Nghiên cứu hiệu năng bảo mật mạng vô tuyến nhận thức dạng nền cộng tác sử dụng mã Fountain

Nguyễn Văn Hiền, Trần Trung Duy, Trần Đình Thuần  
NGHIÊN CỨU HIỆU NĂNG BẢO MẬT  
MẠNG VÔ TUYẾN NHẬN THỨC DẠNG  
NỀN CỘNG TÁ C SỬ DỤNG MàFOUNTAIN  
Nguyễn Văn Hiền*, Trần Trung Duy*, Trần Đình Thuần*  
*Khoa Viễn Thô ng 2, Học Viện Cô ng Nghệ Bưu Chính Viễn Thông cơ sở tại TP. Hồ Chí Minh  
cách và nhiễu được sử dụng để bảo vệ sự truyền-nhận  
thông tin giữa các thiết bị thu-phát, trước sự nghe lén của  
các thiết bị thu không hợp pháp. Trong bảo mật lớp vật  
lý, các nhà nghiên cứu định nghĩa thông số dung lượng  
bảo mật (secrecy capacity), bằng hiệu giữa dung lượng  
của kênh dữ liệu và dung lượng của kênh nghe lén. Hơn  
nữa, dung lượng bảo mật là một đại lượng không âm. Do  
đó, để nâng cao dung lượng bảo mật hay nâng cao hiệu  
năng bảo mật, hệ thống cần tăng cường dung lượng của  
kênh dữ liệu và/hoặc giảm dung lượng của kênh nghe lén.  
Trong các công trình [4]-[6], các mô hình thu-phát phân  
tập MIMO (Multiple Input Multiple Output) được đề xuất  
để nâng cao chất lượng kênh dữ liệu, và do đó cũng nâng  
cao dung lượng bảo mật. Trong trường hợp các thiết bị  
không thể trang bị nhiều ănten, chuyển tiếp cộng tác [7]  
thường được áp dụng, trong đó các nút đơn ănten sẽ chia  
sẽ ănten của mình để tạo thành hệ thống MIMO ảo.  
Trong các tài liệu [8]-[9], các tác giả đề xuất những mô  
hình chuyển tiếp cộng tác hiệu quả nhằm nâng cao hiệu  
năng bảo mật của mạng. Các công trình [10]-[11] kết hợp  
giữa chuyển tiếp và chọn lựa nút chuyển tiếp để nâng cao  
hơn nữa chất lượng của kênh dữ liệu. Trong bảo mật lớp  
vật lý, tạo nhiễu lên các thiết bị nghe lén cũng là một  
phương pháp hiệu quả để bảo mật thông tin. Trong kỹ  
thuật này, nút gây nhiễu (jammer) sẽ phát nhiễu lên các  
thiết bị nghe lén, đồng thời phối hợp với các thiết bị thu  
hợp pháp trong mạng để khử nhiễu gây ra [12]-[13]. Mặc  
dù các mô hình sử dụng tạo nhiễu đạt được hiệu năng bảo  
mật cao hơn khi so sánh với các mô hình không sử dụng  
tạo nhiễu, tuy nhiên việc triển khai kỹ thuật này rất phức  
tạp vì yêu cầu sự đồng bộ cao giữa nút tạo nhiễu, nút phát  
và nút thu. Khác với các công trình [4]-[13], các tác giả  
trong [14]-[15] đánh giá hiệu năng của các mô hình bảo  
mật lớp vật lý thông qua xác suất dừng (OP) tại nút thu  
hợp pháp và xác suất chặn (Intercept Probability) tại nút  
nghe lén. Các công trình [14] và [15] cũng phân tích sự  
đánh đổi giữa bảo mật thông tin và độ tin cậy của việc  
truyền thông tin thông qua sự tương quan của hai thông  
số hiệu năng OP và IP.  
Tóm tắt: Trong bài báo này, chúng tôi nghiên cứu  
phương pháp bảo mật lớp vật lý (Physical-Layer  
Security) cho mạng vô tuyến nhận thức dạng nền  
(Underlay Cognitive Radio Network) sử dụng mã  
Fountain. Trong mô hình nghiên cứu, nguồn thứ cấp và  
nút chuyển tiếp thứ cấp hiệu chỉnh công suất phát để đảm  
bảo chất lượng dịch vụ của mạng sơ cấp không bị ảnh  
hưởng. Sử dụng mã Fountain, nút nguồn liên tục gửi các  
gói mã hoá đến nút đích, và nút đích có thể khôi phục lại  
dữ liệu của nguồn nếu nút này nhận đủ một lượng tối  
thiểu các gói mã hoá. Hơn nữa, nếu nút chuyển tiếp có  
thể tích luỹ đủ số lượng gói mã hoá để giải mã dữ liệu  
nguồn trước nút đích, nút chuyển tiếp sẽ thay nút nguồn  
gửi các gói mã hoá đến nút đích. Trong mạng thứ cấp,  
một nút nghe lén xuất hiện, và cố gắng đạt được dữ liệu  
của nút nguồn. Nếu nút nghe lén có thể nhận đủ số lượng  
gói mã hoá, nút này cũng có thể giải mã thành công dữ  
liệu nguồn, và trong trường hợp này, việc truyền dữ liệu  
xem như bị mất bảo mật. Do đó, hiệu năng của mô hình  
nghiên cứu được đánh giá thông qua hai thông số quan  
trọng: i) xác suất dừng (OP: Outage Probability) là xác  
suất mà nút đích không thể nhận đủ số lượng gói mã hoá  
để giải mã thành công dữ liệu nguồn; ii) xác suất mất bảo  
mật (IP: Insecure Probability) là xác suất mà nút nghe lén  
nhận đủ số lượng gói mã hoá để giải mã dữ liệu nguồn.  
Chúng tôi đưa ra các công thức đánh giá chính xác hiệu  
năng OP và IP của mạng thứ cấp trên kênh truyền fading  
Rayleigh, dưới sự ảnh hưởng của giao thoa đồng kênh  
đến từ mạng sơ cấp. Các công thức toán học đều được  
kiểm chứng sự chính xác thông qua mô phỏng Monte  
Carlo. Các kết quả cho thấy có sự đánh đổi giữa bảo mật  
và độ tin cậy trong việc truyền dữ liệu. Hơn nữa, mô hình  
nghiên cứu có thể đạt được các hiệu năng tốt hơn khi so  
sánh với mô hình truyền trực tiếp giữa nguồn thứ cấp và  
đích thứ cấp.  
Từ khóa: Mã Fountain, vô tuyến nhận thức dạng nền,  
bảo mật lớp vật lý, xác suất dừng, xác suất mất bảo mật,  
truyền thông cộng tác.  
Vô tuyến nhận thức (CR: Cognitive Radio) ra đời  
nhằm giải quyết bài toán khan hiếm phổ tần, và cũng là  
giải pháp sử dụng phổ tần hiệu quả hơn [16]. Trong vô  
tuyến nhận thức, người dùng sơ cấp (Primary User) sẽ  
được cấp phép sử dụng phổ tần bất cứ lúc nào, trong khi  
người dùng thứ cấp (Secondary User) chỉ được sử dụng  
phổ tần khi chất lượng dịch vụ của mạng sơ cấp không bị  
ảnh hưởng. Thông thường, người dùng thứ cấp phải thăm  
dò sự xuất hiện của người dùng sơ cấp để sử dụng những  
băng tần không đang bị chiếm giữ. Tuy nhiên, một khi  
I. GIỚI THIỆU  
1Gần đây, bảo mật lớp vật lý (Physical-layer security)  
[1]-[3] đang nhận được sự quan tâm đặc biệt của các nhà  
nghiên cứu trong và ngoài nước. Trong phương pháp bảo  
mật tiềm năng này, các yếu tố như kênh truyền, khoảng  
Tác giả liên hệ: Trần Trung Duy  
email: trantrungduy@ptithcm.edu.vn  
Đến tòa soạn: 11/2020, chỉnh sửa: 12/2020, chấp nhận đăng: 12/2020.  
SOÁ 04A (CS.01) 2020  
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG  
112  
NGHIÊN CỨU HIỆU NĂNG BẢO MẬT MẠNG VÔ TUYẾN NHẬN THỨC DẠNG NỀN CỘNG TÁC SỬ DỤNG MÃ  
FOUNTAIN  
người dùng sơ cấp trở lại sử dụng băng tần, người dùng  
thứ cấp phải lập tức chuyển sang sử dụng băng tần trống  
khác. Do đó, nhược điểm phương pháp thăm dò người  
dùng sơ cấp là phức tạp, đồng bộ cao, khả năng thăm dò  
chính xác, sự chuyển đổi kênh truyền nhanh chóng và  
không đảm bảo tính liên tục cho mạng thứ cấp. Các tác  
giả trong công bố [17] đề xuất mô hình vô tuyến nhận  
thức dạng nền (Underlay CR), trong đó người dùng thứ  
cấp được phép sử dụng cùng băng tần với người dùng sơ  
cấp. Tuy nhiên, người dùng thứ cấp phải hiệu chỉnh công  
suất phát để đảm bảo chất lượng dịch vụ của mạng sơ cấp  
không bị ảnh hưởng. Trong các công trình [17]-[18],  
công suất phát của thiết bị phát thứ cấp phải được hiệu  
chỉnh theo thông tin trạng thái kênh truyền (CSI: Channel  
State Information) tức thời giữa thiết bị này với người  
dùng sơ cấp sao cho giao thoa gây lên người dùng sơ cấp  
không được vượt qua một ngưỡng quy định trước. Tuy  
nhiên, việc ước lượng chính xác CSI tức thời khó đạt  
được trong thực tế vì cần sự phối hợp giữa hai mạng sơ  
cấp và thứ cấp, cần nhiều thời gian để ước lượng, cũng  
như cần đáp ứng nhanh chóng với sự thay đổi của kênh  
fading [19]. Trong tài liệu [20], các tác giả giới thiệu  
phương pháp hiệu chỉnh công suất phát đơn giản hơn cho  
các thiết bị phát thứ cấp, đó là hiệu chỉnh theo giá trị  
trung bình của độ lợi kênh đến người dùng sơ cấp. Cụ  
thể, công suất phát của nút phát thứ cấp sẽ được tính toán  
sao cho xác suất dừng tại người dùng sơ cấp luôn nhỏ  
hơn một ngưỡng xác định trước.  
lớp vật lý sử dụng mã Fountain cho mạng chuyển tiếp  
cộng tác trong môi trường vô tuyến nhận thức dạng nền.  
Sau khi hiệu chỉnh công suất phát nhằm đảm bảo xác suất  
dừng của mạng sơ cấp luôn thấp hơn hoặc bằng một  
ngưỡng xác định trước, nút nguồn thứ cấp gửi các gói mã  
hoá đến nút đích thứ cấp. Cùng lúc đó, nút chuyển tiếp  
thứ cấp cũng sẽ nhận các gói mã hoá từ nút nguồn. Ngay  
khi nút đích nhận đủ số lượng gói mã hoá, nút này sẽ yêu  
cầu nút nguồn (hoặc nút chuyển tiếp) dừng việc truyền,  
rồi tiến hành khôi phục dữ liệu gốc. Trong trường hợp,  
nút chuyển tiếp có thể nhận đủ số lượng gói trước nút  
đích, nút chuyển tiếp sẽ thay nút nguồn gửi các gói mã  
hoá đến nút đích. Cũng xuất hiện trong mạng thứ cấp, nút  
nghe lén cũng cố gắng nhận các gói mã hoá để đạt được  
dữ liệu của nguồn. Với sự ràng buộc thời gian trễ tối đa,  
tổng số lần truyền các gói mã hoá tại nguồn và nút  
chuyển tiếp không được vượt quá một giá trị cho trước.  
Vì vậy, sau số lần truyền tối đa này, nếu nút đích không  
thể nhận đủ số gói mã hoá thì xem như nút đích bị dừng  
(không thể giải mã thành công dữ liệu nguồn). Hơn nữa,  
trong quá trình truyền dữ liệu, nếu nút nghe lén có thể  
nhận đủ số lượng gói mã hoá, thì dữ liệu nguồn xem như  
bị mất bảo mật. Do đó, hai thông số hiệu năng xác suất  
dừng (OP) và xác suất mất bảo mật (IP) sẽ được đánh giá  
đồng thời trong bài báo này.  
Sau đây, chúng tôi trình bày những công trình chính  
liên quan đến chủ đề của bài báo. Hơn nữa, những điểm  
mới và điểm khác biệt giữa bài báo này và những công  
bố trước đây sẽ được phân tích kỹ. Đầu tiên, các công  
trình liên quan [23]-[24] chỉ nghiên cứu các mô hình  
truyền trực tiếp giữa nguồn và đích, và không nghiên cứu  
mô hình chuyển tiếp. Tương tự như vậy, các công bố  
[26]-[28] cũng nghiên cứu hệ thống truyền thông trực  
tiếp giữa nguồn và đích, sử dụng các kỹ thuật phân tập  
thu-phát MIMO. Các tác giả trong công trình [25] đã đề  
xuất mô hình chuyển tiếp cộng tác, trong đó nút chuyển  
tiếp sẽ giúp đỡ nút nguồn chuyển tiếp từng gói mã hoá  
đến nút đích. Khác với công trình [25], nút chuyển tiếp  
trong bài báo này đóng vai trò chuyển tiếp dữ liệu của  
nguồn khi nút này tích luỹ đủ gói mã hoá trước nút đích.  
Hơn thế nữa, mô hình trong công trình [25] cũng không  
nghiên cứu về mạng vô tuyến nhận thức. Tài liệu [29]  
nghiên cứu mô hình bảo mật sử dụng mã Fountain trong  
mạng vô tuyến nhận thức dạng nền dưới sự tác động của  
khiếm khuyết phần cứng và nhiễu từ mạng sơ cấp. Khác  
với [29], bài báo này xét đến mạng chuyển tiếp, trong khi  
công trình [29] nghiên cứu mô hình truyền trực tiếp giữa  
nguồn và đích.  
Mã Rateless hay mã Fountain [21]-[22] đang được  
nghiên cứu trong thời gian gần đây bởi sự đơn giản trong  
thiết kế và khả năng thích ứng với các điều kiện kênh  
truyền mà không cần biết CSI tại thiết bị phát. Trong mã  
Fountain, dữ liệu gốc của nguồn sẽ được chia thành các  
gói nhỏ, và nguồn sẽ tạo ra các gói mã hoá bằng cách  
XOR một vài các gói nhỏ này. Sau đó, nguồn sẽ liên tục  
gửi các gói mã hoá đến đích, cho đến khi đích nhận đủ  
một số lượng gói mã hoá tối thiểu để khôi phục lại dữ  
liệu nguồn. Tuy nhiên, bảo mật cũng là một vấn đề quan  
trọng trong việc sử dụng mã Fountain bởi vì các thiết bị  
nghe lén có thể nhận được các gói mã hoá và tiến hành  
giải mã để đạt được dữ liệu của nguồn. Trong các công  
trình [23]-[26], các tác giả đề xuất các mô hình bảo mật  
lớp vật lý cho các hệ thống truyền thông vô tuyến sử  
dụng mã Fountain. Như đã được đề cập trong các công  
trình [23]-[24], dữ liệu nguồn có thể được bảo mật nếu  
nút đích có thể đạt được đủ số gói mã hoá trước nút nghe  
lén. Cụ thể, sau khi nhận đủ số gói mã hoá, nút đích lập  
tức gửi thông báo đến nút nguồn để yêu cầu nút nguồn  
dừng việc gửi các gói mã hoá. Bởi vì nút đích đã nhận đủ  
số gói mã hoá nên nút này có thể giải mã thành công dữ  
liệu gốc, trong khi nút nghe lén không thể khôi phục  
được do chưa nhận đủ số gói yêu cầu. Tài liệu [25] đưa ra  
mô hình chuyển tiếp hợp tác sử dụng một nút tạo nhiễu  
để làm giảm chất lượng tín hiệu đạt được tại nút nghe lén.  
Tuy nhiên, như đã đề cập ở trên, việc triển khai kỹ thuật  
tạo nhiễu rất phức tạp bởi cần một sự đồng bộ cao giữa  
tất cả các nút.  
Tiếp đến, những đóng góp và những kết quả đạt được  
trong bài báo sẽ được tóm tắt. Đóng góp đầu tiên là việc  
đề xuất mô hình chuyển tiếp cộng tác nhằm nâng cao độ  
tin cậy của sự truyền dữ liệu trong mạng vô tuyến nhận  
thức dạng nền. Đóng góp thứ hai của bài báo là đưa ra  
biểu thức tính chính xác xác suất dừng (OP) và xác suất  
mất bảo mật (IP) của mạng thứ cấp trên kênh truyền  
fading Rayleigh. Hơn nữa, các công thức toán học đều  
được kiểm chứng sự chính xác thông qua mô phỏng  
Monte Carlo. Kế tiếp, các kết quả đạt được cho thấy mô  
Trong bài báo này, chúng tôi đề xuất mô hình bảo mật  
SOÁ 04A (CS.01) 2020  
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG  
113  
Nguyễn Văn Hiền, Trần Trung Duy, Trần Đình Thuần  
đến S. Kế tiếp, R sẽ thay S truyền các gói mã hoá đến D.  
Việc nút chuyển tiếp thay thế nút nguồn có những điểm  
lợi sau đây: thứ nhất, nút chuyển tiếp chia sẽ tải với nút  
nguồn; thứ hai, nút chuyển tiếp ở gần nút đích hơn nên  
việc truyền dữ liệu đến đích sẽ tốt hơn. Cũng vậy, nút  
đích tiếp tục tích luỹ các gói mã hoá cho đến khi nhận đủ  
số lượng, và cũng sẽ gửi ACK đến nút chuyển tiếp để  
thông báo. Trong trường hợp, đích D không thể nhận đủ  
hình đề xuất đạt được hiệu năng xác suất dừng tốt hơn  
hẳn mô hình truyền trực tiếp giữa nguồn và đích. Đối với  
hiệu năng IP, mô hình đề xuất có thể đạt được giá trị IP  
thấp hơn (hoặc lớn hơn không đang kể) khi so sánh với  
mô hình truyền trực tiếp. Cuối cùng, sự ảnh hưởng của  
các tham số hệ thống (như tổng số lần truyền gói mã hoá  
tối đa và vị trí của nút chuyển tiếp) cũng sẽ được nghiên  
cứu kỹ trong bài báo này.  
gói mã hoá sau Nmax lần truyền thì D xem như bị  
H
dừng. Trong trường hợp nút nghe lén E có thể đạt được ít  
nhất gói mã hoá trong suốt quá trình truyền dữ liệu thì  
xem như dữ liệu của nguồn bị mất bảo mật.  
Phần còn lại của bài báo được tổ chức như sau: Phần  
II trình bày nguyên lý hoạt động của mô hình đề xuất.  
Trong phần III, bài báo đánh giá các hiệu năng OP và IP  
của mô hình đề xuất bằng các công cụ toán học. Phần IV  
đưa ra các kết quả phân tích lý thuyết được kiểm chứng  
bằng mô phỏng. Cuối cùng, các kết luận và hướng phát  
triển được thảo luận trong phần V.  
H
Giả sử kênh truyền giữa hai nút X và Y là kênh fading  
X,Y S,R,D,T,U  
Rayleigh, với  
. Ta cũng giả sử kênh  
(
)   
truyền giữa hai nút này không thay đổi trong suốt quá  
XY  
trình truyền một gói mã hoá. Ta ký hiệu  
là độ lợi  
kênh giữa X và Y, và  
sẽ là một biến ngẫu nhiên có  
XY  
II. MÔ HÌ NH HỆ THỐNG  
phân phối mũ [7]-[10] với hàm mật độ xác suất và hàm  
phân bố tích luỹ lần lượt là  
E
fx = exp −x ,  
( )  
(
)
XY  
XY  
XY  
(1)  
F
x =1−exp −x ,  
( )  
(
)
XY  
XY  
S
D
fU  
.
( )  
F .  
lần lượt là hàm mật độ xác suất và  
U
ở đây,  
và  
( )  
hàm phân bố tích luỹ của biến ngẫu nhiên U,  
là tham  
XY  
R
số đặc trưng của XY , và được biểu diễn bằng công thức  
sau (xem [7]-[9]):  
XY = d  
,
(2)  
(
)
XY  
U
T
dXY  
là hệ số  
ở đây,  
là khoảng cách giữa X và Y, và  
Hì nh 1. Mô hình nghiên cứu.  
suy hao đường truyền có giá trị từ 2 đến 8.  
Xét sự truyền dữ liệu giữa hai nút sơ cấp T và U; nếu  
mạng thứ cấp cũng đang sử dụng phổ tần thì tỷ số tín  
hiệu trên giao thoa và nhiễu (SINR: Signal-to-  
Interference-plus-Noise Ratio) đạt được tại U được biểu  
diễn bằng công thức sau:  
Mô hình đề xuất được mô tả trong Hình 1, trong đó  
hai mạng sơ cấp và thứ cấp sử dụng cùng băng tần, và do  
đó, gây giao thoa đồng kênh lên nhau. Trong mạng sơ  
cấp, thiết bị phát (T) đang truyền dữ liệu đến thiết bị thu  
(U). Trong mạng thứ cấp, nút nguồn (S) đang gửi các gói  
mã hoá đến nút chuyển tiếp (R) và nút đích (D), trong khi  
nút nghe lén (E) đang nghe lén dữ liệu được gửi đi. Giả  
sử rằng tất cả các nút đều chỉ có 01 ănten, và hoạt động ở  
chế độ bán song công (half duplex).  
P TU  
T
TU  
=
.
(3)  
P AU +02  
A
P
Trong công thức (3),  
là công suất phát của nút phát  
T
Nút nguồn S chia dữ liệu gốc thành các gói nhỏ có  
kích thước bằng nhau. Sau đó, một số lượng các gói nhỏ  
này sẽ được chọn một cách ngẫu nhiên, và XOR lại với  
nhau để tạo thành những gói mã hóa. Trong các gói mã  
hoá, các thành phần mào đầu (Overhead) và các bit kiểm  
tra có thể được thêm vào để phục vụ cho việc giải mã tại  
các thiết bị thu như R và D. Các gói mã hoá sẽ liên tục  
được gửi đến R và D, và cũng bị nghe lén bởi E. Giả sử,  
sự truyền dữ liệu giữa nguồn và đích bị giới hạn về thời  
gian trễ, cụ thể số lần truyền các gói mã hoá tối đa không  
P
sơ cấp T,  
là công suất phát của nút phát thứ cấp A  
A
AS,R  
2  
(
), và  
là phương sai của nhiễu Gauss trắng  
0
cộng tính tại nút thu U (giả sử nhiễu Gauss trắng cộng  
tính tại các thiết bị thu đều có giá trị trung bình bằng 0 và  
phương sai bằng 02 ). Cũng trong (3),  
P AU  
là giao thoa  
A
đồng kênh do nút A gây lên nút U.  
Xác suất dừng của mạng sơ cấp được định nghĩa là xác  
suất mà tỷ số SINR đạt được tại nút U nhỏ hơn một  
ngưỡng P cho trước. Từ công thức (3), xác suất dừng  
được vượt qua  
N
max . Điều này có nghĩa là sau Nmax lần  
truyền các gói mã hoá thì S và R không được gửi thêm  
lần nào nữa vì đã quá thời gian trễ quy định. Để giải mã  
thành công dữ liệu của nguồn, các nút R, D và E phải tích  
được viết như sau:  
P   
P TU  
T
OP = Pr  P = Pr  
  
luỹ ít nhất  
gói mã hoá, H Nmax  
.
Hơn nữa, ngay khi  
(
)
H
TU  
P AU +02  
A
đích D nhận đủ  
ACK đến nguồn S để thông báo, và nguồn S sẽ dừng việc  
gói mã hoá, nút này sẽ gửi thông điệp  
H
(4)  
+  
2   
P P  
P0  
P
A
=   
F
x +  
f
x dx.  
AU  
( )  
truyền các gói mã hoá. Trong trường hợp, nút R nhận đủ  
TU  
P
T
T
0
gói mã hoá trước nút đích, R cũng gửi thông báo ACK  
H
SOÁ 04A (CS.01) 2020  
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG  
114  
NGHIÊN CỨU HIỆU NĂNG BẢO MẬT MẠNG VÔ TUYẾN NHẬN THỨC DẠNG NỀN CỘNG TÁC SỬ DỤNG MÃ  
FOUNTAIN  
Kết hợp với công thức (1), xác suất dừng trong công  
thức (4) được tính chính xác như sau:  
III. PHÂ N TÍ CH HIỆU NĂNG HỆ THỐNG  
Trong mục này, bài báo sẽ phân tích hiệu năng OP và  
IP của mô hình đề xuất (ký hiệu CT: Cooperative  
Transmission), và so sánh với mô hình truyền trực tiếp  
AUP  
TU02P  
T
OP =1−  
exp −  
.
(5)  
AUP +TUP P  
P
nR nD  
T
A
T
(ký hiệu DT: Direct Transmission). Ta ký hiệu  
,
nE  
và  
lần lượt là số gói mã hoá nhận được tại R, D và E  
Tiếp đến, nút phát thứ cấp A phải hiệu chỉnh công suất  
nS  
sau khi quá trình truyền các gói mã hoá kết thúc, và  
là  
P
phát  
để chất lượng dịch vụ của mạng sơ cấp không  
(
)
A
số gói mã hoá mà nguồn S đã gửi đi.  
OP OP  
OP  
là giá trị  
bị ảnh hưởng, cụ thể:  
[20], với  
được quy định bởi mạng sơ cấp. Bằng cách giải phương  
A. OP của mô hình CT  
OP =  
trình  
OP , ta đạt được nghiệm sau đây:  
Trong mô hình đề xuất CT, đích D sẽ bị dừng trong  
ba trường hợp sau:  
1
TU02P  
AU  
TUP  
P =  
exp −  
−1  
P .  
(6)  
A
T
Nmax  
- Trường hợp 1: nút nguồn S gửi tất cả  
gói mã hoá  
1−OP  
P
T
tuy nhiên nút đích D không thể nhận đủ  
phục dữ liệu gốc. Trong trường hợp này, xác suất dừng  
được viết như sau:  
gói để khôi  
M
Bởi vì công suất phát là đại lượng không âm, nên từ  
công thức (6), công suất phát lớn nhất của S và R lần lượt  
được đưa ra bằng các biểu thức sau:  
OP = Pr n = N ,n H,n H .  
(11)  
(
)
1
S
max  
D
R
TU02P  
SU  
TUP  
+  
1
Trong công thức (11), số lượng gói mã hoá đạt được  
tại nút chuyển tiếp R cũng không được vượt qua H. Nếu  
số lượng gói mã hoá nhận được tại R là bằng H thì gói mã  
hoá thành công thứ H của nút R phải nhận tại lần phát  
cuối cùng của nút nguồn S. Từ lập luận trên, xác suất  
P =  
exp −  
−1  
P
T   
S
1−OP  
P
T
(7)  
TU02P  
RU  
TUP  
+  
1
P =  
exp −  
−1  
P
T   
R
1−OP  
P
T
OP  
1 được tính chính xác bởi:  
dừng  
Trong công thức (7), ta sử dụng hàm  
H −1  
+
nD  
Nmax −nD  
x = max x,0 . Ta cũng lưu ý rằng việc hiệu chỉnh  
(
)
D
Nmax  
   
OP =  
Cn  
)
(
)
(
)
(
1
SD  
SD  
nD =0  
công suất phát của nút S và nút R được thực hiện trước  
khi sự truyền dữ liệu bắt đầu.  
H
Nmax −H  
H −1  
Nmax −1  
(12)  
C
(
)
SR  
SR  
Xét sự truyền của một gói mã hoá từ nút phát thứ cấp  
.
H −1  
nR  
Nmax −nR  
+
Cn  
A
AS,R ; tỷ số SINR đạt được nút thu thứ cấp B,  
R
)
(
(
)
(
)
Nmax  
SR  
SR  
nR =0  
BR,D,E , được tính như sau:  
)
(
Trong công thức (12), bởi vì đích D không đạt đủ ít  
P AB  
nD  
nhất  
gói mã hoá, nên giá trị của  
chỉ đi từ 0 đến  
H
A
AB  
=
.
(8)  
P TB +02  
0 n H −1.  
Nmax  
lần  
T
, cụ thể:  
Hơn nữa, trong  
H −1  
D
nD  
truyền dữ liệu của nguồn S, số cách chọn  
lần nút đích  
P TB  
Trong công thức (8),  
là thành phần giao thoa  
T
nhận gói mã hoá thành công là CNn . Cũng trong công  
D
đồng kênh do nút sơ cấp  
gây lên nút thu thứ cấp B.  
T
max  
AB  
Nếu tỷ số SINR  
nhỏ hơn một ngưỡng xác định  
H
Nmax −H  
CH−1  
thức (12),  
là xác suất mà nút  
(
)
(
)
Nmax −1  
SR  
SR  
trước S , ta giả sử rằng nút thu thứ cấp B không thể giải  
chuyển tiếp R đạt được H gói mã hoá, và gói mã hoá thứ  
H nhận thành công ở lần truyền cuối cùng của nguồn S.  
mã thành công gói mã hoá nhận được từ A. Ngược lại,  
nếu AB S , thì gói mã hoá được giải mã thành công.  
- Trường hợp 2: nút chuyển tiếp R đạt được H gói mã hoá  
trước nút chuyển tiếp D. Trong trường hợp này, số lần  
Tương tự các công thức (4) và (5), ta tính được xác suất  
mà một gói mã hoá gửi đi từ A và không thể giải mã  
thành công bởi B là:  
Nmax −n .  
truyền tối đa mà nút R có thể thực hiện là  
Gọi  
S
mD  
là số gói mã hoá mà nút đích D cần phải tích luỹ  
+  
2   
PS  
S0  
P
A
T
=   
AB  
F
x +  
f
x dx  
( )  
thêm để đạt được đủ H gói. Xác suất dừng của trường  
hợp 2 này được đưa ra bằng công thức sau:  
AB  
TB  
P
A
0
(9)  
TBP  
TUS  
A
H n N ,n = H,  
=1−  
exp −  
.
S
max  
R
OP = Pr  
.
(13)  
TBP +ABPS  
P
2
A
T
A
nD H,mD Nmax −nS  
Và xác suất một gói mã hoá được gửi từ A và được  
giải mã thành công tại B sẽ là:  
Công thức (13) có nghĩa rằng nút đích không thể  
nhận đủ H gói mã hoá vì số lượng gói cần phải nhận  
mD  
thêm từ R là  
trong khi số lần truyền tối đa của R lại  
TBP  
TUS  
P
A
A
AB =1− AB  
=
exp −  
.
(10)  
m
nhỏ hơn D . Trong trường hợp này, nút R không cần  
TBP +ABPS  
A
T
SOÁ 04A (CS.01) 2020  
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG  
115  
Nguyễn Văn Hiền, Trần Trung Duy, Trần Đình Thuần  
thiết gửi tiếp các gói mã hoá đến nút D nữa. Do đó, xác  
suất dừng được tính chính xác như sau:  
H
Nmax −H  
H −1  
Nmax −1  
C
(
)
(
)
SD  
SD  
IP =  
H−1  
1
nD  
Nmax −nD  
+
Cn  
OP =  
D
Nmax  
2
(
)
(
)
SD  
SD  
H
nS −H  
nD =0  
H −1  
nS −1  
C
(
)
(
)
SR  
SR  
Nmax −1  
H
(14)  
Nmax −H  
H −1  
C
(
.
(
)
H
)
Nmax −1  
H −1  
SR  
SR  
H −mD  
nS −H +mD  
D
nS =H  
CnH −m  
(
)
(
)
SD  
SD  
S
(19)  
nR  
Nmax −nR  
+
Cn  
mD =Nmax −nS +1  
R
Nmax  
(
)
(
)
SR  
SR  
nR =0  
Trong công thức (14), số gói mã hoá mà đích D đã  
nhận thành công từ nguồn S sau khi nguồn dừng việc  
Nmax  
H
Nmax −H  
Cn  
.
E
(
)
(
)
Nmax  
SE  
SE  
H −mD.  
truyền dữ liệu là  
nE =H  
- Trường hợp 3: nút chuyển tiếp R đạt được H gói mã hoá  
- Trường hợp 2: nút đích D có thể nhận được đủ H gói  
Nmax  
mD Nmax −n  
S . Tuy nhiên,  
gói mã hoá từ nút chuyển  
trước nút chuyển tiếp D và  
mD  
mã hoá trước khi nguồn S gửi hết  
nghĩa là nút nguồn S sẽ dừng việc truyền mà không cần  
Nmax  
lần. Điều này có  
nút D không thể nhận đủ  
sử dụng  
lần truyền. Hơn nữa, số lượng gói mã hoá  
tiếp R sau khi nút R sử dụng hết những lần truyền dữ liệu  
còn lại. Xác suất dừng trong trường hợp này được đưa ra  
bằng công thức sau:  
nhận được tại nút chuyển tiếp cũng không thể vượt qua H  
gói. Cũng vậy, dữ liệu của nguồn sẽ mất bảo mật nếu như  
n H  
. Do đó, IP trong trường hợp này sẽ là:  
E
H n N ,n = H,  
S
max  
R
OP = Pr  
.
(15)  
(16)  
3
IP = Pr H n N ,n H,n =H,n H .  
(20)  
(21)  
(
)
mD Nmax −nS,nD <H  
2
S
max  
R
D
E
IP2  
Tiếp đến,  
được tính chính xác như sau:  
OP  
Do đó,  
được tính chính xác như sau:  
3
OP =  
3
H
nS −H  
H−1  
nS −1  
H
C
nS −H  
(
)
)
(
)
H −1  
nS −1  
SD  
SD  
C
(
)
(
)
SR  
SR  
H
nS −H  
H−1  
nS −1  
max −nS  
N  
C
(
)
H −mD  
(
SR  
SR  
−1   
Nmax  
Nmax  
−1  
nS −H +mD  
CH −m  
D
(
)
(
(
)
  
nS  
SD  
SD  
.
IP =  
.
H−1  
2
nR  
nS −nR  
mD =1  
Cn  
R
nS =H  
nS =H  
+
(
)
(
)
nS  
SR  
SR  
mD −1  
qD  
nR =0  
Nmax −nS −qD  
Cq  
D
(
)
)
Nmax −nS  
RD  
RD  
nS  
nE  
qD =0  
nS −nE  
E
Cn  
(
)
(
)
nS  
SE  
SE  
nE =H  
qD  
Trong công thức (16),  
là số gói mã hoá mà nút  
đích D có thể đạt được từ nút chuyển tiếp R. Bởi vì,  
- Trường hợp 3: nút chuyển tiếp R đạt được H gói mã hoá  
trước nút đích D, trong khi nút đích vẫn chưa nhận đủ H  
gói, và nút E đã nhận ít nhất H gói mã hoá từ nguồn S.  
Do đó, xác suất mất bảo mật trong trường hợp này là:  
0 qD mD  
nên nút đích D sẽ không thể đạt đủ H gói  
mã hoá.  
Kết hợp các công thức (12), (14) và (16), tổng xác  
suất dừng của mô hình CT được tính như sau:  
IP = Pr H n N ,n = H,n H,n H .  
(22)  
(
)
3
S
max  
R
D
E
OPCT = OP +OP +OP .  
(17)  
Từ công thức (22), ta có công thức (23) như sau:  
1
2
3
B. IP của mô hình CT  
H
nS −H  
H −1  
nS −1  
Xác suất mất bảo mật của mô hình đề xuất CT sẽ  
được tính trong bốn trường hợp như bên dưới:  
C
(
)
(
)
SR  
SR  
Nmax −1  
H -1  
nD  
nS −nD  
nS −nE  
Cn  
.
D
nS  
IP =  
(
)
Nmax  
(23)  
- Trường hợp 1: nút nguồn S gửi tất cả  
gói mã hoá  
(
)
   
3
SD  
SD  
nS =H  
nD =0  
và nút nghe lén E có thể nhận ít nhất H gói mã hoá. Do  
đó, xác suất mất bảo mật là:  
nS  
nR  
Cn  
E
(
)
(
)
nS  
SE  
SE  
nE =H  
IP = Pr n = N ,n H,n H,n H .  
(18)  
(
)
1
S
max  
D
R
E
- Trường hợp 4: nút chuyển tiếp R đạt được H gói mã hoá  
trước nút đích D, nút đích D và nút nghe lén E vẫn chưa  
nhận đủ H gói mã hoá. Trong trường hợp này, để nút  
chuyển tiếp R tiếp tục gửi các gói mã hoá đến đích D thì  
Trong công thức (18), bất kể nút đích D có nhận đủ H  
gói mã hoá hay không thì dữ liệu của nguồn cũng mất  
n H  
bảo mật bởi vì  
. Trong trường hợp nút D hoặc nút  
E
R nhận đủ H gói mã hoá thì gói mã hoá thứ H phải nhận  
mD Nmax −n  
S . Do đó, nút E tiếp tục nghe lén các gói mã  
IP  
ở lần truyền cuối cùng của nguồn S. Từ đó,  
được tính  
1
hoá từ nút R và đạt được đủ H gói sau khi sự truyền dữ  
liệu giữa R và D kết thúc. Xác suất mất bảo mật trong  
trường hợp này được viết dưới dạng sau:  
chính xác như sau:  
SOÁ 04A (CS.01) 2020  
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG  
116  
NGHIÊN CỨU HIỆU NĂNG BẢO MẬT MẠNG VÔ TUYẾN NHẬN THỨC DẠNG NỀN CỘNG TÁC SỬ DỤNG MÃ  
FOUNTAIN  
chữ. Do đó, các công thức đạt được có thể được sử dụng  
cho tất cả các giá trị khác nhau của các tham số hệ thống  
trong thực tế.  
H n Nmax ,nR = H,  
S
IP = Pr  
.
(24)  
4
mD Nmax −nS, pE H,nE H  
Hình 2 vẽ xác suất dừng (OP) và xác suất mất bảo  
pE  
Trong công thức (24),  
nhận được từ nguồn S. Tiếp đến, ta tính chính xác  
như trong công thức (25) ở đầu trang kế tiếp. Trong công  
tR  
là số gói mã hoá mà nút E  
mật (IP) theo tỷ số SNR phát (dB)  = P /2 với  
(
)
IP4  
T
0
Nmax = 6 S = 0.1  
xR = 0.5.  
,
,
và  
Quan sát từ  
H =4  
thức này,  
là số lần truyền gói dữ liệu của nút R.  
Hình 2, ta thấy mô hình CT đạt được giá trị OP và IP  
thấp hơn mô hình DT. Có nghĩa rằng mô hình chuyển  
tiếp cộng tác đạt được hiệu quả bảo mật và độ tin cậy của  
việc truyền dữ liệu tốt hơn mô hình truyền trực tiếp. Hình  
Từ các công thức (19), (21), (23) và (25), xác suất  
mất bảo mật của mô hình CT được đưa ra như sau:  
2 cũng cho thấy rằng khi tăng  
hình đều giảm, tuy nhiên IP lại tăng. Bởi vì khi tăng  
thì OP của cả hai mô  
IPCT = IP +IP + IP + IP .  
(26)  
1
2
3
4
P
thì công suất phát  
cũng tăng, dẫn đến SNR đạt được  
T
C. OP và IP của mô hình DT  
tại nút chuyển tiếp, nút đích và nút nghe lén đều tăng. Do  
đó, OP của hệ thống giảm nhưng IP của hệ thống lại tăng.  
Đề thấy được ưu điểm của mô hình CT, ta xét ví dụ sau:  
trong mô hình DT, để đạt được OP < 0.2 thì  17.5dB,  
và giá trị IP ở mức gần 0.5. Tuy nhiên, để đạt được OP <  
Trong mô hình DT, nút nguồn S sẽ gửi tất cả các gói  
mã hoá đến đích D mà không cần sự trợ giúp của nút  
chuyển tiếp. Cũng vậy, một khi nút đích D nhận đủ H gói  
mã hoá thì nguồn S sẽ dừng việc truyền dữ liệu. Tương tự  
với các phân tích ở trên, xác suất dừng của mô hình DT  
được tính chính xác như sau:  
0.2, thì mô hình CT chỉ cần  
0.38. Do đó, công suất phát  
dB, và IP vào khoảng  
cần được hiệu chỉnh để có  
14  
T
P
H −1  
nD  
Nmax −nD  
thể đạt được OP mong muốn, cũng như giảm giá trị IP  
xuống mức thấp nhất có thể.  
D
Nmax  
OPDT  
=
Cn  
.
(27)  
(
)
(
)
SD  
SD  
nD =0  
Hình 3 và 4 lần lượt thể hiện xác suất dừng (OP) và  
xác suất mất bảo mật (IP) của mô hình CT và DT theo  
Đối với xác suất mất bảo mật, ta xét hai trường hơp:  
Nmax  
truyền của nguồn nhưng nút nghe lén E đã nhận ít nhất H  
gói; ii) nút đích D nhận đủ H gói và nút nghe lén E cũng  
đã nhận ít nhất H gói. Do đó, ta có thể biểu diễn xác suất  
mất bảo mật trong mô hình DT như sau:  
i) nút đích D không thể nhận đủ H gói sau  
lần  
Nmax  
với  
(dB),  
và S = 0.25 . Quan sát từ  
H =4  
=20  
N
Hình 3, ta thấy rằng khi tăng giá trị max , xác suất dừng  
Nmax  
của hai mô hình CT và DT đều giảm. Đó là vì với  
lớn, thì xác suất nút đích tích luỹ đủ H gói mã hoá sẽ tăng  
lên, và vì vậy, xác suất dừng tại D sẽ giảm. Hình 3 cũng  
cho ta thấy OP của mô hình CT giảm nhanh hơn mô hình  
IPDT = Pr n = N ,n <H,n H  
(
)
)
S
max  
D
E
(28)  
+Pr n N ,n =H,n H .  
(
Nmax  
DT khi giá trị  
tăng. Cũng quan sát từ Hình 3, khi  
S
max  
D
E
N
tăng max , OP của mô hình CT giảm nhanh hơn OP của  
Từ công thức (28), ta có:  
mô hình DT. Hơn nữa, ta cũng quan sát được rằng vị trí  
của nút chuyển tiếp cũng ảnh hưởng đáng kể đến giá trị  
OP của mô hình CT. Như ta có thể thấy, OP của mô hình  
CT có giá trị lớn khi đặt nút chuyển tiếp ở vị trí  
xR = 0.3. Mặt khác, trong trường hợp xR = 0.5 và  
xR = 0.7 , các giá trị OP tại đích D chênh lệch không  
nhiều.  
H −1  
nD  
Nmax −nD  
Cn  
D
Nmax  
IPDT  
=
(
)
(
)
SD  
SD  
nD =0  
Nmax  
nE  
Nmax −nE  
(
)
(
(
)
SE  
SE  
nE =H  
(29)  
Nmax  
H
nS −H  
+
CH −1  
)
(
)
nS −1  
SD  
SD  
nS =H  
Đối với giá trị IP trong Hình 4, ta cũng thấy rằng giá  
nS  
Nmax  
trị này tăng khi  
tăng. Như đã giải thích ở trên, giá  
tăng sẽ làm tăng xác suất nút nghe lén nhận đủ  
số gói mã hoá, và do đó, xác suất mất bảo mật cũng tăng.  
Nmax  
nE  
nS −nE  
Cn  
.
E
nS  
(
)
(
)
SE  
SE  
Nmax  
trị  
nE =H  
Hơn nữa,  
càng lớn thì thời gian trễ cũng sẽ tăng. Ta  
IV. KẾT QUẢ MÔ PHỎNG VÀ LÝ THUYẾT  
cũng thấy từ Hình 4 rằng, vị trí của nút chuyển tiếp cũng  
ảnh hưởng đến khả năng nghe lén của nút E. Ví dụ: khi  
Trong mục này, mô phỏng Monte Carlo được thực  
hiện để kiểm chứng các công thức đã đưa ra trong mục  
III. Môi trường mô phỏng là mặt phẳng hai chiều Oxy,  
Nmax = 5  
x = 0.3  
, tuy nhiên khi  
, IP thấp nhất khi  
R
S 0,0  
trong đó các nút được đặt ở các vị trí sau:  
R x ,0 D 1,0 T 0.5,1.5 U 0.5,0.75  
, với  
,
(
)
Nmax = 7  
thì IP thấp nhất khi xR = 0.7 . Hình 4 cũng cho  
ta thấy IP của mô hình CT có thể đạt giá trị thấp hơn khi  
so sánh với mô hình DT. Mặc dù, giá trị IP biến thiên  
theo sự thay đổi của xR và  
lệch hiệu năng giữa mô hình CT và DT là không quá lớn.  
,
,
và  
(
)
(
)
(
)
(
)
R
0 xR 1 . Trong các kết quả mô phỏng (Sim:  
Nmax  
, tuy nhiên sự chênh  
Simulation) và lý thuyết (The: Theory), để tập trung phân  
tích xu hướng hiệu năng của các mô hình nghiên cứu,  
một số tham số hệ thống được cố định như sau:  
=1 và OP = 0.05. Ta cũng lưu ý rằng, các  
= 3,  
P
biểu thức đạt được trong bài báo được đưa ra dưới dạng  
tường minh và được biểu diễn bằng các công thức dạng  
SOÁ 04A (CS.01) 2020  
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG  
117  
Nguyễn Văn Hiền, Trần Trung Duy, Trần Đình Thuần  
H
nS −H  
H −1  
nS −1  
C
(
)
(
)
SR  
SR  
Nmax −nS  
pE  
H −mD  
nS − pE  
nS −H +mD  
Cn  
(
CH −m  
S
pE  
D
(
)
(
)
(
)
(
)
SE  
SE  
nS  
SD  
SD  
−1  
mD =1  
Nmax −1 Nmax  
IP =  
.
D −1  
m  
H −1   
(25)  
   
4
qD  
nE − pE  
Nmax −nS −qD  
Nmax −nS −nE + pE  
E − pE  
max −nS  
Cq  
CNn  
D
nE =H nS =H  
)
(
)
(
)
(
)
Nmax −nS  
RD  
RD  
RE  
RD  
=0   
qD =0  
pE  
Nmax −nS  
mD  
nE − pE  
tR −mD  
)
tR −nE + pE  
D −1  
R −1  
E − pE  
Ctm  
Ctn  
+
(
(
)
(
)
(
)
RD  
RD  
RE  
RD  
R
tR =mD  
Hình 6 cũng cho ta thấy rằng vị trí nút R ảnh hưởng  
đến khả năng nghe lén của nút E trong mô hình CT. Với  
Nmax =10 , ta quan sát rằng sự biến thiên của IP theo xR  
là khá phức tạp. Mặc khác, khi Nmax = 6 , IP của mô hình  
CT luôn tăng khi xR tăng từ 0.1 lên 0.9.  
1
0.9  
0.8  
0.7  
0.6  
0.5  
0.4  
0.3  
0.2  
0.1  
0
OP (DT,Sim)  
IP (DT,Sim)  
OP (DT,The)  
IP (DT,The)  
OP (CT,Sim)  
IP (CT,Sim)  
OP (CT,The)  
IP (CT,The)  
100  
10-1  
10-2  
DT-Sim(N  
CT-Sim(N  
DT-Sim(N  
CT-Sim(N  
=6)  
10  
15  
20  
25  
30  
max  
max  
max  
max  
10-3  
(dB)  
=6)  
=10)  
=10)  
Nmax = 6  
Hì nh 2. OP và IP vẽ theo  
(dB) với  
,
,
H = 4  
10-4  
0.1  
DT-The  
CT-The  
= 0.1  
xR = 0.5.  
và  
S
0.2  
0.3  
0.4  
0.5  
0.6  
0.7  
0.8  
0.9  
xR  
100  
xR  
Hình 5. OP vẽ theo  
với  
(dB),  
và  
 = 20  
H = 5  
.
S = 0.1  
0.55  
0.5  
10-1  
10-2  
10-3  
DT-Sim  
DT-The  
DT-Sim(N  
CT-Sim(N  
DT-Sim(N  
CT-Sim(N  
=6)  
=6)  
max  
max  
max  
max  
0.45  
0.4  
CT-Sim (x =0.3)  
R
=10)  
=10)  
CT-Sim (x =0.5)  
R
CT-Sim (x =0.7)  
R
DT-The  
CT-The  
CT-The  
0.35  
0.3  
4
5
6
8
9
10  
Nm7 ax  
Nmax  
Hình 3. OP vẽ theo  
với  = 20 (dB),  
và  
H = 4  
.
S = 0.25  
0.25  
0.1  
0.2  
0.3  
0.4  
0.5  
0.6  
0.7  
0.8  
0.9  
xR  
Hình 5 và 6 khảo sát sự ảnh hưởng vị trí nút chuyển  
tiếp lên các giá trị OP và IP của mô hình CT khi =20  
(dB), H =5 và S = 0.1. Hình 5 cho ta thấy rằng vị trí  
nút R ảnh hưởng đáng kể lên giá trị OP của mô hình CT,  
và xác suất dừng của mô hình CT luôn thấp hơn mô hình  
DT. Như ta quan sát, tồn tại vị trí của nút R để OP trong  
mô hình CT đạt giá trị nhỏ nhất. Ví dụ: khi Nmax =10 thì  
xR  
Hình 6. IP vẽ theo  
với  = 20 (dB), H = 5 và  
S = 0.1  
.
Những Hình 2-6 cho ta thấy kết quả mô phỏng và lý  
thuyết trùng với nhau, điều này kiểm chứng tính chính  
xác của các kết quả phân tích.  
vị trí tối ưu của nút R trong Hình 5 là xR = 0.7.  
SOÁ 04A (CS.01) 2020  
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG  
118  
NGHIÊN CỨU HIỆU NĂNG BẢO MẬT MẠNG VÔ TUYẾN NHẬN THỨC DẠNG NỀN CỘNG TÁC SỬ DỤNG MÃ  
FOUNTAIN  
Transactions on Signal Processing, vol. 58, no. 3, pp. 1875-1888,  
Mar. 2010.  
V. KẾT LUẬN  
Bài báo đề xuất mô hình chuyển tiếp công tác để nâng  
[13] S. Jia, J. Zhang, H. Zhao, R. Zhang, “Relay Selection for  
cao độ tin cậy và khả năng bảo mật của mạng thứ cấp, sử  
dụng mã Fountain, khi so sánh với mô hình truyền trực  
tiếp giữa nguồn và đích. Các kết quả cũng cho thấy rằng  
có một sự đánh đổi giữa bảo mật thông tin và độ tin cậy  
của việc truyền tin. Do đó, trong quá trình thiết kế hệ  
thống, các tham số quan trọng như công suất phát, số lần  
truyền gói mã hoá tối đa hay vị trí nút chuyển tiếp cần  
được thiết kế một cách tối ưu.  
Improved Security in Cognitive Relay Networks with Jamming,”  
IEEE Wireless Communications Letters, vol. 6, no. 5, pp. 662-  
665, Oct. 2017.  
[14] X. Ding, T. Song, Y. Zou, X. Chen, L. Hanzo, "Security-  
Reliability Tradeoff Analysis of Artificial Noise Aided Two-Way  
Opportunistic Relay Selection," IEEE Transactions on Vehicular  
Technology, vol. 66, no. 5, pp. 3930-3941, May 2017.  
[15] X. Ding, Y. Zou, F. Ding, D. Zhang, G. Zhang, "Opportunistic  
Relaying Against Eavesdropping for Internet-of-Things:  
A
Security-Reliability Tradeoff Perspective," IEEE Internet of  
Things Journal, vol. 6, no. 5, pp. 8727-8738, Oct. 2019.  
Trong tương lai, chúng tôi sẽ phát triển mô hình đề  
xuất theo hướng nhiều nút chuyển tiếp cộng tác, cũng  
như đề xuất các phương pháp chọn lựa nút chuyển tiếp  
hiệu quả để nâng cao hơn nữa hiệu năng OP của hệ  
thống. Ngoài ta, kỹ thuật tạo nhiễu lên thiết bị nghe lén  
cũng sẽ được nghiên cứu áp dụng để bảo vệ tốt hơn dữ  
liệu nguồn.  
[16] J. Mitola, G. Q. Maguire, “Cognitive Radio: Making Software  
Radios More Personal,” IEEE Personal Communications, vol. 6,  
no. 4, pp. 13-18, Aug. 1999.  
[17] J. Hong, B. Hong, T. W. Ban, W. Choi, "On the Cooperative  
Diversity Gain in Underlay Cognitive Radio Systems," IEEE  
Transactions on Communications, vol. 60, no. 1, pp. 209-219, Jan.  
2012.  
[18] C. Xu, M. Zheng, W. Liang, H. Yu, Y. Liang, "Outage  
Performance of Underlay Multihop Cognitive Relay Networks  
With Energy Harvesting," IEEE Communications Letters, vol. 20,  
no. 6, pp. 1148-1151, Jun. 2016.  
LỜI CẢM ƠN  
Nghiên cứu này được tài trợ bởi Học Viện Công  
Nghệ Bưu Chính Viễn Thông Cơ Sở Thành Phố Hồ Chí  
Minh với mã số đề tài 05-HV-2020-RD_VT2.  
[19] V. N. Q. Bao, T. Q. Duong, C. Tellambura, "On the Performance  
of Cognitive Underlay Multihop Networks with Imperfect  
Channel  
State  
Information,"  
IEEE  
Transactions  
on  
Communications, vol. 61, no. 12, pp. 4864-4873, Dec. 2013.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[20] P. T. D. Ngoc, T. T. Duy, H. V. Khuong, "Outage Performance of  
Cooperative Cognitive Radio Networks under Joint Constraints of  
Co-Channel Interference, Intercept Probability and Hardware  
Imperfection," EAI Transactions on Industrial Networks and  
Intelligent Systems, vol. 6, no. 19, pp. 1-8, Jun. 2019.  
[1] A. D. Wyner, “The Wire-Tap Channel,” The Bell System  
Technical Journal vol. 54, no. 8, pp. 1355–1387, Oct. 1975.  
[2] R. Liu, I. Maric, P. Spasojevic, R. D. Yates, "Discrete  
Memoryless Interference and Broadcast Channels With  
Confidential Messages: Secrecy Rate Regions," IEEE  
Transactions on Information Theory, vol. 54, no. 6, pp. 2493-  
2507, Jun. 2008.  
[21] M. Luby, "LT Codes," in Proc. of The 43rd Annual IEEE  
Symposium on Foundations of Computer Science, 2002.  
Proceedings., Vancouver, BC, 2002, pp. 271-280.  
[22] A. Shokrollahi, "Raptor Codes," IEEE Transactions on  
Information Theory, vol. 52, no. 6, pp. 2551-2567, Jun. 2006.  
[3] J. Zhang, Trung Q. Duong, R. Woods, A. Marshall, “Securing  
Wireless Communications of the Internet of Things From The  
Physical Layer, An Overview,” Entropy, vol. 19, no. 8, (420) Aug.  
2017.  
[23] H. Niu, M. Iwai, K. Sezaki, L. Sun and Q. Du, "Exploiting  
Fountain Codes for Secure Wireless Delivery," IEEE  
Communications Letters, vol. 18, no. 5, pp. 777-780, May 2014.  
[4] N. Yang, P. L. Yeoh, M. Elkashlan, R. Schober, I. B. Collings,  
"Transmit Antenna Selection for Security Enhancement in MIMO  
Wiretap Channels," IEEE Transactions on Communications, vol.  
61, no. 1, pp. 144-154, Jan. 2013.  
[24] W. Li, Q. Du, L. Sun, P. Ren, Y. Wang, "Security Enhanced via  
Dynamic Fountain Code Design for Wireless Delivery," in Proc.  
of 2016 IEEE Wireless Communications and Networking  
Conference, Doha, 2016, pp. 1-6.  
[5] N. Yang, H. A. Suraweera, I. B. Collings, C. Yuen, "Physical  
Layer Security of TAS/MRC With Antenna Correlation," IEEE  
Transactions on Information Forensics and Security, vol. 8, no. 1,  
pp. 254-259, Jan. 2013.  
[25] L. Sun, P. Ren, Q. Du, and Y. Wang, “Fountain-Coding Aided  
Strategy for Secure Cooperative Transmission in Industrial  
Wireless Sensor Networks,” IEEE Trans. Industrial Inform., vol.  
12, no. 1, pp. 291-300, Feb. 2016.  
[6] H. Zhao, Y. Tan, G. Pan, Y. Chen, N. Yang, "Secrecy Outage on  
Transmit Antenna Selection/Maximal Ratio Combining in MIMO  
Cognitive Radio Networks," IEEE Transactions on Vehicular  
Technology, vol. 65, no. 12, pp. 10236-10242, Dec. 2016.  
[26] D. T. Hung, T. T. Duy, D. Q. Trinh and V. N. Q. Bao, "Secrecy  
Performance Evaluation of TAS Protocol Exploiting Fountain  
Codes and Cooperative Jamming under Impact of Hardware  
Impairments," in Proc. of the 2nd International Conference on  
Recent Advances in Signal Processing, Telecommunications &  
Computing, pp. 164-169, HoChiMinh city, VietNam.  
[7] J. N. Laneman, D. N. C. Tse and G. W. Wornell, "Cooperative  
Diversity in Wireless Networks: Efficient Protocols and Outage  
Behavior," IEEE Transactions on Information Theory, vol. 50, no.  
12, pp. 3062-3080, Dec. 2004.  
[27] P. T. Tin, N. N. Tan, N. Q. Sang, T. T. Duy, T. T. Phuong, M.  
Voznak, "Rateless Codes based Secure Communication  
Employing Transmit Antenna Selection and Harvest-To-Jam  
under Joint Effect of Interference and Hardware Impairments,"  
Entropy, vol. 21, no. 7, (700), Jul. 2019.  
[8] C. Cai, Y. Cai, W. Yang, W. Yang, "Secure Connectivity Using  
Randomize-and-Forward Strategy in Cooperative Wireless  
Networks," IEEE Communications Letters, vol. 17, no. 7, pp.  
1340-1343, Jul. 2013.  
[28] D. T. Hung, T. T. Duy, T. T. Phuong, D. Q. Trinh, T. Hanh,  
"Performance Comparison between Fountain Codes-Based Secure  
MIMO Protocols with and without Using Non-Orthogonal  
Multiple Access," Entropy, vol. 21, no. 10, (928), Oct. 2019.  
[9] P. N. Son, H. Y. Kong, "Cooperative Communication With  
Energy-Harvesting Relays Under Physical Layer Security," IET  
Communications, vol. 9, no. 17, pp. 2131-2139, Nov. 2015.  
[10] T. T. Duy, T. Q. Duong, T. L. Thanh, V. N. Q. Bao, "Secrecy  
Performance Analysis with Relay Selection Methods under Impact  
of Co-channel Interference," IET Communications, vol. 9, no. 11,  
pp. 1427-1435, Jul. 2015.  
[29] D. T. Hung, T. T. Duy, D. Q. Trinh, "Nghiên Cứu Hiệu Năng  
Truyền Bảo Mật Sử Dụng Mã Fountain Trong Mạng Vô Tuyến  
Nhận Thức Dưới Sự Tác Động Của Khiếm Khuyết Phần Cứng,"  
Tạp Chí Nghiên Cứu Khoa Học và Công Nghệ Quân Sự, số 59,  
pp. 58-69, 02/2019.  
[11] L. Fan, X. Lei, N. Yang, T. Q. Duong, G. K. Karagiannidis,  
"Secure Multiple Amplify-and-Forward Relaying With Cochannel  
Interference," IEEE Journal of Selected Topics in Signal  
Processing, vol. 10, no. 8, pp. 1494-1505, Dec. 2016.  
[12] L. Dong, Z. Han, A. P. Petropulu, H. V. Poor, “Improving  
Wireless Physical Layer Security via Cooperating Relays,” IEEE  
SOÁ 04A (CS.01) 2020  
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG  
119  
Nguyễn Văn Hiền, Trần Trung Duy, Trần Đình Thuần  
PERFORMANCE EVALUATION OF SECURE  
COOPERATIVE COMMUNICATION PROTOCOL  
IN UNDERLAY COGNITIVE RADIO NETWORKS  
USING FOUNTAIN CODES  
Trần Trung Duy nhận bằng  
tiến Sỹ vào năm 2013 tại Đại Học  
Ulsan, Hàn Quốc. TS. Trần  
Trung Duy hiện đang công tác tại  
Khoa Viễn Thông 2, thuộc Học  
Viện Công Nghệ Bưu Chính Viễn  
Thông cơ sở tại TP. Hồ Chí  
Minh. Hướng nghiên cứu hiện  
tại: truyền thông vô tuyến.  
Abstract: In this paper, we evaluate performance of a  
secure cooperative communication protocol in underlay  
cognitive radio network using Fountain codes. In the  
proposed protocol, a secondary source and a secondary  
relay have to adjust their transmit power to guarantee  
quality of service of a primary network. Employing  
Fountain codes, the source sends encoded packets to the  
relay and destination. If the destination can receive a  
sufficient number of the encoded packets, it will recover  
the source data correctly. Moreover, if the relay can  
obtain enough number of the encoded packet before the  
destination, it (instead of the source) will send the  
encoded packets to the destination. In the secondary  
network, an eavesdropper attempts to decode the source  
data illegally. Also, if the eavesdropper obtains enough  
number of the encoded packets, the data transmission is  
insecure. For performance evaluation, we focus on two  
important metrics: i) OP (Outage Probability) is  
probability that the destination cannot receive enough  
number of the encoded packets for the data recovery; ii)  
IP (Insecure Probability) is probability that the source  
data is intercepted by the eavesdropper or the probability  
that the eavesdropper can accumulate encoded packets  
sufficiently. We derive exact closed-form expressions of  
OP and IP for the secondary network over Rayleigh  
fading channel, under impact of co-channel interference  
from the primary network. All the derived formulas are  
verified by computer simulations using Monte Carlo  
method. The obtained results present that there is a trade-  
off between OP and IP. In addition, the proposed protocol  
can obtain better OP and IP performance as compared  
with the direct transmission protocol that does not  
employ cooperative communication.  
Email:  
Trần Đình Thuần nhận bằng  
Thạc Sỹ vào năm 1998 tại ĐH  
Bách Khoa Hà Nội, Việt Nam.  
Th.S. Trần Đình Thuần hiện  
đang công tác tại Khoa Viễn  
Thông 2, thuộc Học Viện Công  
Nghệ Bưu Chính Viễn Thông cơ  
sở tại TP. Hồ Chí Minh. Hướng  
nghiên cứu hiện tại: IoT và mạng  
má y tí nh.  
Email:  
Keywords: Fountain codes, underlay cognitive radio,  
physical-layer security, outage probability, intercept  
probability, cooperative communication.  
Nguyễn Văn Hiền nhận bằng Kỹ Sư  
vào năm 2004 tại Học Viện Công  
Nghệ BCVT cơ sở tahi Tp. HCM. KS.  
Nguyễn Văn Hiền hiện đang công tác  
tại Khoa Viễn Thông 2, thuộc Học Viện  
Công Nghệ Bưu Chính Viễn Thông cơ  
sở tại TP. Hồ Chí Minh. Hướng nghiên  
cứu hiện tại: IoT, mạng máy tính và  
truyền thông vô tuyến.  
SOÁ 04A (CS.01) 2020  
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG  
120  
pdf 9 trang yennguyen 11280 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu hiệu năng bảo mật mạng vô tuyến nhận thức dạng nền cộng tác sử dụng mã Fountain", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_hieu_nang_bao_mat_mang_vo_tuyen_nhan_thuc_dang_ne.pdf