Báo cáo tóm tắt Đề án Quy hoạch chi tiết phát triển hệ thống cảng cạn Việt Nam giai đoạn đến năm 2020, định hướng đến năm 2030

BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI  
CỤC HÀNG HẢI VIỆT NAM  
ĐỀ ÁN  
QUY HOẠCH CHI TIẾT PHÁT TRIỂN  
HỆ THỐNG CẢNG CẠN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN  
ĐẾN NĂM 2020, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030  
(BÁO CÁO TÓM TẮT)  
VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ PHÁT TRIỂN GTVT  
Điện thoại:04.38256408 Email:  
Địa chỉ: số 162, Trần Quang Khải, Hoàn Kiếm, Hà Nội  
Hà Nội, tháng 7-2016  
BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI  
CỤC HÀNG HẢI VIỆT NAM  
ĐỀ ÁN  
QUY HOẠCH CHI TIẾT PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG CẢNG CẠN  
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN ĐẾN NĂM 2020, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030  
CƠ QUAN CHỦ TRÌ  
CƠ QUAN TƯ VẤN  
Cục Hàng hải Việt Nam  
Viện Chiến lược và Phát triển GTVT  
VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ PHÁT TRIỂN GTVT  
Điện thoại:04.38256408 Email:  
Địa chỉ: số 162, Trần Quang Khải, Hoàn Kiếm, Hà Nội  
Hà Nội, tháng 7–2016  
MỤC LỤC  
1
PHẦN MỞ ĐẦU  
1. SỰ CẦN THIẾT CỦA QUY HOẠCH  
Cảng cạn là một bộ phận thuộc kết cấu hạ tầng giao thông vận tải, là đầu  
mối tổ chức vận tảihàng hóa bằng container gắn liền với hoạt động của cảng  
biển, cảng hàng không quốc tế, cửa khẩu đường bộ, đường sắt quốc tế. Phát triển  
cảng cạn nhằm tổ chức vận chuyển container một cách hợp lý, tăng hiệu quả  
hoạt động dịch vụ logistics trên các hành lang vận tải, góp phần giảm ùng tắc  
giao thông tại cảng biển, cửa khẩu quốc tế và các đô thị lớn.Phát triển cảng cạn  
ở Việt Nam đang càng ngày càng trở nên bức thiết.  
Ngày 13 tháng 12 năm 2011 Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số  
2223/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch phát triển hệ thống cảng cạn Việt Nam đến  
năm 2020, định hướng đến năm 2030. Theo Quy hoạch, cả nước sẽ hình thành  
và phát triển 13 cảng cạn với quy mô công suất khoảng 06 triệu TEU/năm vào  
năm 2020 và 14,2 triệu TEU/nămnăm 2030.Tuy nhiên trong quy hoạch cảng cạn  
chỉ mới xác định quy mô và khu vực dự kiến hình thành cảng cạn chứ chưa xác  
định được vị trí cụ thể nên thiếu cơ sở cho việc đầu tư xây dựng.  
Vì vậy, để phát triển được hệ thống cảng cạn theo quy hoạch đã được Thủ  
tướng Chính phủ phê duyệt, cần khẩn trương xây dựng “Quy hoạch chi tiết phát  
triển hệ thống cảng cạn đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030” phù hợp  
với các quy định về quản lý đầu tư xây dựng cảng cạn của Quy chế quản lý hoạt  
động cảng cạn được Thủ tướng Chính phủ ban hành tại Quyết định số  
47/2014/QĐ-TTg ngày 27/8/2014.  
2. CÁC CĂN CỨ ĐỂ LẬP QUY HOẠCH  
Quyết dịnh số: 2223/ QĐ-TTg ngày 13/12/2011 của Thủ tướng chính phủ  
phê duyệt Quy hoạch phát triển hệ thống cảng cạn Việt Nam đến năm 2020,  
định hướng đến năm 2030;  
Quyết định số 47/2014/QĐ-TTg ngày 27/08/2014 của Thủ tướng chính  
phủ về việc ban hành Quy chế quản lý hoạt động cảng cạn;  
Quyết định số: 355/QĐ-TTg ngày 25/02/2013 về việc phê duyệt điều  
chỉnh chiến lược phát triển giao thông vận tải Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn  
đến năm 2030;  
Quyết định số 318/QĐ-TTg ngày 4/03/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê  
duyệt Chiến lược phát triển dịch vụ vận tải Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến  
2030;  
1
Quyết định số 169/QĐ-TTg ngày 22/01/2014 của Thủ tướng Chính phủ  
phê duyệt Đề án phát triểndịch vụ Logistics trong lĩnh vực giao thông vận tải  
Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030;  
Quyết định số 1210/QĐ-TTg ngày 24/7/2014 của Thủ tướng Chính phủ  
phê duyệt Đề án Tái cơ cấu ngành giao thông vận tải phục vụ công nghiệp hóa,  
hiện đại hóa và phát triển bền vững đến năm 2020;  
Quyết định số 356/QĐ-TTg ngày 25/02/2013 về việc phê duyệt điều  
chỉnh quy hoạch phát triển giao thông vận tải đường bộ Việt Nam đến năm 2020  
và định hướng đến năm 2030;  
Quyết định số 21/QĐ-TTg ngày 08/01/2009 của Thủ tướng Chính phủ  
phê duyệt Quy hoạch phát triển GTVT hàng không Việt Nam giai đoạn đến năm  
2020 và định hướng đến năm 2030;  
Quyết định số 1436/QĐ-TTg ngày 10/09/2009 của Thủ tướng Chính Điều  
chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển ngành GTVT đường sắt Việt Nam đến năm  
2020, tầm nhìn đến năm 2030;  
Quyết định số 1517/QĐ-TTg ngày 26/8/2014 của Thủ tướng Chính phủ  
phê duyệt Quy hoạch phát triển vận tải biển Việt Nam đến năm 2020 và định  
hướng đến năm 2030;  
Quyết định số 1037/QĐ-TTg ngày 24/6/2014 của Thủ tướng Chính phủ  
phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam đến  
năm 2020, định hướng đến năm 2030;  
Quyết định số 1071/QĐ-GTVT ngày 24/04/2013 về việc phê duyệt điều  
chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển giao thông vận tải đường thủy nội địa Việt  
Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030;  
Quyết định số 4291/QĐ-BGTVT ngày 24/12/2013 của Bộ trưởng Bộ  
GTVT phê duyệt quy hoạch phát triển vận tải sông pha biển đến năm 2020 và  
định hướng đến năm 2030;  
Các quyết định số của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt các quy hoạch  
tổng thể phát triển kinh tế xã hội, giao thông vận tảicác vùng kinh tế trọng điểm;  
vùng Thủ đô Hà Nội, vùng TP. Hồ Chí Minh.  
3. MỤC TIÊU, PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU  
3.1. Mục tiêu nghiên cứu  
1) Xây dựng quy hoạch chi tiết phát triển hệ thống 13 cảng cạn đã được  
đưa ra trong Quy hoạch phát triển hệ thống cảng cạn Việt Nam đến năm 2020,  
định hướng đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết  
dịnh số 2223/ QĐ-TTg ngày 13/12/2011 với các nội dung chủ yếu sau:  
2
- Xác định vị trí của cảng cạn  
- Vai trò chức năng của cảng cạn  
- Quy mô của cảng cạn  
- Công suất của cảng cạn  
- Phương án kết nối hạ tầng giao thông và hạ tầng kỹ thuật của cảng biển  
2) Xây dựng phương án và giải pháp tổ chức thực hiện quy hoạch  
3) Đề xuất cơ chế chính sách và giải pháp cho đầu tư phát triển các cảng  
cạn được quy hoạch.  
3.2. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu:  
a) Phạm vi thực hiện  
Quy hoạch chi tiết phát triển được thực hiện trên phạm vi toàn quốc, tập  
trung cho các khu vực, hành lang vận tải gắn liền với các đầu mối cảng biển,  
cảng hàng không quốc tế, cảng đường thủy nội địa quốc tế, cửa khẩu đường bộ  
quốc tế, các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất.  
b) Đối tượng nghiên cứu  
Đối tượng nghiên cứu trực tiếp là 13 cảng cạn đã được xác định trong  
Quy hoạch phát triển hệ thống cảng cạn Việt Nam đến năm 2020, định hướng  
đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết dịnh số 2223/  
QĐ-TTg ngày 13/12/2011.  
Ngoài ra có thể xem xét một số 4 đảm bảo thực hiện Hiệp định liên quốc  
gia về cảng cạn (mà Việt Nam là một bên ký kết) và đảm bảo mục tiêu Tăng  
cường kết nối GTVT trong ASEAN.  
3
CHƯƠNG 1  
PHÂN TÍCH NHU CẦU VÀ HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN  
CẢNG CẠN Ở VIỆT NAM  
1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM VÀ ĐỊNH NGHĨA  
1.1.1. Cảng cạn  
a) Khái niệm cảng cạn  
Quan niệm của một số nước và các tổ chức quốc tế  
Trên thế giới hiện nay có nhiều cách gọi khác nhau: Inland Container  
Depot, Inland Clearance Depot, Inland Port, Dry Port, Intermodal Terminal.... và  
cách gọi tắt hay tên viết tắt vì vậy cũng rất đa dạng: ICD, ID, DR, IT....  
Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên Hiệp quốc (UNCTAD) sử dụng  
tên tiếng Anh là Inland Container Depot, tiếng Việt có nghĩa là “Cảng container  
nội địa”; một số nước lại sử dụng là Inland Clearance Depot, tiếng Việt có nghĩa  
là “Địa điểm thông quan nội địa”, cả hai đều viết tắt là ICD.  
Ủy ban Kinh tế Xã hội châu Á Thái Bình Dương Liên Hiệp Quốc  
(ESCAP) lại sử dụng tên Dry port (cảng khô, cảng cạn). ESCAP cũng dẫn chiếu  
nhiều nguồn tham khảo và đưa ra một định nghĩa như sau: Một cảng cạn cung  
cấp dịch vụ cho việc xếp dỡ và lưu giữ tạm thời các loại hàng hóa bằng  
container, hàng bách hóa và/hoặc hàng rời đến hoặc rời cảng cạn bằng bất kỳ  
phương thức vận tải nào gồm đường bộ, đường sắt, đường thuỷ nội địa, đường  
hàng không. Cảng cạn phải đảm bảo luôn sẵn sàng cung cấp dịch vụ hải quan  
đầy đủ và các dịch vụ cần thiết khác có liên quan đến hàng hóa xuất khẩu và  
nhập khẩu.  
Hoa Kỳ không sử dụng tên gọi ICD như ở trên mà đưa ra khái niệm  
Intermodal Terminal (IT). Ấn Độ đưa ra định nghĩa chung cho ICD và CFS  
(Container Freight Station) nhưng chỉ ra đặc trưng riêng của từng loại.  
Mặc dù còn có một số khái niệm hay cách gọi tên khác nhau về cảng cạn,  
nhưng xét về bản chất và chức năng hoạt động có thể sử dụng định nghĩa chung  
về cảng cạn như sau:  
“Cảng cạn là một khu vực/công trình kết nối đa phương thức vận tải nằm  
trong nội địa, cung cấp dịch vụ xếp dỡ, lưu kho tạm thời và làm thủ tục hải quan  
cho hàng container, kết nối bằng các phương thức vận tải khác nhau tới cảng  
biển. Mục đích chính của cảng cạn là phát huy hiệu quả của vận tải container nội  
địa đối với vận tải đa phương thức quốc tế. Cảng cạn cũng có thể tạo ra lợi ích  
tiết kiệm chi phí khi làm tăng tỉ lệ container hóa.  
Thủ tục hải quan có thể được hoàn tất tại cảng cạn và các công ty vận tải  
thường chỉ phát hành một vận đơn cho hàng hoá được vận chuyển từ cảng cạn  
của một nước đến cảng biển hoặc 1 địa điểm nào đó ở nước khác”.  
4
     
Bảng 1.1. Một số định nghĩa về cảng cạn  
Định nghĩa  
Tên gọi  
Một đầu mối vận tải nội địa, nơi mà các hãng tàu biểncó thể  
phát hành vận đơn của họ đối với hàng hoá xuất nhập khẩu từ  
đó/đến đóvớiđầy đủ trách nhiệm về chi phí và các điều kiện.  
Inland terminal  
Một đầu mối vận tải nằm trong vùng hậu phương của một cảng  
cửa ngõ và phục vụ như một cảng cạn đối với các thủ tục hải  
quan, do đó không cần làm thủ tục hải quan tại cảng biển  
Inland customs  
depot  
Một công trình công cộng đặt trong nội địa với sự có mặt của  
các cơ quan nhà nước có liên quan, được trang bị lắp đặt cố  
định, và cung cấp các dịch vụ để bốc xếp và lưu giữ tạm thời  
các loại hàng hóa (kể cả container) được vận chuyển bằng các  
phương thức vận tải mặt đất, đặt dưới sự giám sát của hải quan  
để làm thủ tục thông quan hàng hóa để sử dụng nhà,cho mục  
đích tiêu thụ, lưu kho bãi, tạm nhập, tái xuất…  
Inland clearance  
depot  
Một công trình được sử dụng cho mục đích công cộng khác  
cảng biểnhoặc sân bay, mà tại đó hàng hóa trong thương mại  
quốc tế được nhận hoặc gửi đi.  
Inland freight  
terminal  
Một cảng cạn là một đầu mối vận tải nội địa được liên kết trực  
tiếp với Cảng biển.  
Dry port  
Nguồn: UN/ECE, the European Conference of Ministers of Transport (ECMT) and the  
European Commission (EC) (2001), “Terminology on Combined Transport”  
Quan niệm của Việt Nam  
Cảng cạn hay cảng cạn mới xuất hiện ở Việt Nam từ 1995 trở lại đây. Tuy  
nhiên về tên gọi cũng như cách hiểu đúng về chức năng của cảng cạn thực tế còn  
có vấn đề chưa thống nhất. Rất nhiều tên gọi và khái niệm khác nhau đã được sử  
dụng: cảng cạn, cảng thông quan nội địa, cảng container nội địa, cảng nội địa...  
gây nhiều khó khăn cho việc quản lý phát triển của cơ quan nhà nước cũng như  
của doanh nghiệp.  
Trước khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 2223/QĐ-TTg ngày  
13 tháng 12 năm 2011 về phê duyệt Quy hoạch phát triển hệ thống cảng cạn  
Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, khái niệm cảng cạn hay  
5
ICD không có trong bất kỳ một văn bản chính thức nào của nhà nước, chính  
phủ;  
Sau khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 2223/QĐ-TTg, mặc  
dù cũng chưa nêu định nghĩa rõ ràng, nhưng cảng cạn đã được coi là ”một bộ  
phận thuộc kết cấu hạ tầng giao thông vận tải gắn liền với hoạt động của cảng  
biển và hệ thống các kết cấu hạ tầng khác; việc phát triển cảng cạn phải phù hợp  
với quy hoạch phát triển hệ thống cảng biển, các quy hoạch phát triển mạng lưới  
giao thông và quy hoạch phát triển kinh tế, xã hội của các vùng và địa phương”.  
Vai trò, chức năng của cảng cạn như một đầu mối giao thông vận tải lần đầu tiên  
đã được đưa ra chính thức, phù hợp với các quan niệm của quốc tế.  
Tháng 11 năm 2013, Việt Nam đã chính thức tham gia ký Hiệp định liên  
chính phủ về hệ thống cảng cạn của ESCAP, đồng nghĩa với việc thống nhất tên  
gọi cũng như quan niệm, định nghĩa của ESCAP về cảng cạn. Trong phạm vi  
Hiệp này, ESCAP đưa ra định nghĩa như sau: Một cảng cạn có vai trò quốc tế là  
một vị trí/khu vực trong nội địa, có vai trò như một trung tâm logistics gắn liền  
với một hoặc nhiều phương thức vận tải, cung cấp các dịch vụ xếp dỡ, lưu kho  
và các thủ tục pháp lý cần thiết theo quy định đối với hàng hóa thương mại quốc  
tế và đặt dưới sự giám sát của hải quan.  
Tháng 8 năm 2014, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định 47/2014/QĐ-  
TTg ngày 28/8/2014 ban hành Quy chế quản lý hoạt động cảng cạn, trong đó  
đưa ra định nghĩa về cảng cạn như sau: Cảng cạn là một bộ phận thuộc kết cấu  
hạ tầng giao thông vận tải, là đầu mối tổ chức vận tải gắn liền với hoạt động của  
cảng biển, cảng hàng không quốc tế, cửa khẩu đường bộ quốc tế, đồng thời có  
chức năng là cửa khẩu đối với hàng hóa xuất nhập khẩu.  
b) Vai trò, chức năng của cảng cạn  
Cho dù có nhiều tên gọi và cách định nghĩa khác nhau nhưng nhìn chung  
vai trò và chức năng của cảng cạn đã được nhiều tổ chức quốc tế, các nước phát  
triển cũng như ở Việt Nam có những đặc điểm cơ bản sau:  
Phát triển một mạng lưới các cảng cạn có thể giúp sắp xếp quá trình vận  
chuyển rất nhiều. Các quy định về hải quan và quy định khác cũng thường có  
sẵn tại các cảng cạn tạo thuận lợi rất nhiều cho thương mại quốc tế và cho phép  
các chủ hàng địa phương, các nhà sản xuất và người dân được tiếp cận với thị  
trường quốc tế. Cảng cạn có vị trí chiến lược nơi mà các phương thức vận tải  
khác nhau hội tụ, cũng cho phép hàng hóa, đặc biệt là hàng container tiêu chuẩn,  
được trung chuyển hiệu quả giữa các phương thức vận tải, qua đó đảm bảo việc  
sử dụng tối ưu cả mạng lưới một cách tổng thể.  
6
Kho chủ hàng  
Cảng cạn  
(2)  
(1)  
(3)  
CFS cảng biển  
CY cảng biển  
Tàu biển  
Hình 1.1. Các phương án vận chuyển hàng container xuất khẩu đến cảng biển  
(1) Vận chuyển container thẳng từ kho chủ hàng đến bãi CY của cảng biển và tiến  
hành làm thủ tục hải quan tại cảng biển.  
(2) Vận chuyển hàng rời đến kho CFS của cảng biển, đóng hàng vào container và tiến  
hành làm thủ tục hải quan tại cảng biển.  
(3) Vận chuyển hàng rời hoặc hàng đã đóng trong container đến cảng cạn), đóng  
hàng vào container (đối với hàng rời); tiến hành làm thủ tục hải quan tại ICD sau đó  
vận chuyển đến cảng để xếp lên tàu hoặc xếp tại CY của cảng biển chờ tàu.  
Cung cấp các cảng cạn có thể tạo ra một chu kỳ tương tác đối với khu vực  
nội địa xa cảng biển (như thể hiện trong Hình 1.1); Xây dựng cảng cạn (cùng  
với các phương tiện bao gồm cả đường bộ và đường sắt) dẫn đến giảm chi phí  
vận chuyển và thời gian vận chuyển, dẫn đến thu hút đầu tư nhiều hơn đối với  
các khu vực xung quanh cảng cạn, và đầu tư như vậy sẽ khuyến khích đầu tư  
hơn nữa về cơ sở hạ tầng bao gồm các cảng cạn và tiếp tục giảm chi phí vận  
chuyển và thời gian trung chuyển.  
Cảng cạn có thể góp phần trực tiếp đẩy mạnh sự phát triển vận tải đa  
phương thức và do đó giúp thay đổi phương thức vận tải từ đường bộ sang  
đường sắt, đường sông. Về khía cạnh này, thành lập cảng cạn có thể đóng góp  
trực tiếp cho vận tải bền vững.  
7
Kiểm tra và hoàn tất thủ tục  
hải quan cho hàng hóa XNK  
bằng container  
Nhận và gửi hàng hóa  
vận chuyển bằng  
container  
Vận chuyển hàng  
container từ cảng cạn  
đến cảng biển  
Kho tạm chứa hàng  
XNK và container  
CẢNG  
CẠN  
Sửa chữa và bảo  
dưỡng container  
Đóng hàng vào và dỡ  
hàng ra khỏi container  
Gom và chia hàng lẻ đối  
Giao nhận các hàng hóa  
khác (hàng rời, hàng bách  
hóa,…);  
với hàng chung chủ (LCL)  
trong cùng container  
Hình 1.2. Chức năng cảng cạn  
c) Phân loại cảng cạn  
Xét về vị trí:  
Hiện nay có 3 loại cảng cạn phổ biến như sau:  
- Cảng cạn xa cảng biển:Thông thường, loại này nằm cách xa cảng biển  
trên 300 km và sử dụng vận tải đường sắt, thuỷ nội địa và đường bộ để vận  
chuyển. Khi khoảng cách giữa cảng cạn và cảng biển càng lớn, thì hiệu quả vận  
tải bằng container càng lớn.  
- Cảng cạn gần cảng biển:Khoảng cách giữa cảng cạn và cảng biển nhỏ  
hơn 300 km, loại này được xây dựng gắn liền với việc mở rộng hoặc xây dựng  
cảng mới thay vì xây dựng nâng cấp các cảng hiện tại. Một cảng cạn được đặt ở  
vị trí có tính chất chiến lược là gần nơi có nguồn hàng tập trung, ngoại ô thành  
phố để giảm ách tắc giao thông.  
- Cảng cạn ở các nước không có biển:Mục đích xây dựng cảng cạn loại  
này là để giảm thời gian quá cảnh, chi phí hải quan và tránh hư hỏng, mất mát  
hàng hoá trong quá trình vận chuyển qua nước quá cảnh.  
Xét về chức năng:  
Cảng cạn có thể được phân loại theo các thông số như năng lực, diện tích,  
phương thức vận tải kết nối và các chức năng của cảng.  
Ví dụ, Bảng 1.2 cho thấy một hệ thống mà các cảng cạn được phân loại  
thành bốn cấp: loại I, loại II, loại III và loại IV, dựa trên các chức năng cũng như  
cơ sở vật chất sẵn có và các dịch vụ cung cấp.  
8
Bảng 1.2. Phân loại cảng cạn  
Cấp  
Chức năng, tiện ích, dịch vụ  
I
II III IV  
Xếp dỡ hàng hóa  
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
Các chức năng vận  
tải  
Xếp dỡ hàng hóa và container  
Lưu container có hàng và rỗng  
Lưu kho hàng hóa  
Các chức năng  
logistics kho vận  
Gom hàng và chia hàng  
Làm thủ tục hải quan  
Các chức năng cảng  
quốc tế  
Các chức năng liên quan đến thương mại quốc  
tế  
X
X
X
X
X
X
X
X
X
Vệ sinh an toàn  
X
X
Các điều kiện dành  
cho khách hàng và  
lái xe  
Thuốc và cấp cứu  
Các chức năng  
CNTT hỗ trợ cho  
vận tải  
Hệ thống thông tin liên quan đến hải quan/cảng  
biển/khách hàng/nhà cung cấp dịch vụ  
X
X
Đại lý giao nhận  
X
X
X
Dịch vụ thông tin liên lạc (điện thoại, fax,  
internet)  
Dịch vụ liên quan đến nhập cư  
Các chức năng khác  
Sửa chữa và bảo dưỡng phương tiện và  
X
X
container  
Vận tải nội địa  
Nguồn:UN/ECE, the European Conference of Ministers of Transport (ECMT) and the  
European Commission (EC) (2001), “Terminology on Combined Transport”  
Loại IV có thể được coi như một tiêu chuẩn tối thiểu cho các cảng cạn có  
tầm quan trọng quốc tế, loại này có phương tiện vận chuyển, các điều kiện phục  
vụ khách hàng và lái xe, chức năng khai thác kho vận logistics cũng dịch vụ làm  
thủ tục hải quan phục vụ hàng hóa XNK.  
Loại I có thể có tất cả các chức năng của loại IV cũng như các chức năng  
bổ sung liên quan đến thương mại quốc tế, công nghệ thông tin và các dịch vụ  
giao nhận vận tải.  
Khi lập kế hoạch, một cảng cạn nó cần được quyết định dự trù có những  
chức năng phù hợp với nhu cầu thị trường hiện tại và tương lại. Cảng cạn quy  
mô nhỏ với sản lượng hàng hóa thấp có thể chỉ cần các chức năng được liệt kê  
trong loại IV trong khi các cảng cạn lớn có thể yêu cầu tất cả các chức năng của  
chúng được liệt kê trong loại I.  
9
d) Các thành phần cơ bản của cảng cạn  
Cảng cạn hoạt động giống như cảng biển trừ tác nghiệp xếp dỡ từ tàu  
biển, vì vậy kết cấu hạ tầng phục vụ khai thác cảng cạn tương tự như cảng biển.  
Cảng cạn bao gồm các công trình chính sau:  
- Bãi container (Container Yard - CY): là nơi tiếp nhận và lưu chứa  
container. Bãi container được chia làm các khu vực tiếp nhận hàng container  
xuất khẩu, khu vực hàng container nhập khẩu được chuyển từ cảng biển đến,  
khu vực dành riêng cho các loại container cần bảo quản (container bảo ôn, hàng  
đặc biệt...) và khu vực container rỗng;  
- Khu vực làm hàng lẻ (Container Freight Stations - CFS): là khu vực tiếp  
nhận các lô hàng lẻ của chủ hàng, lưu kho, phân loại, đóng hàng vào container,  
hoàn thành các thủ tục gửi và giao hàng; tiếp nhận hàng container lẻ, rút hàng ra  
khỏi container, phân loại và giao trả hàng cho các chủ hàng lẻ;  
- Khu vực kiểm soát: là khu vực kiểm soát sự ra/vào của các phương tiện  
đường bộ chở hàng lẻ và container, là nơi trực tiếp kiểm tra chứng từ, an ninh và  
các thủ tục khác đối với container và hàng hoá lẻ;  
- Bãi đỗ xe tải và tập kết thiết bị: là khu vực đỗ xe chờ giao/nhận hàng và  
tập kết thiết bị bốc xếp hàng;  
- Khu vực văn phòng: là nơi tập trung điều hành mọi hoạt động của cảng  
nội địa, bao gồm Văn phòng công ty quản lý khai thác, Văn phòng Hải quan,  
Đại lý hãng tàu, Đại lý giao nhận, Cơ quan kiểm dịch...  
- Các công trình phục vụ kết nối cảng cạn với mạng giao thông quốc gia,  
bao gồm Khu ga đường sắt (trường hợp cảng cạn có sử dụng đường sắt); Bến,  
cảng sông (trường hợp cảng cạn có sử dụng đường sông); Hệ thống đường nội  
bộ, đường dẫn và bãi đỗ xe.  
đ) Những nguyên tꢁc chính cho phát triển và khai thác của cảng cạn  
Trong phát triển cảng cạn có vai trò quốc tế các nguyên tắc sau đây cần  
phải được chú trọng liên quan đến các tiêu chuẩn kỹ thuật:  
- Vị trí cảng cạn: Được đặt trong một khu vực có tiềm năng được phát  
triển như các khu công nghiệp, trung tâm sản xuất và các khu kinh tế đặc biệt và  
được đặt càng gần càng tốt các tuyến trục chính đường sắt, đường bộ, đường  
thuỷ nội địa, cảng hàng không- sân bay;  
- Giao thông vận tải kết nối: cảng cạn có thể bao gồm cơ sở hạ tầng kỹ  
thuật để gom hàng, phân phối và trung chuyển với một phương thức vận tải hoặc  
kết nối các phương thức vận tải khác nhau như đường bộ, đường sắt, đường thuỷ  
nội địa và vận tải hàng không.  
- Công suất: cảng cạn cần được xây dựng với công suất đủ để đảm bảo  
tính hiệu quả, đáng tin cậy và tính kinh tế của vận tải container và hàng hóa  
10  
khác. Công suất cảng cần được xác định bằng dự báo hợp lý khối lượng  
container và hàng hóa. Cảng cạn phải đảm bảo cho việc mở rộng trong tương lai.  
- Hải quan: Cảng cạn cần được bố trí hải quan thường trực và phải cung  
cấp cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho hoạt động nghiệp vụ của hải quan phục vụ cho  
thông quan hàng hoá;  
- Phương tiện, thiết bị: Được trang bị với số lượng hợp lý các phương  
tiện, thiết bị bốc xếp container và hàng hóa khác, tạo điều kiện thuận lợi cho  
việc chuyển tải, bốc dỡ, lưu giữ container, hàng hóa một cách hiệu quả;  
1.2. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN VẬN TẢI CONTAINER Ở  
VIỆT NAM  
1.2.1.Khối lượng hàng container thông qua hệ thống cảng biển  
Hàng hóa thông qua hệ thống cảng biển ngày càng tăng với tốc độ ổn định.  
Tổng lượng hàng qua cảng biển năm 1995 mới đạt 37,7 triệu tấn, trong đó hàng  
container đạt 3,4 triệu tấn (316 nghìn TEU) chiếm 9%, đến năm 2015 đạt 427,8  
triệu tấn, trong đó hàng container đạt 126,3 triệu tấn (11,5 triệu TEU) chiếm 29,5%.  
Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 1995-2015 đạt 19%/năm; Trong  
20 năm, khối lượng container thông qua hệ thống cảng biển Việt Nam đã tăng  
gấp 20 lần.  
Bảng 1.6 . Khối lượng hàng hóa thông qua cảng biển giai đoạn 2010 – 2015  
TT  
Thông số  
Đơn vị  
2010  
2011  
2012  
2013  
2014  
2015  
Tổng lượng  
1
1000.tấn 259.145 286.092 294.556 328.795 373.027 427.816  
hàng qua cảng  
1000.tấn  
1000  
72.937 81.039 91.068 101.113 118.394 126.348  
6.521 7.210 8.040 1.622 10.398 11.527  
51.069 51.099 49.566 49.729 52.078 59.233  
2
Hàng Container  
TEUs  
3
4
5
Hàng lỏng  
1000.tấn  
Hàng khô  
1000. Tấn 105.109 109.679 112.853 136.472 154.582 185.904  
1000. Tấn 29.490 43.762 41.062 41.480 47.971 56.330  
Hàng quá cảnh  
Nguồn: Cục hàng hải Việt Nam  
11  
   
Bảng 1.7: Khối lượng và thị phần hàng container thông qua cảng biển  
Đơn vị: TEU  
Cả nước  
Miền Bắc  
Miền Trung  
Khối  
Miền Nam  
TT Năm  
Khối  
lượng  
Khối  
Khối  
Tỷ lệ %  
Tỷ lệ %  
Tỷ lệ %  
lượng  
lượng  
lượng  
1
2
3
4
5
6
7
8
9
1995  
1996  
1997  
1998  
1999  
2000  
2001  
2002  
2003  
532.676  
634.252  
117.636  
149.100  
165.351  
183.805  
198.618  
216.000  
238.622  
339.044  
384.273  
495.647  
643.547  
790.856  
22,08  
23,51  
23,48  
22,41  
20,31  
18,75  
18,35  
22,59  
21,59  
22,24  
23,62  
23,12  
23,96  
27,48  
33,26  
33,54  
33,58  
34,84  
33,72  
33,82  
12.340  
2,32  
2,74  
3,25  
2,76  
2,65  
3,70  
402.700 75,60  
467.777 73,75  
515.881 73,27  
613.576 74,82  
753.376 77,04  
893.142 77,55  
17.375  
22.879  
22.657  
25.866  
42.617  
39.121  
51.835  
57.895  
76.277  
84.007  
100.669  
128.954  
154.594  
142.461  
195.004  
260.000  
236.791  
389.598  
400.068  
704.111  
820.038  
977.860  
1.151.759  
1.300.287  
1.500.957  
1.779.979  
2.228.694  
2.724.493  
3.420.000  
3,01 1.022.544 78,64  
3,45 1.110.078 73,96  
3,25 1.337.811 75,16  
3,42 1.656.770 74,34  
3,08 1.996.939 73,30  
2,94 2.528.475 73,93  
2,87 3.284.553 73,17  
3,08 3.488.204 69,44  
2,57 3.554.450 64,17  
2,99 4.138.613 63,47  
2,23 5.080.000 63,18  
2,75 5.384.116 62,42  
3,75 6.502.606 62,54  
3,47 7.229.008 62,71  
10 2004  
11 2005  
12 2006  
13 2007  
14 2008  
15 2009  
16 2010  
17 2012  
18 2013  
4.489.165 1.075.658  
5.023.000 1.380.202  
5.539.247 1.842.336  
6.520.628 2.187.011  
8.040.000 2.700.000  
8.626.026 3.005.119  
19 2014 10.398.240 3.506.036  
20 2015 11.527.197 3.898.121  
Nguồn: Cục hàng hải Việt Nam  
1.3. THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VẬN TẢI CONTAINER VÀ NHU CẦU  
PHÁT TRIỂN CẢNG CẠN Ở VIỆT NAM  
1.3.1. Thực trạng tꢀ chức vận tải container  
a) Khu vựcphía Bắc  
Hiện nay, hàng hoá XNK vận chuyển bằng container bằng đường biển ở  
khu vực phía Bắc chủ yếu thông qua cảng biển khu vực Hải Phòng và Quảng  
Ninh, gồm có 4 hành lang chính kết nối với các cảng biển  
- Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng  
- Ninh Bình - Hải Phòng - Quảng Ninh  
- Hà Nội - Thái Nguyên  
- Hà Nội - Lạng Sơn  
12  
 
Bảng 1.3. Vận chuyển container trên các hành lang miền Bắc năm 2015  
Khối lượng  
Phương thức  
(1000 TEU)  
Đầu cuối  
TT  
Hành lang vận tải  
vận tải  
1
2
Hải Phòng - Hà Nội - Lào Cai  
Đường bộ, sắt, TNĐ  
Đường bộ  
2845  
102  
110  
67  
Ninh Bình - Hải Phòng - Quảng  
Ninh  
3
4
5
Hà Nội - Thái Nguyên  
Hà Nội - Lạng Sơn  
Đường bộ, sắt  
Đường bộ, sắt  
Đường bộ  
616  
378  
110  
110  
35  
Bắc Ninh - Quảng Ninh  
177  
Các hành lang vận tải Container và vùng hấp dẫn cảng cạn khu vực phía Bắc  
Phương thức vận tải chính đi/đến cảng biển ở khu vực phía Bắc chủ yếu sử  
dụng đường bộ, đường sắt và đường thủy nội địa chiếm rất ít. Trên 95% lượng  
hàng container đi và đến cảng biển hiện nay được vận tải bằng đường bộ,  
(đường sắt chỉ chiếm khoảng gần 5% và đường sông hầu như không đáng kể).  
Hiện tại cảng Hải Phòng là cảng biển duy nhất kết nối với đường sắt và  
luồng hàng container đi/đến cảng được vận chuyển trên hành lang Lào Cai - Hà  
13  
Nội - Hải Phòng. Năng lực thông qua của tuyến Yên Viên - Lào Cai 11 đôi tàu  
hàng/ ngày đêm, tuyến Gia Lâm - Hải Phòng5 đôi tàu hàng/ ngày đêm.  
Đối với vận tải thủy nội địa miền Bắc mới chỉ có tuyến Hải Phòng - Việt  
Trì vận tải hàng container (đưa vào khai thác từ đầu năm 2015), với 3 sà lan tự  
hành (đẩy) có trọng tải xếp từ 28 - 36 TEU, mỗi tuần 3 chuyến với giá cước  
khoảng 2,5 triệu đồng/TEU.  
* Các vấn đề còn tồn tại, khó khăn khi vận chuyển container trên các hành  
lang phía Bắc kết nối với các cảng biển:  
- Vận tải trên hành lang còn chưa hợp lý, tỷ trọng vận tải bằng đường bộ  
trên hành lang vẫn lớn. Đặc biệt là vận tải container chặng từ Hải Phòng đến Lào  
Cai (đường bộ chiếm trên 72%, đường sắt chiếm 27%, ĐTNĐ chiếm dưới 1%).  
Vận tải đa phương thức hiện nay trên hành lang vẫn kém phát triển, thiếu  
sự phối hợp liên kết giữa các doanh nghiệp vận tải. Các doanh nghiệp vận tải lớn  
trong ngành chưa chủ động liên kết với các doanh nghiệp vận tải đường ngắn,  
làm việc với các chủ hàng để đề xuất các phương án vận tải hợp lý vận tải từ nơi  
sản xuất đến nơi tiêu thụ. Giảm giá thành vận tải và tạo thuận lợi cho các chủ  
hàng.  
- Năng lực vận tải của các tuyến sông còn nhiều hạn chế, chủ yếu khai  
thác tự nhiên, theo mùa. Hiện nay ở miền Bắc duy nhất chỉ có cảng của công ty  
trách nhiệm hữu hạn Hải Linh (Phú Thọ) có 157m bến bốc xếp container nhưng  
đây không phải cảng chuyên dùng cho container mà còn có 228m bến làm hàng  
tổng hợp. Công ty cũng mới đưa vào khai thác tuyến Hải Phòng - Việt Trì từ đầu  
năm 2015 và đang trong giai đoạn thử nghiệm để tìm ra những yếu tố có lợi nhất  
nhằm giảm cước cho các chủ hàng.  
- Năng lực xếp dỡ tại các ga chính trên tuyến còn hạn chế, đặc biệt là xếp  
dỡ hàng container (trong 12 ga được phép vận chuyển container chỉ có 3 ga Hải  
Phòng, Yên Viên, Lào Cai có thiết bị bốc xếp container).  
Ngoài ra, cơ sở hạ tầng đường sắt quá cũ, lạc hậu, thiếu toa xe chở  
container dẫn đến tình trạng khan hiếm toa xe và nguy cơ xảy ra mất an toàn  
giao thông.  
b) Khu vực phía Nam  
Hàng hoá XNK vận chuyển bằng container bằng đường biển ở khu vực  
phía Nam chủ yếu thông qua cảng biển khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu, Tp. Hồ Chí  
Minh, gồm có 3 hành lang chính kết nối với các cảng biển  
- Hồ Chí Minh - Tiền Giang - Cần Thơ  
- Hồ Chí Minh - Bà Rịa – Vũng Tàu  
- Hồ Chí Minh - Bình Dương  
14  
Bảng 1.4. Vận chuyển container trên các hành lang miền Nam năm 2015  
Khối lượng  
(1000 TEU)  
Phương thức  
TT  
Hành lang vận tải  
vận tải  
Đầu cuối  
1
2
3
Hồ Chí Minh – Tiền Giang – Cần Thơ  
Hồ Chí Minh – Bà Rịa  
Đường bộ, TNĐ  
Đường bộ, TNĐ  
Đường bộ  
4.865  
4.865  
4.865  
235  
1.594  
1.589  
Hồ Chí Minh – Bình Dương  
Các hành lang vận tải Container và vùng hấp dẫn cảng cạn khu vực phía Nam  
Tổ chức vận tải hàng container nội địa đi/đến cảng biển khu vực phía  
Nam được thực hiện bằng đường bộ và đường sông, trong đó đường bộ chiếm  
65 - 70%, đường sông chiếm 30 - 35%.  
Hiện nay, các tuyến vận chuyển container thủy nội địa khu vực phía Nam  
bao gồm:  
- Các tuyến ngꢁn từ các cảng cạn ICD và các cảng biển khu vực Tp.HCM  
đến các cảng thuộc khu vực Cái Mép - Thị Vải (tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) và  
ngược lại; (30-40% hàng container qua cảng khu vực Tp.HCM được trung  
chuyển qua các ICD).  
15  
- Các tuyến tuyến ĐBSCL đi TPHCM - Cái Mép và các cảng nội địa khác  
(và ngược lại):  
Hiện tại ĐBSCL có một số cảng đã được đầu tư cơ sở hạ tầng và thiết bị  
để xếp dỡ contaner như: cảng Đồng Tháp (bao gồm Sa Đéc và Cao Lãnh); cảng  
Mỹ Thới (An Giang); Cảng Cần Thơ (bao gồm Cái Cui và Hoàng Diệu).  
Container được chở hầu hết bằng sà lan tự hành có trọng tải 24 - 72 TEU đi trên  
tuyến sông Tiền và tuyến TP.HCM – Kiên Lương (qua kênh Sa Đéc - Lấp Vò)  
Những mặt hàng xuất khẩu được đóng container ở phía Nam bao gồm  
thủy sản đông lạnh, hàng dệt may, hoa quả chế biến đóng hộp, nước hoa quả,  
thực phẩm đóng hộp. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu nguyên phụ liệu dệt may,  
giày da, máy móc thiết bị.  
Bảng 1.5: Hàng container đi - đến các cảng vùng ĐBSCL năm 2014  
TEU  
Xuất Nhập  
Tấn  
Xuất Nhập  
TT Tên cảng  
Nội địa  
46.288  
14.844  
Nội địa  
238.751  
471.664  
58.768  
1 Cần Thơ  
2 An Giang  
3 Đồng Tháp  
0
0
0
0
0
0
0
0
2.996  
7.693  
8.824 27.214 43.902  
Nguồn: Cảng vụ Hàng Hải và Cảng Cần Thơ  
- Luồng TPHCM - Cái Mép - Cửa khẩu Vĩnh Xương (Cửa khẩu đường  
thủy duy nhất)  
Đây là luồng vận tải chính của Campuchia qua Việt Nam bao gồm hàng  
xuất nhập khẩu trực tiếp từ Việt Nam và hàng trung chuyển của Campuchia  
trung chuyển tại các cảng thành phố Hồ Chí Minh và Cái Mép.  
Hiệp định vận tải thủy Việt Nam - Campuchia được ký kết từ năm 2009  
đã mở ra cơ hội rất thuận lợi cho các doanh nghiệp giữa hai nước trong việc vận  
tải hàng hóa bằng đường thủy; vận tải container luồng này tăng từ 43.300 Teu  
năm 2009 lên 133.700 Teu vào năm 2014, tốc độ tăng bình quân 25,3%/năm.  
Một số đơn vị tham gia vận tải container từ cảng biển đến các ICD đã  
được hình thành từ năm 1995 nhưng từ khi cụm cảng Cái Mép đi vào hoạt động  
vận tải container bằng đường thủy thì luồng vận tải này trở nên sôi động hơn và  
hướng tới phát triển mạnh mẽ một phần do nhu cầu trong nước và trung chuyển  
cho Campuchia.  
* Các vấn đề còn tồn tại, khó khăn khi vận chuyển container trên các hành  
lang phía Nam kết nối với các cảng biển:Tình trạng ùn tắc giao thông tại Tp.  
HCM thường xuyên diễn ra, đặc biệt trên các tuyến ra vào cảng, nên quá trình  
vận chuyển container đi/đến cảng biển khu vực Tp. HCM gặp nhiều khó khăn.  
16  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 135 trang yennguyen 24341 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo tóm tắt Đề án Quy hoạch chi tiết phát triển hệ thống cảng cạn Việt Nam giai đoạn đến năm 2020, định hướng đến năm 2030", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbao_cao_tom_tat_de_an_quy_hoach_chi_tiet_phat_trien_he_thong.pdf