Khóa luận Ứng dụng công nghệ mã nguồn mở xây dựng WebGIS thông tin hành chính thành phố Hồ Chí Minh

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP  
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ MÃ NGUỒN MỞ  
XÂY DỰNG WEBGIS THÔNG TIN HÀNH CHÍNH  
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
Họ và tên sinh viên: LÊ VĂN SONY  
Ngành: HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐỊA LÝ  
Niên khóa: 2009 - 2013  
Tháng 05 năm 2013  
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ MÃ NGUỒN MỞ  
XÂY DỰNG WEBGIS THÔNG TIN HÀNH CHÍNH  
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
Tác giả  
LÊ VĂN SONY  
Khóa luận tốt nghiệp được đệ trình đáp ứng yêu cầu cấp bằng kỹ sư ngành:  
Hệ thống Thông tin Địa lý (GIS – Geographic Information System)  
Giáo viên hướng dẫn  
ThS. QUÁCH ĐỒNG THẮNG  
Trưởng phòng Kỹ thuật – Trung tâm Ứng dụng Hệ thống thông tin địa lý –  
Sở Khoa học và Công nghệ TP.Hồ Chí Minh  
Tháng 05 năm 2013  
i
CẢM TẠ  
Lời đầu tiên, em xin chân thành cảm ơn quí Thầy Cô đang công tác tại Trường  
Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, quí Thầy Cô - Bộ môn Thông tin địa lý  
và Tài nguyên, Khoa Môi trường và Tài nguyên, đặc biệt là PGS.TS Nguyễn Kim Lợi  
- Trưởng Bộ môn và Thạc sĩ Nguyễn Thị Huyền – Giáo viên chủ nhiệm lớp DH09GI  
đã tận tâm truyền đạt nhiều kiến thức quí báu, làm nền tảng cho em hoàn thành tốt  
khóa luận này.  
Em chân thành cảm ơn Thạc sĩ Quách Đồng Thắng - Trưởng phòng kỹ thuật,  
Trung tâm ứng dụng hệ thống thông tin địa lý, Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố  
Hồ Chí Minh, đã tận tình chỉ dạy, theo sát và góp ý cho em trong suốt quá trình làm  
khóa luận tốt nghiệp.  
Cho em gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cán bộ - viên chức đang công tác tại Trung  
tâm ứng dụng hệ thống thông tin địa lý, Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí  
Minh, đặc biệt là anh Trần Trọng Luân đã tạo điều kiện tốt nhất và giúp đỡ em trong  
thời gian thực tập.  
Con cảm ơn gia đình đã nuôi dưỡng, dạy bảo, tạo mọi điều kiện tốt nhất để con  
được học tập, cảm ơn Ba Mẹ đã chia sẻ và động viên mỗi khi con vấp ngã, luôn đồng  
hành cùng con trong suốt thời gian qua.  
Bản thân mặc dù đã cố gắng và nổ lực để thực hiện đề tài, tuy nhiên khóa luận  
không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế. Em rất mong nhận được sự chia sẻ, góp  
ý từ phía quí Thầy Cô và các bạn để đề tài được hoàn thiện tốt nhất.  
Tp.HCM, ngày 29 tháng 05 năm 2013  
Sinh viên thực hiện  
Lê Văn Sony  
ii  
3TÓM TẮT  
Đề tài nghiên cứu “Ứng dụng công nghệ mã nguồn mở xây dựng WebGIS  
thông tin hành chính Thành phố Hồ Chí Minh” được tiến hành tại Phòng kỹ thuật –  
Trung tâm ứng dụng hệ thống thông tin địa lý – Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố  
Hồ Chí Minh, thời gian thực hiện từ ngày 25 tháng 01 năm 2013 đến ngày 25 tháng 05  
năm 2013. Đề tài thực hiện theo trình tự sau:  
- Xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin hành chính Thành phố Hồ Chí Minh trong  
hệ quản trị cơ sở dữ liệu PostgreSQL.  
- Thiết kế giao diện và đưa cơ sở dữ liệu hiển thị lên nền web bằng công nghệ  
mã nguồn mở GeoServer, thư viện OpenLayers, các ngôn ngữ lập trình  
HTML, JavaScript.  
- Ứng dụng thư viện thao tác với GeoServer tạo kiểu hiện thị (style) cho các  
lớp dữ liệu.  
- Chỉnh sửa và cập nhật dữ liệu thuộc tính trong hệ quản trị cơ sở dữ liệu  
PostgreSQL bằng Java.  
Kết quả thu được:  
- Xây dựng WebGIS thông tin hành chính Thành phố Hồ Chí Minh, có nhiều  
chức năng, giao diện thân thiện, dễ sử dụng.  
- Báo cáo và trình bày nội dung đề tài.  
iii  
MỤC LỤC  
iv  
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT  
HTML  
API  
: Hyper Text Markup Language  
: Application Programming Interface  
: Geographic Information System  
: Information technology  
GIS  
IT  
XML  
PHP  
: eXtensible Markup Language  
: Hypertext Preprocessor  
URL  
TOPP  
OGC  
WMS  
WFS  
WCS  
KML  
GML  
GIF  
: Uniform Resource Locator  
: The Open Planning Project  
: Open Geospatial Consortium  
: Web Map Services  
: Web Feature Services  
: Web Coverage Service  
: Keyhole Markup Language  
: Geography Markup Language  
: Graphics Interchange Format  
: Scalable Vector Graphics  
: Portable Network Graphics  
: Standard Generalized Markup Language  
: Cơ sở dữ liệu  
SVG  
PNG  
SMGL  
CSDL  
HQTCSDL  
SQL  
: Hệ quản trị cơ sở dữ liệu  
: Structured Query Language  
v
DANH SÁCH CÁC HÌNH  
viii  
Chương 1  
MỞ ĐẦU  
1.1. Tính cấp thiết  
Việc lưu trữ thông tin trên bản đồ giấy gây khó khăn trong việc tìm kiếm, chỉnh  
sửa và cập nhật thuộc tính của đối tượng. Điều này đặt ra vấn đề làm thế nào để đưa  
bản đồ và thông tin thuộc tính lên web để lưu trữ và hiển thị thông tin một cách dễ  
dàng.  
Công nghệ web và hệ thống thông tin địa lý (GIS) ngày càng phát triển, đòi hỏi  
việc xem bản đồ trên Internet được chú trọng. Sự kết hợp giữa công nghệ web, hệ  
thống thông tin địa lý (GIS) tạo thành WebGIS đáp ứng được yêu cầu trên.  
WebGIS trong thời gian gần đây phát triển mạnh mẽ và là xu hướng phổ biến,  
không chỉ hiển thị được dạng thông tin thuần túy mà nó còn hiển thị thông tin không  
gian hữu ích cho người sử dụng.  
Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội của cả nước.  
Thành phố có 24 quận huyện trực thuộc với dân số hơn 7 triệu người (thống kê ngày  
01/04/2009) gây khó khăn trong việc tìm kiếm và tra cứu thông tin hành chính. Đề tài:  
“Ứng dụng Công nghệ mã nguồn mở xây dựng WebGIS thông tin hành chính Thành  
phố Hồ Chí Minh” được thực hiện để hỗ trợ người dùng có thể tìm kiếm và truy vấn  
một số thông tin hành chính cần thiết trên web.  
1.2. Mục tiêu đề tài  
Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu hành chính Thành phố Hồ Chí Minh, giúp  
người quản lý quản lý tốt dữ liệu thông tin hành chính được thể hiện trực quan trên  
web.  
Sử dụng các công cụ, phần mềm mã nguồn mở để không phát sinh nhiều chi phí  
mà vẫn đảm bảo hiệu quả.  
       
Xây dựng WebGIS thông tin hành chính Thành phố Hồ Chí Minh có 3 lớp dữ  
liệu: ranh giới quận, ranh giới phường và ủy ban nhân dân phục vụ công tác tra cứu và  
tìm kiếm thông tin hành chính. Cụ thể thông tin hành chính gồm: tên đơn vị hành  
chính, mã đơn vị hành chính, số đơn vị hành chính (số lượng xã/phường của  
quận/huyện), diện tích và dân số.  
1.3. Giới hạn và phạm vi đề tài  
Về không gian: nghiên cứu trong phạm vi Thành phố Hồ Chí Minh.  
Về thời gian: đề tài thực hiện trong 4 tháng (từ ngày 25/01/2013 đến ngày  
25/05/2013) tại Phòng kỹ thuật – Trung tâm ứng dụng hệ thống thông tin địa lý –  
Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh.  
Về nội dung: đề tài xây dựng trang WebGIS hiển thị thông tin của các lớp dữ liệu,  
công cụ tương tác bản đồ cơ bản, truy vấn và cập nhật dữ liệu thuộc tính.  
Về công nghệ: ứng dụng công nghệ mã nguồn mở GeoServer, thư viện  
OpenLayers, JavaScript và HQTCSDL PostgreSQL.  
2
 
Chương 2  
TỔNG QUAN  
2.1. Tổng quan về khu vực nghiên cứu Thành phố Hồ Chí Minh  
Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố đông dân nhất, đồng thời cũng là trung  
tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục quan trọng của Việt Nam. Hiện nay, Thành phố Hồ Chí  
Minh và Thủ đô Hà Nội là đô thị loại đặc biệt của Việt Nam. Vị trí địa lý khu vực  
Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong khoảng:  
Từ 10°10' đến 10°38' vĩ Bắc và từ 106°22' đến 106°54' kinh Đông.  
Có diện tích hơn 2000 km2, phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương, Tây Bắc giáp tỉnh Tây  
Ninh, Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng  
Tàu, Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang. Nằm ở miền Nam Việt  
Nam, với vị trí tâm điểm của khu vực Đông Nam Á, Thành phố Hồ Chí Minh là  
một đầu mối giao thông quan trọng về cả đường bộ, đường thủy và đường không,  
nối liền các tỉnh trong vùng và còn là một cửa ngõ quốc tế.  
Nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ, Thành  
phố Hồ Chí Minh ngày nay bao gồm 19 quận và 5 huyện, tổng diện tích 2.095,06 km2.  
Theo kết quả điều tra dân số chính thức vào thời điểm 0 giờ ngày 1 tháng 4 năm 2009  
thì dân số thành phố là 7.162.864 người (chiếm 8,34% dân số Việt Nam), mật độ trung  
bình 3.419 người/km2. Đến năm 2011 dân số thành phố tăng lên 7.521.138 người. Tuy  
nhiên nếu tính những người cư trú không đăng ký thì dân số thực tế của thành phố  
vượt trên 10 triệu người. Giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, Thành  
phố Hồ Chí Minh chiếm 21,3% tổng sản phẩm (GDP) và 29,38% tổng thu ngân sách  
của cả nước. Nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi, Thành phố Hồ Chí Minh trở thành một  
đầu mối giao thông quan trọng của Việt Nam và Đông Nam Á, bao gồm cả đường bộ,  
đường sắt, đường thủy và đường không. Vào năm 2007, thành phố đón khoảng 3 triệu  
khách du lịch quốc tế, tức 70% lượng khách vào Việt Nam. Các lĩnh vực giáo  
     
dục, truyền thông, thể thao, giải trí, Thành phố Hồ Chí Minh đều giữ vai trò quan  
trọng bậc nhất.  
Hình 2.1: Ranh giới hành chính Thành phố Hồ Chí Minh  
(Nguồn: Trang tin điện tử TP.HCM - www.hochiminhcity.gov.vn)  
Tuy vậy, Thành phố Hồ Chí Minh đang phải đối diện với những vấn đề của một  
đô thị lớn. Trong nội ô thành phố, đường sá trở nên quá tải, thường xuyên ùn tắc. Hệ  
thống giao thông công cộng kém hiệu quả. Môi trường thành phố cũng đang bị ô  
nhiễm do phương tiện giao thông, các công trường xây dựng và công nghiệp sản xuất.  
Đặc biệt việc quản lý thông tin hành chính ngày càng khó khăn khi dân số tăng nhanh,  
đề tài “Ứng dụng công nghệ mã nguồn mở xây dựng WebGIS thông tin hành chính  
Thành phố Hồ Chí Minh” hỗ trợ cán bộ quản lý cập nhật, truy vấn một số thông tin  
hành chính cơ bản, để giảm chi phí và công nghệ hóa việc quản lý thông tin hành  
chính bằng cách thủ công. Người dùng thông qua trang web biết được thông tin cụ thể  
của mỗi đơn vị hành chính trực thuộc Thành phố Hồ Chí Minh.  
4
 
2.2. Tổng quan về kiến trúc WebGIS  
Kiến trúc web của hệ thống thông tin dữ liệu không gian cũng gần giống như  
kiến trúc dành cho một hệ thống thông tin web cơ bản khác, ngoại trừ có sử dụng kỹ  
thuật GIS. Có nhiều dạng công nghệ cho việc thành lập web cho thông tin không gian  
như: MapServer, GeoServer, ArcGIS Server,…  
Cơ sở dữ liệu không gian sẽ được dùng để quản lý và truy xuất dữ liệu không  
gian, được đặt trên Data Server. Nhà kho hay nơi lưu trữ (Clearing House) được dùng  
để lưu trữ và duy trì siêu dữ liệu Metadata về những dữ liệu không gian tại những Data  
Server khác nhau. Dựa trên những thành phần quản lý dữ liệu, ứng dụng Server và mô  
hình Server được dùng cho ứng dụng hệ thống để tính toán thông tin không gian qua  
các hàm cụ thể. Tất cả kết quả tính toán của ứng dụng Server sẽ được gởi đến Web  
Server để thêm vào các gói HTML, gởi cho phía client và hiển thị nơi trình duyệt web.  
a) Cilent gửi yêu cầu của người sử dụng thông qua giao thức HTTP đến Web Server.  
b) Web Server nhận yêu cầu của người dùng từ cilent, xử lý và chuyển tiếp yêu cầu  
đến ứng dụng trên Server có liên quan.  
c) Application Server (chính là các ứng dụng GIS) nhận các yêu cầu cụ thể đối với  
các ứng dụng và gọi các hàm có liên quan để tính toán xử lý. Nếu có yêu cầu dữ  
liệu nó sẽ gửi yêu cầu dữ liệu đến Data Exchange Center (trung tâm trao đổi dữ  
liệu).  
d) Data Exchange Center nhận yêu cầu dữ liệu, tìm kiếm vị trí dữ liệu, sau đó gửi yêu  
cầu dữ liệu đến Data Server chứa dữ liệu cần tìm.  
e) Data Server tiến hành truy vấn dữ liệu cần thiết và trả dữ liệu này về cho Data  
Exchange Center.  
f) Data Exchange Center nhận nhiều nguồn dữ liệu từ Data Server, sắp xếp logic dữ  
liệu theo yêu cầu và trả dữ liệu về cho Application Server.  
g) Application Server nhận dữ liệu trả về từ các Data Exchange Center và đưa chúng  
đến các hàm cần sử dụng, xử lý, trả kết quả về Web Server.  
5
 
h) Web Server nhận kết quả xử lý, thêm vào các code HTML, PHP,… để có thể hiển  
thị lên trình duyệt, gửi trả kết quả về cho trình duyệt dưới dạng các trang web.  
Hình 2.2: Kiến trúc hệ thống WebGIS  
(Nguồn: Climate GIS – www.climategis.com)  
Kiến trúc 3-tier gồm 3 thành phần cơ bản, đại diện cho 3 tầng:  
1)  
Database (Data tier): là nơi lưu trữ các dữ liệu địa lý bao gồm các dữ liệu không  
gian và phi không gian. Các dữ liệu này được quản trị bởi các hệ quản trị cơ sở dữ liệu  
như: Oracle, MS SQL Server, Esri SDE, PostgreSQL,… hoặc là các dạng file dữ liệu  
như: Shapefile, Tab, XML,… Các dữ liệu này được thiết kế cài đặt và xây dựng theo  
6
 
từng quy trình cụ thể. Tùy theo quy mô và yêu cầu của hệ thống mà tổ chức lựa chọn  
công nghệ quản trị cơ sở dữ liệu cho phù hợp.  
2)  
Application Server (Bussiness tier): thường được tích hợp trong một Webserver  
nào đó, ví dụ như các Web Server nổi tiếng Apache Tomcat, Internet Information  
Server. Đó là một ứng dụng phía Server nhiệm vụ chính của nó là tiếp nhận các yêu  
cầu từ client, lấy dữ liệu từ phía cơ sở dữ liệu theo yêu cầu client, trình bày dữ liệu  
theo cấu hình định sẵn hoặc theo yêu cầu của client và trả kết quả về theo yêu cầu.  
3)  
Client (Presentation tier): thông thường đơn thuần là một Browser như Internet  
Explorer, FireFox, Google Chome,… để mở các trang web theo URL định sẵn. Các  
ứng dụng client có thể là 1 Website, Applet, Flash,… được viết bằng các công nghệ  
chuẩn mà W3C đã chứng thực. Các client đôi khi cũng là một ứng dụng Desktop  
tương tự như phần mềm MapInfo, ArcMap,…  
2.3. Giới thiệu công nghệ mã nguồn mở GeoServer và thư viện mã nguồn mở  
OpenLayers  
2.3.1. Công nghệ mã nguồn mở GeoServer  
WebGIS là xu hướng phổ biến thông tin mạnh mẽ trên Internet không chỉ dưới  
góc độ thông tin thuộc tính thuần túy mà nó kết hợp được với thông tin không gian  
hữu ích cho người sử dụng. Tiếp cận công nghệ WebGIS phù hợp là yếu tố quan trọng  
để xây dựng một WebGIS hoàn chỉnh và có khả năng đáp ứng phát triển trong tương  
lai. Đề tài này ứng dụng công nghệ mã nguồn mở GeoServer để xây dựng WebGIS.  
GeoServer là một máy chủ mã nguồn mở với mục đích kết nối những thông tin  
địa lý có sẵn tới các WebGIS (trang web địa lý) sử dụng chuẩn mở. Được bắt đầu bởi  
một tổ chức phi lợi nhuận có tên The Open Planning Project (TOPP), nhằm mục đích  
hỗ trợ việc xử lý thông tin không gian địa lý với chất lượng cao, đơn giản trong sử  
dụng, là phần mềm mã nguồn mở nhằm cung cấp và chia sẻ dữ liệu. Được kỳ vọng sẽ  
trở thành một phương thức đơn giản để kết nối những nguồn thông tin có sẵn từ  
Google Earth, NASA World Wind nhằm tạo ra các dịch vụ Webmap như Google  
Maps, Windows Live Local và Yahoo Maps.  
7
   
GeoServer được viết bằng ngôn ngữ java, cho phép người sử dụng chia sẻ và  
chỉnh sử dữ liệu không gian địa lý (geospatial data). Là một dự án mang tính cộng  
đồng, GeoServer được phát triển, kiểm thử và hỗ trợ bởi nhiều nhóm đối tượng và tổ  
chức khác nhau trên toàn thế giới. GeoServer là sự phối hợp các chuẩn hoạt động của  
Open Geospatial Consortium (OGC), Web Map Service (WMS), Web Feature Service  
(WFS). GeoServer là thành phần nền tảng của Geospatial Web.  
Chuẩn mở và khả năng chia sẻ dữ liệu không gian:  
GeoServer cho phép người dùng hiển thị thông tin không gian. Cung cấp chuẩn  
Dịch vụ bản đồ (Web Map Service - WMS), GeoServer có thể tạo bản đồ và xuất  
ra nhiều định dạng. OpenLayers, một thư viện bản đồ hoàn toàn miễn phí, được  
tích hợp cùng GeoServer giúp cho công việc tạo bản đồ trở nên đơn giản hơn bao  
giờ hết.  
GeoServer hỗ trợ rất nhiều style bản đồ, tương thích với chuẩn Web Feature  
Service (WFS).  
GeoServer cho phép chia sẻ và chỉnh sửa dữ liệu đang được dùng để hiển thị bản  
đồ.  
Hình 2.3: Giao diện GeoServer  
(Nguồn: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia – www.vi.wikipedia.org)  
8
 
Các đặt trưng của GeoServer:  
GeoServer cho phép xuất dữ liệu linh hoạt dựa vào việc hỗ trợ các chuẩn KML,  
GML, Shapefile, GeoRSS, PDF, GeoJSON, JPEG, GIF, SVG, PNG...  
GeoServer có thể đọc được nhiều định dạng dữ liệu, bao gồm PostGIS, Oracle  
Spatital, ArcSDE, DB2, MySQL, Shapefile, GeoTIFF, GTOPO30 và nhiều loại  
khác. Bên cạnh đó, GeoServer còn có thể chỉnh sửa dữ liệu nhờ những thành phần  
xử lý của Chuẩn Web Feature Server.  
GeoServer được xây dựng dựa trên gói thư viện mã nguồn mở GeoTools, được viết  
bởi ngôn ngữ java.  
GeoServer hỗ trợ việc chia sẻ dữ liệu không gian địa lý lên Google Earth thông qua  
đặc tính 'Network link' sử dụng KML.  
2.3.2. Thư viện mã nguồn mở OpenLayers  
OpenLayers là bộ thư viện JavaScript hỗ trợ hiển thị bản đồ trên các ứng dụng  
web, được viết bằng ngôn ngữ JavaScript. OpenLayers không chỉ là thư viện cung cấp  
một API JavaScript mà nó có thể kết hợp các bản đồ từ nhiều nguồn khác nhau vào  
trang web hoặc ứng dụng.  
Đặc điểm nổi bật của thư viện OpenLayers:  
Bộ thư viện mã nguồn mở.  
Tuân theo chuẩn quốc tế.  
Hỗ trợ nhiều loại dịch vụ (WMS, WFS, WCS,…) và Map Server như ArcGIS,  
GeoServer, MapServer.  
Đọc được các định dạng trên Google Map, OpenStreetMap,…  
Hỗ trợ xây dựng các thao tác trên bản đồ.  
9
 
2.4. Các ngôn ngữ lập trình HTML, Java, JavaScript  
2.4.1. Ngôn ngữ HTML  
HTML (Hyper Text Markup Language, hay là "Ngôn ngữ Đánh dấu Siêu văn  
bản") là một ngôn ngữ đánh dấu được thiết kế ra để tạo nên các trang web với các mẩu  
thông tin được trình bày trên World Wide Web. HTML được định nghĩa như là một  
ứng dụng đơn giản của SGML và được sử dụng trong các tổ chức cần đến các yêu cầu  
xuất bản phức tạp. HTML đã trở thành một chuẩn Internet do tổ chức World Wide  
Web Consortium (W3C) duy trì. HTML đang được phát triển tiếp với phiên bản hiện  
tại HTML5 đã mang lại diện mạo mới cho Web.  
Bằng cách dùng HTML động hoặc Ajax, lập trình viên có thể được tạo ra và xử  
lý bởi số lượng lớn các công cụ, từ một chương trình soạn thảo văn bản đơn giản – có  
thể gõ vào ngay từ những dòng đầu tiên – cho đến những công cụ xuất  
bản WYSIWYG phức tạp.  
2.4.2. Ngôn ngữ Java  
Java là một ngôn ngữ lập trình dạng lập trình hướng đối tượng (OOP). Khác với  
phần lớn ngôn ngữ lập trình thông thường, thay vì biên dịch mã nguồn thành mã  
máy hoặc thông dịch mã nguồn khi chạy, java được thiết kế để biên dịch mã nguồn  
thành bytecode, bytecode sau đó sẽ được môi trường thực thi (runtime environment)  
chạy. Bằng cách này, Java thường chạy chậm hơn những ngôn ngữ lập trình thông  
dịch khác như C++, Python, Perl, PHP, C#...  
Cú pháp java được vay mượn nhiều từ C & C++ nhưng có cú pháp hướng đối  
tượng đơn giản hơn và ít tính năng xử lý cấp thấp hơn. Do đó việc viết một chương  
trình bằng java dễ hơn, đơn giản hơn, đỡ tốn công sửa lỗi hơn.  
2.4.3. Ngôn ngữ JavaScript  
JavaScript theo phiên bản hiện hành, là một ngôn ngữ lập trình kịch bản dựa  
trên đối tượng được phát triển từ các ý niệm nguyên mẫu. Ngôn ngữ này được dùng  
rộng rãi cho các trang web, nhưng cũng được dùng để tạo khả năng viết script sử dụng  
các đối tượng nằm sẵn trong các ứng dụng. Nó vốn được phát triển bởi Brendan  
10  
       
Eich tại Hãng truyền thông Netscape với cái tên đầu tiên Mocha, rồi sau đó đổi tên  
thành LiveScript, và cuối cùng thành JavaScript. Giống Java, JavaScript có cú  
pháp tương tự C, nhưng nó gần với Self hơn Java. .js là phần mở rộng thường được  
dùng cho tập tin mã nguồn JavaScript.  
JavaScript có một số đối tượng định nghĩa sẵn, bao gồm mảng (Array), đối  
tượng đại số Bool (Boolean), đối tượng ngày tháng (Date), đối tượng hàm (Function),  
đối tượng toán học(Math), đối tượng số (Number), đối tượng đối tượng (Object), đối  
tượng biểu thức tìm kiếm (RegExp) và đối tượng chuỗi ký tự (String). Các đối tượng  
khác là đối tượng thuộc phần mềm chủ (phần mềm áp dụng JavaScript - thường là  
trình duyệt).  
2.5. Tình hình phát triển WebGIS trên thế giới và Việt Nam  
WebGIS là xu hướng phổ biến thông tin mạnh mẽ trên internet không chỉ dưới  
góc độ thông tin thuộc tính thuần túy mà nó kết hợp được với thông tin không gian  
hữu ích cho người sử dụng. Khả năng ứng dụng WebGIS bao gồm:  
- Người dùng internet có thể truy cập đến các ứng dụng GIS mà không cần phải mua  
phần mềm. Điều này giúp chúng ta tiết kiệm được chi phí đối với một hệ thống  
GIS bởi các phần mềm GIS hiện nay có giá thành rất cao.  
- Đối với phần lớn người dùng không có kinh nghiệm về GIS thì việc sử dụng  
WebGIS sẽ đơn giản hơn là việc sử dụng các phần mềm GIS khác.  
- Hiện nay trên thế giới có nhiều công nghệ về WebGIS như: GeoServer,  
MapServer, ESRI,…  
WebGIS được ứng dụng ngày càng nhiều ở các nước phát triển như: Hoa Kỳ,  
Nhật Bản,… các ứng dụng WebGIS đưa vào thực tế mang lại nhiều hiệu quả về kinh  
tế - xã hội – môi trường cho nhiều cường quốc, trong đó có hệ thống WebGIS hỗ trợ  
phát triển cộng đồng tại tỉnh Shimane - Nhật Bản, được phát triển bởi Trung tâm  
nghiên cứu vùng núi (Mountainous Region Research Center – MRRC).  
Tại Việt Nam tình hình nghiên cứu và ứng dụng WebGIS trong những năm gần  
đây luôn được quan tâm, các đề tài có giá trị như: Ứng dụng công nghệ WebGIS để  
xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ khai thác tiềm năng du lịch bền vững tỉnh Quảng Trị,  
11  
 
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 56 trang yennguyen 23120 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Ứng dụng công nghệ mã nguồn mở xây dựng WebGIS thông tin hành chính thành phố Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhoa_luan_ung_dung_cong_nghe_ma_nguon_mo_xay_dung_webgis_tho.pdf