Đề tài Tìm hiểu và ứng dụng seo vào trang web Toancaumobile.vn

LỜI CAM ĐOAN  
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi. Những kết quả và các số  
liệu trong chuyên đề chưa được ai công bố dưới bất cứ hình thức nào. Tôi hoàn  
toàn chịu trách nhiệm trước nhà trường về sự cam đoan này.  
Huế, ngày 01 tháng 05 năm 2016  
Sinh viên thực hiện  
Nguyễn  
Tuấn  
Vũ  
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học  
GVHD: Th.S Lê Văn Hòa  
MỤC LỤC  
SVTH: Nguyễn Tuấn Vũ  
i
Lớp: K46 TMĐT  
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học  
GVHD: Th.S Lê Văn Hòa  
SVTH: Nguyễn Tuấn Vũ  
ii  
Lớp: K46 TMĐT  
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học  
GVHD: Th.S Lê Văn Hòa  
DANH MỤC HÌNH  
SVTH: Nguyễn Tuấn Vũ  
iv  
Lớp: K46 TMĐT  
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học  
GVHD: Th.S Lê Văn Hòa  
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN  
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Website – ngôi nhà của Doanh nghiệp trên Internet, nếu nói tên miền là  
bảng hiệu của một Công ty thì website chính là văn phòng của Công ty đó, là  
nơi khách hàng tìm kiếm các thông tin về doanh nghiệp trước khi kí hợp đồng, là  
nơi khách hàng và các đối tác liên hệ doanh nghiệp, là bộ mặt của doanh nghiệp…  
Ngoài ra website còn tạo ra không ít lợi thế khác như :  
Hướng hoạt động của doanh nghiệp từ nội địa hoặc cục bộ ra toàn cầu.  
Website là nơi trưng bày, giới thiệu sản phẩm, hàng hóa dịch vụ của Doanh  
nghiệp. Hoạt động lên tục 24x7, không giới hạn thời gian và không gian.  
Website là kênh thông tin giới thiệu sản phẩm, dịch vụ hoàn hảo nhất và hữu  
dụng nhất với hình ảnh, các giới thiệu, các media…  
Website còn là một kho hàng khổng lồ, không giới hạn về sức chứa.  
Hơn cả, website là một kênh bán hàng tốn ít chi phí nhất.  
Thông qua website, doanh nghiệp có thể tiếp thị hình ảnh, thương hiệu,  
dịch vụ, sản phẩm của mình ra ngoài phạm vi, khu vực của quốc gia. Chính vì  
những lợi ích ấy, việc không có website đã là một thiệt thòi so với các đối thủ  
cạnh tranh.  
Theo Tổng cục Thống kê, tổng số người sử dụng Internet tại Việt Nam tính  
đến 2013 là hơn39 triệu người, ( chiếm hơn 43.9% dân số Việt Nam) và hơn 8,5  
triệu người dùng Internet băng thông rộng (08/2014).  
Trong giai đoạn 2000 - 2010, tỉ lệ tăng trưởng người sử dụng Internet tại  
Việt Nam đạt mức 12%, tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trong khu vực. Như vậy  
sau gần 14 năm kể từ ngày Việt Nam gia nhập cộng đồng Internet toàn cầu  
(1/12/1997), lượng người sử dụng Internet trong nước đã tăng nhanh một cách  
đáng kể.  
Nhìn chung, Internet là một món ăn không thể thiếu với cuộc sống của  
mọi người, với thói quen sử dụng các bộ máy tìm kiếm (Google, Bing,  
SVTH: Nguyễn Tuấn Vũ  
1
Lớp: K46 TMĐT  
   
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học  
GVHD: Th.S Lê Văn Hòa  
Yahoo…) để tìm kiếm thông tin về doanh nghiệp, tài liệu học tập, mua sắm trực  
tuyến, nạp thẻ điện thoại, thanh toán hóa đơn…  
Theo thống kê, có đến hơn 86% lượng truy cập của một website đều đến từ  
các Search Engine lớn như Google, Yahoo, MSN… Mỗi ngày có hàng triệu người  
dùng lướt web sử dụng Search Engine để tìm những sản phẩm, dịch vụ và thông  
tin họ đang cần.Nhưng liệu với hàng tỉ website hiện đang tồn tại, làm sao khách  
hàng có thể tìm thấy website của bạn trước mà không phải của các đối thủ cạnh  
tranh? Hầu hết người sử dụng các bộ máy tìm kiếm đều không kiên nhẫn, họ  
chỉ tập trung vào các kết quả tìm kiếm ở “Trang nhất” trong hàng trăm, hàng  
triệu kết quả trả về khi truy vấn tìm kiếm.  
1.2. LỊCH SỬ GIẢI QUYẾT VẤN Đ  
Ề
Webmaster và các nhà cung cấp dịch vụ SEO đã bắt đầu tối ưu hóa các  
trang web cho công cụ tìm kiếm vào giữa những năm 1990. Ban đầu, các  
webmaster bắt đầu gửi link liên kết hay url của trang web đến các công cụ tìm  
kiếm, các công cụ này sẽ gửi một spider đến trang website đó, website sẽ được  
thu thập dữ liệu, sau đó được index lên máy chủ tìm kiếm, nơi đây các thông tin  
về website sẽ được lưu trữ lại, các từ khóa của website, các link liên kết trong  
website đó, các spider này sẽ làm việc index lên máy chủ theo lịch trình mà  
các công cụ tìm kiếm quy ước. Người sở hữu trang web bắt đầu để nhận ra  
những giá trị của việc có các trang web của họ và có thể nhìn thấy được xếp  
hạng cao trong kết quả công cụ tìm kiếm. SEO chia ra làm hai dạng đó là : SEO  
truyền thống (White Hat SEO) và SEO gian lận (Black Hat SEO).  
Theo nhà phân tích Danny Sullivan, cụm từ “Tối ưu hóa công cụ tìm kiếm”  
sử dụng rất nhiều trên mạng vào năm 1997.  
Đầu phiên bản của thuật toán tìm kiếm dựa vào quản trị trang web cung cấp  
thông tin như các thẻ meta từ khoá, hoặc tập tin chỉ mục như ALIWEB. Thẻ meta  
cung cấp một hướng dẫn đến nội dung của mỗi trang.  
SVTH: Nguyễn Tuấn Vũ  
2
Lớp: K46 TMĐT  
 
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học  
GVHD: Th.S Lê Văn Hòa  
Sử dụng dữ liệu meta vào các trang chỉ mục được tìm thấy sẽ được ít hơn  
đáng tin cậy, tuy nhiên, vì những sự lựa chọn của webmastermà các thẻ meta có  
sự chính xác trong khả năng đưa thông tin website lên máy chủ tìm kiếm. Những  
dữ liệu không chính xác, không đầy đủ, và không nhất quán trong thẻ meta có thể  
gây ra sự xếp hạng không đúng vị trí cho các tìm kiếm không liên quan. Việc  
cung cấp nội dung được tối ưu hóa và một số thuộc tính trong mã nguồn HTML  
đối với một trang web cần phải chính xác để có được kết quả tốt trên công cụ tìm  
kiếm.  
Bằng cách dựa quá nhiều vào các yếu tố như mật độ từ khóa đó được độc  
quyền trong vòng kiểm soát của một webmaster, công cụ tìm kiếm sớm bị lạm  
dụng vào thao tác xếp hạng. Để cung cấp kết quả tốt hơn cho người dùng của họ,  
công cụ tìm kiếm đã phải thích ứng để đảm bảo kết quả của các trang đã cho thấy  
các kết quả tìm kiếm có liên quan nhất, thay vì các trang không liên quan nhồi với  
từ khoá nhiều bởi Black Hat SEO – nhóm Webmaster không bao giờ tuân theo  
các qui định của các bộ máy tìm kiếm, họ luôn lạm dụng quá mức các thủ thuật.  
Các công cụ tìm kiếm đã phản ứng lại bằng cách phát triển phức tạp hơn thuật  
toán xếp hạng, có tính đến các yếu tố bổ sung mà gây nhiều khó khăn cho quản trị  
web để thao tác.  
SEO tại Việt Nam bắt đầu những nền móng phát triển đầu tiên khoảng vào  
thời điểm giữa năm 2006. Sau 5 năm, đến nay SEO đã là một khái niệm mà hầu  
như bất kì một nhà quản trị website nào cũng biết đến và tìm hiểu nó dù ít hay  
nhiều. Thậm chí, SEO còn được đưa vào hoạt động của công ty như một hướng  
đi chiến lược với những kế hoạch dài hơi. Điển hình, bạn có thể dễ dàng nhận ra  
FPT có bộ phận SEO riêng, Zing có bộ phận SEO riêng, VCCORP cũng có bộ  
phận traffic riêng, Báo điện tử 24h…  
Như đã trình bày ở trên, hầu hết người làm SEO chỉ chú ý đến việc là sao để  
một website Thương mại được lên trang nhất của bộ máy tìm kiếm. Vấn đề đặt  
ra: có thể áp dụng SEO cho một website phi lợi nhuận, mang tính giáo dục và  
Cộng đồng không ? Liệu SEO cho một trang web phi thương mại có khả năng  
thành công không…  
SVTH: Nguyễn Tuấn Vũ  
3
Lớp: K46 TMĐT  
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học  
GVHD: Th.S Lê Văn Hòa  
Chuyên đề đề tài “TÌM HIỂU VÀ ỨNG DỤNG SEO VÀO TRANG WEB  
TOANCAUMOBILE.VN” là một minh chứng cụ thể nhất cho việc áp dụng  
phương pháp SEO vào một website phi lợi nhuận, một website bán hàng điện tử  
điện thoại  
.
1.3. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT ĐƯỢC  
1.3.1. Về lý thuyết  
Sau khi hoàn thành chuyên đề, sinh viên có các kĩ năng sau:  
Tìm hiểu bộ máy tìm kiếm.  
Hiểu thế nào là SEO, các biện pháp để tiến hành SEO một trang web.  
1.3.2. Về ứng dụng  
Sau khi áp dụng lý thuyết đạt được vào thực tiễn, sinh viên có được cách để:  
Đưa website vào top 3 của bộ máy tìm kiếm với từ khóa “điện thoại toàn cầu”  
Phương pháp duy trì top 10 khi seo đã thành công  
SVTH: Nguyễn Tuấn Vũ  
4
Lớp: K46 TMĐT  
     
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học  
CHƯƠNG 2. KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG  
2.1. Phương pháp nghiên cứu và giải quyết vấn đề  
GVHD: Th.S Lê Văn Hòa  
Việc đầu tiên trước khi SEO một website đã được định hướng đúng đắn  
bằng những tưởng độc đáo và mã nguồn tốt thì chúng ta phải biết được SEO  
ý
là gì?Và các phương pháp lựa chọn những thành phần hỗ trợ cho website đó.Một  
website được SEO tốt khi và chỉ khi webmaster có được hiểu biết đúng đắn, tránh  
rơi vào tình trạng Black Hat SEO.  
Nhìn chung, quá trình nghiên cứu được phân thành 04 giai đoạn, các giai  
đoạn này được thực hiện liên tục cho đến khi SEO thành công.  
Hình 2. 1: Tổng quan quá trình nghiên cứu và giải quyết vấn đề  
Bước 1: Xây dựng ý tưởng, lựa chọn mã nguồn, xây dựng website có nội dung  
riêng biệt, hỗ trợ người dùng tối đa.  
Bước 2: Bắt đầu phát triển website, song song với việc phát triển cả về nội  
dung lẫn mã nguồn, tác giả bắt đầu áp dụng các biện pháp để tối ưu hóa  
website.  
Bước 3: Thống kê, theo dõi các từ khóa, lượng người truy cập.  
Bước 4: Theo dõi các báo cáo cụ thể, duy trì công việc hiện tại nếu SEO thành  
công hoặc sữa chữa khi SEO chưa thành công  
SVTH: Nguyễn Tuấn Vũ  
5
Lớp: K46 TMĐT  
     
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học  
2.1.2. Kế hoạch làm việc  
Tuần  
GVHD: Th.S Lê Văn Hòa  
Công việc  
Nghiên cứu về Search Engines, cách thức hoạt động, cách thức thu  
1 -  
3 -  
2
4
thập thông tin.  
Nghiên cứu về SEO, các cách giải quyết vấn đề về SEO.  
Tối ưu hóa website.  
Quảng bá website dựa trên các mạng xã hội.  
5 -  
7
Phân tích theo dõi bằng các công cụ miễn phí của các Search Engines  
cung cấp. Xác định hướng đi đúng đắn cho Website.  
8
9
Theo dõi, điều chỉnh từ khóa, các nội dung không phù hợp  
Viết báo cáo.  
10  
Hoàn thành.  
2.2. Bố cục  
Chương 1: Tổng quan.  
Tại chương này, tác giả sẽ đề cập đến các khái niệm cơ bản về SEO, các  
hiểu biết ban đầu về SEO.  
Cũng trong chương này, tác giả giới thiệu đề tài chuyên đề là: “Tìm hiểu và  
ứng dụng SEO - Search Engine Optimization vào website ToanCauMobile.vn” –  
Một website bán hàng điện tử:điện thoại,phụ kiện,âm thanh. Đây là một hướng đi  
mới khi làm SEO.  
Qua chương 1, tác giả giới thiệu toàn cảnh về đề tài.Cách thức nghiên cứu,  
tiếp cận đề tài và các mục tiêu đạt được khi hoàn thành tốt chuyên đề  
Chương 2: Cơ sở lý thuyết.  
.
Về cơ sở lý thuyết, tác giả tìm hiểu cách thức làm việc chung của các bộ  
máy tìm kiếm, các cách thức thu thập thông tin, cách thức để một bộ máy tìm  
kiếm có thể thấy được trang web.  
SVTH: Nguyễn Tuấn Vũ  
6
Lớp: K46 TMĐT  
   
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học  
GVHD: Th.S Lê Văn Hòa  
Trong chương này, tác giả cũng giới thiệu về hai phương thức đánh giá  
thứ hạng của website là Alexa và GoogleRank, hai phương thức này đã và đang  
là thước đo quan trọng trong việc phát triển trang web.  
Cũng trong chương này, tác giả giới thiệu SEO, giúp cho người đọc có cái  
nhìn rõ ràng hơn về SEO.  
Chương 3: Ứng dụng.  
Sau khi đã tìm hiểu và nắm rõ các phương thức tìm kiếm, các tiêu chí đánh  
giá xếp hạng tại Chương 2, tác giả áp dụng những hiểu biết trên cơ sở lý thuyết đó  
để bắt đầu SEO trang web ToanCauMobile.vn.  
Vì vậy, ở chương này, chúng ta sẽ nghiên cứu các phương pháp cơ bản  
nhất, chính qui nhất để có thể tối ưu hóa một website, nhằm đưa website lên các  
thứ hạng cao khi người dùng truy vấn.  
Sau khi đã áp dụng các phương pháp cơ bản và chính qui, tác giả sẽ thống  
kê các số liệu và so sánh lúc chưa áp dụng SEO và sau khi áp dụng SEO.  
Một số phương pháp, kĩ năng mềm mà tác giả đã áp dụng để SEO thành  
công trang web  
Chương 4: Kết luận – hướng phát triển.  
Nội dung của chương 4 sẽ là tổng hợp kết quả các công việc đã làm ở các  
chương trước. Các kết quả đã đạt được sau khi hoàn thành luận văn.  
Những nhược điểm của SEO.  
Hướng phát triển, đề xuất các phương pháp đễ giữ các vị trí cao khi SEO  
thành công, cũng như cách thức quảng bá website để có thể thu lợi nhuận, tự nuôi  
sống website.  
SVTH: Nguyễn Tuấn Vũ  
7
Lớp: K46 TMĐT  
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học  
GVHD: Th.S Lê Văn Hòa  
CHƯƠNG 3. CỞ SỞ LÝ THUYẾT  
3.1. TỔNG QUAN BỘ MÁY TÌM KIẾM  
3.1.1. Bộ máy tìm kiếm hoạt động như thế nào?  
Search Engine hay còn gọi là công cụ tìm kiếm, bộ máy tìm kiếm giúp  
người xem tìm thấy những thông tin một cách liên quan nhất. Người dùng có  
thể tìm kiếm thông tin theo từ khoá, hình ảnh, địa điểm… trên search engine. Khi  
nhận được câu lệnh yêu cầu tìm kiếm, search engine sẽ phân tích yêu cầu đó,  
đánh giá, xếp hạng và trả về kết quả liên quan nhất. Search engine hoạt động  
theo quy trình như sau  
:
Ban đầu, SE sẽ gửi các Spider (hay còn gọi là con bọ, Crawler) để tiến hành  
khảo sát một website khi nó được upload lên. Các Spider này được lập trình để có  
thể tự động lần theo liên kết để đi đến các website khác nhau, sau khi dừng lại ở  
một website nào đó, Spider này sẽ thu thập, đánh giá các thông tin trên website  
đó trước khi tự động lần theo các liên kết đến các website  
khác…  
Sau khi nhận được các thông tin từ Spider, SE có nhiệm vụ lưu trữ lại trước  
khi phân tích chúng bằng các thuật toán riêng biệt để trả về các kết quả khi người  
dùng truy vấn đúng vào nội dung. Ta có thể tham khảo cách thức làm việc chung  
của SE tại hình dưới đây:  
Hình 3. 1: Tổng quan cách thức là, việc của bộ máy tìm kiếm  
SVTH: Nguyễn Tuấn Vũ  
8
Lớp: K46 TMĐT  
       
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học  
Trong đó:  
GVHD: Th.S Lê Văn Hòa  
Khảo sát – Crawl: là một giai đoạn rất quan trọng để search engine tham  
quan, thu thập thông tin trên website của bạn. Search engine có những con bọ  
(spider hay crawler) được lập trình để có thể tự động theo các liên kết (link) để  
mò đến các website khác nhau, thu thập và đánh giá các thông tin trên website  
đó.  
Lưu trữ - Index: là giai đoạn search engine lưu lại thông tin sau khi đã  
crawl. Với khối lượng lưu trữ vô hạn, các search engine có thể chứa hàng tỉ kết  
quả liên quan. Một trang web có thể được index nhanhn hoặc chậm tuỳ thuộc vào  
tốc độ crawl, độ trust của website và nhiều yếu tố  
khác.  
Phân tích – Analysis: giai đoạn này search engine sẽ làm việc trên các dữ  
liệu mà nó thu thập được. Sau đó tính toán độ liên quan của dữ liệu so với yêu cầu  
của người dùng. Các search engine khác nhau có những thuật toán phân tích  
khác nhau từ đây tạo ra sự khác biệt giữa các search engine. Giai đoạn phân tích  
sẽ tạo tiền đề cho giai đoạn phía sau – Trả về kết quả.  
Kết quả - Results: Các kết quả liên quan sẽ được hiển thị trong giai đoạn  
này. Những kết quả liên quan thường được sắp ở phía trên, cao hơn những kết  
quả ít liên quan.Mặc dù không phải lúc nào các kết quả cũng thoả mãn được  
yêu cầu của người tìm kiếm.Nhưng cho đến hiện nay, người dùng khá hài lòng  
với những gì mà search engine trả về.  
Tuy bức tranh hoạt động của search engine bên ngoài nhìn chung khá đơn  
giản nhưng bên trong là tập hợp rất nhiều thuật toán phức tạp. Search engine  
nào thoả mãn nhiều nhất nhu cầu tìm kiếm người sử dụng sẽ được sử dụng rộng  
rãi và phát triển mạnh mẽ trong tương lai. Ai là vua trong thị trường tìm kiếm  
trực tuyến đầy tiềm năng này?  
SVTH: Nguyễn Tuấn Vũ  
9
Lớp: K46 TMĐT  
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học  
GVHD: Th.S Lê Văn Hòa  
3.1.2. Giới thiệu về các search engine thông dụng  
Hiện nay trên thế giới có rất nhiều search engine đang hoạt động. Trong đó,  
phải kể đến ba chàng khổng lồ đang chi phối 98% thị phần tìm kiếmtheo thông  
kê của SEO MOD tháng 01/2014.  
Hình 3. 2: Biểu đồ thị phần search engine từ seomoz.org  
Google là search engine được nhiều người sử dụng nhất với 80% số người sử  
dụng. Tiếp theo là Yahoo 9.5% và Bing 8.5%, còn lại số phần trăm ít ỏi dành cho  
các search engine khác.  
Hiện nay, ở Việt Nam đa số mọi người cũng sử dụng Google để tìm kiếm  
thông tin.Nên việc SEO trên Google là ưu tiên hàng đầu đối với các website.  
3.2. CẤU TẠO CHUNG CÁC BỘ MÁY TÌM KIẾM  
Bộ máy tìm kiếm thường cấu tạo bởi 3 bộ phận đó là: Bộ thu thập thông  
tin, Bộ lập chỉ mục và bộ tìm kiếm thông tin, được hoạt động theo mô hình sau:  
Hình 3. 3: Cấu tạo Search Engine  
SVTH: Nguyễn Tuấn Vũ  
10  
Lớp: K46 TMĐT  
       
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học  
GVHD: Th.S Lê Văn Hòa  
Robot – bộ thu thập thông tin: Robot được biết đến dưới nhiều tên gọi  
khác nhau: spider, bot, crawler, hoặc web worm…Về bản chất robot chỉ là một  
chương trình duyệt và thu thập thông tin từ các website trên mạng, nó tự động  
duyệt qua các cấu trúc siêu liên kết và trả về các danh mục kết quả của công cụ  
tìm kiếm. Những trình duyệt thông thường không được xem là robot do thiếu tính  
chủ động, chúng chỉ duyệt web khi có sự tác động của con người.  
Index – bộ lập chỉ mục: Các trang web sau khi thu thập về sẽ được phân  
tích, trích chọn những thông tin cần thiết (thường là các từ đơn, từ ghép, cụm từ  
quan trọng) để lưu trữ trong cơ sở dữ liệu nhằm phục vụ cho nhu cầu tìm kiếm  
sau này.  
Search Engine – Bộ tìm kiếm thông tin: Tưởng tượng ta muốn tìm vài  
quyển sách trong một thư viện rất lớn. Với sức lực cá nhân ta không thể xem  
qua hết tất cả sách, vì vậy ta cần một danh mục sách. Tương tự, tồn tại hàng triệu  
trang web trên thế giới và mỗi phút trôi qua số lượng được đẩy lên càng nhiều  
hơn, cho dù ta có trong tay một công cụ lướt web tuyệt vời đến đâu cũng không  
thể duyệt hết. Tuy nhiên, với sự trợ giúp của SE, ta có thể thậm chí xác định  
được vị trí của những từ cần tìm trong các trang web khắp nơi trên thế giới.  
3.2.1. Robot  
Robot được chia làm 2 loại đó là: Robot thu thập thông tin, và robot chỉ mục.  
3.2.1.1. Robot thu thập thông tin có nhiệm vụ  
Phân tích – thống kê - Statistical Analysis: Robot đầu tiên được dùng để  
đếm số lượng web server, số tài liệu trung bình của một server, tỉ lệ các dạng file  
khác nhau, kích thước trung bình của một trang web,độ kết dính…  
Duy trì siêu liên kết – Maintenance: Một trong những khó khăn của việc  
duy trì một siêu liên kết là nó liên kết với những trang bị hỏng (dead links) khi  
những trang này bị thay đổi hoặc thậm chí bị xóa. Thật không may vẫn chưa có  
cơ chế nào cảnh báo các bộ duy trì về sự thay đổi này. Trên thực tế khi các tác  
giả nhận ra tài liệu của mình chứa những liên kết hỏng, họ sẽ thông báo cho  
nhau, hoặc thỉnh thoảng độc giả thông báo cho họ bằng email. Một số robot có  
SVTH: Nguyễn Tuấn Vũ  
11  
Lớp: K46 TMĐT  
   
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học  
GVHD: Th.S Lê Văn Hòa  
thể trợ giúp tác giả phát hiện các liên kết hỏng cũng như duy trì các cấu trúc  
siêu liên kết cùng nội dung của một trang web. Chức năng này lặp lại liên tục  
mỗi khi một tài liệu được cập nhật, nhờ đó mọi vấn đề xảy ra sẽ được giải quyết  
nhanh chóng.  
Ánh xạ địa chỉ web – Mirroring: Mirroring: là một kỹ thuật phổ biến  
trong việc duy trì các kho dữ liệu. Một ánh xạ (mirror) sẽ sao chép toàn bộ cấu  
trúc cây thư mục và thường xuyên cập nhật những file bị thay đổi. Điều này cho  
phép nhiều người cùng truy xuất một nguồn dữ liệu, giảm số liên kết bị thất  
bại, nhanh hơn và ít chi phí hơn so với truy cập trực tiếp vào site thực sự chứa  
các dữ liệu này.  
Phát hiện tài nguyên: Có lẽ ứng dụng thú vị nhất của robot là dùng nó để  
phát hiện tài nguyên. Con người không thể kiểm soát nổi một khối lượng thông tin  
khổng lồ trong môi trường mạng. Robot sẽ giúp thu thập tài liệu, tạo và duy trì  
cơ sở dữ liệu, phát hiện và xoá bỏ các liên kết hỏng nếu có, kết hợp với công cụ  
tìm kiếm cung cấp thông tin cần thiết cho con người.  
Kết hợp các công dụng trên - Combined uses: Một robot có thể đảm nhận  
nhiều chức năng như: vừa thống kê số lượng tài liệu thu được vừa tạo cơ sở dữ  
liệu…. Tuy nhiên những ứng dụng như thế còn khá ít ỏi.  
3.2.1.2.  
Robot chỉ mục – Robot Indexing  
Trong quá trình thu thập thông tin phục vụ cho việc lập chỉ mục , ta cần giải  
quyết vấn đề sau:  
Trong môi trường mạng,robot lấy thông tin từ các site.Vậy robot sẽ bắt đầu từ  
site nào? Điều này hoàn toàn phụ thuộc vào robot.Mỗi robot khác nhau có  
những chiến lược khác nhau.Thường thì robot sẽ viếng thăm các site phổ biến  
hoặc những site có nhiều liên kết dẫn đến  
nó.  
Ai sẽ cung cấp địa chỉ của các site này cho robot ?Có 2 nguồn; Một là  
Robot nhận các URL ban đầu từ user.Hai là Robot phân tích các trang web để  
lấy các URL mới, đến lượt các URL này trở thành địa chỉ đầu vào cho robot.Quá  
trình này được lặp lại liên tục.  
SVTH: Nguyễn Tuấn Vũ  
12  
Lớp: K46 TMĐT  
 
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học  
GVHD: Th.S Lê Văn Hòa  
Chọn dữ liệu nào trong tài liệu để lập chỉ mục? Quyết định chọn dữ liệu nào  
trong tài liệu cũng hoàn toàn phụ thuộc vào robot, thường thì những từ được liệt kê  
như sau được xem là quan trọng  
:
Ở góc cao của tài liệu.  
Trong các đề mục.  
Được in đậm.  
Trong URLTrong tiêu đề (quan trọng).  
Trong phần miêu tả trang web (Description)  
Trong các thẻ dành cho hình ảnh (ALT).  
Trong các thẻ chứa từ khóa.  
.
Trong các text liên kết.  
Một số robot lập chỉ mục trên tiêu đề, hoặc một số đoạn văn bản đầu tiên  
hoặc toàn bộ tài liệu (full text). Một số khác lại lập chỉ mục trên các thẻ  
META(META tags) hoặc các thẻ ẩn, nhờ vậy tác giả của trang web được quyền  
ấn định từ khoá cho tài liệu của mình. Tuy nhiên chức năng này bị lạm dụng quá  
nhiều do đó các thẻ META không còn giữ được giá trị ban đầu của chúng nữa  
(Black Hat SEO).  
SVTH: Nguyễn Tuấn Vũ  
13  
Lớp: K46 TMĐT  
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học  
3.2.2. Index – bộ lập chỉ mục  
GVHD: Th.S Lê Văn Hòa  
3.2.2.1. Mô hình xử lý tổng quát của một hệ thống lập chỉ mục  
Hình 3. 4: Mô hình xử lý tổng quát hệ thống lập chỉ mục  
Lập chỉ mục là quá trình phân tích và xác định các từ, cụm từ thích hợp  
cốt lõi có khả năng đại diện cho nội dung của tài liệu.Như vậy, vấn đề đặt ra là  
phải rút trích ra những thông tin chính, có khả năng đại diện cho nội dung của tài  
liệu.  
Thông tin này phải “vừa đủ”, nghĩa là không thiếu để trả ra kết quả đầy đủ so  
với nhu cầu tìm kiếm, nhưng cũng phải không dư để giảm chi phí lưu trữ và chi  
phí tìm kiếm và để loại bỏ kết quả dư thừa không phù hợp.  
Việc rút trích này chính là việc lập chỉ mục trên tài liệu. Trước đây, quá trình  
này thường được các chuyên viên đã qua đào tạo thực hiện một cách “thủ công “  
nên có độ chính xác cao. Nhưng trong môi trường hiện đại ngày nay, với lượng  
thông tin khổng lồ thì việc lập chỉ mục bằng tay không còn phù hợp, phương  
pháp lập chỉ mục tự động mang lại hiệu quả cao hơn.  
Một thủ tục lập chỉ mục tự động cơ bản:  
SVTH: Nguyễn Tuấn Vũ  
14  
Lớp: K46 TMĐT  
     
Tải về để xem bản đầy đủ
docx 58 trang yennguyen 24740 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Đề tài Tìm hiểu và ứng dụng seo vào trang web Toancaumobile.vn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • docxde_tai_tim_hieu_va_ung_dung_seo_vao_trang_web_toancaumobile.docx