Các nhân tố ảnh hưởng đến tiếp cận tín dụng chính thức của hộ ngư dân đánh bắt xa bờ tại thành phố Nha Trang
Nguyễn Hoài Bảo
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam- Chi nhánh tỉnh Khánh Hòa
Ngày nhận: 03/01/2021
Ngày nhận bản sửa: 26/01/2021
Ngày duyệt đăng: 23/03/2021
Tóm tắt: Nghiên cứu nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận
tín dụng chính thức của hộ ngư dân đánh bắt thủy sản xa bờ tại thành phố Nha
Trang. Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy Logit để đánh giá tác động của biến
độc lập đến biến phụ thuộc. Kết quả phân tích từ 120 hộ điều tra cho thấy tỷ lệ hộ
ngư dân đánh bắt xa bờ tại địa bàn tiếp cận được vốn tín dụng chính thức còn thấp.
Những nhân tố được tìm ra là: trình độ học vấn, kinh nghiệm nghề nghiệp của chủ
hộ, số chuyến biển và thời gian chuyến biển. Kết quả nghiên cứu cũng cho rằng
chính sách giáo dục và chính sách tín dụng, đặc biệt là phòng ngừa rủi ro tín dụng
và thay đổi quan niệm của ngư dân trong vay vốn cần được quan tâm để nâng cao
khả năng tiếp cận tín dụng chính thức của hộ ngư dân đánh bắt xa bờ tại thành phố
Nha Trang.
Từ khóa: đánh bắt xa bờ, hộ ngư dân, Nha Trang, tín dụng chính thức.
Factors affecting the offshore fishing household’s access to formal credit in Nha Trang City
Abstract: This study aimed at finding factors affecting the offshore fishing household’s access to
formal credit in Nha Trang city. The study used Logit model to measure impacts of independent
variables on dependent variables. The analysis results from 120 households show that the proportion
of offshore fishing households in the area having access to formal credit is low. Dectected factors
include: educational level, professional experience of the head of household, number of trips and
voyage time. The research results also suggest that educational policies and credit policies, especially
in oder to prevent credit risks and change the perception of fishermen in borrowing, should be
considered to improve the offshore fishing household’s access to formal credit in Nha Trang city.
Keywords: fishermen household, formal credit, Nha Trang, offshore fishing.
Bao Hoai Nguyen
Email: nguyenhoaibao.[email protected]
State Bank of Vietnam branch Khanh Hoa province
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng
Số 226- Tháng 3. 2021
© Học viện Ngân hàng
14
ISSN 1859 - 011X
NGUYỄN HOÀI BẢO
1. Giới thiệu
tài trợ tín dụng chỉ chiếm 1,84% tổng số
tàu cá xa bờ ở Nha Trang (Chi cục Thủy
sản tỉnh Khánh Hòa, 2019), trong khi đó,
nợ xấu chiếm 44,8% tổng dư nợ cho vay
(Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi nhánh
tỉnh Khánh Hòa, 2019b). Tuy nhiên, hiện
nay vẫn chưa có nghiên cứu nào về tiếp
cận TDCT của hộ ngư dân đánh bắt xa bờ
tại Nha Trang. Nhận thức được những khó
khăn trên, nghiên cứu này được đặt ra nhằm
giải quyết yêu cầu thực tiễn, tìm ra các nhân
tố ảnh hưởng đến tiếp cận TDCT của hộ ngư
dân đánh bắt xa bờ tại TP. Nha Trang.
Việt Nam là quốc gia sở hữu hơn 3.260
km bờ biển, kéo dài từ Bắc đến Nam, với
khoảng 3.000 hòn đảo ven bờ, diện tích
hơn 1.600 km2, là nơi sinh sống của hàng
trăm nghìn ngư dân (Trần Đức Thạnh và
cộng sự, 2008). Với lợi thế thiên nhiên ban
tặng, nghề khai thác và đánh bắt thủy sản
là một trong những nghề có truyền thống
lâu đời nhất của người dân Việt Nam.
Tuy nhiên, nếu so với thế giới, nghề cá
Việt Nam vẫn có quy mô nhỏ, trang bị tàu
thuyền nhỏ (72% số lượng tàu thuyền có
công suất nhỏ hơn 45 CV), chủ yếu hoạt
động ở các vùng nước gần bờ (Hội Nghề
cá Việt Nam, 2007, tr. 223). Ở Thành phố
(TP) Nha Trang, khai thác ven bờ vẫn
chiếm đa số. Tính đến 31/12/2019, toàn
TP có 3.056 tàu cá, trong đó, tàu đánh
bắt ven bờ là 1.862 chiếc, chiếm tỷ trọng
60,93% tổng số tàu cá tại Nha Trang (Chi
cục Thủy sản Tỉnh Khánh Hòa, 2019).
Nhằm thúc đẩy phát triển đánh bắt xa bờ,
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị
định số 67/2014/NĐ-CP ngày 07/7/2014
về một số chính sách phát triển thủy sản
(Nghị định 67), trong đó, các chính sách
về đầu tư, tín dụng, bảo hiểm, ưu đãi thuế
và một số chính sách khác là công cụ để
Nhà nước khuyến khích ngư dân đóng tàu
công suất lớn, vỏ thép để chuyển từ khai
thác gần bờ sang khai thác xa bờ, góp
phần phát triển kinh tế biển và bảo vệ chủ
quyền biển đảo quê hương. Đặc biệt, nâng
cao khả năng tiếp cận tín dụng chính thức
(TDCT) của ngư dân là một trong những
nhiệm vụ quan trọng để triển khai và đưa
Nghị định 67 vào đời sống của ngư dân.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc tiếp cận
TDCT của các hộ ngư dân trên địa bàn
TP. Nha Trang hiện nay vẫn còn nhiều khó
khăn. Tính đến 31/12/2019, số tàu cá xa bờ
được các ngân hàng thương mại (NHTM)
2. Cơ sở lý thuyết và phương pháp
nghiên cứu
2.1. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên
cứu
2.1.1. Khái niệm đánh bắt xa bờ
Quyết định số 159/1998/QĐ-TTg ngày
03/9/1998 (Quyết định 159) định nghĩa:
“Đánh cá xa bờ tạm thời quy định là đánh
cá ở vùng biển được giới hạn từ đường
đẳng sâu 30 mét trở ra, đối với vùng biển
vịnh Bắc Bộ, Đông và Tây Nam Bộ, vịnh
Thái Lan và đường đẳng sâu 50 mét trở ra,
đối với vùng biển miền Trung. Tàu đánh
cá xa bờ là tàu có lắp máy chính công suất
từ 90 CV trở lên; có đăng ký hành nghề tại
địa phương nơi cư trú hoặc có giấy phép
hành nghề đánh cá xa bờ do cơ quan bảo
vệ nguồn lợi thủy sản cấp”. Hiện tại, quyết
định này vẫn còn hiệu lực.
Nghị định số 26/2019/NĐ-CP ngày
08/3/2019 (Nghị định 26) phân chia vùng
biển Việt Nam thành ba vùng: vùng ven
bờ, vùng lộng và vùng khơi theo thứ tự từ
gần bờ đến xa bờ.
“Khoản 1 Điều 43 Nghị định 26 quy định:
a) Tàu có chiều dài lớn nhất từ 15 mét trở
lên hoạt động tại vùng khơi, không được
hoạt động tại vùng ven bờ và vùng lộng;
Số 226- Tháng 3. 2021- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng
15
Các nhân tố ảnh hưởng đến tiếp cận tín dụng chính thức của hộ ngư dân đánh bắt xa bờ
tại Thành phố Nha Trang
b) Tàu có chiều dài lớn nhất từ 12 mét
đến dưới 15 mét hoạt động tại vùng lộng,
không được hoạt động tại vùng khơi và
vùng ven bờ;”
Nha Trang thuộc vùng biển miền Trung,
có đường đẳng sâu 50 mét từ bờ biển trở
ra thuộc vùng lộng và vùng khơi. Như
vậy, trong nghiên cứu này, đánh bắt xa bờ
là hoạt động đánh bắt của tàu cá hoạt động
ở vùng lộng và vùng khơi, có chiều dài từ
12 mét trở lên và công suất từ 90 CV trở
lên theo quy định của Quyết định 159 và
Nghị định 26.
(2010), trong nghiên cứu về các yếu tố
ảnh hưởng tới ý định sử dụng dịch vụ
TDCT trong cộng đồng ngư dân ven biển
tại tỉnh Khánh Hòa, sử dụng mô hình
TPB của Fishbein và Ajzen (1975)- một
mô hình được sử dụng rất nhiều trong các
nghiên cứu về hành vi, trong đó có hành
vi về việc sử dụng các dịch vụ- để giải
thích ý định của hộ ngư dân trong việc sử
dụng dịch vụ tín dụng ngân hàng. Kết quả
nghiên cứu đã tìm ra 3 yếu tố tác động là:
điều kiện vay; thái độ; và sự thuận tiện
trong việc tiếp cận dịch vụ tín dụng.
Trần Ái Kết và Huỳnh Trung Thời (2013),
trong nghiên cứu về tiếp cận TDCT của
nông hộ tại tỉnh An Giang, sử dụng mô
hình hồi quy Logit để phân tích kết quả từ
150 quan sát, đã chỉ ra các yếu tố trình độ
học vấn, giá trị tài sản của hộ, diện tích đất
thổ cư có tương quan nghịch với giới hạn
TDCT của hộ; các yếu tố nghề nghiệp của
chủ hộ, sử dụng tín dụng phi chính thức
có tương quan thuận với giới hạn TDCT
của hộ. Vương Quốc Duy và Đặng Hoàng
Trung (2015) cũng chỉ ra rằng các thuộc
tính của chủ hộ như giới tính, trình độ học
vấn, độ tuổi và các thuộc tính của nông
hộ như vị trí xã hội, thu nhập ảnh hưởng
đến khả năng tiếp cận TDCT của hộ chăn
nuôi heo tại quận Ô Môn, Cần Thơ. Kinh
nghiệm nghề nghiệp là một nhân tố mà
Phạm Bảo Quốc và Nguyễn Thị Búp
(2016) đã tìm ra trong nghiên cứu về các
nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận
TDCT của hộ nuôi tôm thẻ chân trắng tại
huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh, ngoài ra,
một số nhân tố khác về tín dụng được tìm
ra là lãi suất, thủ tục cho vay, có phương
án sản xuất phù hợp, có tài sản thế chấp.
Các nhân tố tài sản thế chấp, thủ tục vay
vốn, trình độ dân trí, mục đích vay vốn và
lãi suất cho vay cũng là các nhân tố ảnh
hưởng đến khả năng tiếp cận vốn vay của
hộ sản xuất cà phê ở Đăk Lăk trong nghiên
2.1.2. Tổng quan nghiên cứu và mô hình
nghiên cứu
Vì mối quan hệ tương quan giữa hiệu quả
kinh tế và khả năng tiếp cận TDCT, giữa
hộ ngư dân và nông hộ nên những nghiên
cứu về hiệu quả kinh tế của nghề cá xa bờ
và những nghiên cứu về tiếp cận TDCT
của nông hộ sẽ được tham khảo để lựa
chọn các nhân tố cho mô hình nghiên cứu.
Nghiên cứu về hiệu quả kinh tế, Al Jabri
và cộng sự (2013) chứng minh rằng việc
tăng công suất động cơ, đi biển thường
xuyên và tăng số chuyến đi biển hàng tuần
có tác động tích cực, trong khi số lượng
thuyền viên có tác động tiêu cực đến thu
nhập của ngư dân quy mô nhỏ trên bờ biển
Batinah của Oman. Công suất tàu cũng là
nhân tố được Hoàng Hồng Hiệp và Châu
Ngọc Hòe (2018) chứng minh rằng có tác
động cùng chiều với thu nhập của hộ ngư
dân khai thác thủy sản vùng bãi ngang
ven biển tỉnh Quảng Nam. Ngoài ra, một
số nhân tố khác thuộc nhóm địa bàn cư
trú, đặc trưng ngư nghiệp (loại nghề khai
thác, vùng khai thác), nhân khẩu học và
đặc trưng kinh tế - xã hội (tuổi, lòng yêu
nghề,…), khuyến ngư cũng được tác giả
chứng minh là có tác động đến thu nhập
của hộ.
Phạm Hồng Mạnh và Hạ Thị Thiều Dao
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 226- Tháng 3. 2021
16
NGUYỄN HOÀI BẢO
cứu của Nguyễn Thị Hải Yến (2016).
Với biến phụ thuộc có dạng nhị phân,
nghiên cứu kế thừa mô hình Logit trong
nghiên cứu của Trần Ái Kết và Huỳnh
Trung Thời (2013) để tìm ra các nhân tố
tác động đến khả năng tiếp cận TDCT của
hộ ngư dân đánh bắt thủy sản xa bờ tại
TP. Nha Trang. Biến phụ thuộc (Y) là khả
năng tiếp cận TDCT, nhận giá trị 0 nếu hộ
không vay vốn và 1 nếu hộ có vay vốn.
Mô hình được đưa ra như sau:
vay được vốn chính thức; P (Y = 1) là xác
suất hộ vay được vốn chính thức..
2.2. Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu
Tính đến 31/12/2019, TP. Nha Trang có
3.056 tàu cá đang hoạt động, trong đó, số
tàu cá xa bờ là 1.194 tàu (Chi cục Thủy
sản tỉnh Khánh Hòa năm 2019). Theo
Trần Thanh Kiệt (2011), công thức xác
định cỡ mẫu nếu biết quy mô tổng thể đối
với phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên
như sau:
Ln [P(Y = 1) / P(Y = 0)] = β0 + β1HocVan
+ β2KinhNghiem + β3CongSuat +
β4ChuyenBien + β5TGDiBien + β6Nghe +
β7 LaoDong + β8MucDich + ε
Trong đó, P (Y = 0) là xác suất hộ không
Trong đó, n là cỡ mẫu, N là tổng thể, ∆ là
Bảng 1. Tổng hợp một số nghiên cứu liên quan
Đối tượng nghiên
Địa bàn
nghiên cứu
Nhân tố tác động
Tác giả
cứu
Công suất động cơ, chiều dài tàu, đi
biển thường xuyên và số chuyến đi
biển hàng tuần
Thu nhập của hộ
ngư dân quy mô nhỏ Oman
Batinah,
Al Jabri và cộng
sự (2013)
Địa bàn cư trú, công suất tàu, vùng
khai thác, nghề lưới vây, thị trường
thủy sản, số nhân khẩu của hộ, số lao thủy sản
động ngư nghiệp, số người phụ thuộc,
tuổi của chủ hộ, lòng yêu nghề
Thu nhập của hộ
ngư dân khai thác
Vùng bãi
ngang ven
biển tỉnh
Hoàng Hồng Hiệp
và Châu Ngọc
Hòe (2018)
Quảng Nam
Điều kiện vay, thái độ, sự thuận tiện
trong việc tiếp cận tín dụng
Ý định sử dụng dịch Khánh Hòa
vụ TDCT của ngư
dân
Phạm Hồng
Mạnh và Hạ Thị
Thiều Dao (2010)
Trình độ học vấn, giá trị tài sản của
Tiếp cận TDCT của An Giang
Trần Ái Kết và
Huỳnh Trung
Thời (2013)
hộ, diện tích đất thổ cư, nghề nghiệp nông hộ
của chủ hộ, sử dụng tín dụng phi
chính thức
Giới tính, trình độ học vấn, độ tuổi của Tiếp cận TDCT của Quận Ô Môn, Vương Quốc Duy
chủ hộ; vị trí xã hội, thu nhập của hộ
hộ chăn nuôi heo
Cần Thơ
và Đặng Hoàng
Trung (2015)
Trình độ học vấn, số năm sinh sống
tại địa phương, thu nhập bình quân,
Tiếp cận TDCT của Huyện Duyên Phạm Bảo Quốc
hộ nuôi tôm thẻ chân Hải, Trà Vinh và Nguyễn Thị
kinh nghiệm nghề nghiệp, lãi suất, thủ trắng
tục cho vay, có phương án sản xuất
phù hợp, có tài sản thế chấp
Búp (2016)
Tài sản thế chấp, thủ tục vay vốn,
trình độ dân trí, mục đích vay vốn, lãi đối với hộ sản xuất
Tín dụng ngân hàng Đăk Lak
Nguyễn Thị Hải
Yến (2016)
suất cho vay
cà phê
Nguồn: Tác giả tổng hợp
Số 226- Tháng 3. 2021- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng
17
Các nhân tố ảnh hưởng đến tiếp cận tín dụng chính thức của hộ ngư dân đánh bắt xa bờ
tại Thành phố Nha Trang
giới hạn sai số chọn mẫu.
bằng phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên,
đơn giản. Bảng câu hỏi được xây dựng
nhằm thu thập những thông tin cần thiết để
sử dụng cho mô hình nghiên cứu. Trong
bảng câu hỏi, tác giả còn đưa ra 10 nhận
định về nguyên nhân không vay vốn của
hộ thông qua thang đo Likert 5 mức độ,
Như vậy, với sai số cho phép từ 5% đến
10% thì cỡ mẫu cần thu thập là từ 92- 300.
Nghiên cứu đã tiến hành khảo sát qua
phỏng vấn trực tiếp các hộ ngư dân đánh
bắt xa bờ tại TP. Nha Trang thông qua
bảng câu hỏi điều tra vào tháng 3, 4/2020
Bảng 2. Tổng hợp các biến sử dụng trong mô hình
Kỳ vọng Nguồn tham khảo
Tên biến
Ký hiệu
Diễn giải
Đo lường
dấu
đề xuất biến
Biến phụ thuộc
Hộ có được
vay vốn tín
dụng không?
Trần Ái Kết và
Huỳnh Trung Thời
(2013)
Khả năng tiếp
cận TDCT
Y
1: có; 0: không
Biến độc lập
Trần Ái Kết và
Huỳnh Trung Thời
(2013), Vương
Quốc Duy và Đặng
Hoàng Trung
(2015), Phạm Bảo
Quốc và Nguyễn
Thị Búp (2016),
Nguyễn Thị Hải
Yến (2016)
Trình độ học
vấn của chủ
hộ (chủ hộ học của chủ hộ (năm)
đến lớp mấy?)
Trình độ học
vấn
Số năm đi học
HocVan
+
Kinh nghiệm
trong nghề
đánh bắt thủy
sản của chủ hộ
Phạm Bảo Quốc
và Phan Thị Búp
(2016)
Kinh nghiệm
nghề nghiệp
KinhNghiem
Năm
+
+
Al Jabri và cộng
sự (2013), Hoàng
Hồng Hiệp và Châu
Ngọc Hòe (2018)
Al Jabri và cộng sự
(2013)
1: Từ 400 CV trở
lên
0: Dưới 400 CV
Công suất máy
tàu
Công suất tàu CongSuat
Số chuyến
ChuyenBien
biển
Số chuyến đi
Chuyến
+
+
biển trong năm
Thời gian đi
biển trong 1
chuyến
Thời gian
Al Jabri và cộng sự
(2013)
TGDiBien
chuyến biển
Ngày
Hoàng Hồng Hiệp
và Châu Ngọc Hòe
(2018)
Al Jabri và cộng sự
(2013)
Nghề đánh bắt 1: lưới vây, rê, 0:
Loại nghề
Nghe
+
-
của hộ
nghề khác
Số lượng
thuyền viên
Số lao động LaoDong
Người
1: đóng mới tàu
khai thác, dịch vụ
hậu cần khai thác
hải sản; 0: khác
Mục đích vay
MucDich
vốn
Mục đích vay
vốn của hộ
Nguyễn Thị Hải
Yến (2016)
+
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ tổng quan các nghiên cứu
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 226- Tháng 3. 2021
18
NGUYỄN HOÀI BẢO
với quy ước mức 1 = rất không đồng ý và
tăng dần đến mức 5 = rất đồng ý, để đánh
giá nguyên nhân dẫn đến việc hộ không
vay vốn tại các TCTD. Số phiếu phát ra là
120, thu về là 120 phiếu, đều đạt đủ điều
kiện để sử dụng cho mô hình nghiên cứu.
Nghiên cứu kết hợp sử dụng phương pháp
chuyên gia: Trong tháng 5/2020, tác giả
thực hiện phỏng vấn giám đốc các NHTM
cho vay ngư dân tại TP. Nha Trang để tìm
hiểu nguyên nhân gây ra nợ xấu và khó
khăn của các NHTM trong việc xử lý nợ
để làm căn cứ gợi ý và đề xuất chính sách.
Dữ liệu thu thập được xử lý thống kê mô
tả bằng phần mềm Microsoft Excel 2019,
phân tích và kiểm định mô hình Logit
bằng phần mềm SPSS 20.
Khánh Hòa và Vietcombank Nha Trang.
Trong tháng 5/2020, qua phỏng vấn trực
tiếp giám đốc các NHTM cho vay ngư dân
tại TP. Nha Trang về nguyên nhân gây ra
nợ xấu và khó khăn của NHTM trong việc
xử lý nợ, một số nguyên nhân chính gây ra
nợ xấu như sau:
Hầu hết khách hàng cho rằng hoạt động
khai thác không có hiệu quả do chi phí
đi biển cao, sản lượng giảm, giá thủy sản
giảm dẫn đến doanh thu không đủ bù chi
phí, một số tàu thường xuyên nằm bờ nên
không trả được nợ ngân hàng.
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Kết quả nghiên cứu
3.1.1. Thực trạng cho vay đánh bắt xa bờ
tại Nha Trang
Hình 1. Dư nợ cho vay tàu cá xa bờ tại
Nha Trang giai đoạn 2015- 2019
Trong những năm đầu triển khai Nghị
định 67, dư nợ cho vay tàu cá xa bờ đã
tăng lên đáng kể: từ 05 khoản vay với dư
nợ 17,8 tỷ đồng năm 2015 đã tăng lên 23
khoản vay và 173,1 tỷ đồng dư nợ năm
2017 (Hình 1). Tuy nhiên, giai đoạn 2017-
2019 bắt đầu chững lại do ảnh hưởng của
bão số 12 năm 2017, gây thiệt hại rất lớn
cho ngư dân và các khoản vay theo Nghị
định 67 để lại nợ xấu rất nhiều cho NHTM
nên việc giải ngân cho vay mới bị hoãn lại
do phải xử lý nợ xấu của khoản vay cũ.
Tính đến 31/12/2019, số tàu cá được cho
vay theo Nghị định 67 tại Nha Trang là
22 tàu trên tổng số 1.194 tàu, chiếm tỷ lệ
1,84%. Tổng dư nợ cho vay là 200.335
triệu đồng, trong đó nợ xấu là 80.122 triệu
đồng, chiếm 44,8% tổng dư nợ (Bảng 3).
Thị phần cho vay tàu cá xa bờ thuộc về
03 NHTM: Agribank Khánh Hòa, BIDV
Đơn vị tính: tỷ đồng
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi nhánh
tỉnh Khánh Hòa
Một số ngư dân cho rằng đây là nguồn vốn
hỗ trợ của Nhà nước nên có thái độ chây ỳ,
thiếu trách nhiệm trả nợ ngân hàng.
Các NHTM đã tạo điều kiện cơ cấu nợ cho
khách hàng nhưng hầu hết khách hàng vẫn
không có nguồn thu để thanh toán nợ sau khi
cơ cấu. Việc cơ cấu liên tục sẽ gây khó khăn
cho ngân hàng trong việc thu nợ khi giá trị
TSĐB là con tàu ngày càng giảm dần, dư nợ
lớn hơn nhiều so với giá trị TSĐB.
3.1.2. Thống kê mô tả mẫu điều tra
Phân tích một số chỉ tiêu nhân khẩu học
cho thấy độ tuổi của chủ hộ nằm trong
khoảng từ 30- 66 tuổi, tuổi trung bình là
Số 226- Tháng 3. 2021- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng
19
Các nhân tố ảnh hưởng đến tiếp cận tín dụng chính thức của hộ ngư dân đánh bắt xa bờ
tại Thành phố Nha Trang
Bảng 3. Cho vay tàu cá xa bờ trên địa bàn thành phố Nha Trang tính đến 31/12/2019
Đơn vị tính: triệu đồng
Số tàu Tổng số tiền Doanh
đã ký cam kết số
HĐTD cho vay theo cho vay
(chiếc) HĐTD lũy kế
Dư nợ
Số tiền
thu nợ
lũy kế
Chỉ tiêu
Tổng số Nợ được Nợ xấu
cơ cấu
Cho vay đóng
mới tàu khai thác
hải sản xa bờ
Cho vay nâng
cấp tàu
19
198.814 197.367
20.344 177.023
61.176 80.122
3
3.388
202.202 200.335
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi nhánh tỉnh Khánh Hòa
2.968
1.141
1.827
-
-
Tổng
22
21.485 178.850
61.176 80.122
Bảng 4. Một số chỉ tiêu nhân khẩu học từ mẫu điều tra
Đơn vị Giá trị Giá trị
tính trung bình nhỏ nhất lớn nhất
Tuổi
Giá trị
Chỉ tiêu
Tuổi của chủ hộ
48,5
82,5
30
66
Tỷ lệ chủ hộ là nam
%
-
-
Số năm kinh nghiệm trong nghề khai thác thủy sản
của chủ hộ
Năm
20
4
36
Trình độ học vấn của chủ hộ
Số thành viên trong hộ
Năm
5,5
5
0
2
12
9
Người
Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ kết quả khảo sát
48,5 tuổi (Bảng 4). Đây là độ tuổi cho thấy
sự dày dặn trong kinh nghiệm nghề nghiệp
cũng như kinh nghiệm sống. 20 năm là số
năm kinh nghiệm trung bình trong nghề
khai thác của chủ hộ. Hầu hết các chủ hộ
đều là nam, chiếm tỷ lệ 82,5%. Thực tế
nghề đánh bắt cá xa bờ chủ hộ thường là
nam do tính chất công việc nặng nhọc.
Trình độ học vấn của chủ hộ chưa cao, số
năm đi học trung bình của chủ hộ chỉ là
5,5 năm. Đa số các hộ đều có nhiều thành
viên, trung bình là 5 người/hộ.
Từ kết quả khảo sát, Bảng 5 cho thấy hầu
hết các hộ điều tra đều khai thác ở vùng
khơi (100 hộ với tỷ lệ 83%), sử dụng tàu
có công suất từ 400 CV trở lên (105 hộ
với tỷ lệ 88%) và đánh bắt bằng các nghề
khác như câu, lưới kéo, chụp… (75 hộ với
tỷ lệ 62,5%).
số hộ không vay là 93 hộ (chiếm 77,5%).
Theo chính sách tín dụng quy định tại
Nghị định 67, khách hàng vay vốn đóng
mới tàu khai thác thủy sản với công suất
càng lớn sẽ được Ngân sách Nhà nước cấp
bù để trả lãi vay càng nhiều. Tàu có công
suất lớn cũng đồng nghĩa với việc chiều
dài lớn hơn. Với quy mô tàu cá lớn, công
suất cao, sản lượng đánh bắt và thu nhập
cũng tăng lên, thời gian đi biển cũng kéo
dài hơn. Do đó, nếu xét các chỉ tiêu về
chiều dài tàu, sản lượng đánh bắt và thu
nhập đánh bắt trung bình một chuyến biển,
số ngày đi biển trung bình trong năm thì
những hộ có vay vốn đều có giá trị trung
bình lớn hơn những hộ không vay vốn
(Bảng 6).
3.1.3. Kết quả phân tích mô hình hồi quy
Logit
Số hộ vay vốn là 27 hộ (chiếm 22,5%),
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 226- Tháng 3. 2021
20
NGUYỄN HOÀI BẢO
Bảng 5. Một số chỉ tiêu về vùng khai thác, công suất tàu và nghề khai thác
Công suất
máy tàu
Dưới 400
CV
Từ 400 CV
trở lên
Nghề khai
thác
Lưới rê hoặc
lưới vây
Vùng khai thác Số hộ Tỷ lệ
Số hộ Tỷ lệ
Số hộ Tỷ lệ
Vùng lộng
20
17%
83%
15
12,5%
45
37,5%
Vùng khơi
Tổng
100
120
105
120
87,5% Nghề khác
75
62,5%
100%
100% Tổng
100% Tổng
120
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả khảo sát
Bảng 6. Tiếp cận tín dụng phân theo một số chỉ tiêu về đánh bắt thủy sản
Sản lượng Thu nhập từ đánh bắt
trung bình trung bình 1 chuyến
Tiếp cận
tín dụng
Chiều dài tàu
trung bình (mét)
Số ngày đi biển
Số hộ
trung bình
(kg)
biển (triệu đồng)
Có vay
27
93
22,16
16,58
2.085,19
244,44
232,26
197,71
Không vay
Tổng
1.662,37
117,63
120
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả khảo sát
Kiểm định Omnibus được sử dụng để
kiểm định độ phù hợp của mô hình hồi
quy Logit. Với giá trị p-value = 0,000 rất
nhỏ (Bảng 7), có thể khẳng định mô hình
phù hợp với tập dữ liệu và có ý nghĩa
thống kê ở mức ý nghĩa 1%.
Theo Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng
Ngọc (2008), giá trị -2 Log likelihood càng
nhỏ càng thể hiện độ phù hợp của mô hình
càng cao. Giá trị -2 Log likelihood= 19,668
(Bảng 8), như vậy mô hình tổng thể có độ
phù hợp khá tốt. Giá trị R2 = 0,598 cho thấy
sự biến thiên của biến độc lập giải thích
được 59,8% sự biến thiên của biến phụ
thuộc.
hộ về nguyên nhân không vay tại TCTD,
hầu hết các hộ đều đồng ý với ý kiến:
Ngại bị nợ nần, Lãi suất cao và Mượn
tiền người thân, bạn bè hoặc vay nóng
nhanh hơn. Một số nguyên nhân khác như:
Sợ không trả được nợ; Thủ tục rườm rà;
Không quen biết ai trong cơ quan, tổ chức;
Không biết làm sao để được vay; Không
có tài sản thế chấp; Không có nhu cầu vay
cũng có kết quả đồng ý khá cao. Duy nhất
chỉ có nguyên nhân Thái độ nhân viên tín
dụng không tốt nghiêng về hướng không
đồng ý, thể hiện việc hầu hết các hộ ngư
dân khá hài lòng với thái độ phục vụ của
nhân viên tín dụng tại các NHTM.
Dựa vào giá trị p-value trong kiểm định
Wald ở Bảng 9, 4 biến độc lập có ý nghĩa
thống kê là “Trình độ học vấn” (mức ý
nghĩa 1%), “Số chuyến biển” (mức ý nghĩa
5%), “Kinh nghiệm nghề nghiệp” và “Thời
gian chuyến biển”) (mức ý nghĩa 10%).
Với hệ số β dương, tất cả các biến độc lập
trên đều tác động cùng chiều với biến phụ
thuộc.
3.2. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Bốn nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp
cận TDCT của hộ:
- Trình độ học vấn của chủ hộ có tác động
cùng chiều với khả năng tiếp cận TDCT
của hộ, đúng với kỳ vọng ban đầu. Như
đã phân tích, số năm đi học trung bình của
chủ hộ là 5,5 năm, trong đó có những chủ
Bảng 10 thể hiện kết quả phỏng vấn các
Số 226- Tháng 3. 2021- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng
21
Các nhân tố ảnh hưởng đến tiếp cận tín dụng chính thức của hộ ngư dân đánh bắt xa bờ
tại Thành phố Nha Trang
Bảng 7. Kiểm định Omnibus
Omnibus Tests of Model Coefficients
Chi-square df Sig.
Bảng 8. Giá trị -2LL và R2 của mô hình
Model Summary
-2 Log
likelihood
Cox & Snell Nagelkerke
Step
1
R Square
R Square
Step
106,739 8 0,000
106,739 8 0,000
106,739 8 0,000
19,668
0,598
0,906
Step 1
Block
Model
Nguồn: Kết quả khảo sát của tác giả
Nguồn: Kết quả khảo sát của tác giả
Bảng 9. Kiểm định Wald và các hệ số hồi quy
95% C.I. đối với EXP(B)
Sai số
chuẩn
B
Wald p-value
Exp(B)
Ngưỡng
Ngưỡng giá trị trên
trị dưới
HocVan
3,683
3,616
-1,972
7,089
1,390 7,022 0,008***
2,033 3,162 0,075*
3,156 0,391 0,532
3,374 4,413 0,036**
7,565 3,616 0,057*
1,383 0,276 0,600
3,228 1,782 0,182
39,769
2,609
606,268
2000,635
67,607
KinhNghiem
CongSuat
ChuyenBien
37,182
,139
0,691
0,000
1,608
1198,193
1767059,713
893035,996
ThoiGianDiBien 14,385
0,643 4858298962085,971
Nghe
-0,726
4,309
0,484 0,0302
7,275
41616,518
0,000
LaoDong
MucDich
Constant
74,387
26103587,215
0,000
0,133
0,000
17,078 6491,056 0,000 0,998
-80,379 34,289 5,495 0,019
Ghi chú: *** Mức ý nghĩa 1%; ** Mức ý nghĩa 5%; * Mức ý nghĩa 10%
Nguồn: tác giả tự tính toán bằng phần mềm SPSS 20
Bảng 10. Chấm điểm các nguyên nhân không vay của hộ theo thang đo Likert
Giá trị nhỏ
nhất
Giá trị lớn
Nguyên nhân không vay
Điểm trung bình
nhất
Ngại bị nợ nần
4,30
3,81
3,71
3,90
3,91
3,51
4,00
2,05
4
2
2
3
3
2
3
1
5
Sợ không trả được nợ
5
5
5
5
5
5
3
Thủ tục rườm rà
Không quen biết ai trong cơ quan, tổ chức
Không biết làm sao để được vay
Không có tài sản thế chấp
Lãi suất cao
Thái độ nhân viên tín dụng không tốt
Mượn tiền người thân, bạn bè hoặc vay nóng
nhanh hơn
4,81
3,81
4
1
5
5
Không có nhu cầu vay
Nguồn: Tác giả tính toán từ kết quả khảo sát
hộ không đi học năm nào. Điều này cho
thấy trình độ học vấn của ngư dân tại TP.
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 226- Tháng 3. 2021
22
NGUYỄN HOÀI BẢO
Nha Trang còn khá thấp và theo dữ liệu
điều tra, hầu hết các hộ có trình độ học
vấn của chủ hộ dưới 5 năm đều không vay
được vốn từ NHTM. Khi trình độ học vấn
được cải thiện, khả năng tiếp thu kỹ thuật,
công nghệ mới trong khai thác của chủ
hộ cũng tốt hơn, năng lực trong khai thác
cũng như hiệu quả trong sản xuất cũng
tăng lên, làm tăng khả năng trả nợ vay của
hộ. Bên cạnh đó, trình độ học vấn còn là
một trong những thang đo quan trọng để
thẩm định khách hàng của NHTM. Khách
hàng có trình độ học vấn cao thì mức tín
nhiệm cũng cao hơn, qua đó, khả năng tiếp
cận TDCT cũng tốt hơn những hộ khác.
- Kinh nghiệm nghề nghiệp của chủ hộ có
tác động cùng chiều với khả năng tiếp cận
TDCT của hộ, trùng với kỳ vọng ban đầu.
Thực tế cho thấy chủ hộ có kinh nghiệm
càng lâu năm thì kỹ năng khai thác và
phương án kinh doanh cũng tốt hơn những
người khác, làm cho hiệu quả kinh tế tăng
lên, do đó việc trả nợ vay sẽ dễ dàng hơn.
Điều này làm gia tăng mức tín nhiệm
trong khâu thẩm định khách hàng của
NHTM nên NHTM ưu tiên cho vay hơn,
đồng nghĩa với việc khả năng tiếp cận
TDCT của hộ được tăng lên.
- Số chuyến biển trong năm tác động cùng
chiều với khả năng tiếp cận TDCT của hộ,
trùng với kỳ vọng ban đầu. Hộ ngư dân đi
biển nhiều hơn trong năm sẽ có sản lượng
đánh bắt trong năm cao hơn, làm cho thu
nhập của ngư dân tăng lên, kết hợp với
việc tiết kiệm chi phí, hộ ngư dân có thể
gia tăng lợi nhuận khai thác, qua đó làm
tăng tín nhiệm với NHTM. Mặt khác,
khi thẩm định khách hàng vay vốn, các
NHTM cũng ưa thích những hộ thường
xuyên đi biển hơn vì thu nhập thường cao
hơn, khả năng trả nợ cũng tốt hơn nên khả
năng tiếp cận TDCT của hộ cũng tăng lên.
- Thời gian chuyến biển tác động cùng
chiều với khả năng tiếp cận TDCT của hộ,
trùng với kỳ vọng ban đầu. Việc đi biển
dài ngày hơn sẽ giúp cho hộ có thể tiếp
cận những ngư trường lớn ở vùng khơi xa,
đánh bắt được những loại hải sản có kinh
tế cao hơn, sản lượng đánh bắt cũng có thể
tăng lên, qua đó, lợi nhuận đem lại cũng
tăng. Mặt khác, những hộ có khả năng đi
biển dài ngày thường là những hộ có kinh
nghiệm lâu năm trong nghề, sở hữu tàu
thuyền công suất lớn, công nghệ hiện đại
nên thường được các NHTM ưu tiên cho
vay hơn. Điều này dẫn đến khả năng tiếp
cận TDCT cũng tốt hơn.
- Kết quả phỏng vấn các hộ về nguyên
nhân không vay thể hiện tâm lý ngư dân
hiện nay vẫn còn e ngại việc nợ nần, cảm
thấy vay ngân hàng như một gánh nặng
khó có thể trả được vì lãi suất cao và lúc
cần tiền thì mượn người thân, bạn bè hoặc
vay vốn của các cá nhân, tổ chức phi chính
thức nhanh hơn so với việc làm thủ tục
vay vốn ở ngân hàng. Như vậy, nhận thức
và thói quen của ngư dân ảnh hưởng khá
lớn đến khả năng tiếp cận TDCT. Điều
này tương đồng với kết quả nghiên cứu
của Phạm Hồng Mạnh và Hạ Thị Thiều
Dao (2010): “… thái độ của ngư dân đối
với những khoản tín dụng là khá quan
trọng. Điều này sẽ có tác động tích cực
trong việc hình thành ý định vay vốn một
khi ngư dân tin tưởng và yên tâm đối với
nguồn TDCT được cung cấp từ phía ngân
hàng. Ngoài ra, sự thuận tiện trong các thủ
tục sẽ là yếu tố thúc đẩy tích cực đối với ý
định vay”.
4. Kết luận và gợi ý chính sách
4.1. Kết luận
Nghiên cứu đã đạt được mục tiêu đặt ra,
tìm ra 4 nhân tố chính ảnh hưởng đến khả
năng tiếp cận TDCT của hộ ngư dân đánh
bắt xa bờ tại TP. Nha Trang là học vấn,
Số 226- Tháng 3. 2021- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng
23
Các nhân tố ảnh hưởng đến tiếp cận tín dụng chính thức của hộ ngư dân đánh bắt xa bờ
tại Thành phố Nha Trang
kinh nghiệm nghề nghiệp của chủ hộ, số
chuyến biển trong năm và thời gian đi biển
trong một chuyến. Tất cả các nhân tố này
đều tác động cùng chiều với khả năng tiếp
cận TDCT của hộ.
Nguyên nhân không vay vốn được các hộ
đồng tình nhất là ngại bị nợ nần, lãi suất
cao và mượn tiền người thân, bạn bè hoặc
vay vốn của các tổ chức phi chính thức
nhanh hơn. Ngoài ra, sợ không trả được
nợ; thủ tục vay vốn rườm rà; không quen
biết ai trong cơ quan, tổ chức; không biết
làm sao để được vay; không có tài sản thế
chấp và không có nhu cầu vay vốn cũng là
những nguyên nhân được đề cập đến. Nợ
xấu cũng là một thực trạng cần phải giải
quyết khi cho vay đối tượng này.
tiếp cận TDCT của hộ ngư dân đánh bắt
xa bờ tại TP. Nha Trang. Một số giải pháp
đưa ra là:
Thứ nhất, cần tăng cường tuyên truyền
cho ngư dân về tầm quan trọng của giáo
dục.
Thứ hai, cần có cơ chế, chính sách miễn,
giảm học phí, hỗ trợ ngư dân trong việc đi
học.
Thứ ba, vận động người dân, doanh
nghiệp và chi ngân sách để đầu tư, xây
dựng các trường học, trung tâm đào tạo
gần khu vực ngư dân sinh sống.
Thứ tư, kết quả nghiên cứu cho thấy thời
gian chuyến biển và số chuyến biển có
tác động cùng chiều với khả năng tiếp cận
TDCT của hộ, vì vậy, chính quyền địa
phương nên mở các khóa đào tạo ngư dân
về cách sử dụng tàu cá công suất lớn, gia
tăng năng suất, kéo dài thời gian đi biển,
số chuyến biển và kỹ năng hạn chế rủi ro
trên biển.
Thứ năm, như đã phân tích, một số ngư
dân cho rằng tiền vay ngân hàng là nguồn
vốn hỗ trợ của Nhà nước nên có thái độ
chây ỳ, thiếu trách nhiệm trả nợ ngân
hàng, do đó, cần tăng cường tuyên truyền,
lồng ghép các chính sách pháp luật trong
các chương trình đào tạo để ngư dân hiểu
đúng chính sách của nhà nước trong khai
thác thủy sản, đồng thời, từ bỏ quan niệm
nhà nước tài trợ 100% tiền trả nợ vay ngân
hàng.
Thứ sáu, kết quả phỏng vấn các hộ về
nguyên nhân không vay thể hiện tâm lý ngư
dân hiện nay vẫn còn e ngại việc nợ nần.
Do đó, cần phải có chính sách giúp ngư
dân thay đổi quan điểm về TDCT, bớt e
ngại khi vay nợ ngân hàng, đồng thời, đơn
giản thủ tục vay, tăng cường tính kết nối
giữa người dân, chính quyền địa phương và
TCTD.
4.2. Gợi ý chính sách
Số hộ có vay vốn trong mẫu điều tra
chiếm tỷ lệ khá thấp: 22,5% đối với mẫu
điều tra, 1,84% đối với tổng thể tại thời
điểm 31/12/2019 (theo Thống kê số liệu
tàu cá đang quản lý của Chi cục Thủy sản
tỉnh Khánh Hòa năm 2019), trong đó, nợ
xấu chiếm 44,8% tổng dư nợ, cho thấy khả
năng tiếp cận TDCT của hộ ngư dân đánh
bắt xa bờ tại TP. Nha Trang còn thấp và
hiệu quả cho vay không cao. Nợ xấu ảnh
hưởng xấu đến việc cho vay mới của các
NHTM, do vậy cần có giải pháp để hạn
chế rủi ro trong việc cho vay ngư dân. Từ
kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất một số
chính sách nhằm nâng cao khả năng tiếp
cận TDCT của hộ ngư dân đánh bắt xa bờ
tại TP. Nha Trang như sau:
4.2.1. Chính sách giáo dục
Trình độ học vấn của chủ hộ, số chuyến
biển và thời gian chuyến biển có tác động
cùng chiều với khả năng tiếp cận TDCT
của hộ, do đó, chính sách giáo dục cần
được ưu tiên trong việc nâng cao khả năng
4.2.2. Chính sách tín dụng
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 226- Tháng 3. 2021
24
NGUYỄN HOÀI BẢO
Như đã phân tích, nợ xấu ảnh hưởng
không nhỏ đến việc tiếp cận TDCT của hộ
ngư dân. Vì vậy, chính sách tín dụng cần
đi theo hướng nâng cao tiếp cận TDCT
của ngư dân phải đi đôi với hạn chế rủi ro
tín dụng và xử lý nợ xấu tồn đọng.
dân để tuyên truyền sản phẩm cho vay tàu
cá, chính sách của Nhà nước và tác hại của
tín dụng đen đối với đời sống hiện nay.
Thứ hai, các NHTM cần tăng tần suất
kiểm tra sử dụng vốn vay và các biện pháp
đôn đốc, thu hồi nợ vay.
Thứ nhất, các NHTM nên tăng cường giải
pháp quảng cáo, tư vấn cho vay để thông
tin vay vốn có thể đến được với bà con
ngư dân; đơn giản thủ tục vay vốn theo
quy định pháp luật; phối hợp với chính
quyền địa phương tổ chức gặp mặt ngư
Thứ ba, HĐTD nên có thêm điều khoản
nhấn mạnh Nhà nước chỉ hỗ trợ một phần
lãi vay, khách hàng phải tự trả bằng nguồn
thu nhập hợp pháp của mình, đồng thời,
nêu rõ trách nhiệm của khách hàng trong
trả nợ ngân hàng, quy định cụ thể các
xem tiếp trang 70
Tài liệu tham khảo
1. Ajzen I. & Fishbein M. (1975), Belief, Attitude, Intention, and Behaviour, Addison-Wesley Publishing Company, Inc.
2. Al Jabri O.M.A.R., Collins R., Sun X., Omezzine A. & Belwal R. (2013), “Determinants of small-scale fishermen’s
income on Oman’s Batinah Coast”, Marine Fisheries Review, 75(3), 21-32.
3. Chi cục Thủy sản Khánh Hòa (2019), Số liệu tàu cá, sản lượng đánh bắt thủy sản, lực lượng lao động nghề cá giai
đoạn 2017 – 2019, Khánh Hòa.
4. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2014), Nghị định số 67/2014/NĐ-CP ngày 07/7/2014 về một số
chính sách phát triển thủy sản.
5. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2019), Nghị định số 26/2019/NĐ-CP ngày 08/3/2019 quy định
chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thủy sản.
6. Hoàng Hồng Hiệp và Châu Ngọc Hòe (2017), “Những nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ ngư dân khai thác
hải sản vùng bãi ngang ven biển tỉnh Quảng Nam”, Thông tin Khoa học xã hội, 12-21.
7. Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008), Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS, tập 2, TP. Hồ Chí Minh:
Nhà xuất bản Hồng Đức.
8. Hội nghề cá Việt Nam (2007), Bách khoa thủy sản, Hà Nội: Nhà xuất bản Nông nghiệp.
9. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2018), Văn bản hợp nhất số 10/VBHN-NHNN ngày 16/5/2018 hướng dẫn thực hiện
chính sách tín dụng theo Nghị định số 67/2014/NĐ-CP ngày 07 tháng 7 năm 2014 của Chính phủ về một số chính sách
phát triển thủy sản.
10. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi nhánh tỉnh Khánh Hòa (2019a), Báo cáo tình hình cho vay ngư dân theo Nghị
định 67 giai đoạn 2015 – 2019.
11. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi nhánh tỉnh Khánh Hòa (2019b), Báo cáo chi tiết khách hàng vay vốn theo Nghị
định 67 thời điểm 31/12/2019.
12. Nguyễn Thị Hải Yến (2016), Tín dụng ngân hàng đối với hộ sản xuất cà phê tỉnh Đăk Lăk, Luận văn tiến sĩ, Trường
đại học Kinh tế Huế, Huế.
13. Phạm Bảo Quốc và Nguyễn Thị Búp (2016), “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng chính
thức của nông hộ nuôi tôm thẻ chân trắng tại huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh”, Kinh tế - Văn hóa - Giáo dục, 22, 10-18.
14. Phạm Hồng Mạnh và Hạ Thị Thiều Dao (2010), “Các yếu tố ảnh hưởng tới ý định sử dụng dịch vụ tín dụng chính
thức trong cộng đồng ngư dân ven biển tại tỉnh Khánh Hòa”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ, 159, 27-32.
15. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2017), Luật Thủy sản - Luật số 18/2017/QH14 ngày 21/11/2017.
16. Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (1998), Quyết định số 159/1998/QĐ-TTg ngày
03/9/1998 sửa đổi Quyết định số 393-TTg về việc ban hành quy chế quản lý và sử dụng vốn tín dụng đầu tư theo kế hoạch
nhà nước cho các dự án đóng mới, cải hoán tàu đánh bắt và tàu dịch vụ đánh bắt hải sản xa bờ.
17. Trần Ái Kết và Huỳnh Trung Thời (2013), “Các nhân tố ảnh hưởng đến tiếp cận tín dụng chính thức của nông hộ trên
địa bàn tỉnh An Giang”, Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, 27, 17-24.
18. Trần Đức Thạnh, Trần Đình Lân và Nguyễn Hữu Cử (2008), “Tài nguyên vị thế biển Việt Nam: Định dạng, tiềm năng và
định hướng phát huy giá trị”, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ ba, Nhà Xuất bản Khoa học xã hội, 617-630.
19. Trần Thanh Kiệt (2011), Một số nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của đội tàu cá xa bờ làm nghề lưới kéo đôi tại tỉnh
Kiên Giang, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Nha Trang, Nha Trang.
20. Vương Quốc Duy và Đặng Hoàng Trung (2015), “Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng chính
thức của hộ chăn nuôi heo trên địa bàn quận Ô Môn, Cần Thơ”, Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, 36, 42-51.
Số 226- Tháng 3. 2021- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng
25
Kiệt quệ tài chính và dòng tiền của các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết tại Việt Nam
3. CFA Institute (2008), Financial Statement Analysis, CFA Program Curriculum ● Volume 3, The United States of
America: Pearson Custom Publishing.
4. Dickinson, V. (2011), ‘Cash Flow Patterns as a Proxy for Firm Life Cycle’, The Accounting Review, November
2011, Vol. 86, No. 6, pp. 1969-1994.
5. Fawzi, N. S., Kamaluddin, A. & Sanusi, Z. M. (2015), ‘Monitoring Distressed Companies through Cash Flow
Analysis’, Procedia Economics and Finance, 28, 136-144.
6. Gujarati, D. N (2011), Econometrics by Example, Paperback, Chương 10: Vấn đề đa cộng tuyến và cỡ mẫu nhỏ,
fetp.edu.vn/cache/MPP04-522-R02V-2012-05-30-08580840.pdf>
7. Horne, J. C. V. & Wachowicz, J. M. (2008), Fundamentals of Financial Management (13th edition), England:
Prentice Hall.
8. Jooste, L. (2007), An evaluation of the usefulness of cash flow ratios to predict financial distress, Acta Commercii,
vol. 7, no. 1, pp. 1-13.
9. Kordestani, G., Biglari, V. & Bakhtiari, M. (2011), ‘Ability of combinations of cash flow components to predict
financial distress’, Verslas: Teorija ir Praktika Business, 12, 277-285.
10. Larsen, E. R., Ackere, A. & Osorio, S. (2018), Can electricity companies be too big to fail?, retrieved on December
20th 2019, from <https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0301421518303021>
11. Nagle, C. & Connor, J. O. (2010), Cash is King, Managing Cash Flow, retrieved on December 20th 2019, from
<https://www.crowleysdfk.ie/wp-content/uploads/2010/03/Managing-Cash-Flow-Edited-Presentation-for-Website.pdf>
12. Ngô Kim Phượng, Lê Hoàng Vinh – Đồng chủ biên (2018), Phân tích tài chính doanh nghiệp (tái bản lần 4), Thành
phố Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Kinh tế TP. Hồ Chí Minh.
13. Roe, M. J. (2014), ‘Structural corporate degradation due to too-big-to-fail finance’, University of Pennsylvania
Law Review, Vol. 162, 1419-1464.
14. Sayari, N. & Mugan, F. N. C. S. (2013), ‘Cash Flow Statement as an Evidence for Financial Distress’, Universal
Journal of Accounting and Finance, 1(3), 95-103.
15. Shamsudin, A. & Kamaluddin, A. (2015), ‘Impeding bankruptcy: Examing cash flow pattern of distress and healthy
firm’, Proscedia Economic & Finance, 31, 766-767.
tiếp theo trang 25
lượng khai thác,… cho NHTM cho vay để
biện pháp xử lý khi khách hàng không trả
nợ; trước khi ký HĐTD, cán bộ tín dụng
cần giải thích rõ các điều khoản quy định
trong HĐTD với khách hàng.
theo dõi, đánh giá khách hàng.
4.3. Hạn chế của nghiên cứu
Thứ tư, Nghị định 67 nên sửa đổi theo
hướng quy định cụ thể hơn các điều kiện
để được vay vốn tàu cá xa bờ, có quy chế
xử lý nợ xấu cứng rắn hơn trong trường
hợp ngư dân cố ý không trả nợ.
Thứ năm, cần ban hành quy chế phối hợp
giữa các cơ quan, ban, ngành trong việc
xử lý nợ xấu, theo dõi tình hình hoạt động
của ngư dân và thu hồi nợ kịp thời cho
NHTM; có quy định cụ thể để cơ quan
chức năng được tạm dừng các loại thủ tục:
cấp Giấy chứng nhận an toàn tàu cá, Giấy
phép khai thác hải sản,… nếu khách hàng
không có ý thức trả nợ; có cơ chế trong
việc hỗ trợ cung cấp thông tin liên quan
đến tình hình khai thác của chủ tàu như
nhật ký hành trình, số chuyến biển, sản
Mặc dù nghiên cứu đã đưa vào mô hình
hồi quy 8 biến độc lập làm cơ sở phân tích
và đánh giá nhưng thực tế, ngoài những
nhân tố trên, tiếp cận TDCT của hộ ngư
dân đánh bắt xa bờ tại TP. Nha Trang còn
có thể chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân
tố khác chưa được khám phá như: điều
kiện thời tiết, quyết định của ngư dân, thị
trường thủy sản, chính sách quản lý,…
Bên cạnh đó, do nguồn lực có hạn, nghiên
cứu chỉ có thể giới hạn mẫu điều tra trong
120 hộ, nếu có thể gia tăng số lượng mẫu
điều tra thì mức ý nghĩa và độ tin cậy của
mô hình có thể sẽ cao hơn, các nhân tố
khác trong mô hình cũng có thể có ý nghĩa
thống kê ■
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 226- Tháng 3. 2021
70
Bạn đang xem tài liệu "Các nhân tố ảnh hưởng đến tiếp cận tín dụng chính thức của hộ ngư dân đánh bắt xa bờ tại thành phố Nha Trang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
cac_nhan_to_anh_huong_den_tiep_can_tin_dung_chinh_thuc_cua_h.pdf

