Mạng chuyển tiếp đa chặng dạng nền trong truyền thông gói tin ngắn: Đánh giá tỷ lệ lỗi khối

Võ Nguyễn Quốc Bảo & Trần Thiên Thanh  
MẠNG CHUYỂN TIẾP ĐA CHẶNG DẠNG  
NỀN TRONG TRUYỀN THÔ NG GÓ I TIN  
NGẮN: ĐÁNH GIÁ TỶ LỆ LỖI KHỐI  
Võ Nguyễn Quốc Bảo*, Trần Thiên Thanh#  
* Học Viện Cô ng Nghệ Bưu Chính Viễn Thô ng  
# Trường Đại học Giao Thô ng Vận Tải thành phố Hồ Chí Minh  
1Tóm tắt- Trong bài báo này, chúng tôi đề xuất mô hình  
mạng chuyển tiếp đa chặng thứ cấp vô tuyến nhận thức  
dạng nền hoạt động trong mạng 5G đáp ứng dịch vụ truyền  
thông gói tin ngắn với độ tin cậy cao. Chúng tôi cũng đề  
xuất phương pháp đánh giá tỷ lệ lỗi khối toàn trình của hệ  
thống ở kênh truyền fading Rayleigh trong hai trường hợp:  
hoạt động ở vùng tỷ lệ nhiễu thấp và ở vùng tỷ lệ nhiễu  
cao. Kết quả mô phỏng Monte Carlo xác nhận tính đúng  
đắn của phương pháp phân tích đề xuất và chỉ ra rằng hiệu  
năng của hệ thống ở vùng tỷ lệ nhiễu thấp sẽ được quyết  
định bởi tỷ công suất phát tối đa của máy phát và ở vùng  
tỷ lệ nhiễu cao sẽ quyết định bởi ngưỡng can nhiễu chịu  
đựng tối đa của mạng sơ cấp.  
Tuy nhiên, chưa có một nghiên cứu đầy đủ nào về truyền  
thông gói tin ngắn của mạng chuyển tiếp đa chặng của  
mạng thứ cấp dạng nền hoạt động trên kênh truyền fading  
Rayleigh.  
Trong bài báo này, chúng tôi tập trung vào tìm hiểu đặc  
tính của mạng truyền thông đa chặng dạng nền trong truyền  
thông gói tin ngắn. Bài báo bao gồm ba đóng góp chính là:  
i) Đề xuất mô hình hoạt động của hệ thống ii) Đánh giá  
hiệu năng chính của hệ thống ở kênh truyền fading  
Rayleigh thông qua các tham số hiệu năng chính và iii) Xây  
dựng chương trình Matlab để kiểm chứng các phân tích lý  
thuyết và khảo sát đặc tính của hệ thống.  
Phần còn lại của bài báo được trình bày như sau. Phần II  
sẽ trình bày mô hình của hệ thống đề xuất. Phần III sẽ đề  
xuất phương pháp phân tích hiệu năng của hệ thống dưới  
dạng tỷ lệ lỗi khối. Trong Phần IV, chúng tôi sẽ tiến hành  
mô phỏng Monte-Carlo để kiểm chứng lại các kết quả lý  
thuyết trong phần III và khảo sát đặc tính của hệ thống đề  
xuất. Cuối cùng là phần kết luận của bài báo.  
Từ khóa- đa chặng, vô tuyến nhận thức, kênh truyền  
fading Rayleigh, truyền thông gói tin ngắn, tỷ lệ lỗi khối.  
I. GIỚI THIỆU  
Truyền thông đa chặng là một trong những kỹ thuật cơ  
bản để mở rộng vùng phủ sóng của hệ thống thông tin vô  
tuyến nhưng không tăng can nhiễu cho hệ thống khác.  
Truyền thông đa chặng đã được áp dụng trong nhiều thế hệ  
thông tin vô tuyến hiện nay như 4G và 5G [1-4].  
II. MÔ HÌNH HỆ THỐNG  
Để tăng hiệu suất sử dụng phổ tần trong bối cảnh tài  
nguyên phổ tần giới hạn, vô tuyến nhận thức là một giải  
pháp hiệu quả [5-7]. Trong 3 phương thức vô tuyến nhận  
thức, vô tuyến nhận thức dạng nền (Underlay approach) là  
một phương thức có tính thực tế cao và hiệu quả khi cho  
phép các mạng thứ cấp (secondary network) truyền song  
song với mạng sơ cấp (primary network) mà không làm  
ảnh hưởng đến chất lượng của hệ thống sơ cấp [8]. Hiệu  
năng và đặc tính của mạng đa chặng thứ cấp dạng nền đã  
được trong môi trường thực tế đã được nghiên cứu kỹ do  
Bảo và cộng sự ở các bài báo [9-20].  
Hình1: Mô hình mạng chuyển tiếp đa chặng dạng nền trong  
truyền thông gói tin ngắn.  
Trong hệ thống thông tin di động 5G, để phục vụ cho các  
kết nối máy-máy, ví dụ như xe tự hành, đòi hỏi độ trễ thấp  
và độ tin cậy cao, dẫn đến yêu cầu gói tin phải ngắn [21-  
25]. Chiều dài gói tin ngắn dẫn đến việc thiết kế và các đặc  
tính của mạng thay đổi hoàn toàn, kể cả mạng truyền thông  
đa chặng dạng nền.  
Xem xét một hệ thống vô tuyến nhận thức bao gồm  
mạng sơ cấp, ký hiệu là PU, và một mạng thứ cấp (ký hiệu  
là SU). Mạng sơ cấp bao gồm máy phát sơ cấp (PU-Tx) và  
máy thu sơ cấp (PU-Rx). Mạng thứ cấp là mạng đa chặng  
với chặng chuyển tiếp thông tin từ nút nguồn (ký hiệu là  
K
T
0 ) đến nút đích (ký hiệu là TK ) thông qua  
nút  
K −1  
chuyển tiếp ký hiệu từ  
T
đến TK −1 .  
1
Cho đến nay, đã có một số nghiên cứu và phân tích về  
truyền thông chuyển tiếp gói tin ngắn, ví dụ như: [25, 26].  
Tác giả liên hệ: Võ Nguyễn Quốc Bảo  
Đến tòa soạn:10/2020, chỉnh sửa: 11/2020, chấp nhận đăng: 12/2020  
SOÁ 04B (CS.01) 2020  
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG  
69  
ĐÁNH GIÁ HIỆU NĂNG MẠNG CHUYỂN TIẾP ĐA CHẶNG TRONG TRUYỀN THÔ NG SỬ DỤNG GÓ I TIN NGẮN  
Mạng thứ cấp hoạt động dựa trên chế độ dạng nền,  
nghĩa là các máy phát của mạng thứ cấp phải điều chỉnh  
công suất phát để không gây quá can nhiễu (ngưỡng chịu  
đựng can nhiễu của máy thu) của mạng sơ cấp. Quá trình  
truyền thông tin gói tin ngắn giữa nút nguồn và nút đích  
trong mạng thứ cấp diễn ra trong K khe thời gian trực giao.  
Chúng ta cũng giả sử rằng các nút mạng đều được trang bị  
đơn anten và hoạt động ở chế độ đơn công.  
và  
k  
f() =  
(7)  
(+k )2  
k
Ip  
h,k  
với  
.
k =  
N0 f ,k  
Ở đây, chúng ta xem xét truyền gói tin ngắn và mỗi khối  
Xét xét chặng thứ  
kênh truyền của kênh truyền từ  
k−1 → PU-RX . Gọi là công suất phát của chặng thứ  
, ta có trong chế độ phát dạng nền như sau [16, 27]:  
k
, gọi hk và fk lần lượt là hệ số  
truyền có chiều dài là m (channel use). Khi m có giá trị đủ  
lớn, ví dụ  
, chúng ta có thể xấp xỉ BLERk như sau  
m 100  
T
k−1 →T và  
k
[32]  
T
P
k
k
P
k
C(k ) − r  
V(k ) / m  
(8)  
BLERk E  
Q
k
Ip  
fk  
2   
P = min P ,  
(1)  
k
m
với C(k ) và V(k ) lần lượt là dung lượng Shannon của  
kênh truyền và là hàm tính toán sự méo dạng kênh truyền  
theo tỷ số tín hiệu trên nhiễu, cụ thể  
với Pm là công suất phát lớn nhất của các nút phát thứ cấp  
và là mức độ can nhiễu tối đa mà mạng sơ cấp chịu dựng  
Ip  
được.  
C(k ) = log2 (1+k )  
,
(9)  
1
(1+k )2  
2
Khi các nút chuyển tiếp sử dụng kỹ thuật giải mã và  
chuyển tiếp cố định, chúng ta có tỷ số tín hiệu trên nhiễu  
tương đương của hệ thống là [28-30]  
V() = 1−  
log e  
.
(10)  
(
)
k
2
Khi nút nguồn (  
T
0 ) truyền  
bit thông tin tới nút đích (  
T
K ) qua K khe thời gian trực giao, chúng ta có tốc độ lỗi  
e2e = mink k  
III. TỶ LỆ LỖI KHỐI  
.
(2)  
khối tương đương của hệ thống  
K
chặng là  
m K  
K  
m
r =  
=
.
Kết hợp (8), (9), và (10), ta có  
Giả sử rằng các chặng là độc lập thống kê với nhau, ta  
có tỷ lệ lỗi bit toàn trình của hệ thống như sau [16]:  
C(k ) − r  
V(k ) / m  
K
K
. (11)  
k
BLER Q  
f ()d  
k
k  
k
BLERe2e  
=
BLER  
(1−2BLER )  
u   
v
0
u=1  
v=u+1  
(3)  
K
Tích phân ở (11) không tồn tại dạng đóng do sự phức  
1   
2
=
1− (1−2BLER )  
tạp của hàm Q(.) và đối số. Để tính toán (11), chúng ta sử  
dụng xấp xỉ của hàm Q(.), cụ thể chúng ta biểu diễn hàm  
Q(.) lại như sau [33]:  
k
k=1  
với BLERk là tỷ lệ lỗi bit trung bình của chặng thứ k.  
1,  
k 1  
Ở đây, chúng ta xem xét hai trường hợp thực tế, cụ thể  
Ip  
fk  
Ip  
fk  
C(k )−r  
V(k ) / m  
1
là  
P
và  
P
. Sau đây, chúng ta sẽ xem xét  
2
Q  
  −m(AB −), 1 k 2  
m
m
2
2
0,  
k 2  
(12)  
lần lượt hai trường hợp.  
A. Trường hợp 1  
1
1
= 2r −1  
L =−  
=  
với  
,
,
, và  
222r −1  
Ip  
2m  
Khi  
P
, dẫn đến công suất phát ở chặng thứ k  
2
m
1
fk  
H =+  
.
là  
2m  
Thay thế (12) vào (11), chúng ta có [26]  
Ip  
fk  
Ip  
fk  
P = min P ,  
.
2
(4)  
là  
k
m
2
H  
.
(13)  
BLERk m F (k )dk  
k  
Ta có tỷ số tín hiệu trên nhiễu của chặng thứ  
k
L  
Thay thế (6) vào (13) và thực hiện tích phân, ta có [34]  
2
2
Ip  
P hk  
hk  
fk  
k
k =  
=
.
(5)  
H  
2
N0  
N0  
BLERk m  
d  
+k  
L  
Ở kênh truyền Rayleigh fading, hàm CDF và PDF của  
k là phân số của hai biến ngẫu nhiên hàm mũ lần lượt là  
.(14)  
H +k  
L +k  
=m − −log  
[31]  
H
L
k
F () =  
(6)  
k  
+k  
SOÁ 04B (CS.01) 2020  
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG  
70  
Võ Nguyễn Quốc Bảo & Trần Thiên Thanh  
K
H +k  
L +k  
1
2
(15)  
BLERe2e  
=
1−  
1− 2m − −log  
  
H
L
k
k=1  
   
   
K
H  
k  
L  
k  
1
(22)  
BLERe2e  
=
1−  
1−2m − +exp −  
−exp −  
k   
H
L
2
   
k=1  
K
Ip  
H +k  
L +k  
m − −log  
, P  
m
H
L
k
2
2
k=1  
fk  
Ip  
fk  
BLERe2e  
H 2 − L  
K
2   
m  
,
P
m
k  
2
k=1  
(25)  
H  
Cuối cùng, thay thế (14) vào (3), ta cuối cùng có được  
dạng đóng tỷ lệ lỗi khối hệ thống của Trường hợp 1 là như  
(15).  
BLERk m F (k )dk  
k  
L  
H  
k  
Ở vùng tỷ lệ tín hiệu trên nhiễu cao, khi đó BLERk  
=m 1−exp −  
d  
  
L  
, ta có thể xấp xỉ (15) như sau [16]:  
H  
k  
L  
k  
K
=m − +exp −  
−exp −  
k   
H
L
BLERe2e  
=
BLER  
k
k=1  
.(16)  
(21)  
K
H +k  
L +k  
Chúng ta thực hiện thay thế (21) vào (3), chúng ta cuối  
cùng có được dạng đóng của tỷ lệ lỗi khối của hệ thống  
trong Trường hợp 2 là như (22). Ở vùng tỷ lệ tín hiệu trên  
m − −log  
H
L
k
k=1  
B. Trường hợp 2  
nhiễu cao,  
BLERk  
1
, ta có thể xấp xỉ (22) là tổng tỷ lệ  
lỗi khối của tất cả các chặng như sau:  
Ip  
Khi  
P
, (4) dẫn đến  
2
m
K
fk  
BLERe2e  
BER  
,
k
(22)  
k=1  
Ip  
fk  
trong đó BERk có thể được xấp xỉ bằng cách sử dụng tính  
.
(17)  
P = min P ,  
P  
k
m
m
2
x
a
−
x
chất xấp xỉ của hàm mũ, cụ thể  
, chúng ta viết  
1−e a  
Từ (17), chúng ta có tỷ số tín hiệu trên nhiễu của chặng thứ  
là  
lại (21) như sau:  
k
H  
2
2
P hk  
P hk  
k
m
BLERk =m  
d  
k =  
.
(18)  
  
k
L  
N0  
N0  
.
(23)  
H 2 − L  
2   
Quan sát dạng của (18), chúng ta thấy rằng tỷ số tín hiệu  
m  
k  
=
trên nhiễu của chặng k sẽ là hệ thống truyền thông không  
vô tuyến nhận thức. Ở kênh truyền Rayleigh fading, hàm  
CDF và PDF của k trong Trường hợp 2 lần lượt là  
2
Thay thế (23) vào (3), ta có dạng xấp xỉ đơn giả cho như  
sau:  
k  
H 2 − L  
2   
K
m  
k  
F () =1−exp −  
(19)  
(20)  
k  
BLERe2e  
.
(24)  
2
k=1  
và  
Kết hợp (16) và (24), ta viết lại công thức dạng đóng  
tổng quát cho BLERe2e trong cả hai trường hợp như (25).  
1
k  
f() = exp −  
k
k  
V. KẾT QUẢ MÔ PHỎNG  
P h,k  
m
Trong phần này, chúng tôi sẽ tiến hành mô phỏng để khảo  
sát đặt tính của mô hình đề xuất và kiểm chứng các kết  
quả phân tích ở trên. Chúng ta xem xét mô hình truyền đa  
chặng tuyến tính nghĩa là các nút mạng bao gồm nút  
nguồn, nút đích và các nút chuyển tiếp được đặt trên một  
với k =  
.
N0  
Sử dụng phương pháp tương tự như Trường hợp 1,  
chúng ta thay thế (19) vào (13) và thực hiện tích phân, ta  
có kết quả như sau  
đường thẳng với tọa độ nút nguồn là (0,0), tọa độ nút đích  
k
K
,0  
là (1,0) và tọa độ các nút chuyển tiếp thứ k là  
.
(
)
Chúng ta cũng giả sử rằng tọa độ của nút nghe lén là  
E(xE , yE )  
.
SOÁ 04B (CS.01) 2020  
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG  
71  
ĐÁNH GIÁ HIỆU NĂNG MẠNG CHUYỂN TIẾP ĐA CHẶNG TRONG TRUYỀN THÔ NG SỬ DỤNG GÓ I TIN NGẮN  
Để tích hợp hiệu ứng suy hao đường truyền vào mô hình  
xem xét, chúng ta sử dụng mô hình suy hao đường truyền  
pháp  
phân  
tích  
đề  
xuất  
là  
đúng  
đắn.  
−  
d0  
XY = L  
đơn giản nghĩa là  
với L0 và d0 là hệ  
0   
dXY  
số điều chỉnh mô hình, dXY là khoảng cách giữa  
X →Y  
và là hệ số suy hao đường truyền. Các tham số hệ thống  
mô phỏng là cho trong Bảng 1 sau ngoại trừ các thay đổi  
cụ thể cho từng trường hợp cụ thể.  
Bảng 1: Thông số mô phỏng.  
TT  
1
Tham số  
Giá trị  
256  
256  
1
Ghi chú  
2
m
L0  
3
Hình 3: Ảnh hưởng của số chặng lên tỷ lệ lỗi khối của hệ thống.  
4
3
Có thể thay đổi từ  
2 đến 6 tùy theo  
Hình 2.5 cho chúng ta thấy ảnh hưởng của số chặng lên tỷ  
lệ lỗi khối của truyền thông gói tin ngắn. Chúng ta xem xét  
3 trường hợp, 1 chặng, 2 chặng và 3 chặng. Lưu ý rằng  
trường hợp 1 chặng nghĩa là trường hợp hệ thống truyền  
điểm nối điểm là trường hợp chúng ta có thể xem là tham  
chiếu khi muốn so sánh với hệ thống truyền đa chặng. Kết  
quả trong Hình 2.5 chỉ ra rằng tăng số chặng sẽ không luôn  
luôn cải thiện tỷ lệ lỗi khối của hệ thống. Cụ thể trong 3  
trường hợp xem xét, tỷ lệ lỗi khối tốt nhất cho trường hợp  
2 chặng, tiếp theo đến 1 chặng và xấu nhất là trường hợp  
3 chặng. Quan sát này dẫn đến một bài toán tối ưu mới mà  
cần phải xem xét là số chặng tối ưu của hệ thống.  
môi  
truyền  
trường  
5
1
Là giá trị chuẩn  
hóa nhầm mục  
đích kiểm chứng  
tính đúng đắn của  
kết quả phân tích.  
Trong thực tế có  
thể là từ -90 dBm  
đến -60 dBm  
N0  
6
10  
Đơn vị: dB  
Ip  
N0  
7
8
K
2
Số chặng  
(0.5, 1)  
Tọa độ nút E  
E(xE , yE )  
Hình 4: Ảnh hưởng của mức độ chịu đựng can nhiễu của mạng  
sơ cấp lên hiệu năng mạng thứ cấp.  
Trong Hình 2.6, chúng ta xem xét ảnh hưởng của mức độ  
chịu đựng can nhiễu của mạng sơ cấp lên tỷ lệ lỗi khối  
trong truyền tin gói tin ngắn của hệ thống thứ cấp. Chúng  
Ip  
Hình 2: So sánh kết quả phân tích xấp xỉ ở vùng tỷ lệ tín hiệu  
trên nhiễu cao và thấp với kết quả mô phỏng  
ta xem xét 3 trường hợp là  
lần lượt bằng 5, 10, và 15  
N0  
dB, khi chúng ta thay đổi tỷ lệ tín hiệu trên nhiễu trung  
bình của hệ thống từ 0 đến 40 dB và các tham số khác là  
không thay đổi. Chúng ta thấy rõ rằng ở vùng tỷ lệ tín hiệu  
trên nhiễu thấp, khi tỷ lệ tín hiệu trên nhiễu tăng thì hiệu  
năng của hệ thống. Tuy nhiên, đến một mức giới hạn, quy  
Ip  
Trong Hình 2, chúng ta so sánh kết quả phân tích ở vùng  
tỷ lệ tín hiệu trên nhiễu thấp và cao. Chúng ta thấy rằng  
các kết quả là phù hợp như dự đoán, nghĩa là hiệu năng của  
hệ thống ở dạng tỷ lệ lỗi khối trung bình ở vùng tỷ lệ nhiễu  
thấp sẽ cải thiện khi tỷ số tín hiệu trên nhiễu tăng. Tuy  
nhiên tỷ lệ lỗi khối sẽ bị bão hòa ở vùng tỷ lệ tín hiệu trên  
nhiễu cao. Kết quả trong Hình 2 chỉ ra rằng các phương  
định bởi  
, hiệu năng của hệ thống sẽ bị giới hạn. Quan  
N0  
sát này đề xuất chúng ta rằng muốn tăng hiệu năng của hệ  
SOÁ 04B (CS.01) 2020  
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG  
72  
Võ Nguyễn Quốc Bảo & Trần Thiên Thanh  
[8] A. Goldsmith, S. A. Jafar, I. Maric, and S. Srinivasa,  
"Breaking Spectrum Gridlock With Cognitive Radios: An  
Information Theoretic Perspective," Proceedings of the  
IEEE, vol. 97, no. 5, pp. 894-914, 2009.  
[9] N. T. Y. Linh and V. N. Q. Bao, "Performance Enhancement  
of Random Cognitive Radio Networks with Non-orthogonal  
Multiple Access," in 2019 25th Asia-Pacific Conference on  
Communications (APCC), 2019, pp. 516-520.  
[10] H. V. Hoa and V. N. Q. Bao, "Outage Performance of  
Cooperative Underlay Cognitive Radio with Non-  
Orthogonal Multiple Access," in 2019 25th Asia-Pacific  
Conference on Communications (APCC), 2019, pp. 527-532.  
[11] T. Tu Lam, V. N. Q. Bao, and A. Beongku, "On the  
performance of outage probability in underlay cognitive  
radio with imperfect CSI," in Advanced Technologies for  
Communications (ATC), 2013 International Conference on,  
2013, pp. 125-130.  
[12] H. V. Toan, V. N. Q. Bao, and K. N. Le, "Performance  
analysis of cognitive underlay two-way relay networks with  
interference and imperfect channel state information,"  
EURASIP Journal on Wireless Communications and  
Networking, journal article vol. 2018, no. 1, p. 53, March 06  
2018.  
thống thứ cấp chúng ta phải xem xét điểm tỷ số tín hiệu  
trên nhiễu mà hệ thống hoạt động, và từ đó sẽ chọn giải  
pháp tăng tỷ số tín hiệu trên nhiễu của hệ thống thứ cấp  
hay cải thiện hiệu năng chống can nhiễu của mạng sơ cấp.  
Ngoài ra Hình 2.6 cũng chỉ ra rằng xấp xỉ tỷ lệ lỗi khối sẽ  
gần với kết quả mô phỏng (là kết quả chính xác) khi mà  
Ip  
giá trị  
tăng lên, nghĩa là điều kiện xấp xỉ thỏa mãn  
N0  
hơn.  
V. KẾT LUẬN  
Trong bài báo này, chúng tôi đã đề xuất mô hình mạng  
chuyển tiếp đa chặng thứ cấp vô tuyến nhận thức dạng nền  
trong truyền thông gói tin ngắn và đề xuất phương pháp  
đánh giá tỷ lệ lỗi khối toàn trình của hệ thống ở kênh  
truyền fading Rayleigh trong hai trường hợp: hoạt động ở  
vùng tỷ lệ nhiễu thấp và ở vùng tỷ lệ nhiễu cao. Thông qua  
kết quả mô phỏng, chúng tôi đã chỉ ra rằng mở rộng vùng  
phủ sóng bằng cách tăng số lượng các chặng không phải  
luôn là một giải phấp tốt, nghĩa là với một tỷ lệ QoS cho  
trước, sẽ tồn tại một chặng cho hiệu năng tốt nhất. Bên  
cạnh đó, chúng ta cũng có thể thấy rằng hiệu năng của hệ  
thống ở vùng tỷ lệ nhiễu thấp sẽ được quyết định bởi tỷ  
công suất phát tối đa của máy phát và ở vùng tỷ lệ nhiễu  
cao sẽ quyết định bởi ngưỡng can nhiễu chịu đựng tối đa  
của mạng sơ cấp.  
[13] N. H. Giang, V. N. Q. Bao, and H. Nguyen-Le, "Effect of  
CSI Imperfection on Cognitive Underlay Transmission over  
Nakagami-m Fading Channel," 2015.  
[14] C. Nguyen Van, V. N. Q. Bao, and N. Nguyen Luong, "On  
the performance of cognitive underlay Alamouti space-time  
coding schemes," in Advanced Technologies for  
Communications (ATC), 2013 International Conference on,  
2013, pp. 23-27.  
LỜI CẢM ƠN  
[15] G. Nguyen Hong, V. N. Q. Bao, and N.-L. Hung,  
"Cognitive underlay communications with imperfect CSI:  
Network design and performance analysis," in Advanced  
Nghiên cứu này được tài trợ bởi Học Viện Công Nghệ Bưu  
Chính Viễn Thông trong đề tài có mã số 13-HV-2020-  
RD_VT2.  
Technologies  
for  
Communications  
(ATC),  
2013  
International Conference on, 2013, pp. 18-22.  
[16] V. N. Q. Bao, T. Q. Duong, and C. Tellambura, "On the  
Performance of Cognitive Underlay Multihop Networks with  
Imperfect Channel State Information," Communications,  
IEEE Transactions on, vol. 61, no. 12, pp. 4864-4873, 2013.  
[17] T. Luu Pham and V. N. Q. Bao, "Outage performance  
analysis of dual-hop AF relaying system with underlay  
spectrum sharing," in Advanced Communication Technology  
(ICACT), 2012 14th International Conference on, 2012, pp.  
481-486.  
[18] K. Ho Van and V. N. Q. Bao, "Symbol Error Rate of  
Underlay Cognitive Relay Systems over Rayleigh Fading  
Channel," IEICE Transactions on Communications, vol.  
E95.B, no. 5, pp. 1873-1877, 2012.  
[19] V. N. Q. Bao and T. Q. Duong, "Exact outage probability  
of cognitive underlay DF relay networks with best relay  
selection," IEICE transactions on communications, vol. 95,  
no. 6, pp. 2169-2173, 2012.  
[20] T. Duong, V. N. Q. Bao, and H.-J. Zepernick, "Exact  
outage probability of cognitive AF relaying with underlay  
spectrum sharing," Electronics letters, vol. 47, no. 17, pp.  
1001-1002, 2011.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] K. Zheng, B. Fan, Z. Ma, G. Liu, X. Shen, and W. Wang,  
"Multihop cellular networks toward LTE-advanced,"  
Vehicular Technology Magazine, IEEE, vol. 4, no. 3, pp. 40-  
47, 2009.  
[2] T. Nguyen, T. Do, V. N. Q. Bao, D. B. d. Costa, and B. An,  
"Performance Analysis of Multihop Cognitive WPCNs with  
Imperfect CSI," in 2019 IEEE Global Communications  
Conference (GLOBECOM), 2019, pp. 1-6.  
[3] T. V. Nguyen, T. Do, V. N. Q. Bao, D. B. d. Costa, and B.  
An, "On the Performance of Multihop Cognitive Wireless  
Powered D2D Communications in WSNs," IEEE  
Transactions on Vehicular Technology, vol. 69, no. 3, pp.  
2684-2699, 2020.  
[4] R. C. Carrano, L. C. S. Magalhaes, D. C. M. Saade, and C.  
V. N. Albuquerque, "IEEE 802.11s Multihop MAC: A  
Tutorial," Communications Surveys & Tutorials, IEEE, vol.  
13, no. 1, pp. 52-67, 2011.  
[5] V. N. Q. Bao, L. Q. Cuong, L. Q. Phu, T. D. Thuan, L. M.  
Trung, and N. T. Quy, "Spectrum Survey in Vietnam:  
Occupancy Measurements and Analysis for Cognitive Radio  
Applications," in The 2011 International Conference on  
Advanced Technologies for Communications, Da Nang,  
Vietnam, 2011, pp. 135-143.  
[21] D.-S. Yoo, W. E. Stark, K.-P. Yar, and S.-J. Oh, "Coding  
and Modulation for Short Packet Transmission," IEEE  
TRANSACTIONS ON VEHICULAR TECHNOLOGY, vol.  
59, no. 4, pp. 2104-2109, May 2010.  
[22] B. Lee, S. Park, D. J. Love, H. Ji, and B. Shim, "Packet  
Structure and Receiver Design for Low Latency Wireless  
Communications With Ultra-Short Packets," IEEE  
Transactions on Communications, vol. 66, no. 2, pp. 796-  
807, 2018.  
[6] W. Beibei and K. J. R. Liu, "Advances in Cognitive Radio  
Networks: A Survey," Selected Topics in Signal Processing,  
IEEE Journal of, vol. 5, no. 1, pp. 5-23, 2011.  
[7] J. Mitola, III and G. Q. Maguire, Jr., "Cognitive radio:  
making software radios more personal," IEEE Personal  
Communications, vol. 6, no. 4, pp. 13-18, 1999.  
[23] G. Durisi, T. Koch, and P. Popovski, "Toward Massive,  
Ultrareliable, and Low-Latency Wireless Communication  
SOÁ 04B (CS.01) 2020  
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG  
73  
ĐÁNH GIÁ HIỆU NĂNG MẠNG CHUYỂN TIẾP ĐA CHẶNG TRONG TRUYỀN THÔ NG SỬ DỤNG GÓ I TIN NGẮN  
With Short Packets," Proceedings of the IEEE, vol. 104, no.  
9, pp. 1711-1726, 2016.  
Võ Nguyễn Quốc Bảo tốt nghiệp  
Tiến sĩ chuyên ngành vô tuyến tại Đại  
[24] R. Devassy, G. Durisi, G. C. Ferrante, O. Simeone, and E.  
Uysal, "Reliable transmission of short packets through  
queues and noisy channels under latency and peak-age  
violation guarantees," IEEE Journal on Selected Areas in  
Communications, vol. 37, no. 4, pp. 721-734, 2019.  
[25] J. Chen, L. Zhang, Y.-C. Liang, X. Kang, and R. Zhang,  
"Resource Allocation for Wireless-Powered IoT Networks  
With Short Packet Communication," IEEE Transactions on  
Wireless Communications, vol. 18, no. 2, pp. 1447-1461,  
2019.  
[26] V. N. Q. Bao and T. T. Thanh, "Performance Analysis of  
Partial Relay Selection Networks with Short Packet  
Communications," in 2019 6th NAFOSTED Conference on  
Information and Computer Science (NICS), 2019, pp. 23-26.  
[27] V. N. Q. Bao and T. Q. Duong, "Outage Analysis of  
Cognitive Multihop Networks under Interference  
Constraints," IEICE Trans Commun, vol. E95-B, no. 03, pp.  
1019-1022, Mar. 2012.  
học Ulsan, Hàn Quốc vào năm 2010.  
Hiện nay, TS. Bảo là phó giáo sư của  
Bộ Môn Vô Tuyến, Khoa Viễn Thông  
2, Học Viện Công Nghệ Bưu Chính  
Viễn Thông Cơ Sở Thành Phố Hồ Chí  
Minh và đồng thời là giám đốc của  
phòng thí nghiệm nghiên cứu vô tuyến  
(WCOMM). TS. Bảo hiện là thành viên  
chủ chốt (senior member) của IEEE và  
là tổng biên tập kỹ thuật của tạp chí REV Journal on Electronics  
and Communication. TS. Bảo đồng thời là biên tập viên (editor)  
của nhiều tạp chí khoa học chuyên ngành uy tín trong và ngoài  
nước, ví dụ: Transactions on Emerging Telecommunications  
Technologies (Wiley ETT), VNU Journal of Computer Science  
and Communication Engineering. TS. Bảo đã tham gia tổ chức  
nhiều hội nghị quốc gia và quốc tế, ví dụ: ATC (2013, 2014),  
NAFOSTED-NICS (2014, 2015, 2016), REV-ECIT 2015,  
ComManTel (2014, 2015), và SigComTel 2017. Hướng nghiên  
cứu hiện tại đang quan tâm bao gồm: vô tuyến nhận thức, truyền  
thông hợp tác, truyền song công, bảo mật lớp vật lý và thu thập  
năng lượng vô tuyến.  
[28] M. O. Hasna and M.-S. Alouini, "Outage Probability of  
Multihop Transmission Over Nakagami Fading Channels,"  
IEEE Communications Letters, vol. 7, no. 5, pp. 216-218,  
May 2003.  
[29] V. N. Q. Bao and H. Y. Kong, "Performance analysis of  
decode-and-forward relaying with partial relay selection for  
multihop transmission over Rayleigh fading channels,"  
Communications and Networks, Journal of, vol. 12, no. 5, pp.  
433-441, 2010.  
[30] V. N. Q. Bao, T. Q. Duong, A. Nallanathan, and C.  
Tellambura, "Effect of Imperfect Channel State Information  
on the Performance of Cognitive Multihop Relay Networks,"  
in Global Communications Conference (GLOBECOM),  
2013 IEEE, 2013, pp. 3458-3463.  
Tran Thien Thanh is an assistant  
professor at Ho Chi Minh City University  
of Transport, Vietnam. She received the B.  
Eng. degree, the M. Eng. degree, and the  
Ph.D. degree in Electrical Engineering  
from Ho Chi Minh City University of  
Technology, Vietnam, in 2001 and 2003,  
respectively. Since 2009, she has been with  
Faculty of Information Technology, Ho Chi  
[31] T. Q. Duong, V. N. Q. Bao, and H. J. Zepernick, "Exact  
outage probability of cognitive AF relaying with underlay  
spectrum sharing," Electronics Letters, vol. 47, no. 17, pp.  
1001-1002, 2011.  
Minh City University of Transport, Vietnam. Her research  
interests include networking and wireless communications.  
[32] Y. Gu, H. Chen, Y. Li, L. Song, and B. J. I. S. P. L. Vucetic,  
"Short-packet two-way amplify-and-forward relaying," vol.  
25, no. 2, pp. 263-267, 2017.  
[33] V. N. Q. Bao, L. P. Tuyen, H. H. J. R. J. o. E. Tue, and  
Communications, "A survey on approximations of one-  
dimensional Gaussian Q-function," vol. 5, no. 1-2, 2016.  
[34] D. Zwillinger, Table of integrals, series, and products.  
Elsevier, 2014.  
COGNITIVE UNDERLAY MULTIHOP RELAY  
NETWORKS RELAYS IN SHORT PACKETS:  
BLOCK ERROR RATE ANALYSIS  
Abstract— In this paper, we propose cognitive  
underlay multihop relay networks with 5G short packets in  
5G communications. We also suggest a novel approach to  
evaluate the system performance in terms of system block  
(frame) error rate in low and high operating signal-to-noise  
ratios (SNRs). Monte Carlo simulation is used to verify the  
proposed analysis approach and to confirm the system  
advantages over the conventional direct transmission  
system. The numerical results show that the secondary  
system performance at low and high SNRs is determined  
by the maximum transmit powers of secondary transmiters  
and the maximum allowable interference levels of the  
primay receicivers, respectively.  
Keywords—mutihop communications, congive radio,  
fading Rayleigh, short packet communications, block error  
rate.  
SOÁ 04B (CS.01) 2020  
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG  
74  
pdf 6 trang yennguyen 12040 Free
Bạn đang xem tài liệu "Mạng chuyển tiếp đa chặng dạng nền trong truyền thông gói tin ngắn: Đánh giá tỷ lệ lỗi khối", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmang_chuyen_tiep_da_chang_dang_nen_trong_truyen_thong_goi_ti.pdf