Nghiên cứu các nhân tố tác động tới xu hướng chấp nhận sử dụng xăng sinh học E5

NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI XU HƯỚNG CHẤP  
NHẬN SỬ DỤNG XĂNG SINH HỌC E5  
Nguyễn Văn Duy  
Tóm tắt  
Bài báo này sử dụng lý thuyết khuếch tán đổi mới của Rogers (1983) và mô hình chấp  
nhận công nghệ (TAM) của Davis (1989) để đánh giá các nhân tố tác động đến xu hướng  
sử dụng xăng sinh học E5. Bằng việc sử dụng các câu hỏi điều tra theo thang đo Likert 5  
điểm với các kỹ thuật phân tích thống kê đa biến (Cronbach Alpha, EFA, tương quan, hồi  
quy). Kết quả phân tích cho thấy có có bốn nhân tố là (1) chi phí, (2) lợi ích liên quan và  
(3) khả năng quan sát, (4) tính dễ tiếp cận có ảnh hưởng đến xu thế sử dụng xăng sinh  
học E5.  
1. Vấn đề nghiên cứu  
Xăng sinh học có thể được sản xuất từ thực vật và mỡ động vật thông qua phản ứng  
ester. Tầm quan trọng của nhiên liệu sinh học là được nâng cao do mức độ ô nhiễm môi  
trường gây ra bởi các nhiên liệu hóa thạch, sự suy giảm của thế giới dự trữ xăng dầu  
(xăng và dầu diesel) và ngày càng tăng của giá nhiên liệu hóa thạch. Ở Việt Nam sẵn có  
cây sắn với chi phí thấp và giá thành lại rẻ là một lợi thế rất lớn cho việc phát triển sản  
xuất xăng sinh học.  
Xăng sinh học E5 lần đầu tiên được đưa ra thị trường vào tháng 9/2008 mang tính chất  
thử nghiệm. Bộ Khoa học công nghệ và Tổng cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng đã ban  
hành một loạt quy chuẩn kỹ thuật cũng như hướng dẫn về chứng nhận và công bố hợp  
quy đối với xăng nhiên liệu sinh học. Quy chuẩn này được ban hành năm 2009, quy định  
các yêu cầu, đặc tính kỹ thuật của xăng nhiên liệu sinh học; biện pháp quản lý chất  
lượng.  
Ở Việt Nam, với gần 90 triệu dân, hơn 37 triệu ô tô, xe máy, hứa hẹn nhiều tiềm năng  
cho xăng sinh học. Hiện nay, nhiều ý kiến cho rằng, việc phát triển xăng sinh học E5 là  
lời giải cho việc phát triển xanh, giảm ô nhiễm môi trường và xóa đói giảm nghèo cho  
nông dân. Và với một đất nước nông nghiệp như Việt Nam thì việc sử dụng nhiên liệu  
sinh học thậm chí còn hứa hẹn đầu ra vững chắc cho nhiều loại nông sản.  
Bên cạnh đó sau 5 năm đưa vào thử nghiệm và triển khai số lượng đại lý phân phối  
sản phẩm xăng sinh học vẫn còn hạn chế, các kênh thông tin vẫn chưa thực sự rộng rãi  
dẫn tới số người được tiếp cận với xăng sinh học vẫn còn ở mức khiêm tốn.  
Nguyên nhân có thể do các rào cản khi tiếp nhận một nguồn xăng mới đối với người  
sử dụng. Nghiên cứu này sẽ đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến xu hướng chấp nhận sử  
dụng xăng sinh học E5 như thế nào. Kết quả nghiên cứu sẽ cho biết đâu là những nhân tố  
chính ảnh hưởng đến xu hướng chấp nhận sử dụng xăng sinh học, mức độ ảnh hưởng của  
từng nhân tố đến xu hướng chấp nhận sử dụng xăng sinh học E5 ở Việt Nam.  
2. Thiết lập mô hình nghiên cứu  
Roger đưa ra lý thuyết về khuếch tán đổi mới giải thích việc các ý tưởng, công nghệ  
1
được lan truyền, chấp nhận trong các môi trường văn hóa qua năm giai đoạn: (1) giai  
đoạn nhận thức, (2) giai đoạn thuyết phục, (3) giai đoạn ra quyết định, (4) giai đoạn thực  
hiện và (5) giai đoạn xác nhận. Rogers cũng chỉ ra năm thuộc tính đổi mới là (1) lợi ích  
liên quan, (2) khả năng thích ứng, (5) tính dễ tiếp cận, (4) tính dễ thử nghiệm và (5) tính  
dễ quan sát [7]. Davis (1989) xây dựng mô hình chấp nhận công nghệ với giả định về  
việc chấp nhận một mô hình công nghệ mới phụ thuộc vào thái độ của người sử dụng,  
tính hữu ích cảm nhận và tính dễ sử dụng cảm nhận[4]. Mô hình TAM được sử dụng khá  
phổ biến cho các nghiên cứu khác nhau trong việc xác định xu hướng chấp nhận các  
công nghệ mới [3][5][8]. Vì vậy mô hình nghiên cứu này được thiết lập dựa trên nền tảng  
lý thuyết khuếch tán đổi mới và mô hình chấp nhận công nghệ. Trong bài tác giả có đưa  
thêm nhân tố mới đưa vào mô hình được xây dựng mới là chính sách cho phù hợp với  
điều kiện nghiên cứu tại Việt Nam. Các biến độc lập và biến phụ thuộc tác giả trình bày  
như sau:  
2
Bảng 1. Bảng câu hỏi điều tra khảo sát xu thế chấp nhận sử dụng xăng sinh học E5  
Rất  
Không  
Bình  
Rất  
đồng ý  
Phát biểu  
không  
Đồng ý  
đồng ý  
thường  
đồng ý  
LI1  
LI2  
1
1
2
2
3
3
4
4
5
5
Sản xuất xăng sinh học E5 kéo theo sản xuất nông nghiệp phát triển.  
Xăng sinh học E5 ít gây ô nhiễm môi trường so với xăng truyền  
thống khác.  
Lợi ích  
liên  
quan  
Xăng sinh học E5 giúp tiết kiệm chi phí so với loại xăng truyền  
thống.  
LI3  
LI4  
1
1
1
1
1
2
2
2
2
2
3
3
3
3
3
4
4
4
4
4
5
5
5
5
5
Sử dụng xăng sinh học E5 tốt cho động cơ.  
Xăng sinh học E5 có độ tin cậy cao (phù hợp với xu thế sử dụng sản  
phẩm an toàn).  
TT1  
TT2  
TT3  
Khả  
năng  
tương  
thích  
Xăng sinh học E5 phù hợp trong điều kiện tài nguyên đang cạn kiệt.  
Xăng sinh học E5 phù hợp với tình trạng khó khăn trong việc phải  
nhập khẩu xăng truyền thống  
TC1  
TC2  
TC3  
TC4  
1
1
1
1
2
2
2
2
3
3
3
3
4
4
4
4
5
5
5
5
Dễ dàng tìm thấy các thông tin về xăng sinh học E5 .  
Các thông tin về xăng sinh học E5 dễ hiểu.  
Dễ tiếp  
cận  
Việc mua xăng sinh học E5 ở các cây xăng là dễ dàng.  
Việc sử dụng xăng sinh học E5 không đòi hỏi kết cầu động cơ.  
3
TN1  
TN2  
1
1
2
2
3
3
4
4
5
5
Việc dùng thử xăng sinh học E5 tương đối dễ dàng.  
Việc dùng thử là điều kiện quan trọng để anh/chị sử dụng xăng sinh  
học E5.  
Sự thử  
nghiệm  
Việc dùng thử xăng sinh học E5 sẽ giúp nhiều người sử dụng xăng  
sinh học E5 hơn (việc sử dụng xăng sinh học E5 sẽ phổ biến hơn)  
TN3  
1
2
3
4
5
QS1  
QS2  
QS3  
1
1
1
2
2
2
3
3
3
4
4
4
5
5
5
Lợi ích kinh tế từ việc sử dụng xăng sinh học E5 là rõ ràng.  
Xăng sinh học E5 ít ảnh hưởng tới môi trường là rất rõ ràng.  
Sử dụng xăng sinh học E5 tốt cho động cơ hơn rất nhiều.  
Khả  
năng  
quan  
sát  
Chính phủ cần tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai ứng dụng  
xăng sinh học E5 rộng rãi hơn.  
CS1  
CS2  
CS3  
1
1
1
2
2
2
3
3
3
4
4
4
5
5
5
Chính  
sách  
Chính phủ cần hỗ trợ giá để khuyến khích người dân sử dụng xăng  
sinh học E5.  
Chính phủ cần có các chính sách tuyên truyền để mọi người biết  
nhiều hơn về xăng sinh học E5.  
Anh/chị tin rằng xăng sinh học E5 là sự lựa chọn thích hợp nhất cho  
việc tiêu thụ xăng hiện nay và trong tương lai.  
CN1  
1
2
3
4
5
Chấp  
nhận  
sử  
CN2  
CN3  
1
1
2
2
3
3
4
4
5
5
Anh/chị sẽ khuyến khích mọi người sử dụng xăng sinh học E5 .  
Anh/chị sự định sẽ sử dụng xăng sinh học E5 trong tương lai.  
dụng  
4
3. Phương pháp nghiên cứu  
Chọn mẫu: Do những hạn chế về nguồn lực nên phương pháp chọn mẫu được lựa  
chọn là phương pháp chọn mẫu thuận tiện. Cỡ mẫu lấy theo quy tắc kinh nghiệm của  
Comrey & Lee với cỡ mẫu 128. Bảng câu hỏi được thu thập qua internet đối với những  
người đã có kiến thức về xăng sinh học E5. Bởi vì lĩnh vực sử dụng xăng sinh học E5 là  
một chủ đề mới hiện nay, những người sử dụng internet có xu hướng là nhóm tiên phong  
trong các lĩnh vực công nghệ mới. Vì vậy việc lựa chọn hình thức điều tra qua internet là  
phù hợp. Thang đo đối với các câu hỏi sử dụng thang đo Likert 5 điểm với 1 là hoàn toàn  
không đồng ý; 2 là không đồng ý; 3 trung lập (bình thường); 4 là đồng ý; 5 là hoàn toàn  
đồng ý.  
Phương pháp phân tích dữ liệu: Các nhân tố và biến phụ thuộc trong mô hình sẽ được  
kiểm tra sự tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach Alpha và hệ số tương quan biến tổng.  
Tiêu chuẩn một nhân tố đảm bảo tính tin cậy của thang đo là hệ số Cronbach Alpha tối  
thiểu là 0.6 và hệ số tương quan biến tổng tối thiểu là 0.3[2]. Tiếp theo các nhân tố sẽ  
được kiểm tra tính đơn hướng và tóm tắt dữ liệu bằng phân tích khám phá nhân tố (EFA).  
Các tiêu chuẩn phù hợp của phân tích EFA là hệ số KMO tối thiểu 0.5, kiểm định  
Bartlett có p-value nhỏ hơn 0.05, phương sai giải thích tối thiểu 50%, giá trị eigenvalue  
tối thiểu bằng 1, các hệ số tải nhân tố (factor loading) tối thiểu bằng 0.5[6]  
4. Kết quả nghiên cứu  
Có 158 phiếu câu hỏi được thu thập qua điều tra, trong đó có 126 phiếu đảm bảo tính  
tin cậy cho phân tích thông kê (các phiếu khác tra lời thiếu, hoặc cho cùng điểm ở tất cả  
các câu hỏi). Kết quả phân tích dữ liệu nghiên cứu như sau:  
4.1 Đánh giá các thang đo lường nhân tố và phân tích khám phá nhân tố trong mô  
hình  
Kết quả đánh giá bằng hệ số Cronbach Alpha để đánh giá sự tin cậy của các thang đo  
trong mô hình cho thấy tất cả các nhân tố đều có hệ số Cronbach Alpha lớn hơn 0,6 (nhỏ  
nhất với biến “lợi ích liên quan” có α = 0,659), các biến có tương quan biến tổng nhỏ hơn  
0.3 (trừ biến TC4). Điều đó chứng tỏ các nhân tố đều đạt độ tin cậy cần thiết về giá trị  
thang đo. Kết quả phân tích khám phá nhân tố cũng cho thấy tất cả các nhân tố sau phân  
tích đều có hệ số KMO đều lớn 0,5, kiểm định Bartlett có p-value nhỏ hơn 0.05, phương  
sai giải thích lớn hơn 51%, các hệ số tải nhân tố đều lớn hơn 0,5. Điều đó cho thấy việc  
sử dụng phân tích khám phá nhân tố là phù hợp với dữ liệu nghiên cứu (bảng 1)  
Bảng 1. Bảng Kết quả đánh giá thang đo và phân tích khám phá nhân tố  
Hệ số  
Cronbach  
Alpha  
Tương  
quan biến  
tổng  
Hệ số tải  
nhân tố  
Phương sai  
giải thích  
Mã biến  
KMO  
p-value  
1. Nhân tố “lợi ích” (N =4)  
LI1  
LI2  
LI3  
0,771  
0,588  
0,674  
0,494  
0,340  
0,415  
0,704  
0,000  
51,86%  
0,659  
5
Hệ số  
Cronbach  
Alpha  
Tương  
quan biến  
tổng  
Hệ số tải  
nhân tố  
Phương sai  
giải thích  
Mã biến  
KMO  
p-value  
LI4  
0,824  
0,588  
2. Nhân tố “Khả năng thích ứng” (N = 3)  
TU1  
TU2  
TU3  
0,807  
0,859  
0,805  
0,575  
0,650  
0,572  
0,682  
0,000  
67,87%  
71,47%  
0,758  
0,704  
3. Nhân tố “Tính dễ tiế cận” (N = 4)  
TC1  
TC2  
TC3  
TC4  
0,818  
0,921  
792  
-
0,438  
0,719  
0,640  
0,222  
0,609  
0,000  
4. Nhân tố “Sự trải nghiệm” (N = 3)  
TN1  
TN2  
TN3  
0,856  
0,934  
0,874  
0,691  
0,830  
0,707  
0,682  
0,000  
78,93%  
61,40%  
77,31%  
0,859  
0,664  
0,852  
0,868  
5. Nhân tố “Tính quan sát” (N = 3)  
QS1  
QS2  
QS3  
6. Nhân tố “Chính sách” ( N = 3)  
CS1  
CS2  
CS3  
7. Biến phụ thuộc “xu hướng chấp nhận” ( N = 3)  
CN2  
CN1  
CN3  
0,748  
0,704  
0,887  
0,421  
0,382  
0,660  
0,550  
0,000  
0,000  
0,883  
0,868  
0,887  
0,729  
0,705  
0,737  
0,732  
0,901  
0,919  
0,852  
0,770  
0,807  
0,686  
0,716  
0,000  
79,44%  
Nguồn: Kết quả phân tích từ dữ liệu nghiên cứu qua SPSS  
4.2 Đánh giá mức độ tác động của các nhân tố và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu  
Để đánh giá mức độ tác động của các nhân tố đến xu hướng chấp nhận sử dụng năng  
lượng tái tạo ta sử dụng phân tích tương quan và hồi quy tuyến tính bội. Phương pháp  
đưa biến vào phân tích là phương pháp Stepwise, bởi phương pháp Stepwise phù hợp  
hơn cho các nghiên cứu khám phá mới. Kết quả thu được như sau:  
Bảng 2. Bảng Kết quả phân tích tương quan giữa các nhân tố trong mô hình  
LI  
TU  
TC  
TN  
QS  
CS  
CN  
Pearson Correlation  
1
LI  
TU  
TC  
TN  
QS  
CS  
CN  
Pearson Correlation 0,262**  
1
Pearson Correlation 0,058 0,246**  
1
Pearson Correlation 0,058 0,228** 0,317**  
1
Pearson Correlation 0,514** 0,504** 0,215* 0,306**  
1
Pearson Correlation 0,507** 0,159  
0,107  
0,072 0,337**  
1
Pearson Correlation 0,494** 0,300** 0,503** 0,311** 0,493** 0,317**  
1
6
Bảng 3. Bảng Kết quả phân tích hồi quy bằng phương pháp stepwise  
Hệ số  
chuẩn  
hóa  
Hệ số chưa chuẩn  
hóa  
Biến  
t
Sig,  
VIF  
B
Std,Error  
Beta  
Hệ số chặn  
0,904  
0,383  
0,392  
0,209  
0,302  
0,057  
0,081  
0,073  
2,997  
6,712  
4,838  
2,856  
0,003  
0,000  
0,000  
0,005  
0,503  
TC  
LI  
QS  
0,436  
0,358  
0,216  
1,052  
1,364  
1,425  
R Square  
Biến phụ thuộc: CN  
Phương trình hồi quy các nhân tố ảnh hưởng tới xu hướng chấp nhận sử dụng năng  
lượng tái tạo ở Việt Nam:  
CN = 0,904+ 0,383*TC+ 0,392*LI + 0,209*QS  
Từ bảng ta thấy các biến độc lập đưa vào mô hình đều có ảnh hưởng đến biến phụ  
thuộc, các hệ số tương quan đều khác không. Phân tích hồi quy tuyến tính bội bằng  
phương pháp Stepwise cho thấy có 3 nhân tố có ảnh hưởng đến xu hướng chấp nhận sử  
dụng xăng sinh học E5 là (1) Khả năng tiếp cận, (2) lợi ích liên quan, (3) Tinh quan sát.  
Các nhân tố “chính sách” và “trải nghiệm” và “thích ứng” không có ảnh hưởng đến xu  
hướng chấp nhận sử dụng xăng sinh học E5 trong hiện tại là do đây nhân tố “chính sách”  
mang yếu tố vĩ mô ít ảnh hưởng đến người sử dụng trực tiếp. Đối với nhân tố “trải  
nghiệm” thì hiện tại việc sử dụng năng lượng tái tạo còn hạn chế nên ảnh hưởng của nó  
đến xu thế chấp nhận cũng không rõ ràng. Với yếu tố “thích ứng” do các thông tin về  
xăng E5 nên không biết độ tin cậy có nó ra sao cùng với ít quan tâm tới tình hình xuất  
nhập khẩu dầu.  
5. Kết luận và kiến nghị  
Kết quả phân tích cũng cho thấy lý thuyết khuếch tán đổi mới và mô hình chấp nhận  
công nghệ là một mô hình phù hợp để đánh giá xu hướng chấp nhận sử dụng năng lượng  
tái tạo hiện nay. Hệ số R square bằng 0,503 chứng tỏ ba biến độc lập trong mô hình giải  
thích được 50,3% sự thay đổi của xu hướng chấp nhận sử dụng xăng sinh học E5. Trong  
3 biến độc lập có ảnh hưởng đến xu hướng chấp nhận sử dụng thì nhân tố “khả năng tiếp  
cận” có ảnh hưởng lớn nhất, tiếp đến là nhân tố “lợi ích” và cuối cùng là nhân tố “quan  
sát” có ảnh hưởng rất nhỏ và ngược chiều với xu hướng chấp nhận sử dụng xăng sinh học  
E5 (được thể hiện qua hệ số chuẩn hóa beta).  
Qua phân tích hồi quy cho thấy khả năng tiếp cận có ảnh hưởng lớn nhất tới việc chấp  
nhận sử dụng xăng sinh học E5, do vậy để đưa xăng E5 sử dụng rộng rãi tới mọi người,  
cần có các biện pháp quảng cáo, tuyên truyền thông tin về E5 để mọi người biết và hiểu  
rõ hơn về lợi ích của xăng sinh học E5 cũng như những giá trị nó đem lại khi sử dụng.  
6. Tài liệu tham khảo  
1. Thông tin từ website: https://www.pvoil.com.vn  
7
2. Hoàng Trọng và Chu Nguyện Mộng Ngọc (2008), Phân tích dữ liệu nghiên cứu với  
SPSS – 2 tập – Nhà xuất bản Hồng Đức  
3. Adams, D. A., Nelson, R. R., Todd, P. A. (1992), Perceived usefulness, ease of use,  
and usage of information technology: A replication, MIS Quarterly 16, 227–247  
4. Davis, F.D., (1989), Perceived usefulness, perceived ease of use and user acceptance  
of information technology”, MIS Quarterly, 13(3),319-339.  
5. Davis F.D, (1993), User acceptance of computer technology: System characteristics  
user perceptions and behavior characteristics, International Man-Machine studies, 38,  
475-487.  
6. Hair, J.F., Black, W.C., Babin, B.J., Anderson, R.E. & Tatham, R.L. (2006)  
Mutilvariate Data Analysis 6th ed, Upper Saddle River NJ, Prentice –Hall.  
7. Roger, E.M (1983) “Diffusion of innovations” 3th ed, New York the Free Press.  
8.Taylor, S., & Tood, A. (2001), Undestanding Information technology usage: A test of  
competing models, Information Systems Research, 6(2), 144 -176.  
8
pdf 8 trang yennguyen 9600 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu các nhân tố tác động tới xu hướng chấp nhận sử dụng xăng sinh học E5", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_cac_nhan_to_tac_dong_toi_xu_huong_chap_nhan_su_du.pdf