  
Ngày duyệt đăng: 23/03/2021  
Tóm tắt: Nghiên cứu nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận  
tín dụng chính thức của hộ ngư dân đánh bắt thủy sản xa bờ tại thành phố Nha  
Trang. Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy Logit để đánh giá tác động của biến  
độc lập đến biến phụ thuộc. Kết quả phân tích từ 120 hộ điều tra cho thấy tỷ lệ hộ  
ngư dân đánh bắt xa bờ tại địa bàn tiếp cận được vốn tín dụng chính thức còn thấp.  
Những nhân tố được tìm ra là: trình độ học vấn, kinh nghiệm nghề nghiệp của chủ  
hộ, số chuyến biển và thời gian chuyến biển. Kết quả nghiên cứu cũng cho rằng  
chính sách giáo dục và chính sách tín dụng, đặc biệt là phòng ngừa rủi ro tín dụng  
và thay đổi quan niệm của ngư dân trong vay vốn cần được quan tâm để nâng cao  
khả năng tiếp cận tín dụng chính thức của hộ ngư dân đánh bắt xa bờ tại thành phố  
Nha Trang.  
Từ khóa: đánh bắt xa bờ, hộ ngư dân, Nha Trang, tín dụng chính thức.  
Factors affecting the offshore fishing household’s access to formal credit in Nha Trang City  
Abstract: This study aimed at finding factors affecting the offshore fishing household’s access to  
formal credit in Nha Trang city. The study used Logit model to measure impacts of independent  
variables on dependent variables. The analysis results from 120 households show that the proportion  
of offshore fishing households in the area having access to formal credit is low. Dectected factors  
include: educational level, professional experience of the head of household, number of trips and  
voyage time. The research results also suggest that educational policies and credit policies, especially  
in oder to prevent credit risks and change the perception of fishermen in borrowing, should be  
considered to improve the offshore fishing household’s access to formal credit in Nha Trang city.  
Keywords: fishermen household, formal credit, Nha Trang, offshore fishing.  
Bao Hoai Nguyen  
Email: nguyenhoaibao.[email protected]  
State Bank of Vietnam branch Khanh Hoa province  
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng  
Số 226- Tháng 3. 2021  
© Học viện Ngân hàng  
14  
ISSN 1859 - 011X  
NGUYỄN HOÀI BẢO  
1. Giới thiệu  
tài trợ tín dụng chỉ chiếm 1,84% tổng số  
tàu cá xa bờ ở Nha Trang (Chi cục Thủy  
sản tỉnh Khánh Hòa, 2019), trong khi đó,  
nợ xấu chiếm 44,8% tổng dư nợ cho vay  
(Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi nhánh  
tỉnh Khánh Hòa, 2019b). Tuy nhiên, hiện  
nay vẫn chưa có nghiên cứu nào về tiếp  
cận TDCT của hộ ngư dân đánh bắt xa bờ  
tại Nha Trang. Nhận thức được những khó  
khăn trên, nghiên cứu này được đặt ra nhằm  
giải quyết yêu cầu thực tiễn, tìm ra các nhân  
tố ảnh hưởng đến tiếp cận TDCT của hộ ngư  
dân đánh bắt xa bờ tại TP. Nha Trang.  
Việt Nam là quốc gia sở hữu hơn 3.260  
km bờ biển, kéo dài từ Bắc đến Nam, với  
khoảng 3.000 hòn đảo ven bờ, diện tích  
hơn 1.600 km2, là nơi sinh sống của hàng  
trăm nghìn ngư dân (Trần Đức Thạnh và  
cộng sự, 2008). Với lợi thế thiên nhiên ban  
tặng, nghề khai thác và đánh bắt thủy sản  
là một trong những nghề có truyền thống  
lâu đời nhất của người dân Việt Nam.  
Tuy nhiên, nếu so với thế giới, nghề cá  
Việt Nam vẫn có quy mô nhỏ, trang bị tàu  
thuyền nhỏ (72% số lượng tàu thuyền có  
công suất nhỏ hơn 45 CV), chủ yếu hoạt  
động ở các vùng nước gần bờ (Hội Nghề  
cá Việt Nam, 2007, tr. 223). Ở Thành phố  
(TP) Nha Trang, khai thác ven bờ vẫn  
chiếm đa số. Tính đến 31/12/2019, toàn  
TP có 3.056 tàu cá, trong đó, tàu đánh  
bắt ven bờ là 1.862 chiếc, chiếm tỷ trọng  
60,93% tổng số tàu cá tại Nha Trang (Chi  
cục Thủy sản Tỉnh Khánh Hòa, 2019).  
Nhằm thúc đẩy phát triển đánh bắt xa bờ,  
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị  
định số 67/2014/NĐ-CP ngày 07/7/2014  
về một số chính sách phát triển thủy sản  
(Nghị định 67), trong đó, các chính sách  
về đầu tư, tín dụng, bảo hiểm, ưu đãi thuế  
và một số chính sách khác là công cụ để  
Nhà nước khuyến khích ngư dân đóng tàu  
công suất lớn, vỏ thép để chuyển từ khai  
thác gần bờ sang khai thác xa bờ, góp  
phần phát triển kinh tế biển và bảo vệ chủ  
quyền biển đảo quê hương. Đặc biệt, nâng  
cao khả năng tiếp cận tín dụng chính thức  
(TDCT) của ngư dân là một trong những  
nhiệm vụ quan trọng để triển khai và đưa  
Nghị định 67 vào đời sống của ngư dân.  
Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc tiếp cận  
TDCT của các hộ ngư dân trên địa bàn  
TP. Nha Trang hiện nay vẫn còn nhiều khó  
khăn. Tính đến 31/12/2019, số tàu cá xa bờ  
được các ngân hàng thương mại (NHTM)  
2. Cơ sở lý thuyết và phương pháp  
nghiên cứu  
2.1. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên  
cứu  
2.1.1. Khái niệm đánh bắt xa bờ  
Quyết định số 159/1998/QĐ-TTg ngày  
03/9/1998 (Quyết định 159) định nghĩa:  
“Đánh cá xa bờ tạm thời quy định là đánh  
cá ở vùng biển được giới hạn từ đường  
đẳng sâu 30 mét trở ra, đối với vùng biển  
vịnh Bắc Bộ, Đông và Tây Nam Bộ, vịnh  
Thái Lan và đường đẳng sâu 50 mét trở ra,  
đối với vùng biển miền Trung. Tàu đánh  
cá xa bờ là tàu có lắp máy chính công suất  
từ 90 CV trở lên; có đăng ký hành nghề tại  
địa phương nơi cư trú hoặc có giấy phép  
hành nghề đánh cá xa bờ do cơ quan bảo  
vệ nguồn lợi thủy sản cấp”. Hiện tại, quyết  
định này vẫn còn hiệu lực.  
Nghị định số 26/2019/NĐ-CP ngày  
08/3/2019 (Nghị định 26) phân chia vùng  
biển Việt Nam thành ba vùng: vùng ven  
bờ, vùng lộng và vùng khơi theo thứ tự từ  
gần bờ đến xa bờ.  
“Khoản 1 Điều 43 Nghị định 26 quy định:  
a) Tàu có chiều dài lớn nhất từ 15 mét trở  
lên hoạt động tại vùng khơi, không được  
hoạt động tại vùng ven bờ và vùng lộng;  
Số 226- Tháng 3. 2021- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng  
15  
Các nhân tố ảnh hưởng đến tiếp cận tín dụng chính thức của hộ ngư dân đánh bắt xa bờ  
tại Thành phố Nha Trang  
b) Tàu có chiều dài lớn nhất từ 12 mét  
đến dưới 15 mét hoạt động tại vùng lộng,  
không được hoạt động tại vùng khơi và  
vùng ven bờ;”  
Nha Trang thuộc vùng biển miền Trung,  
có đường đẳng sâu 50 mét từ bờ biển trở  
ra thuộc vùng lộng và vùng khơi. Như  
vậy, trong nghiên cứu này, đánh bắt xa bờ  
là hoạt động đánh bắt của tàu cá hoạt động  
ở vùng lộng và vùng khơi, có chiều dài từ  
12 mét trở lên và công suất từ 90 CV trở  
lên theo quy định của Quyết định 159 và  
Nghị định 26.  
(2010), trong nghiên cứu về các yếu tố  
ảnh hưởng tới ý định sử dụng dịch vụ  
TDCT trong cộng đồng ngư dân ven biển  
tại tỉnh Khánh Hòa, sử dụng mô hình  
TPB của Fishbein và Ajzen (1975)- một  
mô hình được sử dụng rất nhiều trong các  
nghiên cứu về hành vi, trong đó có hành  
vi về việc sử dụng các dịch vụ- để giải  
thích ý định của hộ ngư dân trong việc sử  
dụng dịch vụ tín dụng ngân hàng. Kết quả  
nghiên cứu đã tìm ra 3 yếu tố tác động là:  
điều kiện vay; thái độ; và sự thuận tiện  
trong việc tiếp cận dịch vụ tín dụng.  
Trần Ái Kết và Huỳnh Trung Thời (2013),  
trong nghiên cứu về tiếp cận TDCT của  
nông hộ tại tỉnh An Giang, sử dụng mô  
hình hồi quy Logit để phân tích kết quả từ  
150 quan sát, đã chỉ ra các yếu tố trình độ  
học vấn, giá trị tài sản của hộ, diện tích đất  
thổ cư có tương quan nghịch với giới hạn  
TDCT của hộ; các yếu tố nghề nghiệp của  
chủ hộ, sử dụng tín dụng phi chính thức  
có tương quan thuận với giới hạn TDCT  
của hộ. Vương Quốc Duy và Đặng Hoàng  
Trung (2015) cũng chỉ ra rằng các thuộc  
tính của chủ hộ như giới tính, trình độ học  
vấn, độ tuổi và các thuộc tính của nông  
hộ như vị trí xã hội, thu nhập ảnh hưởng  
đến khả năng tiếp cận TDCT của hộ chăn  
nuôi heo tại quận Ô Môn, Cần Thơ. Kinh  
nghiệm nghề nghiệp là một nhân tố mà  
Phạm Bảo Quốc và Nguyễn Thị Búp  
(2016) đã tìm ra trong nghiên cứu về các  
nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận  
TDCT của hộ nuôi tôm thẻ chân trắng tại  
huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh, ngoài ra,  
một số nhân tố khác về tín dụng được tìm  
ra là lãi suất, thủ tục cho vay, có phương  
án sản xuất phù hợp, có tài sản thế chấp.  
Các nhân tố tài sản thế chấp, thủ tục vay  
vốn, trình độ dân trí, mục đích vay vốn và  
lãi suất cho vay cũng là các nhân tố ảnh  
hưởng đến khả năng tiếp cận vốn vay của  
hộ sản xuất cà phê ở Đăk Lăk trong nghiên  
2.1.2. Tổng quan nghiên cứu và mô hình  
nghiên cứu  
Vì mối quan hệ tương quan giữa hiệu quả  
kinh tế và khả năng tiếp cận TDCT, giữa  
hộ ngư dân và nông hộ nên những nghiên  
cứu về hiệu quả kinh tế của nghề cá xa bờ  
và những nghiên cứu về tiếp cận TDCT  
của nông hộ sẽ được tham khảo để lựa  
chọn các nhân tố cho mô hình nghiên cứu.  
Nghiên cứu về hiệu quả kinh tế, Al Jabri  
và cộng sự (2013) chứng minh rằng việc  
tăng công suất động cơ, đi biển thường  
xuyên và tăng số chuyến đi biển hàng tuần  
có tác động tích cực, trong khi số lượng  
thuyền viên có tác động tiêu cực đến thu  
nhập của ngư dân quy mô nhỏ trên bờ biển  
Batinah của Oman. Công suất tàu cũng là  
nhân tố được Hoàng Hồng Hiệp và Châu  
Ngọc Hòe (2018) chứng minh rằng có tác  
động cùng chiều với thu nhập của hộ ngư  
dân khai thác thủy sản vùng bãi ngang  
ven biển tỉnh Quảng Nam. Ngoài ra, một  
số nhân tố khác thuộc nhóm địa bàn cư  
trú, đặc trưng ngư nghiệp (loại nghề khai  
thác, vùng khai thác), nhân khẩu học và  
đặc trưng kinh tế - xã hội (tuổi, lòng yêu  
nghề,…), khuyến ngư cũng được tác giả  
chứng minh là có tác động đến thu nhập  
của hộ.  
Phạm Hồng Mạnh và Hạ Thị Thiều Dao  
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 226- Tháng 3. 2021  
16  
NGUYỄN HOÀI BẢO  
cứu của Nguyễn Thị Hải Yến (2016).  
Với biến phụ thuộc có dạng nhị phân,  
nghiên cứu kế thừa mô hình Logit trong  
nghiên cứu của Trần Ái Kết và Huỳnh  
Trung Thời (2013) để tìm ra các nhân tố  
tác động đến khả năng tiếp cận TDCT của  
hộ ngư dân đánh bắt thủy sản xa bờ tại  
TP. Nha Trang. Biến phụ thuộc (Y) là khả  
năng tiếp cận TDCT, nhận giá trị 0 nếu hộ  
không vay vốn và 1 nếu hộ có vay vốn.  
Mô hình được đưa ra như sau:  
vay được vốn chính thức; P (Y = 1) là xác  
suất hộ vay được vốn chính thức..  
2.2. Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu  
Tính đến 31/12/2019, TP. Nha Trang có  
3.056 tàu cá đang hoạt động, trong đó, số  
tàu cá xa bờ là 1.194 tàu (Chi cục Thủy  
sản tỉnh Khánh Hòa năm 2019). Theo  
Trần Thanh Kiệt (2011), công thức xác  
định cỡ mẫu nếu biết quy mô tổng thể đối  
với phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên  
như sau:  
Ln [P(Y = 1) / P(Y = 0)] = β0 + β1HocVan  
+ β2KinhNghiem + β3CongSuat +  
β4ChuyenBien + β5TGDiBien + β6Nghe +  
β7 LaoDong + β8MucDich + ε  
Trong đó, P (Y = 0) là xác suất hộ không  
Trong đó, n là cỡ mẫu, N là tổng thể, ∆ là  
Bảng 1. Tổng hợp một số nghiên cứu liên quan  
Đối tượng nghiên  
Địa bàn  
nghiên cứu  
Nhân tố tác động  
Tác giả  
cứu  
Công suất động cơ, chiều dài tàu, đi  
biển thường xuyên và số chuyến đi  
biển hàng tuần  
Thu nhập của hộ  
ngư dân quy mô nhỏ Oman  
Batinah,  
Al Jabri và cộng  
sự (2013)  
Địa bàn cư trú, công suất tàu, vùng  
khai thác, nghề lưới vây, thị trường  
thủy sản, số nhân khẩu của hộ, số lao thủy sản  
động ngư nghiệp, số người phụ thuộc,  
tuổi của chủ hộ, lòng yêu nghề  
Thu nhập của hộ  
ngư dân khai thác  
Vùng bãi  
ngang ven  
biển tỉnh  
Hoàng Hồng Hiệp  
và Châu Ngọc  
Hòe (2018)  
Quảng Nam  
Điều kiện vay, thái độ, sự thuận tiện  
trong việc tiếp cận tín dụng  
Ý định sử dụng dịch Khánh Hòa  
vụ TDCT của ngư  
dân  
Phạm Hồng  
Mạnh và Hạ Thị  
Thiều Dao (2010)  
Trình độ học vấn, giá trị tài sản của  
Tiếp cận TDCT của An Giang  
Trần Ái Kết và  
Huỳnh Trung  
Thời (2013)  
hộ, diện tích đất thổ cư, nghề nghiệp nông hộ  
của chủ hộ, sử dụng tín dụng phi  
chính thức  
Giới tính, trình độ học vấn, độ tuổi của Tiếp cận TDCT của Quận Ô Môn, Vương Quốc Duy  
chủ hộ; vị trí xã hội, thu nhập của hộ  
hộ chăn nuôi heo  
Cần Thơ  
và Đặng Hoàng  
Trung (2015)  
Trình độ học vấn, số năm sinh sống  
tại địa phương, thu nhập bình quân,  
Tiếp cận TDCT của Huyện Duyên Phạm Bảo Quốc  
hộ nuôi tôm thẻ chân Hải, Trà Vinh và Nguyễn Thị  
kinh nghiệm nghề nghiệp, lãi suất, thủ trắng  
tục cho vay, có phương án sản xuất  
phù hợp, có tài sản thế chấp  
Búp (2016)  
Tài sản thế chấp, thủ tục vay vốn,  
trình độ dân trí, mục đích vay vốn, lãi đối với hộ sản xuất  
Tín dụng ngân hàng Đăk Lak  
Nguyễn Thị Hải  
Yến (2016)  
suất cho vay  
cà phê  
Nguồn: Tác giả tổng hợp  
Số 226- Tháng 3. 2021- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng  
17  
Các nhân tố ảnh hưởng đến tiếp cận tín dụng chính thức của hộ ngư dân đánh bắt xa bờ  
tại Thành phố Nha Trang  
giới hạn sai số chọn mẫu.  
bằng phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên,  
đơn giản. Bảng câu hỏi được xây dựng  
nhằm thu thập những thông tin cần thiết để  
sử dụng cho mô hình nghiên cứu. Trong  
bảng câu hỏi, tác giả còn đưa ra 10 nhận  
định về nguyên nhân không vay vốn của  
hộ thông qua thang đo Likert 5 mức độ,  
Như vậy, với sai số cho phép từ 5% đến  
10% thì cỡ mẫu cần thu thập là từ 92- 300.  
Nghiên cứu đã tiến hành khảo sát qua  
phỏng vấn trực tiếp các hộ ngư dân đánh  
bắt xa bờ tại TP. Nha Trang thông qua  
bảng câu hỏi điều tra vào tháng 3, 4/2020  
Bảng 2. Tổng hợp các biến sử dụng trong mô hình  
Kỳ vọng Nguồn tham khảo  
Tên biến  
Ký hiệu  
Diễn giải  
Đo lường  
dấu  
đề xuất biến  
Biến phụ thuộc  
Hộ có được  
vay vốn tín  
dụng không?  
Trần Ái Kết và  
Huỳnh Trung Thời  
(2013)  
Khả năng tiếp  
cận TDCT  
Y
1: có; 0: không  
Biến độc lập  
Trần Ái Kết và  
Huỳnh Trung Thời  
(2013), Vương  
Quốc Duy và Đặng  
Hoàng Trung  
(2015), Phạm Bảo  
Quốc và Nguyễn  
Thị Búp (2016),  
Nguyễn Thị Hải  
Yến (2016)  
Trình độ học  
vấn của chủ  
hộ (chủ hộ học của chủ hộ (năm)  
đến lớp mấy?)  
Trình độ học  
vấn  
Số năm đi học  
HocVan  
+
Kinh nghiệm  
trong nghề  
đánh bắt thủy  
sản của chủ hộ  
Phạm Bảo Quốc  
và Phan Thị Búp  
(2016)  
Kinh nghiệm  
nghề nghiệp  
KinhNghiem  
Năm  
+
+
Al Jabri và cộng  
sự (2013), Hoàng  
Hồng Hiệp và Châu  
Ngọc Hòe (2018)  
Al Jabri và cộng sự  
(2013)  
1: Từ 400 CV trở  
lên  
0: Dưới 400 CV  
Công suất máy  
tàu  
Công suất tàu CongSuat  
Số chuyến  
ChuyenBien  
biển  
Số chuyến đi  
Chuyến  
+
+
biển trong năm  
Thời gian đi  
biển trong 1  
chuyến  
Thời gian  
Al Jabri và cộng sự  
(2013)  
TGDiBien  
chuyến biển  
Ngày  
Hoàng Hồng Hiệp  
và Châu Ngọc Hòe  
(2018)  
Al Jabri và cộng sự  
(2013)  
Nghề đánh bắt 1: lưới vây, rê, 0:  
Loại nghề  
Nghe  
+
-
của hộ  
nghề khác  
Số lượng  
thuyền viên  
Số lao động LaoDong  
Người  
1: đóng mới tàu  
khai thác, dịch vụ  
hậu cần khai thác  
hải sản; 0: khác  
Mục đích vay  
MucDich  
vốn  
Mục đích vay  
vốn của hộ  
Nguyễn Thị Hải  
Yến (2016)  
+
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ tổng quan các nghiên cứu  
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 226- Tháng 3. 2021  
18  
NGUYỄN HOÀI BẢO  
với quy ước mức 1 = rất không đồng ý và  
tăng dần đến mức 5 = rất đồng ý, để đánh  
giá nguyên nhân dẫn đến việc hộ không  
vay vốn tại các TCTD. Số phiếu phát ra là  
120, thu về là 120 phiếu, đều đạt đủ điều  
kiện để sử dụng cho mô hình nghiên cứu.  
Nghiên cứu kết hợp sử dụng phương pháp  
chuyên gia: Trong tháng 5/2020, tác giả  
thực hiện phỏng vấn giám đốc các NHTM  
cho vay ngư dân tại TP. Nha Trang để tìm  
hiểu nguyên nhân gây ra nợ xấu và khó  
khăn của các NHTM trong việc xử lý nợ  
để làm căn cứ gợi ý và đề xuất chính sách.  
Dữ liệu thu thập được xử lý thống kê mô  
tả bằng phần mềm Microsoft Excel 2019,  
phân tích và kiểm định mô hình Logit  
bằng phần mềm SPSS 20.  
Khánh Hòa và Vietcombank Nha Trang.  
Trong tháng 5/2020, qua phỏng vấn trực  
tiếp giám đốc các NHTM cho vay ngư dân  
tại TP. Nha Trang về nguyên nhân gây ra  
nợ xấu và khó khăn của NHTM trong việc  
xử lý nợ, một số nguyên nhân chính gây ra  
nợ xấu như sau:  
Hầu hết khách hàng cho rằng hoạt động  
khai thác không có hiệu quả do chi phí  
đi biển cao, sản lượng giảm, giá thủy sản  
giảm dẫn đến doanh thu không đủ bù chi  
phí, một số tàu thường xuyên nằm bờ nên  
không trả được nợ ngân hàng.  
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận  
3.1. Kết quả nghiên cứu  
3.1.1. Thực trạng cho vay đánh bắt xa bờ  
tại Nha Trang  
Hình 1. Dư nợ cho vay tàu cá xa bờ tại  
Nha Trang giai đoạn 2015- 2019  
Trong những năm đầu triển khai Nghị  
định 67, dư nợ cho vay tàu cá xa bờ đã  
tăng lên đáng kể: từ 05 khoản vay với dư  
nợ 17,8 tỷ đồng năm 2015 đã tăng lên 23  
khoản vay và 173,1 tỷ đồng dư nợ năm  
2017 (Hình 1). Tuy nhiên, giai đoạn 2017-  
2019 bắt đầu chững lại do ảnh hưởng của  
bão số 12 năm 2017, gây thiệt hại rất lớn  
cho ngư dân và các khoản vay theo Nghị  
định 67 để lại nợ xấu rất nhiều cho NHTM  
nên việc giải ngân cho vay mới bị hoãn lại  
do phải xử lý nợ xấu của khoản vay cũ.  
Tính đến 31/12/2019, số tàu cá được cho  
vay theo Nghị định 67 tại Nha Trang là  
22 tàu trên tổng số 1.194 tàu, chiếm tỷ lệ  
1,84%. Tổng dư nợ cho vay là 200.335  
triệu đồng, trong đó nợ xấu là 80.122 triệu  
đồng, chiếm 44,8% tổng dư nợ (Bảng 3).  
Thị phần cho vay tàu cá xa bờ thuộc về  
03 NHTM: Agribank Khánh Hòa, BIDV  
Đơn vị tính: tỷ đồng  
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi nhánh  
tỉnh Khánh Hòa  
Một số ngư dân cho rằng đây là nguồn vốn  
hỗ trợ của Nhà nước nên có thái độ chây ỳ,  
thiếu trách nhiệm trả nợ ngân hàng.  
Các NHTM đã tạo điều kiện cơ cấu nợ cho  
khách hàng nhưng hầu hết khách hàng vẫn  
không có nguồn thu để thanh toán nợ sau khi  
cơ cấu. Việc cơ cấu liên tục sẽ gây khó khăn  
cho ngân hàng trong việc thu nợ khi giá trị  
TSĐB là con tàu ngày càng giảm dần, dư nợ  
lớn hơn nhiều so với giá trị TSĐB.  
3.1.2. Thống kê mô tả mẫu điều tra  
Phân tích một số chỉ tiêu nhân khẩu học  
cho thấy độ tuổi của chủ hộ nằm trong  
khoảng từ 30- 66 tuổi, tuổi trung bình là  
Số 226- Tháng 3. 2021- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng  
19  
Các nhân tố ảnh hưởng đến tiếp cận tín dụng chính thức của hộ ngư dân đánh bắt xa bờ  
tại Thành phố Nha Trang  
Bảng 3. Cho vay tàu cá xa bờ trên địa bàn thành phố Nha Trang tính đến 31/12/2019  
Đơn vị tính: triệu đồng  
Số tàu Tổng số tiền Doanh  
đã ký cam kết số  
HĐTD cho vay theo cho vay  
(chiếc) HĐTD lũy kế  
Dư nợ  
Số tiền  
thu nợ  
lũy kế  
Chỉ tiêu  
Tổng số Nợ được Nợ xấu  
cơ cấu  
Cho vay đóng  
mới tàu khai thác  
hải sản xa bờ  
Cho vay nâng  
cấp tàu  
19  
198.814 197.367  
20.344 177.023  
61.176 80.122  
3
3.388  
202.202 200.335  
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi nhánh tỉnh Khánh Hòa  
2.968  
1.141  
1.827  
-
-
Tổng  
22  
21.485 178.850  
61.176 80.122  
Bảng 4. Một số chỉ tiêu nhân khẩu học từ mẫu điều tra  
Đơn vị Giá trị Giá trị  
tính trung bình nhỏ nhất lớn nhất  
Tuổi  
Giá trị  
Chỉ tiêu  
Tuổi của chủ hộ  
48,5  
82,5  
30  
66  
Tỷ lệ chủ hộ là nam  
%
-
-
Số năm kinh nghiệm trong nghề khai thác thủy sản  
của chủ hộ  
Năm  
20  
4
36  
Trình độ học vấn của chủ hộ  
Số thành viên trong hộ  
Năm  
5,5  
5
0
2
12  
9
Người  
Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ kết quả khảo sát  
48,5 tuổi (Bảng 4). Đây là độ tuổi cho thấy  
sự dày dặn trong kinh nghiệm nghề nghiệp  
cũng như kinh nghiệm sống. 20 năm là số  
năm kinh nghiệm trung bình trong nghề  
khai thác của chủ hộ. Hầu hết các chủ hộ  
đều là nam, chiếm tỷ lệ 82,5%. Thực tế  
nghề đánh bắt cá xa bờ chủ hộ thường là  
nam do tính chất công việc nặng nhọc.  
Trình độ học vấn của chủ hộ chưa cao, số  
năm đi học trung bình của chủ hộ chỉ là  
5,5 năm. Đa số các hộ đều có nhiều thành  
viên, trung bình là 5 người/hộ.  
Từ kết quả khảo sát, Bảng 5 cho thấy hầu  
hết các hộ điều tra đều khai thác ở vùng  
khơi (100 hộ với tỷ lệ 83%), sử dụng tàu  
có công suất từ 400 CV trở lên (105 hộ  
với tỷ lệ 88%) và đánh bắt bằng các nghề  
khác như câu, lưới kéo, chụp… (75 hộ với  
tỷ lệ 62,5%).  
số hộ không vay là 93 hộ (chiếm 77,5%).  
Theo chính sách tín dụng quy định tại  
Nghị định 67, khách hàng vay vốn đóng  
mới tàu khai thác thủy sản với công suất  
càng lớn sẽ được Ngân sách Nhà nước cấp  
bù để trả lãi vay càng nhiều. Tàu có công  
suất lớn cũng đồng nghĩa với việc chiều  
dài lớn hơn. Với quy mô tàu cá lớn, công  
suất cao, sản lượng đánh bắt và thu nhập  
cũng tăng lên, thời gian đi biển cũng kéo  
dài hơn. Do đó, nếu xét các chỉ tiêu về  
chiều dài tàu, sản lượng đánh bắt và thu  
nhập đánh bắt trung bình một chuyến biển,  
số ngày đi biển trung bình trong năm thì  
những hộ có vay vốn đều có giá trị trung  
bình lớn hơn những hộ không vay vốn  
(Bảng 6).  
3.1.3. Kết quả phân tích mô hình hồi quy  
Logit  
Số hộ vay vốn là 27 hộ (chiếm 22,5%),  
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 226- Tháng 3. 2021  
20  
NGUYỄN HOÀI BẢO  
Bảng 5. Một số chỉ tiêu về vùng khai thác, công suất tàu và nghề khai thác  
Công suất  
máy tàu  
Dưới 400  
CV  
Từ 400 CV  
trở lên  
Nghề khai  
thác  
Lưới rê hoặc  
lưới vây  
Vùng khai thác Số hộ Tỷ lệ  
Số hộ Tỷ lệ  
Số hộ Tỷ lệ  
Vùng lộng  
20  
17%  
83%  
15  
12,5%  
45  
37,5%  
Vùng khơi  
Tổng  
100  
120  
105  
120  
87,5% Nghề khác  
75  
62,5%  
100%  
100% Tổng  
100% Tổng  
120  
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả khảo sát  
Bảng 6. Tiếp cận tín dụng phân theo một số chỉ tiêu về đánh bắt thủy sản  
Sản lượng Thu nhập từ đánh bắt  
trung bình trung bình 1 chuyến  
Tiếp cận  
tín dụng  
Chiều dài tàu  
trung bình (mét)  
Số ngày đi biển  
Số hộ  
trung bình  
(kg)  
biển (triệu đồng)  
Có vay  
27  
93  
22,16  
16,58  
2.085,19  
244,44  
232,26  
197,71  
Không vay  
Tổng  
1.662,37  
117,63  
120  
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả khảo sát  
Kiểm định Omnibus được sử dụng để  
kiểm định độ phù hợp của mô hình hồi  
quy Logit. Với giá trị p-value = 0,000 rất  
nhỏ (Bảng 7), có thể khẳng định mô hình  
phù hợp với tập dữ liệu và có ý nghĩa  
thống kê ở mức ý nghĩa 1%.  
Theo Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng  
Ngọc (2008), giá trị -2 Log likelihood càng  
nhỏ càng thể hiện độ phù hợp của mô hình  
càng cao. Giá trị -2 Log likelihood= 19,668  
(Bảng 8), như vậy mô hình tổng thể có độ  
phù hợp khá tốt. Giá trị R2 = 0,598 cho thấy  
sự biến thiên của biến độc lập giải thích  
được 59,8% sự biến thiên của biến phụ  
thuộc.  
hộ về nguyên nhân không vay tại TCTD,  
hầu hết các hộ đều đồng ý với ý kiến:  
Ngại bị nợ nần, Lãi suất cao và Mượn  
tiền người thân, bạn bè hoặc vay nóng  
nhanh hơn. Một số nguyên nhân khác như:  
Sợ không trả được nợ; Thủ tục rườm rà;  
Không quen biết ai trong cơ quan, tổ chức;  
Không biết làm sao để được vay; Không  
có tài sản thế chấp; Không có nhu cầu vay  
cũng có kết quả đồng ý khá cao. Duy nhất  
chỉ có nguyên nhân Thái độ nhân viên tín  
dụng không tốt nghiêng về hướng không  
đồng ý, thể hiện việc hầu hết các hộ ngư  
dân khá hài lòng với thái độ phục vụ của  
nhân viên tín dụng tại các NHTM.  
Dựa vào giá trị p-value trong kiểm định  
Wald ở Bảng 9, 4 biến độc lập có ý nghĩa  
thống kê là “Trình độ học vấn” (mức ý  
nghĩa 1%), “Số chuyến biển” (mức ý nghĩa  
5%), “Kinh nghiệm nghề nghiệp” và “Thời  
gian chuyến biển”) (mức ý nghĩa 10%).  
Với hệ số β dương, tất cả các biến độc lập  
trên đều tác động cùng chiều với biến phụ  
thuộc.  
3.2. Kết quả nghiên cứu và thảo luận  
Bốn nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp  
cận TDCT của hộ:  
- Trình độ học vấn của chủ hộ có tác động  
cùng chiều với khả năng tiếp cận TDCT  
của hộ, đúng với kỳ vọng ban đầu. Như  
đã phân tích, số năm đi học trung bình của  
chủ hộ là 5,5 năm, trong đó có những chủ  
Bảng 10 thể hiện kết quả phỏng vấn các  
Số 226- Tháng 3. 2021- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng  
21  
Các nhân tố ảnh hưởng đến tiếp cận tín dụng chính thức của hộ ngư dân đánh bắt xa bờ  
tại Thành phố Nha Trang  
Bảng 7. Kiểm định Omnibus  
Omnibus Tests of Model Coefficients  
Chi-square df Sig.  
Bảng 8. Giá trị -2LL và R2 của mô hình  
Model Summary  
-2 Log  
likelihood  
Cox & Snell Nagelkerke  
Step  
1
R Square  
R Square  
Step  
106,739 8 0,000  
106,739 8 0,000  
106,739 8 0,000  
19,668  
0,598  
0,906  
Step 1  
Block  
Model  
Nguồn: Kết quả khảo sát của tác giả  
Nguồn: Kết quả khảo sát của tác giả  
Bảng 9. Kiểm định Wald và các hệ số hồi quy  
95% C.I. đối với EXP(B)  
Sai số  
chuẩn  
B
Wald p-value  
Exp(B)  
Ngưỡng  
Ngưỡng giá trị trên  
trị dưới  
HocVan  
3,683  
3,616  
-1,972  
7,089  
1,390 7,022 0,008***  
2,033 3,162 0,075*  
3,156 0,391 0,532  
3,374 4,413 0,036**  
7,565 3,616 0,057*  
1,383 0,276 0,600  
3,228 1,782 0,182  
39,769  
2,609  
606,268  
2000,635  
67,607  
KinhNghiem  
CongSuat  
ChuyenBien  
37,182  
,139  
0,691  
0,000  
1,608  
1198,193  
1767059,713  
893035,996  
ThoiGianDiBien 14,385  
0,643 4858298962085,971  
Nghe  
-0,726  
4,309  
0,484 0,0302  
7,275  
41616,518  
0,000  
LaoDong  
MucDich  
Constant  
74,387  
26103587,215  
0,000  
0,133  
0,000  
17,078 6491,056 0,000 0,998  
-80,379 34,289 5,495 0,019  
Ghi chú: *** Mức ý nghĩa 1%; ** Mức ý nghĩa 5%; * Mức ý nghĩa 10%  
Nguồn: tác giả tự tính toán bằng phần mềm SPSS 20  
Bảng 10. Chấm điểm các nguyên nhân không vay của hộ theo thang đo Likert  
Giá trị nhỏ  
nhất  
Giá trị lớn  
Nguyên nhân không vay  
Điểm trung bình  
nhất  
Ngại bị nợ nần  
4,30  
3,81  
3,71  
3,90  
3,91  
3,51  
4,00  
2,05  
4
2
2
3
3
2
3
1
5
Sợ không trả được nợ  
5
5
5
5
5
5
3
Thủ tục rườm rà  
Không quen biết ai trong cơ quan, tổ chức  
Không biết làm sao để được vay  
Không có tài sản thế chấp  
Lãi suất cao  
Thái độ nhân viên tín dụng không tốt  
Mượn tiền người thân, bạn bè hoặc vay nóng  
nhanh hơn  
4,81  
3,81  
4
1
5
5
Không có nhu cầu vay  
Nguồn: Tác giả tính toán từ kết quả khảo sát  
hộ không đi học năm nào. Điều này cho  
thấy trình độ học vấn của ngư dân tại TP.  
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 226- Tháng 3. 2021  
22  
NGUYỄN HOÀI BẢO  
Nha Trang còn khá thấp và theo dữ liệu  
điều tra, hầu hết các hộ có trình độ học  
vấn của chủ hộ dưới 5 năm đều không vay  
được vốn từ NHTM. Khi trình độ học vấn  
được cải thiện, khả năng tiếp thu kỹ thuật,  
công nghệ mới trong khai thác của chủ  
hộ cũng tốt hơn, năng lực trong khai thác  
cũng như hiệu quả trong sản xuất cũng  
tăng lên, làm tăng khả năng trả nợ vay của  
hộ. Bên cạnh đó, trình độ học vấn còn là  
một trong những thang đo quan trọng để  
thẩm định khách hàng của NHTM. Khách  
hàng có trình độ học vấn cao thì mức tín  
nhiệm cũng cao hơn, qua đó, khả năng tiếp  
cận TDCT cũng tốt hơn những hộ khác.  
- Kinh nghiệm nghề nghiệp của chủ hộ có  
tác động cùng chiều với khả năng tiếp cận  
TDCT của hộ, trùng với kỳ vọng ban đầu.  
Thực tế cho thấy chủ hộ có kinh nghiệm  
càng lâu năm thì kỹ năng khai thác và  
phương án kinh doanh cũng tốt hơn những  
người khác, làm cho hiệu quả kinh tế tăng  
lên, do đó việc trả nợ vay sẽ dễ dàng hơn.  
Điều này làm gia tăng mức tín nhiệm  
trong khâu thẩm định khách hàng của  
NHTM nên NHTM ưu tiên cho vay hơn,  
đồng nghĩa với việc khả năng tiếp cận  
TDCT của hộ được tăng lên.  
- Số chuyến biển trong năm tác động cùng  
chiều với khả năng tiếp cận TDCT của hộ,  
trùng với kỳ vọng ban đầu. Hộ ngư dân đi  
biển nhiều hơn trong năm sẽ có sản lượng  
đánh bắt trong năm cao hơn, làm cho thu  
nhập của ngư dân tăng lên, kết hợp với  
việc tiết kiệm chi phí, hộ ngư dân có thể  
gia tăng lợi nhuận khai thác, qua đó làm  
tăng tín nhiệm với NHTM. Mặt khác,  
khi thẩm định khách hàng vay vốn, các  
NHTM cũng ưa thích những hộ thường  
xuyên đi biển hơn vì thu nhập thường cao  
hơn, khả năng trả nợ cũng tốt hơn nên khả  
năng tiếp cận TDCT của hộ cũng tăng lên.  
- Thời gian chuyến biển tác động cùng  
chiều với khả năng tiếp cận TDCT của hộ,  
trùng với kỳ vọng ban đầu. Việc đi biển  
dài ngày hơn sẽ giúp cho hộ có thể tiếp  
cận những ngư trường lớn ở vùng khơi xa,  
đánh bắt được những loại hải sản có kinh  
tế cao hơn, sản lượng đánh bắt cũng có thể  
tăng lên, qua đó, lợi nhuận đem lại cũng  
tăng. Mặt khác, những hộ có khả năng đi  
biển dài ngày thường là những hộ có kinh  
nghiệm lâu năm trong nghề, sở hữu tàu  
thuyền công suất lớn, công nghệ hiện đại  
nên thường được các NHTM ưu tiên cho  
vay hơn. Điều này dẫn đến khả năng tiếp  
cận TDCT cũng tốt hơn.  
- Kết quả phỏng vấn các hộ về nguyên  
nhân không vay thể hiện tâm lý ngư dân  
hiện nay vẫn còn e ngại việc nợ nần, cảm  
thấy vay ngân hàng như một gánh nặng  
khó có thể trả được vì lãi suất cao và lúc  
cần tiền thì mượn người thân, bạn bè hoặc  
vay vốn của các cá nhân, tổ chức phi chính  
thức nhanh hơn so với việc làm thủ tục  
vay vốn ở ngân hàng. Như vậy, nhận thức  
và thói quen của ngư dân ảnh hưởng khá  
lớn đến khả năng tiếp cận TDCT. Điều  
này tương đồng với kết quả nghiên cứu  
của Phạm Hồng Mạnh và Hạ Thị Thiều  
Dao (2010): “… thái độ của ngư dân đối  
với những khoản tín dụng là khá quan  
trọng. Điều này sẽ có tác động tích cực  
trong việc hình thành ý định vay vốn một  
khi ngư dân tin tưởng và yên tâm đối với  
nguồn TDCT được cung cấp từ phía ngân  
hàng. Ngoài ra, sự thuận tiện trong các thủ  
tục sẽ là yếu tố thúc đẩy tích cực đối với ý  
định vay”.  
4. Kết luận và gợi ý chính sách  
4.1. Kết luận  
Nghiên cứu đã đạt được mục tiêu đặt ra,  
tìm ra 4 nhân tố chính ảnh hưởng đến khả  
năng tiếp cận TDCT của hộ ngư dân đánh  
bắt xa bờ tại TP. Nha Trang là học vấn,  
Số 226- Tháng 3. 2021- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng  
23  
Các nhân tố ảnh hưởng đến tiếp cận tín dụng chính thức của hộ ngư dân đánh bắt xa bờ  
tại Thành phố Nha Trang  
kinh nghiệm nghề nghiệp của chủ hộ, số  
chuyến biển trong năm và thời gian đi biển  
trong một chuyến. Tất cả các nhân tố này  
đều tác động cùng chiều với khả năng tiếp  
cận TDCT của hộ.  
Nguyên nhân không vay vốn được các hộ  
đồng tình nhất là ngại bị nợ nần, lãi suất  
cao và mượn tiền người thân, bạn bè hoặc  
vay vốn của các tổ chức phi chính thức  
nhanh hơn. Ngoài ra, sợ không trả được  
nợ; thủ tục vay vốn rườm rà; không quen  
biết ai trong cơ quan, tổ chức; không biết  
làm sao để được vay; không có tài sản thế  
chấp và không có nhu cầu vay vốn cũng là  
những nguyên nhân được đề cập đến. Nợ  
xấu cũng là một thực trạng cần phải giải  
quyết khi cho vay đối tượng này.  
tiếp cận TDCT của hộ ngư dân đánh bắt  
xa bờ tại TP. Nha Trang. Một số giải pháp  
đưa ra là:  
Thứ nhất, cần tăng cường tuyên truyền  
cho ngư dân về tầm quan trọng của giáo  
dục.  
Thứ hai, cần có cơ chế, chính sách miễn,  
giảm học phí, hỗ trợ ngư dân trong việc đi  
học.  
Thứ ba, vận động người dân, doanh  
nghiệp và chi ngân sách để đầu tư, xây  
dựng các trường học, trung tâm đào tạo  
gần khu vực ngư dân sinh sống.  
Thứ tư, kết quả nghiên cứu cho thấy thời  
gian chuyến biển và số chuyến biển có  
tác động cùng chiều với khả năng tiếp cận  
TDCT của hộ, vì vậy, chính quyền địa  
phương nên mở các khóa đào tạo ngư dân  
về cách sử dụng tàu cá công suất lớn, gia  
tăng năng suất, kéo dài thời gian đi biển,  
số chuyến biển và kỹ năng hạn chế rủi ro  
trên biển.  
Thứ năm, như đã phân tích, một số ngư  
dân cho rằng tiền vay ngân hàng là nguồn  
vốn hỗ trợ của Nhà nước nên có thái độ  
chây ỳ, thiếu trách nhiệm trả nợ ngân  
hàng, do đó, cần tăng cường tuyên truyền,  
lồng ghép các chính sách pháp luật trong  
các chương trình đào tạo để ngư dân hiểu  
đúng chính sách của nhà nước trong khai  
thác thủy sản, đồng thời, từ bỏ quan niệm  
nhà nước tài trợ 100% tiền trả nợ vay ngân  
hàng.  
Thứ sáu, kết quả phỏng vấn các hộ về  
nguyên nhân không vay thể hiện tâm lý ngư  
dân hiện nay vẫn còn e ngại việc nợ nần.  
Do đó, cần phải có chính sách giúp ngư  
dân thay đổi quan điểm về TDCT, bớt e  
ngại khi vay nợ ngân hàng, đồng thời, đơn  
giản thủ tục vay, tăng cường tính kết nối  
giữa người dân, chính quyền địa phương và  
TCTD.  
4.2. Gợi ý chính sách  
Số hộ có vay vốn trong mẫu điều tra  
chiếm tỷ lệ khá thấp: 22,5% đối với mẫu  
điều tra, 1,84% đối với tổng thể tại thời  
điểm 31/12/2019 (theo Thống kê số liệu  
tàu cá đang quản lý của Chi cục Thủy sản  
tỉnh Khánh Hòa năm 2019), trong đó, nợ  
xấu chiếm 44,8% tổng dư nợ, cho thấy khả  
năng tiếp cận TDCT của hộ ngư dân đánh  
bắt xa bờ tại TP. Nha Trang còn thấp và  
hiệu quả cho vay không cao. Nợ xấu ảnh  
hưởng xấu đến việc cho vay mới của các  
NHTM, do vậy cần có giải pháp để hạn  
chế rủi ro trong việc cho vay ngư dân. Từ  
kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất một số  
chính sách nhằm nâng cao khả năng tiếp  
cận TDCT của hộ ngư dân đánh bắt xa bờ  
tại TP. Nha Trang như sau:  
4.2.1. Chính sách giáo dục  
Trình độ học vấn của chủ hộ, số chuyến  
biển và thời gian chuyến biển có tác động  
cùng chiều với khả năng tiếp cận TDCT  
của hộ, do đó, chính sách giáo dục cần  
được ưu tiên trong việc nâng cao khả năng  
4.2.2. Chính sách tín dụng  
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 226- Tháng 3. 2021  
24  
NGUYỄN HOÀI BẢO  
Như đã phân tích, nợ xấu ảnh hưởng  
không nhỏ đến việc tiếp cận TDCT của hộ  
ngư dân. Vì vậy, chính sách tín dụng cần  
đi theo hướng nâng cao tiếp cận TDCT  
của ngư dân phải đi đôi với hạn chế rủi ro  
tín dụng và xử lý nợ xấu tồn đọng.  
dân để tuyên truyền sản phẩm cho vay tàu  
cá, chính sách của Nhà nước và tác hại của  
tín dụng đen đối với đời sống hiện nay.  
Thứ hai, các NHTM cần tăng tần suất  
kiểm tra sử dụng vốn vay và các biện pháp  
đôn đốc, thu hồi nợ vay.  
Thứ nhất, các NHTM nên tăng cường giải  
pháp quảng cáo, tư vấn cho vay để thông  
tin vay vốn có thể đến được với bà con  
ngư dân; đơn giản thủ tục vay vốn theo  
quy định pháp luật; phối hợp với chính  
quyền địa phương tổ chức gặp mặt ngư  
Thứ ba, HĐTD nên có thêm điều khoản  
nhấn mạnh Nhà nước chỉ hỗ trợ một phần  
lãi vay, khách hàng phải tự trả bằng nguồn  
thu nhập hợp pháp của mình, đồng thời,  
nêu rõ trách nhiệm của khách hàng trong  
trả nợ ngân hàng, quy định cụ thể các  
xem tiếp trang 70  
Tài liệu tham khảo  
1. Ajzen I. & Fishbein M. (1975), Belief, Attitude, Intention, and Behaviour, Addison-Wesley Publishing Company, Inc.  
2. Al Jabri O.M.A.R., Collins R., Sun X., Omezzine A. & Belwal R. (2013), “Determinants of small-scale fishermen’s  
income on Oman’s Batinah Coast”, Marine Fisheries Review, 75(3), 21-32.  
3. Chi cục Thủy sản Khánh Hòa (2019), Số liệu tàu cá, sản lượng đánh bắt thủy sản, lực lượng lao động nghề cá giai  
đoạn 2017 – 2019, Khánh Hòa.  
4. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2014), Nghị định số 67/2014/NĐ-CP ngày 07/7/2014 về một số  
chính sách phát triển thủy sản.  
5. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2019), Nghị định số 26/2019/NĐ-CP ngày 08/3/2019 quy định  
chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thủy sản.  
6. Hoàng Hồng Hiệp và Châu Ngọc Hòe (2017), “Những nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ ngư dân khai thác  
hải sản vùng bãi ngang ven biển tỉnh Quảng Nam”, Thông tin Khoa học xã hội, 12-21.  
7. Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008), Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS, tập 2, TP. Hồ Chí Minh:  
Nhà xuất bản Hồng Đức.  
8. Hội nghề cá Việt Nam (2007), Bách khoa thủy sản, Hà Nội: Nhà xuất bản Nông nghiệp.  
9. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2018), Văn bản hợp nhất số 10/VBHN-NHNN ngày 16/5/2018 hướng dẫn thực hiện  
chính sách tín dụng theo Nghị định số 67/2014/NĐ-CP ngày 07 tháng 7 năm 2014 của Chính phủ về một số chính sách  
phát triển thủy sản.  
10. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi nhánh tỉnh Khánh Hòa (2019a), Báo cáo tình hình cho vay ngư dân theo Nghị  
định 67 giai đoạn 2015 – 2019.  
11. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi nhánh tỉnh Khánh Hòa (2019b), Báo cáo chi tiết khách hàng vay vốn theo Nghị  
định 67 thời điểm 31/12/2019.  
12. Nguyễn Thị Hải Yến (2016), Tín dụng ngân hàng đối với hộ sản xuất cà phê tỉnh Đăk Lăk, Luận văn tiến sĩ, Trường  
đại học Kinh tế Huế, Huế.  
13. Phạm Bảo Quốc và Nguyễn Thị Búp (2016), “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng chính  
thức của nông hộ nuôi tôm thẻ chân trắng tại huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh”, Kinh tế - Văn hóa - Giáo dục, 22, 10-18.  
14. Phạm Hồng Mạnh và Hạ Thị Thiều Dao (2010), “Các yếu tố ảnh hưởng tới ý định sử dụng dịch vụ tín dụng chính  
thức trong cộng đồng ngư dân ven biển tại tỉnh Khánh Hòa”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ, 159, 27-32.  
15. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2017), Luật Thủy sản - Luật số 18/2017/QH14 ngày 21/11/2017.  
16. Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (1998), Quyết định số 159/1998/QĐ-TTg ngày  
03/9/1998 sửa đổi Quyết định số 393-TTg về việc ban hành quy chế quản lý và sử dụng vốn tín dụng đầu tư theo kế hoạch  
nhà nước cho các dự án đóng mới, cải hoán tàu đánh bắt và tàu dịch vụ đánh bắt hải sản xa bờ.  
17. Trần Ái Kết và Huỳnh Trung Thời (2013), “Các nhân tố ảnh hưởng đến tiếp cận tín dụng chính thức của nông hộ trên  
địa bàn tỉnh An Giang”, Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, 27, 17-24.  
18. Trần Đức Thạnh, Trần Đình Lân và Nguyễn Hữu Cử (2008), “Tài nguyên vị thế biển Việt Nam: Định dạng, tiềm năng và  
định hướng phát huy giá trị”, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ ba, Nhà Xuất bản Khoa học xã hội, 617-630.  
19. Trần Thanh Kiệt (2011), Một số nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của đội tàu cá xa bờ làm nghề lưới kéo đôi tại tỉnh  
Kiên Giang, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Nha Trang, Nha Trang.  
20. Vương Quốc Duy và Đặng Hoàng Trung (2015), “Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng chính  
thức của hộ chăn nuôi heo trên địa bàn quận Ô Môn, Cần Thơ”, Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, 36, 42-51.  
Số 226- Tháng 3. 2021- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng  
25  
Kiệt quệ tài chính và dòng tiền của các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết tại Việt Nam  
3. CFA Institute (2008), Financial Statement Analysis, CFA Program Curriculum ● Volume 3, The United States of  
America: Pearson Custom Publishing.  
4. Dickinson, V. (2011), ‘Cash Flow Patterns as a Proxy for Firm Life Cycle’, The Accounting Review, November  
2011, Vol. 86, No. 6, pp. 1969-1994.  
5. Fawzi, N. S., Kamaluddin, A. & Sanusi, Z. M. (2015), ‘Monitoring Distressed Companies through Cash Flow  
Analysis’, Procedia Economics and Finance, 28, 136-144.  
6. Gujarati, D. N (2011), Econometrics by Example, Paperback, Chương 10: Vấn đề đa cộng tuyến và cỡ mẫu nhỏ,  
fetp.edu.vn/cache/MPP04-522-R02V-2012-05-30-08580840.pdf>  
7. Horne, J. C. V. & Wachowicz, J. M. (2008), Fundamentals of Financial Management (13th edition), England:  
Prentice Hall.  
8. Jooste, L. (2007), An evaluation of the usefulness of cash flow ratios to predict financial distress, Acta Commercii,  
vol. 7, no. 1, pp. 1-13.  
9. Kordestani, G., Biglari, V. & Bakhtiari, M. (2011), ‘Ability of combinations of cash flow components to predict  
financial distress’, Verslas: Teorija ir Praktika Business, 12, 277-285.  
10. Larsen, E. R., Ackere, A. & Osorio, S. (2018), Can electricity companies be too big to fail?, retrieved on December  
20th 2019, from <https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0301421518303021>  
11. Nagle, C. & Connor, J. O. (2010), Cash is King, Managing Cash Flow, retrieved on December 20th 2019, from  
<https://www.crowleysdfk.ie/wp-content/uploads/2010/03/Managing-Cash-Flow-Edited-Presentation-for-Website.pdf>  
12. Ngô Kim Phượng, Lê Hoàng Vinh – Đồng chủ biên (2018), Phân tích tài chính doanh nghiệp (tái bản lần 4), Thành  
phố Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Kinh tế TP. Hồ Chí Minh.  
13. Roe, M. J. (2014), ‘Structural corporate degradation due to too-big-to-fail finance’, University of Pennsylvania  
Law Review, Vol. 162, 1419-1464.  
14. Sayari, N. & Mugan, F. N. C. S. (2013), ‘Cash Flow Statement as an Evidence for Financial Distress’, Universal  
Journal of Accounting and Finance, 1(3), 95-103.  
15. Shamsudin, A. & Kamaluddin, A. (2015), ‘Impeding bankruptcy: Examing cash flow pattern of distress and healthy  
firm’, Proscedia Economic & Finance, 31, 766-767.  
tiếp theo trang 25  
lượng khai thác,… cho NHTM cho vay để  
biện pháp xử lý khi khách hàng không trả  
nợ; trước khi ký HĐTD, cán bộ tín dụng  
cần giải thích rõ các điều khoản quy định  
trong HĐTD với khách hàng.  
theo dõi, đánh giá khách hàng.  
4.3. Hạn chế của nghiên cứu  
Thứ tư, Nghị định 67 nên sửa đổi theo  
hướng quy định cụ thể hơn các điều kiện  
để được vay vốn tàu cá xa bờ, có quy chế  
xử lý nợ xấu cứng rắn hơn trong trường  
hợp ngư dân cố ý không trả nợ.  
Thứ năm, cần ban hành quy chế phối hợp  
giữa các cơ quan, ban, ngành trong việc  
xử lý nợ xấu, theo dõi tình hình hoạt động  
của ngư dân và thu hồi nợ kịp thời cho  
NHTM; có quy định cụ thể để cơ quan  
chức năng được tạm dừng các loại thủ tục:  
cấp Giấy chứng nhận an toàn tàu cá, Giấy  
phép khai thác hải sản,… nếu khách hàng  
không có ý thức trả nợ; có cơ chế trong  
việc hỗ trợ cung cấp thông tin liên quan  
đến tình hình khai thác của chủ tàu như  
nhật ký hành trình, số chuyến biển, sản  
Mặc dù nghiên cứu đã đưa vào mô hình  
hồi quy 8 biến độc lập làm cơ sở phân tích  
và đánh giá nhưng thực tế, ngoài những  
nhân tố trên, tiếp cận TDCT của hộ ngư  
dân đánh bắt xa bờ tại TP. Nha Trang còn  
có thể chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân  
tố khác chưa được khám phá như: điều  
kiện thời tiết, quyết định của ngư dân, thị  
trường thủy sản, chính sách quản lý,…  
Bên cạnh đó, do nguồn lực có hạn, nghiên  
cứu chỉ có thể giới hạn mẫu điều tra trong  
120 hộ, nếu có thể gia tăng số lượng mẫu  
điều tra thì mức ý nghĩa và độ tin cậy của  
mô hình có thể sẽ cao hơn, các nhân tố  
khác trong mô hình cũng có thể có ý nghĩa  
thống kê ■  
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 226- Tháng 3. 2021  
70  
pdf 13 trang yennguyen 18300 Free
Bạn đang xem tài liệu "Các nhân tố ảnh hưởng đến tiếp cận tín dụng chính thức của hộ ngư dân đánh bắt xa bờ tại thành phố Nha Trang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcac_nhan_to_anh_huong_den_tiep_can_tin_dung_chinh_thuc_cua_h.pdf