Dự đoán mức độ bụi PM₂.₅ bằng phương pháp khai phá dữ liệu
Nguyễn Quỳnh Chi
DỰ ĐOÁN MỨC ĐỘ BỤI PM2.5 BẰNG
PHƯƠNG PHÁP KHAI PHÁ DỮ LIỆU
Nguyễn Quỳnh Chi*
Học Viện Công Nghệ Bưu Chính Viễn Thông
*
Trong nhiều năm qua, tại các quốc gia phát triển, có
nhiều phương pháp dự đoán ô nhiễm bụi PM2.5 đã được
nghiên cứu. Các thuật toán được áp dụng như hệ lai kết hợp
với suy diễn mờ, rừng ngẫu nhiên (Random Forest-RF),
máy vectơ hỗ trợ (Support Vector Machine-SVM) và mạng
nơ-ron. Những thuật toán này cho kết quả khả quan về độ
chính xác dự đoán. Tuy nhiên, những phương pháp này lại
thực hiện trên những tập dữ liệu được thu thập tại những
thời điểm và địa điểm khác nhau nên khó có thể chọn ra
một phương pháp dự đoán từ những nghiên cứu trên phù
hợp với dữ liệu về không khí thu thập được tại thành phố
Hà Nội.
Tóm tắt—Tình trạng ô nhiễm không khí trên toàn cầu
không ngừng gia tăng và gây ra những tác động tiêu cực
tới sức khỏe con người như: các bệnh đường hô hấp, tim
mạch và ung thư. Tại Hà Nội, trong thời gian gần đây, tình
hình ô nhiễm càng trở nên xấu hơn, đặc biệt là mật độ bụi
PM2.5 luôn ở mức cao. Vì vậy, việc dự đoán mức độ ô
nhiễm của chỉ số PM2.5 trở nên cần thiết hơn nhằm thực
hiện cảnh báo sớm. Với dữ liệu về không khí gồm các chỉ
số khí tượng và các chỉ ô nhiễm không khí thu thập được
tại Hà Nội, chúng tôi thực hiện một phương pháp trích rút
đặc trưng mới cho kết quả tốt hơn khi chạy cùng một thuật
toán so với phương pháp cũ. Thuật toán XGBoost được áp
dụng để dự đoán mức độ ô nhiễm của bụi PM2.5 và thử
Vì vậy, chúng tôi đã thực hiện khảo sát các nghiên cứu
khác nhau liên quan tới dự đoán mức độ ô nhiễm của chỉ
nghiệm đã cho thấy độ chính xác của thuật toán này cao số PM2.5 nhằm có cái nhìn tổng quan về các phương pháp
hơn với so với các thuật toán khai phá dữ liệu khác trong
khi thời gian huấn luyện lại thấp hơn đáng kể.
dự đoán trong phần 2. Trên cơ sở đó, trong phần 3 chúng
tôi thực hiện phân tích dữ liệu thu thập được, đề xuất cách
trích rút đặc trưng mới và lựa chọn phương pháp huấn
luyện mô hình phù hợp để dự đoán mức độ ô nhiễm chỉ số
PM2.5 tại thành phố Hà Nội một tiếng sau đó. Các chỉ số về
khí tượng là cần thiết cho việc dự đoán, bên cạnh đó các
chỉ số ô nhiễm khác (bụi mịn có đường kính cỡ 10 µm –
PM10, nồng độ khí CO2, tổng vật chất hữu cơ lơ lửng –
TVOC) và yếu tố thời gian cũng được xem xét ảnh hưởng
tới kết quả dự đoán. Với cách trích rút này, chúng tôi thực
hiện việc so sánh với phương pháp trích rút cũ và thử
nghiệm với các mô hình dự đoán khác nhau: SVM, RF,
Perceptron đa lớp (Multi-layer Perceptron-MLP) và
XGBoost (Extreme Gradient Boosting) trong phần 4. Cuối
cùng, chúng tôi kết luận và thảo luận về hướng phát triển
tiếp theo trong tương lai trong phần 5.
Từ khóa— dự đoán chất lượng không khí, khai phá dữ
liệu, dự đoán bụi PM2.5, XGBoost.
I. GIỚI THIỆU
Tình trạng ô nhiễm không khí gia tăng đang làm phát
sinh nhiều vấn đề tới sức khỏe của con người. Theo thông
tin được đăng tải bởi Tổ chức Y tế thế giới (WHO), vấn đề
ô nhiễm không khí ảnh hưởng tới tất cả mọi người ở các
quốc gia [1]. Điều này gây ra 4,2 triệu người chết sớm trên
phạm vi toàn cầu trong năm 2016. Trong đó, các nước ở
khu vực Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương chiếm
91%. Nguyên nhân chủ yếu đến từ các hạt bụi mịn có kích
thước 2,5 µm hoặc nhỏ hơn có trong ô nhiễm không khí,
tác nhân gây ra các bệnh tim mạch, hô hấp và ung thư.
Vấn đề ô nhiễm không khí xảy ra nghiêm trọng hơn tại
các thành phố lớn do mật độ dân cư cao khiến lượng phát
thải khí tăng lên. Bên cạnh đó, việc thi công các công trình
xây dựng, đường cũng khiến làm tăng lượng bụi trong
không khí tại các thành phố lớn. Thành phố Hà Nội đang
phải đối mặt với tình trạng gia tăng ô nhiễm không khí.
Trong những ngày tháng 09/2019, Hà Nội được xếp vào
một trong những thành phố ô nhiễm không khí cao nhất thế
giới. Nguyên nhân chủ yếu tới từ mật độ bụi PM2.5 tăng ở
mức cao trong không khí. Loại bụi này tác động tiêu cực
tới sức khỏe con người, chính vì vậy, dự đoán mức độ ô
nhiễm bụi PM2.5 càng trở nên cần thiết.
II. KHẢO SÁT
Trong phần này, chúng tôi thực hiện khảo sát các nghiên
cứu liên quan. Trước hết, một số nghiên cứu đã áp dụng hệ
nơ-ron suy diễn mờ thích (Adaptive Neuro Fuzzy
Inference System – ANFIS) để dự đoán. Việc sử dụng
ANFIS cho thấy có sự cải thiện khi chỉ sử dụng phương
pháp suy diễn mờ quy nạp (Fuzzy Inductive Reasoning –
FIR), tuy nhiên, sự khác biệt không quá nhiều. Điều này
được chỉ ra bởi nghiên cứu dự đoán mật độ bụi PM2.5 tại
khu vực trung tâm thành phố Mexico [2]. Tuy nhiên,
nghiên cứu này không khai thác nhiều các yếu tố khí tượng
Tác giả liên lạc: Nguyễn Quỳnh Chi,
Email: [email protected]u.vn
Đến tòa soạn: 24/10/2020, chỉnh sửa: 24/11/2020, chấp nhận đăng:
04/12/2020.
SOÁ 04A (CS.01) 2020
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG
99
DỰ ĐOÁN MỨC ĐỘ BỤI PM2.5 BẰNG PHƯƠNG PHÁP KHAI PHÁ DỮ LIỆU
vào việc dự đoán mật độ bụi PM2.5. Một nghiên cứu khác xác cao khi dự đoán mật độ bụi PM2.5 trong ngày tiếp theo
thực hiện dự đoán bụi PM10 tại thành phố Konya [3] cũng khi sử dụng mạng nơ-ron nhân tạo (ANN) [8]. Dữ liệu của
sử dụng ANFIS, họ chỉ dùng các yếu tố khí tượng gồm: họ bao gồm mật độ bụi PM2.5 và dữ liệu về khí tượng. Mô
nhiệt độ, độ ẩm, áp suất và tốc độ gió trong việc dự đoán. hình thiết kế có vector input gồm: mật độ PM2.5 và các yếu
Đặc biệt trong việc xử lý dữ liệu, họ có đề xuất phương tố khí tượng (nhiệt độ, tốc độ gió, hướng gió, độ ẩm). Kết
pháp tỷ lệ dữ liệu phụ thuộc đầu ra (Output-dependent data quả nghiên cứu cho dự đoán có độ chính xác cao với các
scaling-ODDS). Điều này đã cho một kết quả hứa hẹn hơn. độ đo như sau: Trung bình tuyệt đối lỗi (Mean Absolute
Tuy nhiên họ không kết hợp thêm giá trị lịch sử của mật độ Error – MAE) [μg/m3]: 0.92472; Căn trung bình bình
bụi PM10 để dự đoán. Với bài toán dự đoán theo thời gian, phương lỗi (Root-mean-square Error – RMSE) [μg/m3]:
việc lựa chọn phương pháp suy diễn mờ là không phù hợp, 1.2756; Hệ số xác định (Coefficient of Determination – R2-
bởi kết quả dự đoán cho độ chính xác không cao (35% - score): 0.9188; R: 0.9315. Tuy nhiên, với những nghiên
62%). Bên cạnh đó, việc không xét đến yếu tố thời gian cứu sử dụng SVM và RF được đề cập trước đó thì ANN lại
cũng khiến việc dự đoán trở nên kém chính xác.
tỏ ra kém hiệu quả hơn. Dù vậy, chúng tôi vẫn cân nhắc thử
Ngoài ra, có những nghiên cứu áp dụng các thuật toán nghiệm với thuật toán này để giải quyết bài toán của chúng
khác như SVM, RF trong việc dự đoán chất lượng không tôi.
khí. Những nghiên cứu này đều sử dụng các yếu tố khí
tượng và giá trị lịch sử các chất ô nhiễm làm đầu vào cho
thuật toán của mình. Với các nghiên cứu sử dụng phương
pháp SVM [4] [5], kết quả tuy tốt nhưng với mỗi chất ô
nhiễm lại chỉ phù hợp với hàm nhân (kernel) nhất định.
Theo kết quả thử nghiệm thì với chỉ số SO2, hàm nhân RBF
cho kết quả tốt nhất nhưng với chỉ số NO2 thì sử dụng hàm
tuyến tính lại cho kết quả tốt nhất [4]. Bên cạnh SVM, RF
cũng là thuật toán được một số nghiên cứu áp dụng trong
việc xây dựng phương pháp dự đoán chất lượng không khí.
Một nghiên cứu được thực hiện tại thành phố Thẩm Dương
(Trung Quốc) [6] đã xây dựng thuật toán RAQ dựa trên RF
để dự đoán chất lượng không khí trong thành phố. Họ xây
dựng và thử nghiệm trên tập dữ liệu thu thập từ 10 trạm
quan trắc bao gồm nhiều yếu tố: dữ liệu khí tượng, dữ liệu
các chỉ số ô nhiễm không khí, dữ liệu về giao thông và địa
lý. Phương pháp dự đoán với thuật toán RAQ cho kết quả
vượt trội, độ chính xác lên tới 81.5%, trong khi với mạng
nơ-ron nhân tạo (Artificial Neural Network – ANN) chỉ đạt
71.8% và cây quyết định (Decision Tree) chỉ đạt 77.4%.
Một nghiên cứu khác cũng áp dụng RF trong phương pháp
dự đoán của họ được thực hiện với tập dữ liệu thu thập tại
thành phố Warsaw để dự đoán trung bình mức độ ô nhiễm
của các chất trong ngày tiếp theo [7]. Phương pháp họ thực
hiện gồm 2 giai đoạn chính gồm: lựa chọn đặc trưng và áp
dụng phương pháp dự đoán. Với giai đoạn lựa chọn đặc
trưng, họ thực hiện 2 phương pháp là sử dụng giải thuật di
truyền (Genetic Algorithm – GA) và thử khớp từng bước
(Stepwise fit-SF) để loại bỏ bớt đặc trưng từ tập đặc trưng
ban đầu. Với giai đoạn dự đoán, họ xây dựng 2 mô hình,
một mô hình có các đặc trưng qua các mạng nơ-ron và thuật
toán học máy khác (MLP, RBF, SVM) rồi tới RF để tổng
hợp kết quả dự đoán của các mạng trên, mô hình còn lại có
các đặc trưng là đầu vào trực tiếp cho RF. Các chỉ số ô
nhiễm được thử nghiệm để dự đoán trong nghiên cứu này
gồm: PM10, SO2, NO2, O3. Kết quả họ thực hiện cho thấy
việc lựa chọn đặc trưng có ảnh hưởng tới kết quả dự đoán,
phương pháp SF thường cho kết quả cao hơn GA lên tới
2.88%. So với phương pháp sử dụng suy diễn mờ, SVM và
RF tỏ ra hiệu quả hơn trong việc dự đoán, cho kết quả dự
đoán chính xác hơn. Cách trích rút đặc trưng của những
nghiên cứu sử dụng SVM và RF cũng đã xét tới nhiều yếu
tố về khí tượng, các chỉ số ô nhiễm, thời gian và cả địa lý.
Điều này giúp kết quả dự đoán trở nên chính xác hơn và
phù hợp với dữ liệu thu thập được.
Trong những năm gần đây, thuật toán Extreme Gradient
Boosting (XGBoost) nổi lên trong việc giải quyết bài toán
này. Một số nghiên cứu áp dụng thuật toán này đã cho độ
chính xác vượt trội hơn so với RF, MLP với thời gian huấn
luyện ngắn hơn [9] [10]. Chính những ưu điểm này mà
thuật toán XGBoost được áp dụng ngày càng nhiều trong
các bài toán dự đoán bên cạnh các thuật toán học sâu.
III. PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN
Trong phần này, chúng tôi trình bày về phương pháp
thực hiện gồm các bước: phân tích tập dữ liệu thu thập
được, đề xuất lựa chọn đặc trưng và xây dựng mô hình dự
đoán.
A. Mô tả dữ liệu
Tập dữ liệu của chúng tôi được thu thập tại một trạm
quan trắc trong thành phố Hà Nội trong khoảng thời gian
từ 17/08/2018 tới 22/07/2019. Mỗi bản ghi trong tập dữ
liệu chứa các cột: thời gian, SO2, NH3, O3, PM2.5, PM10,
CO2, PM0.1, TVOC, CO, nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng. Thời
gian lấy mẫu cách nhau trung bình khoảng 40 giây. Tuy
nhiên, tập dữ liệu tồn tại một số bản ghi có giá trị rỗng và
bị nhiễu. Biểu đồ phân bố các giá trị của thuộc tính (các
nhiễu khiến biểu đồ phân bố các giá trị của hầu hết các chỉ
số đều bị lệch trái rất nhiều. Tiếp theo chúng tôi thực hiện
lọc bỏ các bản ghi nhiễu và trích rút đặc trưng.
Đầu tiên, chúng tôi thực hiện loại bỏ các bản ghi nhiễu,
bị khuyết, mang giá trị nằm ngoài miền cho phép (ví dụ
như chỉ số PM0.1 tồn tại giá trị âm hoặc nhiệt độ đo được
lớn hơn 50 độ C). Qua khảo sát nhiều nghiên cứu [7] [11],
các yếu tố về khí tượng: nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng được
chúng tôi giữ lại, bởi đây là những chỉ số phản ánh về điều
kiện thời tiết và môi trường. Chúng cũng là những nhân tố
quan trọng trong mô hình dự đoán mức độ ô nhiễm bụi
PM2.5.
Tiếp theo, chúng tôi loại bỏ các chỉ số khác không cần
thiết bằng cách đánh giá mức độ tương quang với chỉ số
PM2.5 và giá trị của chị số đó. Dựa trên
trong việc dự đoán, bởi giá trị của chỉ số này đều bằng 0.
Bên cạnh đó những chỉ số TVOC, SO2, NH3, O3 cũng được
lược đi bởi chúng không thể hiện được sự tương quan với
chỉ
số
PM2.5
như
trong
Ngoài SVM và RF, mạng nơ-ron cũng được áp dụng
trong việc dự đoán bụi PM2.5. Nghiên cứu trên tập dữ liệu
thu thập được tại Hợp Phì (Trung Quốc) đã cho độ chính
SOÁ 04A (CS.01) 2020
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG
100
Nguyễn Quỳnh Chi
25%
50%
75%
0
0
0
4.6
5
17.6
18.5
18.5
15.7
25
5.3
41.7
Giá trị
lớn
0
99.6
104.5
86.6
nhất
Hình 2 – Biểu đồ tương quan của các chỉ số ô nhiễm với
chỉ số PM2.5
Bảng II – Mô tả giá trị các chỉ số PM0.1, TVOC, SO2
PM0.1
TVOC
SO2
Số bản ghi
Trung bình
Độ lệch chuẩn
Giá trị nhỏ nhất
25%
329455 329455 329455
17.927
8.972
0
3.535
14.405
4.604
0
1.605
1
2
4
5
6
11
12.9
14.3
14.3
137.9
50%
17
75%
24
Giá trị lớn nhất 306
Hình 1 – Phân bố dữ liệu của các chỉ số trong tập dữ liệu
Có thể thấy được rằng chỉ số PM10 và PM2.5 có quan
hệ chặt nhất trong số các chỉ số trên nên chỉ số này được
giữ lại. Cuối cùng các chỉ số cần thiết để dự đoán: nhiệt độ,
độ ẩm, ánh sáng, CO2, PM10 và giá trị phân bố được mô
tả như trong Hình 3. Trong phần tiếp theo chúng tôi trình
bày phương pháp trích rút đặc trưng từ các chỉ số còn lại
sau quá trình tiền xử lý dữ liệu.
B. Trích rút đặc trưng
Các đặc trưng chúng tôi trích ra dựa trên cách lựa chọn
đặc trưng của các nghiên cứu chúng tôi đã khảo sát trước
đó [7] [8]. Trong đó, phương pháp SF và GA được áp dụng
để tìm ra tập các đặc trưng tốt nhất từ tập hợp những đặc
trưng ban đầu. Đối với bài toán dự đoán ô nhiễm chỉ số
PM2.5 tại Hà Nội, chúng tôi thực hiện lấy những đặc trưng
tiềm năng được chọn lọc theo kết quả của nghiên cứu tại
thành phố Warsaw [7]. Cụ thể hơn, các đặc trưng được đề
xuất gồm:
Bảng I – Mô tả giá trị các chỉ số CO, NH3, O3, PM10
CO
NH3
O3
PM10
Số bản
ghi
Trung
bình
Độ lệch
chuẩn
Giá trị
nhỏ
•
Các đặc trưng tại thời điểm hiện tại: f1 – giá trị chỉ
số PM2.5 hiện tại; f2 – giá trị chỉ số PM10 hiện tại; f3
– giá trị nhiệt độ hiện tại; f4 – giá trị độ ẩm hiện tại;
f5 – giá trị ánh sáng hiện tại; f6 – giá trị chỉ số CO2
hiện tại. Đây là những giá trị mô tả về không khí ở
thời điểm hiện tại nhằm hỗ trợ dự đoán trong giờ
tiếp theo.
329455
329455
329455
329455
0.000
0.000
5.052
2.374
17.991
2.456
28.401
15.641
0
0.5
6.5
0
nhất
SOÁ 04A (CS.01) 2020
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG
101
DỰ ĐOÁN MỨC ĐỘ BỤI PM2.5 BẰNG PHƯƠNG PHÁP KHAI PHÁ DỮ LIỆU
퐾
•
Các đặc trưng dựa trên thời gian: f7 – 8 – mùa (biểu
diễn bằng 2 bit: 00 – mùa xuân, 01 – mùa hạ, 10 –
mùa thu, 11 – mùa đông); f9 – ngày nghỉ (1 – ngày
nghỉ, 0 – ngày đi làm); f10 – giờ. Đặc trưng về mùa
là cần thiết bởi khí hậu tại Hà Nội là nhiệt đới gió
mùa, nên tuy nằm ở khu vực nhiệt đới nhưng lại có
4 mùa thay đổi trong năm. Bên cạnh đó, các đặc
trưng về ngày nghỉ trong tuần và thời gian trong
ngày cũng được xem xét bởi ô nhiễm không khí chủ
yếu do các hoạt động của con người.
(2)
(
)
푦̂ = 휙 풙푖 = ∑ 푓 (풙푖) , 푓 ∈ ℱ
푖
푘
푘
푘=1
•
•
Các đặc trưng trong 24 tiếng trước đó: f11 – 35 – các
giá trị chỉ số PM2.5 trong 1 tới 24 giờ trước đó. Đặc
trưng này phục vụ theo dõi sự biến đổi theo giờ để
dự đoán từng giờ tiếp theo.
Các đặc trưng về khí tượng trong 24 tiếng trước đó:
f36 – 38 – giá trị lớn nhất, nhỏ nhất, trung bình chỉ số
PM2.5 trong 24 giờ trước đó; f39 – 41 – giá trị lớn nhất,
nhỏ nhất, trung bình nhiệt độ trong 24 giờ trước đó;
f42 – 44 – giá trị lớn nhất, nhỏ nhất, trung bình độ ẩm
trong 24 giờ trước đó. Những đặc trưng này nhằm
cho thấy mức độ biến động của môi trường trong
vòng 24 tiếng, điều này ảnh hưởng tới sự thay đổi
của chỉ số PM2.5 trong giờ tiếp theo.
Hình 3 – Mô hình dự đoán
푚
푇
( )
(
)
Trong đó, ℱ = {푓 풙 = 푤푞(풙)} 푞: ℝ → 푇, 푤 ∈ ℝ , với
푞 là cây để ánh xạ vector vào giá trị dự đoán tại nút lá, 푇
là số lượng nút lá trên cây, 퐾 là số lượng cây, 푓 là cây
푘
thứ 푘 độc lập trong mô hình, 푤푖 là trọng số của nút lá thứ
푖 và 푦̂ là giá trị dự đoán với . Hàm mục tiêu:
푖
푛
퐾
So với những nghiên cứu trước đó [7][8], chúng tôi có bổ
sung giá trị chỉ số PM10 bởi quan sát thấy sự tương quan
giữa chỉ số này và giá trị cần dự đoán. Bên cạnh đó, với
việc dự đoán theo giờ tiếp theo, việc lấy thêm giá trị lịch
sử trong 24 giờ trước đó của chỉ số PM2.5 được chúng tôi
đưa vào.
Giá trị dự đoán là giá trị trung bình của chỉ số PM2.5 trong
giờ tiếp theo. Sau khi trích chọn đặc trưng, chúng tôi thực
hiện chuẩn hóa dữ liệu bằng chuẩn hóa z – score có công
(3)
( )
ℒ 휙 = ∑ 푙(푦푖, 푦̂푖) + ∑ Ω(푓 )
푘
푖=1
푘
1
( )
‖ ‖2
Trong đó, 푛 là số điểm dữ liệu, Ω 푓 = 훾푇 + 휆 푤 là
2
hàm qui chuẩn (regularization). Bởi hàm mục tiêu không
thể tối ưu bằng phương pháp như Stochastic Gradient
Descent (SGD) nên quá trình học được thực hiện như sau:
Với 푦̂ = 푦̂(푡−1) + 푓 (풙푖) và bắt đầu 푦̂ = 0, 푦̂(푡) là
(푡)
푖
(0)
푡
푖
푖
푖
giá trị dự đoán của instance thứ 푖 tại vòng lặp thứ 푡. Hàm
mục tiêu trở thành:
푥 − 휇
(1)
푛
푧 =
휎
ℒ(푡) = ∑ 푙(푦푖, 푦̂(푡−1) + 푓 (풙푖)) + Ω(푓 )
(4)
푡
푡
푖
Trong đó 휇 là trung bình các phần tử, 휎 là độ lệch chuẩn,
푥 là giá trị cần chuẩn hóa.
푖=1
Và có công thức tính xấp xỉ như sau:
푛
C. Mô tả mô hình dự đoán
(
)
푡−1
ℒ(푡) ≃ ∑ [푙(푦푖, 푦̂
) + 푔푖푓 풙푖
(
)
푡
Mô hình dự đoán chúng tôi đề xuất gồm quá trình huấn
luyện và quá trình dự đoán được trình bày tổng quát trong
(5)
푖=1
1
(
)
( )
+
ℎ푖푓2 풙푖 ] + Ω 푓
푡
푡
2
Với quá trình huấn luyện, từ dữ liệu đầu vào là các chỉ
số về khí tượng và các chỉ số ô nhiễm, chúng tôi thực hiện
trích rút ra vector đặc trưng 44 chiều như đã trình bày ở
phần trước đó. Vector này được chuẩn hóa và thuật toán
chúng tôi áp dụng là XGBoost được xây dựng dựa trên
Gradient Boost [12]. Khác với RF [13], thuật toán sử dụng
phương pháp boosting để giải quyết. Cụ thể hơn, các cây
mới được sinh tuần tự với mục đích giảm thiểu lỗi từ cây
trước đó bằng việc học lại một phần lỗi từ cây trước đó,
cập nhật lỗi để có được cây tốt hơn. Từ đó, tại bước trước,
những điểm bị phân sai sẽ có cơ hội được phân đúng nhiều
hơn ở xtương lai.
푡−1
Với 푔푖 = 휕푦̂ )푙(푦 , 푦̂
), ℎ푖 = 휕2 )푙(푦 , 푦̂
)).
(
)
(
푡−1
(
푡−1
(
푡−1
푖
푖
푦̂
Nếu bỏ phần hằng số, hàm mục tiêu có thể viết đơn giản
như sau:
푛
1
(푡)
ℎ푖푓2 풙푖 ] + Ω 푓
( )
(6)
̃
ℒ
(
)
(
)
= ∑ [푔푖푓 풙푖
+
푡
푡
푡
2
푖=1
∑
∑
{
(
)
}
Đặt 퐺 =
푔푖, 퐻 =
ℎ푖, với 퐼 = 푖|푞 풙푖 = 푗 là
푗
푖∈퐼
푗
푖∈퐼
푗
푗
푗
tập các giá trị tại nút lá 푗.
Trọng số tối ưu tại mỗi nút lá:
퐺
푗
푤∗ = −
(7)
푗
퐻 + 휆
푗
Tập dữ liệu gồm các cặp (풙푖, 푦푖) trong đó 풙푖 là vector
đặc trưng 44 chiều và 푦푖 là giá trị dự đoán tương ứng. Mô
hình học được mô tả như sau:
Hàm tính lỗi trên toàn bộ cây:
SOÁ 04A (CS.01) 2020
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG
102
Nguyễn Quỳnh Chi
푇
giá trị dự đoán khi áp dụng phương pháp 2.
Bảng III – Kết quả so sánh giữa 2 phương pháp
R2 – score MAE
RMSE
1
2
퐺 2
푗
(푡)
̃
ℒ
= −
∑
+ 훾푇
(8)
퐻 + 휆
푗
푗=1
Quá trình huấn luyện kết thúc sau một số lần lặp hoặc
giá trị hàm mục tiêu nhỏ hơn một ngưỡng nào đó. Mô hình
sau khi huấn luyện được sử dụng để dự đoán giá trị trung
bình của chỉ số PM2.5 trong giờ tiếp theo. Với đầu vào là
dữ liệu của các chỉ số khí tượng và ô nhiễm trong vòng 24
tiếng, dữ liệu được trích rút thành một vector 44 chiều sau
đó chuẩn hóa. Vector này được đưa vào mô hình đã huấn
luyện để đưa ra giá trị dự đoán. Trong phần tiếp theo, chúng
tôi thực hiện thử nghiệm phương pháp trích rút và mô hình
dự đoán đã được trình bày.
Phương pháp 1 0.9508
Phương pháp 2 0.9368
0.1387 0.2266
0.1515 0.2521
IV. THỬ NGHIỆM
Bởi dữ liệu được chúng tôi thu thập được lấy mẫu cách
nhau khoảng 40 giây, nên để thực hiện thử nghiệm, chúng
đã lấy trung bình các bản ghi đó theo giờ. Kết quả thu được
6433 bản ghi về các chỉ số không khí theo giờ. Tiếp theo,
chúng tôi thực hiện tiền xử lý, trích rút và chuẩn hóa dữ
liệu này. Để thực hiện quá trình huấn luyện và đánh giá,
các bản ghi được lấy ngẫu nhiên và chia thành 2 tập: tập
huấn luyện (training set) chiếm 75% dữ liệu ban đầu và
25% dữ liệu còn lại là tập kiểm tra (test set).
Hình 4 – Kết quả dự đoán của 2 phương pháp
Có thể thấy rằng, phương pháp trích rút của chúng tôi
cho kết quả cao hơn ~2% so với phương pháp cũ khi thử
nghiệm trên cùng một mô hình. Điều này khẳng định rằng
yếu tố thời gian và chỉ số PM10 có tác động tới kết quả dự
đoán chỉ số PM2.5 trong giờ tiếp theo bên cạnh những yếu
tố cơ bản về khí tượng như: nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng.
Tiếp theo chúng tôi thực hiện so sánh mô hình dự đoán
với các mô hình khác: SVM, Random Forest, MLP và
XGBoost. Siêu tham số (Hyper-parameter) của mỗi thuật
Các độ đo được chúng tôi sử dụng để đánh giá gồm R2
– score công thức (9), MAE công thức (10) và RMSE công
thức (11) như sau:
푛
푖=1(푦푖 − 푦̂푖)2
∑
푅2 = 1 −
(9)
푛
푖=1(푦푖 − 푦̅)2
∑
푛
1
(10)
|
|
푀퐴퐸 = ∑ 푦푖 − 푦̂
푖
푛
Bảng IV – Siêu tham số cho mỗi thuật toán
Hyper-parameter
푖=1
푛
1
(11)
푅푀푆퐸 = √ ∑(푦푖 − 푦̂푖)2
푛
gamma='auto'
푖=1
kernel='rbf'
C=100
SVM
Trong đó, 푛 là số phần tử, 푦푖 là giá trị thực tế, 푦̂ là giá trị
푖
epsilon=0.0001
dự đoán, 푦̅ là giá trị trung bình của số phần tử. Các độ đo
này được sử dụng bởi chúng thể hiện rõ được mức độ chênh
lệch giữa giá trị thực tế và giá trị dự đoán. Điều này phù
hợp với các bài toán hồi quy (regression) bởi giá trị dự đoán
nằm trên miền liên tục thay vì là các nhãn như bài toán
phân loại. Đối với R2 – score, giá trị càng cao thì mô hình
càng mạnh (thể hiện mức độ phù hợp với tập dữ liệu) và tốt
nhất là 1.00, với MAE và RMSE giá trị càng nhỏ càng tốt
(2 độ đo này thể hiện sự sai khác giữa giá trị dự đoán và
giá trị thực tế)
Tiếp theo, chúng tôi thực hiện so sánh kết quả giữa
phương pháp trích rút của chúng tôi đã trình bày trong phần
3 (Phương pháp 1) và phương pháp trích rút khác chỉ gồm
các đặc trưng trích từ các yếu tố khí tượng (Phương pháp
2) [8]. Cụ thể, phương pháp của chúng tôi có xét đến các
yếu tố về thời gian trong ngày và trong năm, kèm theo đó
là chỉ số PM10 và những số liệu đầu vào của các chỉ số trong
24 giờ trước đó, còn với phương pháp 2, họ chỉ quan tâm
tới những yếu tố khí tượng trong phạm vi hiện tại. So sánh
bên trái là so sánh giá trị thực tế với giá trị dự đoán khi áp
dụng phương pháp 1, bên phải là so sánh giá trị thực tế với
Random
Forest
n_estimators=150
max_features='auto'
hidden_layer_sizes=(192,128,96)
max_iter=1000
MLP
learning_rate_init=0.01
tol=1e-6
batch_size=192
n_estimators=200
max_depth=8
gamma=0.7
XGBoost
objective='reg:squarederror'
Các tiêu chí để so sánh tượng tự, gồm các độ đo: R2 –
score, MAE, RMSE và thời gian huấn luyện được tính
Bảng V – So sánh kết quả giữa các thuật toán
R2 –
score
Thời
gian
MAE
RMSE
SVM
0.9553 0.1154 0.2101 27.0608
SOÁ 04A (CS.01) 2020
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG
103
DỰ ĐOÁN MỨC ĐỘ BỤI PM2.5 BẰNG PHƯƠNG PHÁP KHAI PHÁ DỮ LIỆU
Hà Nội rất nhiều. Trong tương lai, chúng tôi sẽ thu thập
Random
Forest
0.9587 0.1115 0.2020 35.5577
thêm những dữ liệu trên để quan sát sự tương quan giữa
chúng với mức độ ô nhiễm không khí tại Hà Nội và cải tiến
hoặc thử nghiệm với mô hình khác nhằm cải thiện độ chính
xác, phạm vi dự đoán theo không gian và theo thời gian.
MLP
0.9562 0.1276 0.2078
8.2011
XGBoost
0.9595 0.1126 0.1999
4.8872
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Thông qua độ đo R2 – score, có thể thấy rằng thuật toán
XGBoost cho tỷ lệ phù hợp với tập dữ liệu cao nhất
(95,95%). Với kết quả của RMSE, sự chênh lệch giữa giá
trị dự đoán và giá trị thực tế là nhỏ nhất, tức độ chính xác
của dự đoán là cao nhất khi so với các giá trị còn lại. So
sánh với những thuật toán còn lại, tư tưởng của XGBoost
là xây dựng các mô hình dự đoán yếu và kết hợp chúng để
cho ra mô hình dự đoán cuối cùng có độ chính xác cao. Kết
hợp với việc cập nhật lại trọng số bằng phương pháp hạ đạo
hàm (gradient descent), thuật toán XGBoost sẽ cho ra mô
hình dự đoán khớp với tập dữ liệu nhiều nhất có thể. Tuy
sự khác biệt về độ chính xác giữa các thuật toán không quá
nhiều nhưng so sánh về thời gian huấn luyện thì XGBoost
có thời gian huấn luyện ngắn nhất. Điều này cho thấy tiềm
năng của mô hình này trong việc huấn luyện và độ chính
xác dự đoán theo thời gian.
[1] WHO, "Air pollution," 2 May 2018. [Online]. Available:
sheets/detail/ambient-(outdoor)-air-quality-and-health.
[2] À. Nebot and F. Mugica, "Small-particle pollution
modeling using fuzzy approaches," Advances in Intelligent
Systems and Computing, pp. 239-252, 2014.
[3] K. Polat and S. S. Durduran, "Usage of output-dependent
data scaling in modeling and prediction of air pollution
daily concentration values (PM10) in the city of Konya,"
Neural Computing and Applications, p. 21, 2011.
[4] C.-M. Vong, W.-F. Ip, P.-k. Wong and J.-y. Yang, "Short-
Term Prediction of Air Pollution in Macau Using Support
Vector Machines," Journal of Control Science and
Engineering, vol. 2012, 2012.
[5] W.-F. Ip, C.-M. Vong, J. Y. Yang and P. K. Wong, "Least
squares support vector prediction for daily atmospheric
pollutant level," Proc. 2010 IEEE/ACIS 9th International
Conference on Computer and Information Science (ICIS),
pp. 23-28, August 2010.
V. KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN
Với dữ liệu chúng tôi thu thập được tại Hà Nội gồm các
yếu tố về khí tượng và các chỉ số ô nhiễm, chúng tôi đã
nhận thấy chỉ số PM10 tại Hà Nội có sự tương quan với chỉ
số PM2.5. Từ đó, cùng với những khảo sát khác chúng tôi
thực hiện phương pháp trích rút đặc trưng mới. Phương
pháp trích rút mới bao gồm không chỉ các yếu tố về khí
tượng và ô nhiễm ở thời điểm hiện tại mà còn trong quá
khứ (nhiều giờ trước đó). Điều này giúp dự đoán tốt hơn
do giá trị lịch sử giúp thể hiện xu hướng biến đổi của chỉ
số PM2.5 trong giờ tiếp theo. Ngoài ra, yếu tố về thời gian
cũng đóng vai trò tác động lên kết quả dự đoán do sự biến
đổi về khí hậu, môi trường theo mùa trong năm tại Hà Nội
và hoạt động khác nhau của con người trong từng khung
thời gian khác nhau trong ngày và trong tuần. Thử nghiệm
đã chứng minh phương pháp trích rút của chúng tôi cho kết
quả dự đoán mức độ bụi PM2.5 tại Hà Nội tốt hơn so với
phương pháp cũ (chỉ quan tâm tới các yếu tố khí tượng).
Nghiên cứu cũng cho thấy thuật toán XGBoost là một
thuật toán tốt cho độ chính xác cao với thời gian huấn luyện
thấp khi so sánh với các thuật toán học máy khác. Đối với
bài toán của chúng tôi, thuật toán này là phù hợp bởi khả
năng dự đoán chính xác và chi phí huấn luyện mô hình
thấp. Tuy nhiên, bởi tính chất cố gắng khớp với dữ liệu tốt
nhất của thuật toán này khiến thuật toán này dễ bị quá mức
phù hợp (overfitting). Vì vậy, trong tương lai chúng tôi sẽ
xem xét đến một số phương pháp để hạn chế việc bị
overfitting và thử nghiệm với các thuật toán học sâu (deep
learning) khác để dự đoán cho các bài toán dữ liệu chuỗi
thời gian (time-series).
[6] R. Yu, Y. Yang, L. Yang and G. Han, "RAQ–A Random
Forest Approach for Predicting Air Quality in Urban
Sensing Systems," Sensors, vol. 16, p. 86, 11 January 2016.
[7] K. Siwek and S. Osowski, "DATA MINING METHODS
FOR PREDICTION OF AIR POLLUTION," Int. J. Appl.
Math. Comput. Sci, vol. 26, 2016.
[8] A. Li và X. Xu, “A New PM2.5 Air Pollution Forecasting
Model Based on Data Mining and BP Neural Network
Model,” Advances in Computer Science Rese, tập 65, 2018.
[9] NandigalaVenkatAnurag,
YagnavalkBurra
and
S.Sharanya, "Air Quality Index Prediction with
Meteorological Data Using Feature Based Weighted
Xgboost," International Journal of Recent Technology and
Engineering (IJRTE), vol. 8, no. 1, pp. 1355-1358, May
2019.
[10] M. Z. Joharestani, C. Cao, X. Ni, B. Bashir and S.
Talebiesfandarani, "PM2.5 Prediction Based on Random
Forest, XGBoost, and Deep Learning Using Multisource
Remote Sensing Data," Atmosphere, 2019.
[11] X. Yi, J. Zhang, Z. Wang, T. Li and Y. Zheng, "Deep
Distributed Fusion Network for Air Quality Prediction," in
The 24th ACM SIGKDD International Conference on
Knowledge Discovery and Data Mining, London, 2018.
[12] T. Chen and C. Guestrin, "XGBoost: A Scalable Tree
Boosting System," 2016.
[13] L. Breiman, "Random Forests," Machine Learning, vol. 45,
pp. 5-32, 2001.
Về mặt dữ liệu hiện tại của chúng tôi cũng thiếu một số
yếu tố về khí tượng như hướng gió, tốc độ gió. Đây cũng
là những yếu tố có thể ảnh hưởng tới việc dự đoán ô nhiễm
không khí do gió có thể khuếch tán hoặc làm tập trung mật
độ bụi tại một khu vực nào đó. Với khí hậu tại Hà Nội, gió
còn có những đặc trưng khác nhau thay đổi theo mùa như:
hướng gió, tốc độ, độ ẩm. Ngoài ra, dữ liệu về giao thông
PM2.5 CONCENTRATION PREDICTION BY DATA
MINING METHOD
Abstract: The global air pollution is constantly increasing
and causing negative effects on human health such as
respiratory, cardiovascular diseases and cancers. Recently,
cũng cần được quan tâm bởi lượng phương tiện cá nhân tại pollution in Hanoi has become increasingly worse,
SOÁ 04A (CS.01) 2020
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG
104
Nguyễn Quỳnh Chi
especially when PM2.5 concentration is always at high
level. Thus, PM2.5 prediction is of more urgency to issue
early forecasts. Depending on air data including
meteorological indicators and air pollution indicators
collected in Hanoi, we have proposed a new characteristic
extraction method that gave better results when uing the
same algorithm compared to those of old methods.
XGBoost algorithm was applied to predict the
concentration of PM2.5 and the test showed that the
accuracy of this algorithm is higher than that of other data
mining algorithms while the training time is significantly
lower.
Keyword: air quality forecasting, data mining, PM2.5
prediction, XGBoost
Nguyễn Quỳnh Chi tốt nghiệp đại
học chuyên ngành Công nghệ thông
tin loại giỏi tại đại học Bách Khoa,
Hà nội, Việt nam năm 1999, nhận
bằng Thạc Sỹ chuyên ngành Khoa
học máy tính tại Đại học California,
Hoa Kỳ năm 2004 và nghiên cứu
sinh Tiến sỹ Khoa học máy tính từ
năm 2004 đến 2008, cũng tại Đại
học California, Hoa Kỳ. Lĩnh vực
nghiên cứu liên quan tới kho dữ liệu
và ứng dựng các phương pháp học
máy và khai phá dữ liệu để giải
quyết các bài toán trong thực tế
SOÁ 04A (CS.01) 2020
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG
105
Bạn đang xem tài liệu "Dự đoán mức độ bụi PM₂.₅ bằng phương pháp khai phá dữ liệu", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
du_doan_muc_do_bui_pm_bang_phuong_phap_khai_pha_du_lieu.pdf

