Mốc son và thách thức mới của đào tạo ngành Design

Tạp chí Khoa học - Viện Đại học Mở Hà Nội 60 (10/2019) 33-38  
33  
MỐC SON VÀ THÁCH THỨC MỚI CỦA ĐÀO TẠO  
NGÀNH DESIGN  
NEW LIPAND CHALLENGES OF DESIGN INDUSTRY TRAINING  
*
Hồ Trọng Minh  
Ngày tòa soạn nhận được bài báo: 01/4/2019  
Ngày nhận kết quả phản biện đánh giá: 4/10/2019  
Ngày bài báo được duyệt đăng: 25/10/2019  
Tóm tắt: Lịch sử ngành đào tạo mỹ thuật công nghiệp (MTCN) trên thế giới đã tròn  
trăm năm với sự ra đời của Bauhaus, tại Việt Nam cũng đã tồn tại 70 năm. Ngành design của  
thế giới đã chuyển qua rất nhiều cấp độ phát triển về lý thuyết và thực hành. Nhìn lại nền đào  
tạo design trong nước, chương trình đã bộc lộ các điểm hạn chế. Vậy cần điều chỉnh ở học  
phần nào cho phù hợp với xã hội và hội nhập với thế giới  
Từ khoá: Mỹ thuật công nghiệp, UI, UX, UD  
Abstract: History of industrial arts training industry in the world has been round  
hundred years with the birth of Bauhaus, in Vietnam also existed for 70 years. Design  
industry of the world has moved through many levels of development in theory and practice.  
Looking back at domestic design training, the program has revealed some drawbacks. So it  
is necessary to adjust in what modules to suit society and integrate into the world  
Keywords: Industrial fine arts, UI, UX, UD  
Có câu nói “thời đại thay đổi nên  
con người thay đổi”. Sự thay đổi là quy  
luật của vận động. Trong đó xã hội, kinh  
tế, sinh học, môi trường, điều kiện sống và  
đặc biệt là công nghệ đều thay đổi. Ngành  
design cũng nằm trong quy luật đó, nó có  
những mốc son và những bất cập mang  
tính thời đại hiện chưa giải quyết được.  
lập trường Bauhaus tại Weimar, Đức.  
Đây được coi là ngôi trường đầu tiên  
của design thế giới, mà sự ảnh hưởng về  
quan niệm thiết kế, quan niệm thẩm mỹ  
của Bauhaus còn sâu sắc tới tận ngày nay.  
Tháng 8/1923 trong tuần lễ Bauhaus, nhà  
trường ra tuyên ngôn “Mỹ thuật và công  
nghệ - một sự thống nhất mới” như một  
sự khẳng định mối quan hệ giữa mỹ thuật  
và công nghệ bởi mối liên kết quan trọng  
là mỹ thuật ứng dụng. Nếu trước đây khái  
1. Những mốc son của ngành design  
Vừa tròn một trăm năm trước đây,  
ngày 12/04/1919, Walter Gropius thành  
* Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam  
34  
Nghiên cứu trao đổi ● Research-Exchange of opinion  
niệm thiết kế chỉ mang màu sắc công  
nghiệp thì kể từ đây, vai trò của nghệ thuật  
đã lần đầu được khẳng định bởi tuyên  
ngôn trong môi trường học thuật.  
kỷ 20, khi mà các sản phẩm của ngành mỹ  
thuật được áp dụng để dùng cho sản xuất  
công nghiệp. Cho tới những năm 80, miền  
Bắc Việt Nam ít khi dùng thuật ngữ mỹ  
thuật ứng dụng (Applied Art), thuật ngữ  
này được sử dụng nhiều hơn ở TP. Hồ Chí  
Minh và các tỉnh phía nam. Khoảng 1985,  
thuật ngữ Design vào Việt Nam và trở  
thành trào lưu quen thuộc. Tuy nhiên trước  
khi thuật ngữ “design” được nói tới ở Việt  
Nam, người ta thường hay nhắc tới các  
khái niệm của ngành mỹ thuật ứng dụng  
như “thiết kế”, “trang trí”, “tranh trang trí”  
Thuật ngữ MTCN gắn tới việc ra đời của  
Trường Đại học MTCN Hà Nội. Từ đây,  
ngoài việc đào tạo nghề, các nghiên cứu  
lý luận về MTƯD đã đặt ra cơ sở để phát  
triển ngành đào tạo trong cả nước và đạt  
tới mấy chục cơ sở đào tạo như hiện nay.  
Tháng 6 năm 1957, Hội đồng quốc  
tế của các tổ chức thiết kế công nghiệp  
(International Council of Societies of  
Industrial Design - ICSID) được thành  
lập tại Luân Đôn, Anh và đăng ký trụ sở  
tại Paris, Pháp. Năm 2017 tổ chức này  
đổi tên thành Tổ chức Thiết kế Toàn cầu  
(World Design Organization - WDO) với  
hơn 150 hội thành viên trên 40 quốc gia  
và 150.000 nhà thiết kế trên toàn thế giới.  
Nhiều người coi thuật ngữ design được ra  
đời cùng với sự xuất hiện cùng sự kiện ra  
đời của tổ chức này nhưng thực ra nó xuất  
hiện trước đó. Tiêu chí của tổ chức này  
là thúc đẩy đưa ra các mẫu thiết kế tốt,  
đẹp về hình thức và công năng đối với các  
thiết kế sản phẩm.  
Như vậy khái niệm design khởi đầu  
được xác định cho thiết kế công nghiệp  
(thiết kế các sản phẩm được sản xuất bởi  
dây chuyền công nghiệp). Từ khái niệm  
cơ sở này, design đã được coi như một  
thuật ngữ cho nghề mới trong xã hội công  
nghiệp. Tất cả các hoạt động sáng tạo ra vật  
chất mới đều có thể ghép thêm từ design  
(thiết kế) để làm rõ hơn hoạt động nghề  
nghiệp của mình như nghề làm tóc thành  
design tóc, thời trang thành thiết kế thời  
trang, trang trí nội thất thành thiết kế nội  
thất, đồ họa in ấn thành thiết kế đồ hoạ....  
Năm 1973, hơn 300 nhà thiết kế và  
thànhviênchínhphủđãhọptạiWashington  
(Mỹ) để thống nhất quan điểm về sự cần  
thiết của design và thấy đó như công cụ  
cần thiết trong xã hội hiện đại. Chính từ  
hội nghị này, người ta mới thấy được tầm  
quan trọng trong việc thống nhất tín hiệu  
chỉ dẫn toàn cầu trong một số lĩnh vực như  
giao thông, kỹ thuật, an toàn. Từ đó, tính  
chất toàn cầu hoá trong thiết kế nhận biết  
được phổ biến.  
2. Vấn đề đào tạo ngành design ở  
Việt Nam  
Trường Đại học MTCN Hà Nội  
được thành lập ngày 8/7/1949 với tên  
gọi trường Quốc gia Mỹ nghệ cùng các  
ngành chính như sơn mài, chạm kim loại,  
dệt thảm, mộc... những bước đầu tiên  
cho ngành MTƯD. Thuật ngữ MTCN  
(Industrial Arts), được sử dụng ở Việt  
Nam trong khoảng những năm 60 của thế  
Trong những năm cuối của thế kỷ  
20, chỉ có vài trường đào tạo design, hiện  
nay, do nhu cầu xã hội cũng như chính  
sách xã hội hoá giáo dục cấp đại học của  
Bộ giáo dục và Đào tạo, số lượng cơ sở  
đào tạo design cấp đại học trong cả nước  
Nghiên cứu trao đổi ● Research-Exchange of opinion  
35  
có lẽ tới hàng chục. Những cơ sở lớn như  
Trường đại học MTCN Hà Nội, Trường  
đại học mỹ thuật Việt Nam, Trường đại  
học kiến trúc Hà Nội, Trường đại học  
Mỹ thuật TP. Hồ Chí Minh, Đại học Mở  
Hà Nội, Trường đại học Tôn Đức Thắng,  
trường đại học Văn Lang, Trường đại học  
sư phạm nghệ thuật trung ương, Trường  
đại học kiến trúc TP. Hồ Chí Minh, Trường  
đại học kinh doanh và công nghệ Hà Nội...  
Một số cơ sở đã từng hoạt động tốt như  
Trường Mỹ thuật - Đại học Huế, Trường  
đại học Nguyễn Trãi, trường đại học Hoà  
Bình... Có trường được tồn tại nhưng hầu  
như không có hoạt động nổi bật như Đại  
học MTCN Á Châu.  
chỉ, thời gian học lý thuyết giảm, thời gian  
tự học tăng lên đã dẫn tới khá nhiều thay  
đổi trong chất lượng đầu ra của các ngành  
mỹ thuật ứng dụng, trong đó có thiết kế đồ  
hoạ, thiết kế sản phẩm.  
Nhìn vào chương trình đào tạo với  
tổng khối lượng khoảng 130 tín chỉ thì có  
1/3 là giáo dục đại cương, cơ sở ngành  
chiếm 1/3 và 1/3 cho chuyên ngành.  
Thoáng qua thì có vẻ khá khoa học, nhưng  
khi nhìn vào sự sắp xếp của từng môn học  
và kế hoạch giảng dạy mới phát hiện một  
số vấn đề tồn tại.  
Trong giáo trình đào tạo MTCN ở một  
số ngành như tạo dáng công nghiệp (product  
design), thiết kế nội thất, thiết kế đồ hoạ, ở  
phần học cơ sở ngành, môn Marketing và  
Ecgonomie (công thái học) được đưa vào  
giảng dạy. Đối với môn marketing, sinh  
viên có các khái niệm cơ bản về marketing  
như thị trường, tâm lý khách hàng, xây  
dựng chiến lược thương hiệu, chiến lược  
marketing, các công cụ quảng bá bán hàng...  
Chính nhờ môn học marketing, sinh viên  
ngành đồ họa có thể hiểu được các yêu cầu  
của thiết kế truyền thông, thiết kế quảng  
cáo, thiết kế bao bì sao cho phù hợp với thị  
trường mà vẫn mang giá trị thẩm mỹ cao.  
Đối với môn học Ecgonomie, sinh viên được  
trang bị kiến thức về quan hệ giữa con người  
và vật dụng xung quanh trong không gian  
sống, không gian nhà máy, nhà ở...Nhờ đó,  
các thiết kế sản phẩm trở nên hữu ích hơn,  
phù hợp với người sử dụng và môi trường.  
Tuy nhiên, nhiều giảng viên thường chỉ dạy  
được nội dung của môn học chứ không chỉ  
ra được sợi dây liên kết giữa môn học với  
ngành design mà sinh viên theo học. Điều  
này vô hình chung đã làm sinh viên mất đi  
khả năng tư duy trong quá trình sáng tạo sản  
phẩm thiết kế.  
Sự phân hoá diễn ra nhanh chóng  
do chất lượng sinh viên ra trường, chương  
trình đào tạo, giảng viên... một số cơ sở  
không tồn tại được và có xu hướng giảm  
học viên. Tuy nhiên, ngay cả ở các trường  
lớn đang tồn tại cũng có hiện tượng ì,  
giảm tốc độ phát triển hoặc chuyển dần  
sang thiết kế truyền thông. Nguyên nhân  
thì có thể kể ra nhiều, nhưng theo tôi có  
2 nguyên nhân chính là chương trình đào  
tạo và chất lượng giảng viên. Trong đó  
chương trình đào tạo đóng vai trò là trở  
ngại chính trong việc đưa hơi thở thời đại  
vào giảng đường đại học. Lấy chương  
trình đào tạo ngành thiết kế đồ họa làm ví  
dụ để thấy các vấn đề tồn tại.  
Chương trình đào tạo ngành thiết  
kế đồ họa chủ yếu được xây dựng từ  
chương trình đào tạo khung của Bộ giáo  
dục và đào tạo (mà cái gốc từ trường đại  
học MTCN Hà Nội), sau đó điều chỉnh đi  
chút để phù hợp với đặc thù của cơ sở đào  
tạo. Chương trình này đã được xây dựng  
từ hàng chục năm nay, với học chế niên  
chế. Kể từ khi chuyển từ niên chế sang tín  
36  
Nghiên cứu trao đổi ● Research-Exchange of opinion  
Mặt khác, trong kế hoạch giảng dạy,  
suốt quá trình sử dụng sản phẩm. Những  
nhà thiết kế này thường là những người đã  
được đào tạo, có trải nghiệm về sản phẩm  
và kinh nghiệm thiết kế. Để có được điều  
đó, các nhà thiết kế đặc biệt quan tâm tới 3  
yếu tố là giao diện, trải nghiệm và tính phổ  
quát trong sản phẩm thiết kế, cho dù đó là  
thiết kế đồ họa hay thiết kế sản phẩm.  
các môn giáo dục đại cương được xếp dạy  
vào những năm đầu của quá trình đào tạo,  
thiếu vắng đi một số môn mang kiến thức  
cơ bản mà xã hội hiện đại yêu cầu. Ví dụ,  
trong ngành đồ hoạ, một học phần quan  
trọng mang tính thời đại như thiết kế trải  
nghiệm người dùng (UX design), thiết  
kế giao diện người dùng (UI design) lại  
không được bổ sung giảng dạy ở tất cả các  
cơ sở đào tạo MTCN. Ngược lại, một số  
môn mang tính ứng dụng thấp (không có  
giá trị về phương pháp) vẫn được tiếp tục  
giảng dạy như thiết kế tem bưu chính, đồ  
họa tranh khắc. Các môn này nên được  
điều chỉnh sang phần cơ sở ngành hoặc  
loại bỏ khỏi chương trình đào tạo để giành  
thời lượng cho các môn mang tính thời đại  
hơn, cần thiết hơn.  
Về khái niệm UID (user interface  
design), nói ngắn gọn thiết kế giao diện  
người dùng, là cái mà người dùng nhìn  
thấy. Là loại hình truyền đạt thông tin chủ  
yếu trong giao diện phẳng, tiếp cận với  
người dùng bằng thị giác. Các nhà thiết kế  
đồ họa truyền thông đa phương tiện, thiết  
kế web thường rất quan tâm tới UID, bởi  
nó sẽ thúc đẩy sự thành công ở hình thức  
của mẫu thiết kế, từ đó dẫn tới thành công  
trong trải nghiệm người dùng.  
Đối với ngành thiết kế đồ hoạ,  
thiết kế sản phẩm/thiết kế công nghiệp,  
phần học thiết kế phổ quát (universal  
Về khái niệm UXD (user experiment  
design), thiết kế trải nghiệm người dùng,  
là cái người dùng sử dụng và trải nghiệm,  
là loại hình truyền đạt thông tin tích hợp  
trong môi trường có tổ chức không gian.  
Các nhà thiết kế web (đặc biệt là các trang  
quảng cáo bán hàng trực tuyến) đặc biệt  
quan tâm. Một thiết kế UX tốt sẽ dẫn  
người dùng đến các trải nghiệm thoải mái,  
thúc đẩy hành vi theo dõi hoặc mua hàng  
một cách nhanh chóng, thuận tiện.  
†
design) , vẫn chưa được giảng dạy. Trong  
khi nội dung của môn học này hiện nay  
được đánh giá là quan trọng tương đương  
Ecgonomie, Marketing và có tính cập nhật  
xã hội đương đại cao.  
3. Vai trò của việc học UID, UXD  
và UD trong giảng dạy MTCN  
Trong thực tiễn hoạt động ngành  
thiết kế, các nhà thiết kế có kinh nghiệm  
thường gặt hái nhiều thành công, có nhiều  
khách hàng và tạo ra nhiều sản phẩm hữu  
ích cho xã hội. Đó không chỉ do năng lực  
thiết kế sản phẩm “đẹp”, mà chủ yếu do  
tạo ra sản phẩm hữu ích, đem lại cho khách  
hàng trải nghiệm đặc biệt, thích thú trong  
Các khái niệm giao diện người dùng,  
trải nghiệm người dùng thực ra không xuất  
phát từ ngành design mà khởi đầu với việc  
nghiên cứu tâm lý hành vi người sử dụng.  
Từ các nghiên cứu đó, người ta tìm ra quy  
luật về tâm lý thị giác, thói quen thao tác  
(trên giao diện bàn phím, màn hình điện  
† Thuật ngữ Universal Design với quan niệm thiết kế để cho phù hợp thân thiện con người và môi  
trường, tạm dịch là thiết kế phổ quát.  
Nghiên cứu trao đổi ● Research-Exchange of opinion  
37  
tử, hoặc công cụ...) để ứng dụng và thiết  
- Thiết kế sắp đặt nghệ thuật công  
cộng (Public Installations)  
kế nhằm tối đa hoá sự thân thiện khi dùng,  
tạo sự thích thú, thuận tiện. Về phương  
diện ứng dụng UX trong thiết kế đồ họa  
(User experimental design -XGD), các sản  
phẩm đồ họa môi trường như hệ thống tín  
hiệu, chỉ báo giao thông là một sản phẩm  
nổi bật nhất. Bảng hiệu trên đường cao tốc  
có kích thước, đặt vị trí và thiết kế đồ họa  
thế nào để người lái xe có thể nhận biết  
được trong khi vẫn quan sát đường và điều  
khiển phương tiện. Biểu hiện của sự thiếu  
UXG tại Việt Nam dễ thấy nhất trong các  
chỉ dẫn tại đường cao tốc, khi các bảng  
điều hướng giao thông để vị trí quá khó để  
phát hiện hoặc xử lý tình huống, dẫn tới  
hàng loạt xe vào cao tốc, sau đó lại phải  
quay ra, hoặc đi lùi mà truyền thông đã  
đưa tin gần đây.  
Bên cạnh việc đưa UI design và  
UX design vào giảng dạy như môn cơ sở  
ngành, việc xây dựng các quan niệm thiết  
kế sản phẩm mang tính phổ quát (universal  
design - UD) cũng vô cùng quan trọng.  
Khái niệm UD (universal design),  
tạm dịch thiết kế phổ quát, với hàm ý các  
thiết kế thân thiện với mọi người và môi  
trường. Nói tới thiết kế phổ quát, người ta  
thường nhắc tới 7 nguyên lý quan trọng  
được hình thành từ năm 1997 do các  
nghiên cứu của các chuyên gia từ nhiều  
ngành như thiết kế sản phẩm, kiến trúc,  
môi trường. Mục tiêu của các nguyên lý  
này hướng tới thiết kế sản phẩm vừa hữu  
ích vừa thân thiện với con người và môi  
trường. Các nguyên lý đó là:  
Việc nghiên cứu về UX đã tồn tại  
gần 50 năm nay với sự ra đời của Hiệp hội  
thiết kế đồ họa trải nghiệm (Society for  
Experimental Graphic Designer - SEGD)  
năm 1973 quy tập các nhà nghiên cứu,  
thiết kế từ 35 nước cung cấp tài nguyên  
cho hoạt động thiết kế môi trường. Cơ  
quan này thiết lập các tiêu chuẩn về thiết  
kế đồ họa trải nghiệm người dùng và đóng  
trụ sở tại Mỹ. Các ứng dụng của thiết kế  
đồ họa trải nghiệm thể hiện ở các chuyên  
ngành như:  
- Nguyên lý 1: Cân bằng giá trị sử  
dụng (Equitable use)  
- Nguyên lý 2: Linh hoạt khi dùng  
(Flexible in use)  
- Nguyên lý 3: Đơn giản, trực quan  
khi dùng (Simple and intuitive use)  
- Nguyên lý 4: Thông tin dễ nhận  
biết (Perceptible information)  
- Nguyên lý 5: Giảm thiểu các sai  
sót khi dùng (Tolerance for error)  
- Nguyên lý 6: Ít tốn lực khi sử dụng  
(Low physical effort)  
- Thiết kế hệ thống thông tin điều  
hướng (Wayfinding and Signage)  
- Nguyên lý 7: Size and space for  
approach and use (kích thước và không  
gian để tiếp cận và sử dụng).  
- Thiết kế thông tin (Information  
Design)  
- Thiết kế, trưng bày triển lãm  
Các nguyên lý này đã trở thành kim  
chỉ nam cho việc thiết kế cũng như đánh  
giá tính năng, chất lượng, hiệu quả của  
sản phẩm mới. Tuy nhiên ở Việt Nam, các  
(Exhibition Design)  
- Thiết kế không gian bán hàng  
(Retail Design)  
38  
Nghiên cứu trao đổi ● Research-Exchange of opinion  
khái niệm này hầu như không được nhắc  
tới trong đào tạo ngành này.  
Nam còn khá nhạt so với thách thức mà  
thực tế đặt ra hiện nay cho ngành này./.  
Tài liệu tham khảo:  
Chỉ thoáng qua vài môn học phổ  
biến trong ngành design trên thế giới mà  
hoàn toàn không được đào tạo trong các  
trường dạy design của Việt Nam để thấy  
được sự khác biệt mang tính “cô độc hoá”  
của nền đào tạo design nước ta. Có thể  
nói các giáo trình đào tạo rất cần thay đổi  
một cách hệ thống, bài bản, đi kèm với  
việc đào tạo, bồi dưỡng giảng viên ngành  
này. Có lẽ, mốc son của ngành design Việt  
1. Nguyễn Ngọc Dũng (2002), Design vì cuộc  
sống, Tham luận Hội thảo Mỹ thuật ứng dụng  
toàn quốc lần 2.  
2. Lê Huy Văn - Trần Văn Bình (2003), Lịch  
sử Design, Nxb Xây dựng, Hà Nội  
Địa chỉ tác giả: Trường Đại học Mỹ thuật  
Việt Nam  
Email: hotrongminh&gmail.com  
TạpchíKhoahọc-ViệnĐạihọcMởHàNội60(10/2019) 39-43  
39  
ĐÀO TẠO THIẾT KẾ ĐỒ HỌA THEO NHU CẦU XÃ HỘI  
- SỰ CẦN THIẾT VÀ CẤP BÁCH  
THE NECESSITY AND URGENCY OF GRAPHIC DESIGN TRAINING  
MEETING THE SOCIAL NEEDS  
Lê Trọng Nga*  
Ngày tòa soạn nhận được bài báo: 5/4/2019  
Ngày nhận kết quả phản biện đánh giá: 4/10/2019  
Ngày bài báo được duyệt đăng: 28/10/2019  
Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế hàng hóa, sự phát triển vượt bậc của  
công nghệ thông tin cùng sự “lên ngôi” và ngày càng đa dạng của truyền thông - quảng cáo,  
đã tạo ra một thị trường nhu cầu nhân lực thiết kế đồ họa rất lớn, lớn về số lượng cũng như  
đa dạng về lĩnh vực công việc, cùng với đó là các cơ hội việc làm hấp dẫn với thu nhập cao  
đã tạo nên sức hút không nhỏ đối với các bạn trẻ đam mê lĩnh vực thiết kế.  
Từ khóa: Đào tạo, thiết kế đồ họa, nhu cầu xã hội, cần thiết, cấp bách  
Abstract: The strong development of the commodity economy, the rapid development of  
information technology and the rise and increasing diversity of media and advertising have  
created a great demand for with graphic design human resources, large in number as well as  
diverse in the field of work. Along with that, attractive job opportunities with high incomes  
have created a lot of attraction for young people who are passionate about the field of design.  
Keywords: Training, graphic design, social needs, necessity, urgency.  
1. Sức hút và thực trạng đào tạo  
ngành Thiết kế đồ họa  
đồ họa trong nền công nghiệp hàng hóa  
và đặc biệt là sức hút của lĩnh vực “nóng”  
này, nhiều trường Đại học, cao đẳng  
trong cả nước đã tăng cường tuyển sinh,  
mở thêm hoặc liên kết đào tạo ngành  
Thiết kế Đồ họa, cùng với đó là sự ra đời  
của hàng loạt các trung tâm đào tạo nhằm  
thỏa mãn nhu cầu của thị trường việc làm  
trước cơn “khát” về nhân lực Thiết kế đồ  
họa hiện nay.  
Trong những năm qua nhu cầu  
nguồn nhân lực thiết kế đồ họa tại Việt  
Nam ngày một tăng cao, Thiết kế đồ họa  
được nhận định là một trong những nghề  
nghiệp “nóng” nhất và rất được ưa chuộng  
hiện nay.  
Nắm bắt nhu cầu của xã hội, xu thế  
phát triển và tầm ảnh hưởng của Thiết kế  
* Trường Đại học Mở Hà Nội  
40  
Nghiên cứu trao đổi ● Research-Exchange of opinion  
Thống kê cho thấy, hiện nay trong  
chủ động bỏ nghề, chuyển nghề vì thu  
nhập thấp hay nhiều lý do khác nhau.  
cả nước có khoảng 40 trường Đại học,  
cao đẳng đào tạo ngành thiết kế đồ họa  
- lĩnh vực mỹ thuật ứng dụng, mỗi năm  
đào tạo và cho ra trường hàng nghìn nhân  
lực thiết kế đồ họa, chưa kể các trung  
tâm đào tạo trên cả nước liên tục tuyển  
sinh các lớp đào tạo ngắn hạn về thiết kế  
đồ họa đã minh chứng cho nhu cầu xã  
hội của ngành nghề này lớn và được ưa  
chuộng như thế nào.  
Từ thực tế đào tạo và tuyển dụng  
Thiết kế đồ họa, đây là bài toán khó không  
chỉ đối với các doanh nghiệp sử dụng lao  
động hay người học, mà còn là “dấu chấm  
hỏi” đối với các cơ sở đào tạo Thiết kế đồ  
họa hiện nay.  
2. Xu hướng đào tạo ngành Thiết  
kế đồ họa chủ yếu hiện nay  
Ở nước ta hiện nay, có thể nhận định  
hiện có hai xu hướng đào tạo Thiết kế đồ  
họa chủ yếu:  
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, số  
lượng sinh viên ngành Thiết kế đồ họa ra  
trường hàng năm tương đối cao nhưng các  
nhà tuyển dụng vẫn gặp khó khăn trong  
công tác tuyển dụng nhân sự phù hợp.  
Nhiều ứng viên sau khi ra trường dù có  
kết quả học tập cao vẫn chưa đủ đáp ứng  
cho các doanh nghiệp về chất lượng cũng  
như kỹ năng làm việc, dẫn tới số lượng  
ứng viên đạt tiêu chí tuyển dụng của các  
doanh nghiệp vẫn khá ít ỏi, đặc biệt là  
nguồn nhân lực chất lượng cao. Trong  
thực tế, nhiều doanh nghiệp đã phải đầu tư  
không ít tài chính và công sức để đào tạo  
lại nguồn nhân lực được tuyển dụng.  
- Xu hướng thứ nhất: Các cơ sở hay  
các trung tâm đào tạo có thời gian đào tạo  
ngắn, thường tập trung vào đào tạo các kỹ  
năng sử dụng công cụ thiết kế giành rất ít  
thời gian cho việc học kiến thức cơ bản về  
mỹ thuật, mỹ học, lịch sử mỹ thuật... Việc  
đào tạo mang tính thực dụng chưa chú ý  
nhiều đến vấn đề xây dựng nền tảng cơ  
bản, khả năng tư duy sáng tạo cho người  
học, dẫn đến người học sau khi hoàn thành  
khóa học sẽ trở thành kỹ thuật viên hơn là  
nhà thiết kế, dẫn đến nguồn nhân lực này  
có kỹ năng thực hành, sử dụng các công  
cụ thiết kế tốt tuy nhiên lại “rỗng” về kiến  
thức mỹ thuật cơ bản, thiếu tư duy và khả  
năng sáng tạo.  
Thực trạng đó đã phản ánh vấn  
đề về đào tạo nhân lực Thiết kế đồ họa  
ở nước ta hiện nay, tuy nguồn cung khá  
nhiều nhưng chất lượng chưa cao, chưa  
thực sự cập nhật và thích ứng với nhu cầu  
sử dụng thực tế của doanh nghiệp, của xã  
hội. Với số lượng đông đảo các đơn vị đào  
tạo, sự đào tạo “ồ ạt” nguồn nhân lực thiết  
kế đồ họa ở Việt Nam trong những năm  
qua bước đầu đã tạo được nguồn lực đáng  
kể góp phần thúc đẩy lĩnh vực thiết kế ở  
Việt Nam phát triển. Tuy nhiên, trong số  
các sinh viên ra trường không ít sinh viên  
không kiếm được việc làm, một lượng  
không nhỏ theo nghề không bền lâu, hoặc  
- Xu hướng thứ hai: Các trường đào  
tạo chính quy (Đại học, Cao đẳng) về Thiết  
kế đồ họa hiện nay có thời gian đào tạo  
dài, thường vẫn chú trọng vào việc đào tạo  
sâu về kiến thức mỹ thuật, ý tưởng sáng  
tạo, một số trường ít hoặc thậm chí không  
đào tạo về các kỹ năng sử dụng công cụ,  
phần mềm thiết kế và rèn luyện kỹ năng  
thực hành, thực tế, dẫn đến khi sinh viên  
ra trường có kiến thức mỹ thuật vững, khả  
năng sáng tạo tốt nhưng lại bị hạn chế bởi  
Nghiên cứu trao đổi ● Research-Exchange of opinion  
41  
Chỉnh sửa chương trình đào tạo  
Với phương thức đào tạo theo tín  
các kỹ năng sử dụng công cụ thể hiện, dẫn  
đến khó thể hiện tốt ý tưởng sáng tạo của  
mình, hoặc thiếu kiến thức thực tế cũng  
chỉ phổ biến hiện nay, một trong các yếu  
tố tích cực của phương thức đào tạo này  
là từng bước hoàn thiện chương trình đào  
tạo. Không chỉ phương thức đào tạo theo  
tín chỉ, đây cũng là yếu tố quan trọng  
hàng đầu của các phương thức đào tạo  
khác nhằm cập nhật, bổ sung hoàn thiện  
chương trình đào tạo với mục đích đáp  
ứng nhu cầu thực tế của xã hội.  
làm hạn chế cơ hội việc làm.  
Trong thực tế nhu cầu sử dụng nhân  
sự Thiết kế đồ họa hiện nay đòi hỏi sự kết  
hợp nhuần nhuyễn giữa tư duy sáng tạo mỹ  
thuật của họa sĩ thiết kế và kỹ năng thành  
thạo trong việc sử dụng các công cụ đồ họa,  
phần mềm thiết kế. Theo phản ánh của các  
doanh nghiệp, trong những năm qua trong  
quá trình tuyển dụng, nhiều ứng viên có “hồ  
sơ” học tập rất đẹp nhưng lại yếu về các kỹ  
năng sử dụng các phần mềm thiết kế như  
Illustrator, Photoshop, InDesign,... Hoặc có  
nhiều ứng viên thành thạo các phần mềm  
thiết kế nhưng lại thiếu kiến thức nền tảng  
về mỹ thuật, về tư duy sáng tạo.  
- Hoàn chỉnh chương trình đào tạo  
theo mô đun (module); cần rà soát lại các  
chương trình đào tạo hiện hành, về kết  
cấu chương trình tiếp tục hoàn thiện nhằm  
tăng tính hợp lý, thiết kế các khối kiến  
thức thành các mô đun và tăng cường các  
môn học lựa chọn, tạo điều kiện thuận lợi  
cho người học dễ dàng đăng ký học theo  
trình độ, khả năng, tốc độ và nguyện vọng  
lựa chọn khác nhau.  
3. Một số giải pháp đào tạo nguồn  
nhân lực Thiết kế đồ họa  
Để có một nguồn nhân lực Thiết kế  
đồ họa chất lượng cao cũng như đáp ứng  
nhu cầu xã hội, việc cấp thiết đó là các cơ  
sở đào tạo phải xây dựng, điều chỉnh, cập  
nhật chương trình đào tạo với định hướng  
ứng dụng, đào tạo theo nhu cầu xã hội,  
cần phải có những giải pháp cụ thể nhằm  
nâng cao chất lượng đào tạo, đánh giá lại  
mục tiêu đào tạo, chất lượng đầu ra và nhu  
cầu sử dụng nhân lực của doanh nghiệp.  
Phải chú trọng đổi mới nội dung, chương  
trình đào tạo phù hợp thực tiễn. Song song  
với việc dạy kiến thức nền tảng về mỹ  
thuật, cần chú trọng đào tạo kỹ năng sử  
dụng công cụ thiết kế, kỹ năng mềm, kiến  
thức văn hóa, xã hội, năng lực tư duy sáng  
tạo, và đặc biệt cần giúp sinh viên có trải  
nghiệm thực tế. Để đạt được mục tiêu đặt  
ra các cơ sở đào tạo cần phải có những giải  
pháp cụ thể như:  
Theo đánh giá thực tế, phát triển  
chương trình theo mô đun ngày càng tỏ ra  
là một phương thức tiên tiến. Theo phương  
thức này, nội dung của chương trình đào  
tạo trở nên uyển chuyển hơn, không gò  
bó, cứng nhắc, luôn cập nhật được những  
biến động của khoa học kỹ thuật, của nền  
kinh tế - xã hội, gắn đào tạo với thực tiễn,  
phù hợp với người học và nhu cầu của thị  
trường lao động. Tuy nhiên khi xây dựng  
các mô đun để phát huy được tính ưu việt  
của nó cần phải chú ý đảm bảo những đặc  
trưng cơ bản của mô đun dạy học đó là  
Tính trọn vẹn (mỗi mô đun dạy học mang  
một chủ đề xác định từ đó xác định mục  
tiêu, nội dung, phương pháp và quy trình  
thực hiện do vậy nó không phụ thuộc vào  
nội dung đã có và sẽ có sau nó). Tính cá  
biệt - cá nhân hóa (chú ý tới trình độ nhận  
42  
Nghiên cứu trao đổi ● Research-Exchange of opinion  
thức và các điều kiện khác nhau của người  
học, có khả năng cung cấp cho người học  
nhiều cơ hội để có thể học tập theo nhịp  
độ của cá nhân, việc học tập được cá thể  
hóa và phân hóa cao độ). Tính tích hợp (là  
đặc tính căn bản tạo nên tính chỉnh thể,  
tính liên kết và tính phát triển của mô đun  
dạy học. Trước hết mỗi mô đun dạy học  
đều là sự tích hợp giữa lý thuyết và thực  
hành cũng như các yếu tố của quá trình  
dạy học). Tính phát triển (mô đun dạy học  
được thiết kế theo hướng “mở” tạo ra cho  
nó khả năng dung nạp - bổ sung những nội  
dung mang tính cập nhật). Tính tự kiểm  
tra, đánh giá (một mô đun dạy học được  
đánh giá thường xuyên bằng hệ thống câu  
hỏi dạng test diễn ra trong suốt quá trình  
thực hiện mô đun dạy học nhằm tăng thêm  
động cơ cho người học).  
thức đào tạo trực tuyến e-learning nhằm hỗ  
trợ tốt cho việc tự học của người học.  
Tăng cường rèn luyện kỹ năng  
thực hành, cải tiến phương pháp  
giảng dạy  
Song song với việc chỉnh sửa, thay  
đổi chương trình đào tạo, các đơn vị đào  
tạo cần phải đổi mới phương pháp đào  
tạo, tăng cường học tập, rèn luyện kỹ năng  
thực hành để hoạt động giảng dạy thực sự  
tạo động lực, sáng tạo cho người dạy, tạo  
hứng thú và say mê cho người học với các  
giải pháp cụ thể:  
- Tăng cường thời lượng giảng dạy  
các môn tin học thiết kế chuyên ngành, bổ  
sung các phần mềm, ứng dụng thiết kế mới  
nhằm trang bị cho sinh viên kiến thức, kỹ  
năng sử dụng và làm chủ phần mềm thiết  
kế, các công cụ hỗ trợ cho việc thể hiện ý  
tưởng sáng tạo.  
- Chỉnh sửa nội dung chương trình  
đào tạo thiết thực, linh hoạt và được cập  
nhật thường xuyên theo với nhu cầu của  
người học và của doanh nghiệp, của  
cơ quan, tổ chức sử dụng lao động. Nội  
dung đào tạo phải luôn gắn với thực tiễn,  
kết hợp nhà trường với xã hội thông qua  
doanh nghiệp, cơ sở sản xuất.  
- Tăng cường gắn kết với các doanh  
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chuyên  
ngành, mời các nhà doanh nghiệp tham  
gia công tác hướng dẫn, đào tạo thực  
hành, tham gia các buổi tọa đàm, hội thảo,  
chuyên đề nhằm trao đổi, góp ý và chia sẻ  
với người học về các kỹ năng cần có, giúp  
cho người học hiểu được tiêu chí, yêu cầu  
tuyển dụng của các công ty, doanh nghiệp.  
- Đối với khối lượng kiến thức trong  
chương trình đào tạo phải tăng cường kiến  
thức chuyên môn trong thực tế, giảm bớt  
các kiến thức lý thuyết hàn lâm, cấu trúc  
chương trình theo hướng hài hòa giữa lý  
thuyết và thực hành. Bổ sung, tăng cường  
hệ thống các môn tin học thiết kế chuyên  
ngành (tin học ứng dụng) như Illustrator,  
Photoshop, InDesign, 3Dmax, Corel  
Draw... hay các ứng dụng và phần mềm  
thiết kế khác.  
- Kết hợp và tiếp thu những góp  
ý của các doanh nghiệp xây dựng các  
chương trình liên kết thực tập, thực hành...  
phù hợp về nội dung, hợp lý về thời gian.  
Tăng cường cho sinh viên thực tế tại các  
doanh nghiệp trong ngành thiết kế, quảng  
cáo (các công ty in, thiết kế đồ họa, quảng  
cáo, truyền thông...) để sinh viên được  
trải nghiệm thực tế, thực hành lý thuyết  
và tìm hiểu sâu hơn về nghành nghề  
mà mình đang học, nắm vững các công  
- Xây dựng các chương trình, môn học  
với định hướng ứng dụng công cụ, phương  
Nghiên cứu trao đổi ● Research-Exchange of opinion  
43  
đoạn trước, trong và sau thiết kế, bước  
Đối với người học, mong muốn học  
đầu hiểu được công việc mà mình sẽ làm  
cũng như cơ hội tạo dựng các mối quan  
hệ nghề nghiệp, nhằm mục đích giúp cho  
sinh viên có thể nắm bắt, cọ sát chuyên  
môn, bổ xung kỹ năng, kinh nghiệm thực  
tế và định hướng nghề nghiệp từ khi còn  
ngồi trên ghế nhà trường  
nhanh, thu nhập cao, không lo thất nghiệp  
là những mong muốn chính đáng. Bởi vậy  
việc lựa chọn đúng cơ sở đào tạo, được  
đào tạo một cách chuyên nhiệp và bài bản,  
gắn với thực tế, học lý thuyết luôn đi đôi  
với thực hành sẽ giúp người học nâng cao  
năng lực, có nhiều cơ hội làm việc với  
mức thu nhập cao trong ngành Thiết kế  
đồ họa đang ngày càng phát triển và cạnh  
tranh hiện nay.  
- Song song cần kết hợp đổi mới  
phương pháp giảng dạy theo hướng tích  
cực hóa quá trình dạy và học, tạo điều kiện  
cho sinh viên phát huy tính chủ động, sáng  
tạo trong học tập dựa trên yêu cầu, nguyện  
vọng, khả năng và điều kiện của mỗi sinh  
viên. Phương pháp giảng dạy tích cực  
không tập trung vào việc truyền tải thông  
tin mà chú trọng nhiều hơn vào giảng dạy  
phương pháp (dạy cách học) để người học  
có thể tự học, tự nghiên cứu và hình thành  
thói quen chủ động tìm kiếm tư liệu kết  
nối toàn cầu.  
Tài liệu tham khảo:  
1. Khánh Minh (2016), “Đào tạo phải gắn với  
nhu cầu của xã hội”, Báo Nhân dân.  
2. Yên Ngọc, (2010), “Thực trạng đào tạo mỹ  
thuật ứng dụng: Lượng nhiều - chất ít”, Văn  
hóa - giải trí, Sài gòn giải phóng.  
3. TS. Lê Tuấn Ngọc, ThS. Hoàng Thị Kim  
Oanh (2017), “Cách mạng công nghiệp 4.0 và  
những thách thức đặt ra đối với lao động Việt  
Nam”, Tạp chí tài chính - Bộ tài chính.  
4. Kết luận  
4. Nam Phương (2018), “Thiết kế đồ họa -  
Trong những năm tới, nhu cầu tuyển  
dụng nhân lực ngành Thiết kế đồ họa dự  
đoán tiếp tục tăng trưởng mạnh. Với sự  
tham gia của các công ty, tập đoàn quảng  
cáo hàng đầu trên thế giới cùng sự thay  
đổi không ngừng về hình thức quảng cáo,  
truyền thông và công nghệ dẫn tới sự đòi  
hỏi sẽ ngày càng cao về chất lượng và khả  
năng thích ứng của các nhà thiết kế.  
nghề hot của tương lai”, Báo GD&TĐ.  
5. Đoàn Quý (2008), “Đào tạo theo nhu cầu xã  
hội: Cần 1 “tam giác cân”, Báo Dân trí.  
6. Nguyễn Văn Tình, (2018), “Đào tạo Thiết  
kế đồ họa - Từ thực tiễn đến giải pháp”, Nội  
san Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật  
Trung ương.  
7. Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung  
ương (2018), “Tác động Cách mạng công  
nghiệp 4.0 đến phát triển nguồn nhân lực của  
Việt Nam”, Chuyên đề Số 10.  
Về phía các cơ sở đào tạo, để đáp  
ứng nhu cầu nhân lực của xã hội, nâng cao  
tính cạnh tranh và thương hiệu, các cơ sở  
đào tạo Thiết kế đồ họa thực sự phải có  
bước “chuyển mình” xây dựng những giải  
pháp đồng bộ nhằm hoàn thiện chương  
trình đào tạo, đổi mới phương pháp giảng  
dạy với mục tiêu nâng cao chất lượng đào  
tạo đáp ứng nhu cầu xã hội.  
8. Tổng cục Thống kê (2016), Báo cáo năng  
suất lao động của Việt Nam: Thực trạng và  
giải pháp.  
Địa chỉ tác giả: Trường Đại học Mở Hà Nội  
pdf 11 trang yennguyen 32180 Free
Bạn đang xem tài liệu "Mốc son và thách thức mới của đào tạo ngành Design", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmoc_son_va_thach_thuc_moi_cua_dao_tao_nganh_design.pdf