Bài giảng Mạng máy tính - Bài 2: Đường truyền vật lý và truyền dữ liệu tính

Bài 2: Đường truyền vật lý và truyền dữ liệu tính  
BÀI 2: ĐƯỜNG TRUYỀN VẬT LÝ VÀ TRUYỀN DỮ LIỆU TÍNH  
Nội dung  
Thông tin và lượng tin.  
Cáp mạng.  
Truyền thông trên mạng vô tuyến.  
Môi trường truyền vô tuyến, các loại mạng  
vô tuyến.  
Card mạng.  
Hướng dẫn học  
Mục tiêu  
Nghe giảng và đọc tài liệu để nắm bắt  
các nội dung chính.  
Sau khi học bài này, các bạn có thể:  
Nắm được các khái niệm về thông tin, lượng  
tin và dữ liệu.  
Làm bài tập và luyện thi trắc nghiệm  
theo yêu cầu của từng bài.  
Các loại đường truyền dẫn tín hiệu.  
Các phương thức truyền dữ liệu.  
Giới thiệu về card mạng.  
Liên hệ, thực hành và lấy các ví dụ trong  
thực tế minh họa cho bài học.  
Thời lượng học  
12 tiết.  
Thực hiện được: lắp ráp card mạng vào  
Motherboard, cấu hình và kiểm tra card có  
làm việc đúng không.  
Nắm thêm một số rắc rối phát sinh và cách  
giải quyết về card mạng.  
IT102_Bai 2_ v1.0013103214  
27  
Bài 2: Đường truyền vật lý và truyền dữ liệu tính  
TÌNH HUỐNG KHỞI ĐỘNG BÀI  
Tình huống dẫn nhập  
Để có thể truy cập Internet tại nhà, lấy dữ liệu trên mạng, ở  
công ty, …, chúng ta đều cần phải thiết lập một số thiết bị, và  
cài đặt một số phần mềm. Vấn đề chúng ta cần quan tâm là có  
những cách nào, cần phải mua những thiết bị gì và cài đặt  
những phần mềm nào, ra sao? Sâu hơn, chúng ta cần tìm hiểu  
cách thức mà các máy tính truyền dữ liệu cho nhau.  
Câu hỏi  
1. Các máy tính truyền thông tin cho nhau bằng cách nào?  
2. Các máy tính sử dụng thiết bị gì, công cụ gì để kết nối các máy tính lại với nhau?  
3. Để thiết lập được mạng máy tính cần phải cần đặt các thiết bị phần cứng, và phần mềm gì?  
28  
IT102_Bai 2_ v1.0013103214  
Bài 2: Đường truyền vật lý và truyền dữ liệu tính  
2.1.  
Thông tin và lượng tin  
Khái niệm thông tin (Information) được sử dụng thường ngày. Con người có nhu  
cầu đọc báo, nghe đài, xem phim, video, đi tham quan, du lịch, tham khảo ý kiến  
người khác,... để nhận được thêm thông tin mới. Thông tin mang lại cho con người  
sự hiểu biết, nhận thức tốt hơn về những đối tượng trong đời sống xã hội, trong  
thiên nhiên,... giúp cho họ thực hiện hợp lý công việc cần làm để đạt tới mục đích  
một cách tốt nhất.  
Những đám mây đen đùn lên ở chân trời phía Ðông chứa đựng thông tin báo hiệu  
về trận mưa lớn sắp xảy ra. Màu đen của mây, tốc độ vận chuyển của mây chứa  
các thông tin về khí tượng.  
Biểu đồ thống kê sản phẩm hàng tháng của từng phân xưởng bánh kẹo chứa đựng  
các thông tin về năng suất lao động, về mức độ thực hiện kế hoạch sản xuất của  
phân xưởng đó. Nốt nhạc trong bản sô-nát ánh trăng của Beethoven làm cho người  
nghe cảm thấy được sự tươi mát, êm dịu của đêm trăng. Những thông tin về cảm  
xúc của tác giả đã được truyền đạt lại.  
Khi tiếp nhận được thông tin, con người thường phải xử lý nó để tạo ra những  
thông tin mới, có ích hơn, từ đó có những phản ứng nhất định. Người tài xế chăm  
chú quan sát người, xe cộ đi lại trên đường, độ tốt xấu mặt đường, tính năng kỹ  
thuật cũng như vị trí của chiếc xe để quyết định, cần tăng tốc độ hay hãm phanh,  
cần bẻ lái sang trái hay sang phải... nhằm đảm bảo an toàn tối đa cho chuyến xe đi.  
Thông tin có thể được phát sinh, được lưu trữ, được truyền, được tìm kiếm, được sao  
chép, được xử lý, nhân bản. Thông tin cũng có thể biến dạng, sai lệch hoặc bị phá  
hủy.  
Mỗi tế bào sinh dục của những cá thể sinh vật mang thông tin di truyền quyết định  
những đặc trưng phát triển của cá thể đó. Gặp môi trường không thuận lợi, các  
thông tin di truyền đó có thể bị biến dạng, sai lệch dẫn đến sự hình thành những cá  
thể dị dạng. Ngược lại, bằng những tác động tốt của di truyền học chọn giống, ta  
có thể cấy hoặc làm thay đổi các thông tin di truyền theo hướng có lợi cho con  
người. Thông tin được thể hiện dưới nhiều dạng thức khác nhau như sóng ánh  
sáng, sóng âm, điện từ, các ký hiệu viết trên giấy hoặc khắc trên gỗ, trên đá, trên  
các tấm kim loại ... Về nguyên tắc, bất kỳ cấu trúc vật chất nào hoặc bất kỳ dòng  
năng lượng nào cũng có thể mang thông tin. Chúng được gọi là những vật (giá)  
mang tin. Dữ liệu (Data) là biểu diễn của thông tin và được thể hiện bằng các tín  
hiệu (Signal) vật lý.  
Thông tin chứa đựng ý nghĩa, còn dữ liệu là các dữ kiện không có cấu trúc và không  
có ý nghĩa rõ ràng nếu nó không được tổ chức và xử lý. Cùng một thông tin, có thể  
được biểu diễn bằng những dữ liệu khác nhau. Cùng biểu diễn một đơn vị, nhưng  
trong chữ số thập phân ta cùng ký hiệu 1, còn trong hệ đếm La Mã lại dùng ký hiệu I.  
Mỗi dữ liệu lại có thể được thể hiện bằng những ký hiệu vật lý khác nhau. Cũng là  
gật đầu, đối với nhiều dân tộc trên thế giới thì đó là tín hiệu thể hiện sự đồng tình;  
nhưng ngược lại, đối với người Hy Lạp, gật đầu để biểu lộ sự bất đồng. Cùng là ký  
hiệu I nhưng trong tiếng Anh có nghĩa là đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất (tôi) còn  
trong toán học lại là chữ số La Mã có giá trị là 1. Mỗi tín hiệu có thể dùng để thể  
IT102_Bai 2_ v1.0013103214  
29  
Bài 2: Đường truyền vật lý và truyền dữ liệu tính  
hiện các thông tin khác nhau. Uống một chén rượu để mừng ngày gặp mặt, cũng có  
thể uống chén rượu để giải sầu, để tiễn đưa người thân lên đường đi xa.  
Thông tin là một khái niệm trừu tượng, tồn tại khách quan, có thể nhớ trong đối  
tượng, biến đổi trong đối tượng và áp dụng để điều khiển đối tượng. Thông tin làm  
tăng thêm hiểu biết của con người, là nguồn gốc của nhận thức. Thông tin về một  
đối tượng chính là một dữ kiện về đối tượng đó, chúng giúp ta nhận biết và hiểu  
được đối tượng. Thông tin có liên quan chặt chẽ đến khái niệm về độ bất định.  
Mỗi đối tượng chưa xác định hoàn toàn đều có một độ bất định nào đó. Tính bất  
định này chưa cho biết một cách chính xác và đầy đủ về đối tượng đó.  
Ðộ bất định sẽ giảm đi khi nhận thêm thông tin. Cơ quan Công An được thông  
báo: đối tượng bị truy nã A đang trú ngụ tại Hà Nội. Thông tin này mới chỉ giúp  
Công An xác định được đối tượng A có thể trú ngụ đâu đó trong nội hoặc ngoại  
thành Hà Nội. Nếu Công An các quận nội thành đều khẳng định là trong địa bàn của  
họ hiện không có đối tượng A thì Sở Công an chỉ cần triển khai truy tìm đối tượng  
A trong các huyện ngoại thành. Thông tin bổ sung do công an các quận nội thành  
cung cấp làm độ bất định về nơi trú ngụ của đối tượng A giảm xuống.  
Ðộ bất định có liên quan chặt chẽ đến khái niệm xác suất - độ đo khả năng có thể  
xảy ra của sự kiện (biến cố). Nếu một biến cố không bao giờ xảy ra, xác suất của  
nó có giá trị bằng 0. Nếu có một biến cố chắc chắn xảy ra, xác suất của nó bằng 1.  
Ðại lượng xác suất có giá trị trong đoạn [0, 1]. Xác suất đối tượng A trú ngụ ở đâu  
trong 9 địa bàn (4 quận và 5 huyện) của Hà Nội trước khi có thông tin bổ sung là  
1/9, còn sau đó là 1/5. Xác suất càng nhỏ thì độ bất định càng lớn. Thông tin có  
thể đo được. Giả sử sự kiện có thể tồn tại ở một trong số n trạng thái được đánh số  
1, 2 ,..., n trong đó trạng thái i xuất hiện với xác suất là Pi (0 < Pi < 1). C.Shannon  
vào năm 1948 đã đưa ra công thức sau nhằm xác định độ bất định của sự kiện  
n
H(s) p log (p )  
i
2
i
i1  
Khi được cung cấp thêm thông tin, số trạng thái và xác suất xảy ra của mỗi trạng  
thái sẽ khác đi và ta sẽ nhận được một độ bất định mới l2 nào đó (bé hơn l1). Như  
vậy, thông tin bổ sung đã làm giảm độ bất định và hiệu số (l1 - l2) được xem là  
lượng tin của thông tin mới bổ sung.  
Thực ra, trước đó vào năm 1928 R.Hartley đã xét trường hợp riêng khi p1 = p2 =  
... = pn = 1/n. Khi đó độ bất định sẽ là log n . Có thể ứng dụng công thức Hartley  
2
để tính lượng tin trong trường hợp đơn giản khi khả năng tồn tại ở một trong hai  
trạng thái của sự kiện là như nhau (đồng xác suất: p1 = p2 = 1/2). Ðộ bất định  
trong trường hợp này sẽ là log22-1.  
Trong máy tính, các thông tin được biểu diễn bằng hệ đếm nhị phân. Tuy chỉ dùng  
hai ký số là 0 và 1 mà ta gọi là bit nhưng hệ nhị phân đã giúp máy tính biểu diễn -  
xử lý được trên hầu hết các loại thông tin mà con người hiện đang sử dụng như  
văn bản, hình ảnh, âm thanh, video, ...  
30  
IT102_Bai 2_ v1.0013103214  
Bài 2: Đường truyền vật lý và truyền dữ liệu tính  
2.2.  
Cáp mạng  
2.2.1.  
Các loại cáp chính  
Kênh truyền hữu tuyến  
Cáp thuộc loại kênh truyền hữu tuyến được sử dụng để nối máy tính và các thành  
phần mạng lại với nhau. Hiện nay có 3 loại cáp được sử dụng phổ biến là: Cáp xoắn  
đôi (Twisted Pair), cáp đồng trục (Coax) và cáp quang (Fiber Optic). Việc chọn lựa  
loại cáp sử dụng cho mạng tùy thuộc vào nhiều yếu tố như: giá thành, khoảng cách, số  
lượng máy tính, tốc độ yêu cầu, băng thông.  
2.2.1.1. Cáp xoắn đôi (Twisted Pair)  
Cáp xoắn đôi có hai loại: có vỏ bọc (Shielded Twisted Pair) và không có vỏ bọc  
(Unshielded Twisted Pair). Cáp xoắn đôi có vỏ bọc sử dụng một vỏ bọc đặc biệt quấn  
xung quanh dây dẫn có tác dụng chống nhiễu. Cáp xoắn đôi trở thành loại cáp mạng  
được sử dụng nhiều nhất hiện nay. Nó hỗ trợ hầu hết các khoảng tốc độ và các cấu  
hình mạng khác nhau và được hỗ trợ bởi hầu hết các nhà sản xuất thiết bị mạng.  
(a)  
(b)  
Hình 2.1: Cáp xoắn đôi  
Các đặc tính của cáp xoắn đôi là:  
Được sử dụng trong mạng token ring (cáp loại 4 tốc độ 16MBps), chuẩn mạng  
Ethernet 10 BaseT (tốc độ 10MBps), hay chuẩn mạng 100 BaseT (tốc độ 100Mbps).  
Giá cả chấp nhận được.  
UTP thường được sử dụng bên trong các tòa nhà vì nó ít có khả năng chống nhiễu  
hơn so với STP.  
Cáp loại 2 có tốc độ đạt đến 1Mbps (cáp điện thoại).  
Cáp loại 3 có tốc độ đạt đến 10Mbps (dùng trong mạng Ethernet 10BaseT) (Hình 2.1.a).  
Cáp loại 5 có tốc độ đạt đến 100MBps (dùng trong mạng 10 BaseT và 100 BaseT)  
(Hình 2.1.b).  
Cáp loại 5E và loại 6 có tốc độ đạt đến 1000 MBps (dùng trong mạng 1000 BaseT).  
2.2.1.2. Cáp đồng trục (Coaxial Cable)  
Cáp đồng trục là loại cáp được chọn lựa cho các mạng nhỏ ít người dùng, giá thành thấp.  
Có cáp đồng trục gầy (Thin Coaxial Cable) và cáp đồng trục béo (Thick Coaxial Cable).  
Hình 2.2: Mặt cắt của cáp đồng trục  
IT102_Bai 2_ v1.0013103214  
31  
Bài 2: Đường truyền vật lý và truyền dữ liệu tính  
Cáp đồng trục gầy, ký hiệu RG-58AU, được dùng trong chuẩn mạng Ethernet  
10Base2.  
Hình 2.3: Cáp đồng trục và T-connector  
Cáp đồng trục béo, ký hiệu RG-11, được dùng trong chuẩn mạng 10Base5. Các loại  
đầu nối được sử dụng với cáp đồng trục gầy là đầu nối chữ T (T connector), đầu nối  
BNC và thiết bị đầu cuối (Terminator).  
2.2.1.3. Cáp quang (Fiber Optic)  
Cáp quang truyền tải các sóng điện từ dưới dạng ánh sáng. Thực tế, sự xuất hiện của  
một sóng ánh sáng tương ứng với bit “1” và sự mất ánh sáng tương ứng với bit “0”.  
Các tín hiệu điện tử được chuyển sang tín hiệu ánh sáng bởi bộ phát, sau đó các tín  
hiệu ánh sáng sẽ được chuyển thành các sung điện tử bởi bộ nhận. Nguồn phát quang  
có thể là các đèn LED (Light Emitting Diode) cổ điển, hay các diod laser. Bộ dò ánh  
sáng có thể là các tế bào quang điện truyền thống hay các tế bào quang điện dạng khối.  
Hình 2.4: Cáp quang  
Sự lan truyền tín hiệu được thực hiện bởi sự phản xạ trên bề mặt. Thực tế, tồn tại 3  
loại cáp quang. Chế độ đơn: một tia sáng trên đường truyền tải. Hai chế độ còn lại gọi  
là chế độ đa: nhiều tia sáng cùng được truyền song song nhau Trong chế độ đơn, chiết  
suất n2 > n1. Tia laser có bước sóng từ 5 đến 8 micrometres được tập trung về một  
hướng. Các sợi loại này cho phép tốc độ bit cao nhưng khó xử lý và phức tạp trong  
các thao tác kết nối.  
Hình 2.5: Mô tả cách truyền trong cáp quang  
32  
IT102_Bai 2_ v1.0013103214  
Bài 2: Đường truyền vật lý và truyền dữ liệu tính  
Chế độ đa không thẩm thấu: Các tia sáng di chuyển bằng cách phản xạ giữa bề mặt  
của 2 môi trường có chiết suất khác nhau (n2 > n1) và mất nhiều thời gian hơn để các  
sóng di chuyển so với chế độ đơn. Độ suy giảm đường truyền từ 30 dB/km đối với các  
loại cáp thủy tinh và từ 100 dB/km đối với loại cáp bằng chất dẻo.  
Chế độ đa bị thẩm thấu: Chiết suất tăng dần từ trung tâm về vỏ của ống. Vì thế sự  
phản xạ trong trường hợp này là rất nhẹ nhàng, tia sáng bị uốn cong dần dần.  
Từ cách đây nhiều năm người ta có thể thực hiện dồn kênh trên cùng một sợi quang  
nhiều thông tin bằng cách dùng các sóng có độ dài khác nhau. Kỹ thuật này được gọi  
là WDM (Wavelength Division Multiplexing).  
2.2.2.  
Truyền tín hiệu  
Phương tiện thường được dùng để truyền tải dữ liệu (các bits 0,1) từ thiết bị truyền đến  
thiết bị nhận trên một kênh truyền nhận vật lý là các tín hiệu tuần tự hay tín hiệu số.  
Hình 2.6.a: Tín hiệu tuần tự - được biểu diễn  
bằng một độ lớn vật lý thay đổi một cách liên tục  
Hình 2.6.b: Tín hiệu số - được biểu diễn bởi một  
độ lớn vật lý với một vài giá trị xác định riêng rời  
2.2.2.1. Truyền tải tín hiệu sóng dạng hình sin  
Sóng dạng hình sin, không kết thúc hoặc suy giảm sau một khoảng thời gian là dạng  
tín hiệu tuần tự đơn giản nhất, dễ dàng tạo ra được. Hơn thế nó còn đặc biệt được chú  
ý đến bởi yếu tố sau: bất kỳ một dạng tín hiệu nào cũng có thể được biểu diễn lại bằng  
các sóng hình sin. Yếu tố này được rút ra từ một nghiên cứu cụ thể nó cho phép chúng  
ta có thể định nghĩa một vài đặc điểm của kênh truyền vật lý. Xem xét một kênh  
truyền, giả sử rằng các điểm kết nối là trực tiếp, không có ngắt quãng, được hình  
thành từ hai sợi kim loại. Một đoạn của kênh truyền được xem như một đèn 4 cực  
gồm một điện trở R và một tụ điện C.  
Hình 2.7: Mô hình kênh truyền dữ liệu vật lý  
Tín hiệu hình sin được áp vào giữa các cực (giữa 2 sợi dây) được tính theo biểu thức:  
Vin(t) = Vin sin wt  
Trong đó:  
Vin: là hiệu điện thế cực đại.  
f = w/2p: là tần số.  
● w: nhịp.  
● T = 2p/w = 1/f: là chu kỳ.  
IT102_Bai 2_ v1.0013103214  
33  
Bài 2: Đường truyền vật lý và truyền dữ liệu tính  
Tín hiệu đầu ra sẽ là: Vout(t) = Vout sin (wt + F) với: F là độ trễ pha.  
Mức điện thế ra tùy thuộc vào điện thế vào và đặc điểm vật lý của đèn bốn cực. Trong  
trường hợp đơn giản nhất ta có:  
Vout  
1
; F arctang( RCW)  
1(RCW)2  
V
in  
Ta nhận thấy rằng điện thế ra Vout thì yếu hơn điện thế vào Vin. Ta nói có một sự  
giảm thế và một sự lệch pha F giữa hiệu điện thế vào và hiệu điện thế ra. Nếu ta chồng  
2 sóng điện thế vào và điện thế ra trong một sơ đồ thời gian, ta có kết quả như sau:  
Hình 2.8: Sự trễ pha và giảm thế của tín hiệu ra  
Độ suy giảm trên kênh truyền A của tín hiệu là một tỷ lệ về công suất Pin/Pout của tín  
hiệu phát Pin và tín hiệu nhận được Pout. Mỗi công suất được tính với đơn vị là watts. Ta  
biểu diễn độ suy giảm bằng đơn vị decibel:  
A(w) = 10 log10(Pin/Pout)  
Hình 2.9 mô tả đồ thị biểu diễn mối tương quan  
giữa độ suy giảm và tần số sóng phát trên một kênh  
truyền nào đó.  
Ta thấy tần số tối ưu nhất là f0 và như thế, nếu chúng  
ta muốn độ suy giảm là nhỏ nhất thì chúng ta sẽ chọn  
sóng phát hình sin có tần số càng gần f0 càng tốt.  
Hình 2.9: Tương quan giữa tần số  
và độ suy giảm của tín hiệu  
2.2.2.2. Truyền tín hiện bất kỳ  
Lý thuyết toán Fourier đã chứng minh rằng bất kỳ một tín hiệu nào cũng có thể xem  
như được tạo thành từ một tổng của một số hữu hạn hoặc vô hạn các sóng hình sin.  
Không đi sâu vào chứng minh ta có kết quả sau:  
Một tín hiệu bất kỳ x(t) thì có thể phân tích thành một tập hợp các tín hiệu dạng  
sóng hình sin.  
Nếu là tín hiệu tuần hoàn, thì ta có thể phân tích nó thành dạng một chuỗi Fourier.  
Thuật ngữ chuỗi ở đây ý muốn nói đến một loạt các sóng hình sin có tần số khác  
nhau như là các bội số của tần số tối ưu f0.  
Nếu tín hiệu không là dạng tuần hoàn, thì ta có thể phân tích nó dưới dạng một bộ  
Fourier với các sóng hình sin có tần số rời rạc.  
2.2.2.3. Băng thông của một kênh truyền (Bandwidth)  
Bởi vì một tín hiệu bất kỳ có thể được xem như là một sự kết hợp của một chuỗi các  
sóng hình sin, nên ta có thể xem rằng, sự truyền tải một tín hiệu bất kỳ tương đương  
với việc truyền tải các sóng hình sin thành phần. Vì tần số của chúng là khác nhau,  
chúng có thể đến nơi với độ suy giảm là khác nhau, một trong số chúng có thể không  
34  
IT102_Bai 2_ v1.0013103214  
Bài 2: Đường truyền vật lý và truyền dữ liệu tính  
còn nhận ra được. Nếu ta định nghĩa một ngưỡng còn “nghe” được A0, thì tất cả các  
tín hiệu hình sin có tần số nhỏ hơn f1 được xem như bị mất. Tương tự các tín hiệu có  
tần số lớn hơn f2 cũng được xem là bị mất. Những tín hiện có thể nhận ra được ở bên  
nghe là các tín hiệu có tần số nằm giữa f1 và f2. Khoảng tần số này được gọi là băng  
thông của một kênh truyền.  
Nói một các khác, với một tín hiệu phức tạp bất kỳ,  
tín hiệu này sẽ truyền tải được nếu như tần số của  
các sóng hình sin thành phần của nó có tần số nằm  
trong khoảng băng thông của kênh truyền. Chúng ta  
cũng nhận thấy rằng, băng thông càng lớn thì càng  
có nhiều tín hiệu được truyền đến nơi. Chính vì thế  
Hình 2.10: Đặc tả độ suy hao  
chúng ta thường quan tâm đến các kênh truyền có  
băng thông rộng.  
của tín hiệu theo tần số  
Ví dụ: Độ rộng băng thông của kênh truyền điện thoại là 3100 Hz vì các tín hiệu âm  
thanh có thể nghe được nằm ở khoảng tần số từ 300 Hz đến 3400 Hz.  
2.2.2.4. Tần số biến điệu và tốc độ dữ liệu (Baund rate and bit rate)  
Một thông điệp thì được hình thành từ một chuỗi liên tiếp các tín hiệu số hay tuần  
tự. Mỗi tín hiệu có độ dài thời gian là t. Các tín hiệu này được lan truyền trên kênh  
truyền với vận tốc 108 m/s trong kênh truyền cáp quang hay 2.106 m/s trong kênh  
kim loại. Chúng ta thấy rằng tốc độ lan truyền không phải là yếu tố quyết định.  
Yếu tố quyết định chính là nhịp mà ta đặt tín hiệu lên kênh truyền. Nhịp này được  
gọi là tần số biến điệu:  
R = 1/t (đơn vị là bauds)  
Nếu thông điệp dạng nhị phân, và mỗi tín hiệu chuyển tải n bit, khi đó ta có tốc độ  
bit được tính như sau:  
D = nR (đơn vị là bits/s)  
Giá trị này thể hiện nhịp mà ta đưa các bit lên đường truyền. Ví dụ: cho hệ thống có R  
= 1200 bauds và D = 1200 bits/s. Ta suy ra một tín hiệu cơ bản chỉ chuyển tải một bit.  
Một số ví dụ về tần số biến điệu và tốc độ dữ liệu:  
Ví dụ 1: Truyền tải các dữ liệu số bằng các tín hiệu tuần tự.  
Ta sử dụng hai kiểu tín hiệu tuần tự, mỗi loại có độ  
dài sóng D, sóng thứ nhất có tần số f1, sóng thứ hai  
có tần số f2 (gấp đôi tần số f1). Cả hai tín hiệu đều  
có thể nhận được ở ngõ ra. Ta quy định rằng tín  
hiệu thứ nhất truyền bit “0” và tín hiệu thứ hai  
truyền bit "1". Nhịp được sử dụng để đưa các tín  
hiệu lên đường truyền bằng với nhịp truyền các bit  
Hình 2.11: Biến điệu tần số  
bởi vì mỗi tín hiệu thì truyền một bit. Sự phân biệt  
giữa tín hiệu 0 và 1 dựa trên sự khác biệt về tần số của 2 tín hiệu sin. Sự mã hóa này  
được gọi là biến điệu tần số.  
IT102_Bai 2_ v1.0013103214  
35  
Bài 2: Đường truyền vật lý và truyền dữ liệu tính  
Ví dụ 2: Truyền dữ liệu số bởi các tín hiệu tuần tự.  
Trong trường hợp này ta sử dụng 4 loại tín hiệu  
2
hình sin lệch pha nhau . Mỗi loại tín hiệu có thể  
vận chuyển 2 bit hoặc 00, 01, 10 hay 11. Với cách  
thức như thế, tốc độ dữ liệu sẽ gấp đôi tần số biến  
điệu. Sự phân biệt giữa các tín hiệu trong trường  
hợp này dựa vào pha của tín hiệu. Ta gọi là biến  
điệu pha.  
Hình 2.12: Biến điệu pha  
Ví dụ 3: Truyền tải các dữ liệu số bằng các tín hiệu số.  
Ta sử dụng 8 tín hiệu số cùng độ dài nhưng có biên độ khác nhau. Mỗi tín hiệu truyền  
tải 3 bit bởi chúng có thể đại diện cho 8 sự kết hợp khác nhau của 3 bit. Sự phân biệt  
giữa các tín hiệu trong trường hợp này dựa vào biên độ của các tín hiệu. Ta gọi là biến  
điệu biên độ.  
Hình 2.13: Biến điệu biên độ  
Để có được một tốc độ truyền dữ liệu cao nhất, ta tìm cách cải thiện tốc độ bit. Bởi  
vì D = n R, ta có thể tăng tốc độ bit bằng cách tăng một trong các yếu tố sau:  
o Hoặc tăng n (số bit truyền tải bởi một tín hiệu), tuy nhiên nhiễu là một rào cản  
quan trọng.  
o Hoặc tăng R (tần số biến điệu), tuy nhiên chúng ta cũng không thể vượt qua tần  
số biến điệu cực đại Rmax.  
o Kết quả sau đây đã được chứng minh bởi Nyquyst (1928) xác định mối ràng  
buộc giữa tần số biến điệu cực đại và băng thông của kênh truyền W:  
. Rmax = 2 W.  
. Kết quả này được tính toán trên lý thuyết, trong thực tế thì Rmax = 1,25 W.  
2.2.2.5. Nhiễu và khả năng kênh truyền  
Nhiễu bao gồm các tín hiệu ký sinh, chúng chồng lên các tín hiệu được truyền tải và  
chúng làm cho các tín hiệu này bị biến dạng.  
Hình 2.14: Nhiễu trên kênh truyền  
36  
IT102_Bai 2_ v1.0013103214  
Bài 2: Đường truyền vật lý và truyền dữ liệu tính  
Chúng ta có thể phân biệt thành 3 loại nhiễu:  
Nhiễu xác định: phụ thuộc vào đặc tính kênh truyền.  
Nhiễu không xác định.  
Nhiễu trắng từ sự chuyển động của các điện tử.  
Nhiễu phiền toái nhất dĩ nhiên là loại nhiễu không xác định. Chúng có thể làm thay  
đổi tín hiệu vào những khoảng thời gian nào đó làm cho bên nhận khó phân biệt được  
đó là bit “0” hay bit “1”. Chính vì thế mà công suất của tín hiệu nên lớn hơn nhiều so  
với công suất của nhiễu. Tỷ lệ giữa công suất tín hiệu và công suất nhiễu tính theo đơn  
vị Decibels được biểu diễn như sau:  
S/N = 10log10(PS(Watt) / PN(Watt))  
Trong đó PS và PN là công suất của tín hiệu và công suất của nhiễu.  
Định lý Shannon (1948) giải thích tầm quan trọng của tỷ lệ S/N trong việc xác định số  
bit tối đa có thể chuyên chở bởi một tín hiệu như sau:  
P
S
nmax log2 1  
PN  
Kết hợp với định lý của Nyquyst, ta có thể suy ra tốc độ bit tối đa của một kênh truyền  
được tính theo công thức sau:  
P
P
S
S
C Dmax Rmaxnmax 2Wlog2 1  
Wlog 1  
2   
PN  
PN  
C được gọi là khả năng của kênh truyền, xác định tốc độ bit tối đa có thể chấp nhận  
được bởi kênh truyền đó.  
Ví dụ: Kênh truyền điện thoại có độ rộng băng thông là W = 3100 Hz; tỷ lệ S/N = 20 dB.  
Từ đó ta tính được khả năng của kênh truyền điện thoại là: C = 20,6 Kbits/s.  
2.2.2.6. Giao thông (Traffic)  
Giao thông là một khái niệm liên quan đến sự sử dụng một kênh truyền tin. Giao  
thông cho phép biết được mức độ sử dụng kênh truyền từ đó có thể chọn một kênh  
truyền phù hợp với mức độ sử dụng hiện tại. Để đánh giá giao thông, ta có thể xem  
một cuộc truyền tải hay một cuộc giao tiếp là một phiên giao dịch (Session) với độ dài  
trung bình là T (đơn vị là giây). Cho Nc là số lượng phiên giao dịch trung bình trên  
một giờ. Mật độ giao thông E được tính theo biểu thức sau: E = TNc / 3600.  
Nói cách khác, mật độ giao thông là đại lượng dùng để đo mức độ sử dụng kênh  
truyền trong một giây.  
Thực tế, khi phân tích kỹ hơn ta sẽ thấy trong một phiên giao dịch sẽ chứa nhiều khoảng  
im lặng (không dùng kênh truyền), ta có thể phân biệt thành 2 loại phiên giao dịch:  
Các phiên giao dịch mà ở đó thời gian sử dụng T được sử dụng hết.  
Các phiên giao dịch mà ở đó thời gian T có chứa các khoảng im lặng.  
Trong trường hợp thứ hai, mật độ giao thông thì không phản ánh đúng mức độ bận rộn  
thật sự của kênh truyền. Ta tách một phiên giao dịch thành nhiều giao dịch (Transaction)  
IT102_Bai 2_ v1.0013103214  
37  
Bài 2: Đường truyền vật lý và truyền dữ liệu tính  
với độ dài trung bình là p bit, cách khoảng nhau bởi những khoảng im lặng. Giả sử Nt là  
số giao dịch trung bình trong một phiên giao dịch.  
Hình 2.15: Mô hình phiên giao dịch với các khoảng giao dịch có độ dài khác nhau  
N P  
t
Gọi D là tốc độ bit của kênh truyền, tốc độ bit thật sự d trong trường hợp này là: d   
T
d
và tần suất sử dụng kênh truyền được định nghĩa bởi tỷ số:    
.
D
Ví dụ: Trong một tính toán khoa học từ xa, người dùng giao tiếp với máy tính trung  
tâm. Cho: p = 900 bits, Nt = 200, T = 2700 s, Nc = 0.8, D = 1200 b/s.  
Khi đó:  
Mật độ giao thông trung bình là E = 0.6.  
Tầng suất sử dụng kênh truyền =0.05.  
2.3.  
Truyền thông trên mạng vô tuyến. Môi trường vô tuyến (Wireless Environment).  
Các loại mạng vô tuyến  
Kênh truyền vô tuyến thì thật sự tiện lợi cho tất cả chúng ta, đặc biệt ở những địa hình  
mà kênh truyền hữu tuyến không thể thực hiện được hoặc phải tốn nhiều chi phí (rừng  
rậm, hải đảo, miền núi). Kênh truyền vô tuyến truyền tải thông tin ở tốc độ ánh sáng.  
Gọi:  
c là tốc độ ánh sáng.  
f là tần số của tín hiệu sóng.  
  là độ dài sóng.  
Khi đó ta có: c = f.  
Hình 2.16: Phân bổ phổ sóng điện từ trên  
Tín hiệu có độ dài sóng càng lớn thì khoảng cách truyền càng xa mà không bị suy  
giảm, ngược lại những tín hiệu có tần số càng cao thì có độ phát tán càng thấp. Hình  
2.16 mô tả phổ của sóng điện tử được dùng cho truyền dữ liệu. Khoảng tần số càng  
cao càng truyền tải được nhiều thông tin.  
38  
IT102_Bai 2_ v1.0013103214  
Bài 2: Đường truyền vật lý và truyền dữ liệu tính  
2.4.  
Các phương thức truyền dữ liệu  
2.4.1.  
Giao thức truyền đơn công không ràng buộc (Unrestricted Simplex Protocol)  
Protocol 1 (Utopia) được dùng cho việc truyền tải thông tin theo một chiều từ người  
gửi sang người nhận. Kênh truyền được giả định là không có lỗi và bên nhận được giả  
định rằng có thể xử lý được hết tất cả các thông tin gửi đến một cách nhanh chóng.  
Chính vì thế mà bên gửi chỉ đơn thuần thực hiện một vòng lặp đưa dữ liệu lên đường  
truyền với tốc độ nhanh nhất có thể.  
typedef enum {frame arrival} event type;  
#include “protocol.h”  
void sender1(void)  
{
frame s; /*Vùng đệm để chứa khung gửi đi*/  
packet buffer; /*Vùng đệm để chứa gói tin gửi đi*/  
while(true) {  
From_network_layer(&buffer); /*Nhận gói tin từ tầng mạng để  
gửi đi*/  
s.info = buffer; /*Đưa gói tin vào khung gửi đi*/  
to_physical_layer(&s); /*Gửi khung xuống tầng vật lý để gửi  
lên đường truyền*/  
}
}
void receiver1(void)  
{
frame r;  
event_type event;  
while (true){  
wait_for_event(&event); /*Chờ sự kiện, chỉ xuất hiện khi khung đến*/  
from_physical_layer(&r); /*Nhận khung từ tầng vật lý*/  
to_network_layer(&r.info); /*Lấy khung tên ra khỏi khung và gửi  
lên tầng mạng*/  
}
}
Giao thức truyền đơn công không ràng buộc  
2.4.2.  
Giao thức truyền đơn công dừng và chờ (Simplex Stop-and-wait Protocol)  
Giao thức Stop-and-wait cũng được thiết kế cho các cuộc truyền tải thông tin một  
chiều từ người gửi sang người nhận. Kênh truyền tải thông tin một lần nữa cũng được  
giả định rằng không có lỗi như giao thức Unrestricted Simplex Protocol. Tuy nhiên,  
trong trường hợp này, bên nhận chỉ có một vùng lưu trữ có khả năng hạn chế và một  
tốc độ xử lý giới hạn, vì thế giao thức phải được thiết kế dự phòng cho trường hợp dữ  
liệu máy gửi đến nhanh làm tràn vùng lưu trữ thông tin của bên nhận.  
typedef enum {frame_arrival} event_type;  
#include “protocol.h”  
void sender2(void)  
{
frame s; /*Vùng đệm để chứa khung gửi đi*/  
packet buffer; /*Vùng đệm để chứa gói tin gửi đi*/  
event_type event; /*Sự kiện báo hiệu khung đến*/  
while (true) {  
from_network_layer(&buffer); /*Nhận gói tin từ tầng mạng để  
IT102_Bai 2_ v1.0013103214  
39  
Bài 2: Đường truyền vật lý và truyền dữ liệu tính  
gửi đi*/  
s.info = buffer; /*Đưa gói tin vào khung để gửi đi*/  
to_physical_layer(&s); /*Gửi khung xuống tầng vật lý để gửi  
lên đường truyền*/  
wait_for_event(&event); /*Chờ sự kiện đến của khung báo nhận  
gửi về từ bên gửi*/  
}
}
void receiver2(void)  
{
frame r,s;  
event_type event;  
while (true) {  
wait_for_event(&event); /*Chờ sự kiện, chỉ xuất hiện khi khung đến*/  
from_physical_layer(&r); /*Nhận khung từ tầng vật lý*/  
to_network_layer(&r.info); /*Lấy thông tin ra khỏi khung và gửi  
lên tầng mạng*/  
to_physical_layer(&s); /*Gửi khung báo nhận sang bên gửi*/  
}
}
Giao thức truyền đơn công truyền và chờ  
2.4.3.  
Giao thức truyền đơn công cho kênh truyền có nhiễu (Simplex Protocol  
for Noisy Channel)  
Giả sử ta bỏ đi giả thiết kênh truyền không có lỗi. Trong trường hợp này, với các kỹ  
thuật xử lý lỗi (Parity check, CRC), bên nhận có thể phát hiện ra được các khung bị  
lỗi. Tuy nhiên, điều gì sẽ xảy ra nếu khung gửi đi bị mất, không đến được nơi nhận.  
Khi đó sẽ dẫn đến tình trạng như sau:  
Người gửi không biết được khung có đến nơi nhận tốt hay không.  
Giải pháp: Yêu cầu người nhận gửi các khung báo nhận thông báo về tình hình các  
khung bị lỗi.  
Các khung báo nhận có thể bị mất.  
Giải pháp: Mỗi khi gửi một khung đi, Bên gửi sẽ thiết lập một bộ đếm thời gian.  
Nếu sau một khoảng thời gian quy định mà không nhận được khung báo nhận, bên  
gửi sẽ gửi lại các khung không được báo nhận.  
Bên nhận không phân biệt được các khung trùng lặp do bên gửi gửi lại.  
Giải pháp: Mỗi khung sẽ có một số thứ tự để phân biệt lẫn nhau. Số thứ tự này sẽ  
được tăng dần cho đến một giá trị cực đại sau đó lại quay về giá trị 0. Trong ví dụ  
sau, số thứ tự có giá trị cực đại là 1. Như vậy ta chỉ sử dụng 2 giá trị là 0 và 1 để  
đánh số thứ tự cho khung.  
/*Protocol  
3
{par} allows unidirectional data flow over an  
unreliable channel */  
#define MAX_SEQ 1 /* Giá trị tối đa của số thứ tự khung là 1*/  
Typedef enum {frame_arrival, cksum_err, timeout} event_type;  
#include “protocol.h”  
void sender3(void)  
{
40  
IT102_Bai 2_ v1.0013103214  
Bài 2: Đường truyền vật lý và truyền dữ liệu tính  
seq_nr next_frame_to_send; /* Số thứ tự của gói tin lần gửi kế tiếp*/  
frame s; /* Khung để gửi dữ liệu đi*/  
packet buffer;/* Vùng lưu trữ cho gói tin gửi*/  
event_type event;  
next_frame_to_send = 0;  
from_network_layer(&buffer);  
while (true) {  
s.info = buffer; /* Khởi động số thứ tự cho khung gửi*/  
s.seq = next_frame_to_send; /*Nhận gói tin đầu tiên từ tầng mạng  
để gửi đi*/  
to_physical_layer(&s);  
start_timer(s.seq);  
wait_for_event(&event); /*Xây dựng khung để gửi đi*/  
if (event == frame_arrival) { /*Đánh số thứ tự cho khung*/  
from_physical_layer(&s); /*Gửi khung xuống tầng vật lý để  
truyền đi*/  
if (s.ack == next_frame_to_send)  
stop_timer(s.ack);  
{
from_network_layer(&buffer); /* Nếu khung báo nhận đến chậm, tạo  
sự kiện time - out*/  
inc(next_frame_to_send);  
}
}
}
}
void receiver3(void)  
{
seq_nr frame_expected; /*Số thứ tự của gói tin chờ nhận kế tiếp*/  
frame r,s; /*Khung nhận và khung báo nhận*/  
event_type event;  
frame_expected = 0;  
while (true) {  
wait_for_event(&event); /*Khởi động số thứ tự cho khung nhận*/  
if (event == frame_arrival) {  
from_physical_layer(&r);  
if (r.seq == frame expected) /*Chờ một sự kiện xảy ra*/  
to_network_layer(&r.info);  
inc(frame_expected); /*Nếu là sự kiện khung đến*/  
}
s.ack = 1- frame_expected; /*Nhận khung dữ liệu từ tầng vật lý*/  
to_physical_layer(&s); /*Nếu đúng là khung đang chờ*/  
} /* Gửi dữ liệu nhận được lên tầng mạng*/  
}
}
Giao thức truyền đơn công cho kênh truyền có nhiễu  
Giao thức cửa sổ trượt (Sliding Windows)  
2.4.4.  
2.4.4.1. Vấn đề truyền tải thông tin theo hai chiều (Duplex)  
Chúng ta muốn việc truyền tải thông tin giữa hai bên giao tiếp diễn ra một cách đồng  
thời theo hai chiều hơn là chỉ một chiều để khai thác tối đa khả năng của kênh truyền.  
IT102_Bai 2_ v1.0013103214  
41  
Bài 2: Đường truyền vật lý và truyền dữ liệu tính  
Để thực hiện được điều này, chúng ta thực sử dụng chế độ truyền tải hai chiều, gọi là  
song công (Duplex). Nguyên tắc thực hiện như sau:  
Vẫn thực hiện việc truyền tải khung, tuy nhiên ta có phân biệt thành các loại  
khung: dữ liệu (Data), báo nhận ACK (Acknowledgement), và báo không nhận  
NACK(Not Acknowledgement) trong trường xác định loại (Type) của khung.  
Khi một bên nào đó truyền tin, nó có thể kết hợp đưa thông tin báo cho bên kia  
biết tình trạng của gói tin mà nó đã nhận trước đó. Ta gọi là kỹ thuật Piggyback.  
2.4.4.2. Giới thiệu về giao thức cửa sổ trượt  
Thay vì chỉ truyền đi một khung tại một thời điểm (Simplex), giao thức cửa sổ trượt  
cho phép bên gửi có thể gửi đi nhiều khung.  
Giao thức này sử dụng một cửa sổ để cho phép bên gửi theo dõi các khung mà nó  
được phép gửi đi và các khung mà nó đang chờ báo nhận, gọi là cửa sổ gửi (Sending  
Windows). Một cửa sổ khác để bên nhận theo dõi các khung mà nó được phép nhận,  
gọi là cửa sổ nhận (Receiving Windows).  
Cấu trúc của cửa sổ được mô tả như hình 2.17:  
Phần tô đen là phạm vi của cửa sổ gồm có cửa  
trước và cửa sau cùng di chuyển theo một chiều.  
Kích thước của cửa sổ là chiều của cung giới  
hạn từ cửa sau đến cửa trước.  
Kích thước của cửa sổ có thể thay đổi. Khi cửa  
trước di chuyển, cửa sổ được mở rộng ra. Ngược  
lại khi cửa sau di chuyển, kích thước của cửa sổ  
bị thu hẹp lại và nó làm cho cửa sổ thay đổi vị trí,  
Hình 2.17: Cấu trúc cửa sổ trượt  
trượt/quay quanh một tâm của vòng tròn.  
Kích thước nhỏ nhất của cửa sổ là 0, khi đó cửa trước và cửa sau nằm cùng một vị  
trí. Giả sử, có n = 2k vị trí cho các cửa, khi đó kích thước tối đa của cửa sổ là n - 1  
(không là n để phân biệt với kích thước là 0).  
Giả sử ta dùng k bit để đánh số thứ tự cho các khung. Ta sẽ có 2k khung, đánh số từ 0  
đến 2k - 1. Khi đó cửa sổ trượt sẽ được chia thành 2k vị trí tương ứng với 2k khung.  
Đối với cửa sổ gửi, các vị trí nằm trong cửa sổ trượt biểu hiện số thứ tự của các  
khung mà bên gửi đang chờ bên nhận báo nhận. Phần bên ngoài cửa sổ là các  
khung có thể gửi tiếp. Tuy nhiên phải đảm bảo rằng, cửa sổ gửi không được vượt  
quá kích thước tối đa của cửa sổ.  
Đối với bên nhận, các vị trí nằm trong cửa sổ biểu hiện số thứ tự các khung mà nó  
đang sẵn sàng chờ nhận.  
Kích thước tối đa của cửa sổ biểu thị dung lượng bộ nhớ đệm của bên nhận có thể  
lưu tạm thời các gói tin nhận được trước khi xử lý chúng. Giả sử bên nhận có một  
vùng bộ nhớ đệm có khả năng lưu trữ 4 khung nhận được. Khi đó, kích thước tối  
đa của cửa sổ sẽ là 4.  
42  
IT102_Bai 2_ v1.0013103214  
Bài 2: Đường truyền vật lý và truyền dữ liệu tính  
2.4.4.3. Hoạt động của cửa sổ trượt  
Ví dụ sau mô tả hoạt động của cửa sổ trượt với kích thước cửa sổ là 1, sử dụng 3 bit  
để đánh số thứ tự khung (từ 0 đến 7).  
Hình 2.18: Hoạt động của cửa sổ trượt  
Khởi đầu bên gửi: chưa gửi khung nào nên kích thước của cửa sổ là 0.  
Bên nhận đang chờ nhận khung 0, kích thước cửa sổ là 1 (Hình a).  
Bên gửi gửi khung số 0: Nó kiểm tra kích thước của cửa số trượt là 0, nhỏ hơn  
kích thước tối đa nên nó được phép gửi. Cửa trước của cửa sổ gửi di chuyển lên  
một bước chứa giá trị 0 là số thứ tự của khung báo nhận bên gửi đang chờ. Kích  
thước cửa sổ trượt lúc này là 1, đạt đến kích thước tối đa nên nó không được phép  
gửi thêm khung nữa (Hình b).  
Bên nhận nhận được khung 0: nó kiểm tra và nhận thấy khung không có lỗi. Nó  
gửi khung báo nhận số 0 về cho bên nhận. Đồng thời cửa sau của nó di chuyển để  
loại khung số 0 ra khỏi cửa sổ trượt. Cửa trước cũng di chuyển để mở rộng kích  
thước cửa sổ đến giá trị tối đa. Lúc này cửa sổ nhận chứa khung số 1 là khung mà  
nó đang chờ nhận tiếp (Hình c).  
Bên gửi nhận được khung báo nhận số 0: Vì đây là khung báo hiệu bên nhận đã  
nhận tốt nên cửa sau của cửa sổ gửi di chuyển để loại khung số 0 ra khỏi cửa sổ gửi.  
Lúc này cửa sổ gửi có kích thước là 0, bên gửi có quyền gửi tiếp khung (Hình d).  
Như vậy khi kích thước của cửa sổ trượt là 1, ta có giao thức stop-and-wait.  
2.5.  
Card mạng  
2.5.1.  
Vai trò của Card mạng  
Để quản lý kết nối mạng thành công, bạn phải có một bộ điều hợp mạng (network  
adapter) và giao thức mạng (Network Protocol) được cài đặt và cấu hình đúng. Bước  
đầu tiên là cài và cấu hình bộ điều hợp mạng vật lý mà bạn sẽ sử dụng. Bước kế tiếp là  
cài và cấu hình giao thức mạng dùng cho mạng. Hai giao thức được hỗ trợ bởi  
Windows XP là TCP/IP và NWLink IXP/SPX/NetBIOS.  
Trong bài này, trước tiên bạn sẽ học cách cài và cấu hình bộ điều hợp mạng: như ráp  
card mạng vào Motherboard, cấu hình và kiểm tra card có làm việc đúng không. Cuối  
cùng bạn sẽ nắm thêm một số rắc rối phát sinh và cách giải quyết.  
IT102_Bai 2_ v1.0013103214  
43  
Bài 2: Đường truyền vật lý và truyền dữ liệu tính  
2.5.2.  
Các tùy chọn và xác lập cấu hình  
Cài bộ điều hợp mạng-Network Adapter hoặc NIC-Card mạng.  
Bộ điều hợp mạng là thiết bị phần cứng dùng để kết nối những máy tính hoặc các thiết  
bị khác với mạng. Bộ điều hợp mạng chịu trách nhiệm cung cấp kết nối với mạng và  
địa chỉ vật lý của máy tính. Bộ điều hợp mạng (hoặc các thiết bị phần cứng khác) cần  
một bộ điều khiển (Driver) để liên lạc với hệ điều hành Windows XP. Các driver  
thường có trong đĩa CD cài card mạng hoặc được cung cấp bởi Windows XP. Bạn  
phải chuẩn bị sẵn đĩa CD cài đặt driver, và có khả năng lắp ráp một số thiết bị phần  
cứng vào Bo mạch máy tính cũng như biết cách cấu hình CMOS và quản lý thiết bị đi  
kèm trong Motherboard.  
2.5.2.1. Tiến hành cài  
Trước khi cài bộ điều hợp mạng, điều quan trọng là đọc các hướng dẫn đi cùng với  
thiết bị. Nếu bộ điều hợp mạng còn mới, nó đã tự cấu hình, với khả năng Plug and  
Play. Sau khi bạn cài bộ điều hợp mạng có hỗ trợ Plug and Play, nó sẽ họat động khi  
bạn khởi động máy lần kế tiếp.  
Các bước gắn NIC vào PC: chỉ dùng cho Motherboard không có Network Adapter  
Tắt máy.  
Mở thùng CPU.  
Trên MotherBoard, tìm một Slot PCI còn trống và gắn NIC vào theo hình minh họa.  
Hình 2.19: Cài NIC vào Motherboard  
Sau khi gắn vào khởi động hệ thống, Windows sẽ chạy chương trình New Hard ware  
Wizard (Hoặc Plug and Play) để cài Driver cho Card này. Bạn tiến hành đưa dĩa CD  
vào và theo các bước cho đến khi công việc cài Driver hoàn tất.  
Lưu ý: Những thiết bị mới sẽ tự động tìm các thiết đặt và tự cấu hình. Các thiết bị cũ  
dựa vào chương trình cài đặt phần cứng để cấu hình. Những thiết bị cũ hơn đòi hỏi bạn  
phải tự cấu hình hoặc thông qua switches (khóa chuyển) hoặc jumpers (cầu nối ngắt).  
Khi bộ điều hợp mạng không có khả năng Plug and Play, hệ điều hành sẽ dò tìm thiết  
bị phần cứng mới và sẽ khởi động chương trình New Hardware Wizard (thuật sĩ) và sẽ  
hướng bạn qua từng bước tìm và tải driver cho bộ điều hợp.  
Nếu MotherBoard của bạn có kèm Built-n Ehternet adapter thì bạn phải kích hoạt  
(Enable) nó trong CMOS bằng cách chọn LAN Deivice Enabled, sau đó bạn phải  
dùng đĩa cài đặt motherboard để cài Driver cho LAN Port này.  
44  
IT102_Bai 2_ v1.0013103214  
Bài 2: Đường truyền vật lý và truyền dữ liệu tính  
2.5.2.2. Kiểm tra NIC đã được cài  
Lưu ý rằng chúng ta dùng cách xem Classic View trong Control Panel cho các bài  
thực hành.  
Khi bộ điều hợp mạng đã được cài đặt, bạn có thể cấu hình cho nó thông qua hộp thoại  
Properties. Để truy cập hộp thoại này, có nhiều cách, một trong các cách là sử dụng  
Device Manager.  
Nháy Start/Control Panel/ chọn Switch to Classic View/ Chọn System/ Nháy chọn  
trang Hardware/ Nháy chọn Device Manager/ Nháy đúp Network Adapters. Cửa sổ  
Device Manager mở ra như hình 2.20.  
Hình 2.20: Kiểm tra NIC  
Tùy vào Model của NIC bạn mua mà tên của NIC có thể khác so với hình 2.20 nhưng cơ  
bản bạn không thấy có báo lỗi với dấu chấm than màu vàng.  
Một cách khác để kiểm tra xem NIC hoạt động đúng không, bạn nháy Start/Control  
Panel/ Network Connections. Trong cửa sổ Network Connections mới mở như hình dưới:  
ơ
Hình 2.21: Kiểm tra NIC bằng Network Connection  
IT102_Bai 2_ v1.0013103214  
45  
Bài 2: Đường truyền vật lý và truyền dữ liệu tính  
Nháy nút phải chuột lên Local Area Network, chọn Properties: Cửa sổ Local Area  
Connection Properties mở ra như hình dưới:  
Hình 2.22: Local Area Connection Properties  
Nháy nút Configure…, một cửa sổ hiện ra như trong hình 2.23. Với các nút: General,  
Advanced, Driver, Resourees và Power Management.  
Hình 2.23: Xem cấu hình Card mạng  
46  
IT102_Bai 2_ v1.0013103214  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 24 trang yennguyen 27200 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng Mạng máy tính - Bài 2: Đường truyền vật lý và truyền dữ liệu tính", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbai_giang_truyen_so_lieu_va_mang_may_tinh_bai_2_duong_truyen.pdf