Bài giảng Thiết kế trang web - Đại học Nha Trang

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG  
KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN – BỘ MÔN HỆ THỐNG THÔNG TIN  
BÀI GIẢNG  
THIẾT KẾ TRANG WEB  
Tổng quan về Internet và WEB  
HTML  
CSS  
JavaScript  
NHA TRANG 2014  
LỜI NÓI ĐẦU  
Bài giảng Thiết kế trang web được biên soạn làm tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên  
Ngành Công nghệ Thông tin học tập và nghiên cứu. Trong bài giảng này, nội dung được viết theo  
hướng trang bị cho người học kiến thức nền tảng về kỹ thuật, kỹ năng xây dựng, thay đổi giao  
diện, điều khiển hoạt động trang web theo các chuẩn khác nhau.  
Các chủ đề chính của bài giảng bao gồm  
Tổng quan về Internet và dịch vụ World Wide Web  
Ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản HTML 4.01 và XHTML 1.0  
Ngôn ngữ định dạng CSS2  
Ngôn ngữ lập trình JavaScript  
Bên cạnh phần lý thuyết còn có các bài tập thực hành kèm theo để người học luyện tập, vận  
dụng những kiến thức đã học vào thực tế, tăng cường khả năng tự học, đáp ứng được yêu cầu đổi  
mới phương pháp học tập theo học chế tín chỉ.  
Dù có nhiều cố gắng trong công tác biên soạn nhưng bài giảng chắc chắn sẽ có ít nhiều sai  
sót. Chúng tôi mong nhận được các ý kiến đóng góp của các đồng nghiệp cũng như của sinh viên  
để hoàn thiện bài giảng trong những lần xuất bản tiếp theo.  
KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN  
BỘ MÔN HỆ THỐNG THÔNG TIN  
MỤC LỤC  
KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN ĐẠI HỌC NHA TRANG  
CHƯƠNG 0: TỔNG QUAN VỀ INTERNET VÀ WORLD WIDE WEB  
Chương này giới thiệu các khái niệm liên quan đến mạng Internet, dịch vụ World Wide Web,  
ngôn ngữ siêu văn bản và cách thức hoạt động của 1 trang web.  
1. Internet  
1.1. Khái niệm  
Internet là một liên mạng máy tính toàn cầu được hình thành từ các mạng nhỏ hơn, liên kết  
hàng triệu máy tính trên thế giới thông qua cơ sở hạ tầng viễn thông. Internet là mạng của các  
mạng máy tính. Trong mạng này, các máy tính và thiết bị mạng giao tiếp với nhau bằng một ngôn  
ngữ thống nhất. Đó là bộ giao thức TCP/IP (Transmision Control Protocol – Internet Protocol).  
1.2. Lịch sử  
Internet có khởi thủy là ARPANET, một dự án do Bộ Quốc phòng Hoa Kꢀ khởi xướng vào  
năm 1969. Mạng ARPANET khởi đầu là mạng kết nối giữa Bộ Quốc phòng Hoa Kꢀ với các nhà  
thầu nghiên cứu khoa học và quân sự lại với nhau, trong đó phần lớn là các trường đại học đang  
tiến hành các nghiên cứu khoa học được tài trợ.  
Thiết kế của ARPANET độc đáo ở chꢁ là mạng vꢂn có thể hoạt động khi một phần của nó  
bị phá hủy. Nếu một trong những liên kết mạng bị phá hủy do chiến tranh hay thiên tại thì lưu  
thông trên đó có thể được tự động chuyển sang các liên kết khác.  
Vào đầu năm 1980 giao thức TCP/IP được phát triển và nhanh chóng trở thành giao thức  
mạng chuẩn được dùng trên mạng ARPANET. Hệ điều hành được dùng trên mạng lúc này là BSD  
UNIX cũng được tích hợp để sử dụng giao thức TCP/IP. Hệ điều hành này nhanh chóng trở thành  
một công cụ hữu hiệu để phát triển mạng máy tính.  
Với các công nghệ mới này số lượng mạng máy tính đã phát triển nhanh chóng. ARPANET  
thành công vang dội và mọi trường đại học tại Hoa Kꢀ đều muốn gia nhập vào mạng này. Với việc  
mở rộng đối tượng tham gia vào mạng, ARPANET bắt đầu trở nên khó quản lꢃ hơn. Do đó nó đã  
được chia làm hai mạng: MILNET dành cho mục đích quân sự và ARPANET mới, với quy mô  
nhỏ hơn, dành cho các mục đích phi quân sự.  
ARPANET nhanh chóng trở nên quá tải do sự phát triển của số lượng các máy tính kết nối  
vào mạng này cũng như băng thông mà các máy tính này đòi hỏi. Quỹ Khoa học Quốc gia Hoa  
Kꢀ (National Science Foundation - NSF) đã lập nên mạng NSFNET vào năm 1986, một mạng  
riêng và nhanh hơn nhiều của mình. NSF đã thiết lập một chuꢁi các mạng khu vực nhằm liên kết  
những người sử dụng trong từng khu vực với nhau, cũng như kết nối các mạng khu vực này với  
NSFNET. NSFNET đã dần thay thế cho ARPANET và sau này trở thành mạng Internet.  
Internet được thiết kế dựa trên ꢃ tưởng là có thể có nhiều mạng hoàn toàn độc lập với nhau  
kết nối vào nó, các mạng này có thể truyền thông với nhau thông qua phương thức truyền gói dữ  
liệu (packet switching) và qua kiến trúc mạng mở (open-architecture networking). Kiến trúc mạng  
mở nghĩa là các mạng con có thể có giao diện, cấu trúc của riêng nó. Điều này giải thích tại sao  
ngày nay chúng ta có thể kết nối Internet bất kể máy tính của mình đang sử dụng hệ điều hành gì.  
Trang 1  
       
KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN ĐẠI HỌC NHA TRANG  
Khi ngày càng có nhiều người tham gia vào cộng đồng mạng, những nhà phát triển nhận  
thấy sự cần thiết phải có một giao diện thân thiện và dễ sử dụng cho mọi đối tượng người dꢄng.  
Năm 1991, Đại học Minnesota thiết kế Gopher, một hệ thống menu đơn giản để truy cập đến các  
tập tin.  
Sự ra đời của giao thức HTTP và HTML đã đánh dấu một bước ngoặt mới trong việc sử  
dụng Internet. Tim Berners-Lee là người đã phát triển các giao thức nền tảng cho World Wide  
Web (WWW) vào năm 1992. Ông cũng chính là người đã tạo ra ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản  
(HTML: Hypertext Markup Language) – ngôn ngữ để viết nên các trang Web. Từ đây, với dịch  
vụ World Wide Web, Internet đã trở nên thực sự phổ biến và thích hợp với mọi đối tượng người  
dꢄng máy tính.  
Về mặt vật lꢃ, Internet sử dụng một phần của toàn bộ tài nguyên mạng viễn thông hiện có.  
Về mặt kỹ thuật, Internet sử dụng tập giao thức nền tảng gọi là TCP/IP (Transmission Control  
Protocol / Internet Protocol). Với TCP trước đây, khi định nghĩa về Internet, IP không phải là một  
bộ phận trong thiết kế. Trong quá trình phát triển, Danny Cohen ở Đại học Nam California  
(University of Southern California-USC) cho rằng các chức năng hướng kết nối của TCP là không  
cần thiết đối với một số kiểu truyền dữ liệu và chúng tạo ra phí tổn phát sinh. Ông đề nghị tách  
TCP ra để thỏa mãn yêu cầu "đúng giờ hơn là chính xác". Điều cần thiết là tìm cách lấy dữ liệu  
nhanh chóng để chuyển sang hệ thống khác. Như vậy, TCP trở thành TCP và IP.  
Ngày nay Internet là một mạng công cộng kết nối hàng trăm triệu người trên thế giới.  
Internet, cꢄng với những mặt tốt hoặc xấu của nó mà người ta đang sử dụng hoặc phải đối mặt, đã  
trở thành một phần quan trọng của đời sống con người.  
1.3. Địa chỉ IP và tên miền  
1.3.1. Địa chỉ IP  
Ngày nay, mạng Internet được phát triển rộng khắp trên toàn thế giới. Để có thể khai thác  
và sử dụng các dịch vụ và ứng dụng trên mạng Internet chúng ta cần phải xác định được vị trí của  
máy tính cung cấp dịch vụ và ứng dụng.  
Vị trí của các máy tính trên mạng được xác định bởi địa chỉ IP. Địa chỉ IP là một con số 32  
bit để định danh đối tượng nhận và gửi thông tin trên Internet. Nói một cách khác địa chỉ IP dùng  
để xác định một máy tính trong mạng Internet dựa trên giao thức TCP/IP.  
Địa chỉ IP đang được sử dụng hiện tại là thế hệ địa chỉ IPv4 có 32 bit chia thành 4 Octet,  
mꢁi Octet có 8 bit, tương đương với 1 byte được đếm từ trái qua phải từ bit 1 đến bit 32, các Octet  
tách biệt nhau bằng dấu chấm "." và biểu hiện ở dạng thập phân đầy đủ là 12 chữ số.  
Ví dụ: địa chỉ IP 10001100101110100101000100000001 sẽ được kꢃ hiệu thành 140.186.81.1  
Hiện nay một số quốc gia đã đưa vào sử dụng địa chỉ IPv6 nhằm mở rộng không gian địa  
chỉ và sử dụng những ứng dụng và tính năng mới của IPv6, địa chỉ IPv6 gồm 128 bit dài gấp 4 lần  
so với độ dài của địa chỉ IPv4. Nói cách khác chính xác hơn là địa IPv4 có khả nǎng cung cấp 232  
= 4,294,967,296 địa chỉ, còn địa chỉ IPv6 có khả nǎng cung cấp tới 2128 địa chỉ.  
Trang 2  
   
KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN ĐẠI HỌC NHA TRANG  
1.3.2. Tên miền (Domain name)  
Một điều dễ nhận thấy là địa chỉ IP khó nhớ và gây nhiều trở ngại trong việc truy cập đến  
các tài nguyên trên mạng.  
Tim Beners-Lee đã xây dựng hệ thống tên miền (Domain Name System – DNS) để khắc  
phục trở ngại này. Hệ thống DNS được sinh ra để gán cho mꢁi địa chỉ IP dạng số một tên dạng  
chữ tương ứng, dễ nhớ. Các tên dạng chữ này được gọi là tên miền. Các tên miền này thường có  
ꢃ nghĩa liên quan đến các dịch vụ được cung cấp.  
Hệ thống tên miền trên mạng Internet có nhiệm vụ chuyển đổi tên miền sang địa chỉ IP và  
ngược lại từ địa chỉ IP sang tên miền.  
Ví dụ: Địa chỉ IP của tên miền www.google.com là 74.125.31.147  
Hệ thống tên miền được phân bố theo cấu trúc hình cây, tên miền cấp cao nhất là tên miền  
gốc (ROOT) được thể hiện bằng dấu ".".  
Root  
gov  
mil  
com  
cnn  
net  
edu  
Top level domain  
Second level domain  
news  
Sub domain  
products  
contact  
Một số tên miền cấp 1 dꢄng chung phổ biến:  
o COM (commercial): mọi đối tượng, cá nhân, doanh nghiệp.  
o EDU (education): các tổ chức giáo dục.  
o GOV (government): các tổ chức chính phủ.  
o ORG (organization): các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực chính trị, văn hoá, xã hội.  
o NET (network): các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực thiết lập và cung cấp các dịch  
vụ trên mạng.  
o INT (International): các tổ chức quốc tế.  
o MIL (military): các tổ chức quân sự.  
o Tên miền quốc gia (us, vn, uk, …).  
Hệ thống tên miền cấp 1 này không phải là bất biến. Hiện nay ngày càng có thêm nhiều tên  
miền cấp 1 được thông qua và cho phꢅp sử dụng.  
Trang 3  
 
KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN ĐẠI HỌC NHA TRANG  
1.4. Nhà cung cấp dịch vụ Internet  
Để có thể khai thác và sử dụng các dịch vụ Internet, cần có các nhà cung cấp dịch vụ Internet.  
Có thể liệt kê như sau:  
1.4.1. IAP (Internet Access Provider)  
IAP là nhà cung cấp dịch vụ đường truyền để kết nối với Internet (còn gọi là IXP – Internet  
Exchange Provider).  
Nếu hiểu Internet như một siêu xa lộ thông tin thì IAP là nhà cung cấp phương tiện để đưa  
người dùng vào xa lộ. Nói cách khác IAP là kết nối người dùng trực tiếp với Internet. IAP có thể  
thực hiện cả chức năng của ISP nhưng ngược lại thì không. Một IAP thường phục vụ cho nhiều  
ISP khác nhau.  
1.4.2. ISP (Internet Service Provider)  
ISP là nhà cung cấp dịch vụ Internet cấp quyền truy cập Internet qua mạng viễn thông và các  
dịch vụ như: Email, Web, FTP, Telnet, Chat. Để có thể truy nhập và sử dụng các dịch vụ của  
Internet, người sử dụng phải đăng kꢃ với nhà cung cấp dịch vụ này.  
ISP được cấp cổng truy cập vào Internet bởi IAP.  
1.4.3. ICP (Internet Content Provider)  
ICP là nhà cung cấp dịch vụ nội dung thông tin Internet, cung cấp các thông tin về: kinh  
tế, giáo dục, thể thao, chính trị, quân sự,… (thường xuyên cập nhật thông tin mới theo định kꢀ)  
đưa lên mạng.  
Trang 4  
       
KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN ĐẠI HỌC NHA TRANG  
2. World Wide Web  
2.1. Khái niệm  
Word Wide Web (được gọi tắt là Web) - là mạng lưới nguồn thông tin cho phép mọi người  
khai thác thông tin qua một số công cụ hoặc là chương trình hoạt động dưới các giao thức mạng.  
World Wide Web là một trong số các dịch vụ của Internet nhằm giúp cho việc trao đổi thông tin  
trở nên thuận tiện và dễ dàng.  
2.2. Các thành phần của web  
2.2.1. Siêu văn bản (HyperText)  
Siêu văn bản là một loại văn bản thông thường nhưng lại có tham chiếu (hyperlink – liên  
kết) tới các văn bản khác. Người sử dụng có thể truy cập từ tài liệu này đến tài liệu khác thông qua  
các tham chiếu.  
Trang web (webpage) là một siêu văn bản được hiển thị trên màn hình máy tính hoặc thiết  
bị điện tử (ví dụ như điện thoại di đông) bởi phần mềm ứng dụng trình duyệt (web browser).  
Webpage được truy cập trên mạng Internet thông qua địa chỉ gọi là Uniform Resource Locator (URL).  
Website là tập hợp các tài liệu web (webpage, file định dạng CSS, các script, hình ảnh, âm  
thanh…) có liên quan với nhau, được đặt tại ít nhất một máy phục vụ web (web server)  
2.2.2. Ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản (HyperText Markup Language – HTML)  
Là ngôn ngữ đánh dấu cơ bản để tạo ra các trang web. Ngôn ngữ HTML định nghĩa các phần  
tử đánh dấu để mô tả cấu trúc và nội dung của trang web trên trình duyệt cũng như cách thức kết  
nối đến các đối tượng siêu văn bản khác (hình ảnh, âm thanh, …).  
Văn bản HTML là các tập tin có phần mở rộng .html hay .htm. Ta có thể tạo các file HTML  
bằng bất kꢀ bộ xử lꢃ văn bản nào.  
Hiện nay, phiên bản HTML 4.01 là phiên bản chuẩn mới nhất được công nhận. Ngoài ra  
HTML5 là phiên bản đang được phát triển với nhiều tính năng vượt trội so với các phiên bản trước.  
Bên cạnh HTML, XHTML (Extensible HyperText Markup Language – Ngôn ngữ đánh dấu  
siêu văn bản mở rộng) là một ngôn ngữ đánh dấu có cùng các khả năng như HTML, nhưng có cú  
pháp chặt chẽ hơn.  
2.2.3. Giao thức truyền tin siêu văn bản (HyperText Transfer Protocol – HTTP)  
Hypertext Transfer Protocol (HTTP) là 1 giao thức để truyền thông tin trên Internet. Mục  
tiêu ban đầu của giao thức này là cung cấp cách thức để gửi và nhận các trang HTML. Giao thức  
này cung cấp cách thức để xử lý các yêu cầu và kết quả phản hồi giữa máy khách (client) và máy  
chủ (server). Giữa máy khách và máy chủ có thể có nhiều thiết bị trung gian, chẳng hạn như proxy  
và gateway.  
Hypertext Transfer Protocol Secure (HTTPS) là một sự kết hợp giữa giao thức HTTP và  
giao thức bảo mật SSL (Secure Socket Layer) hay TLS (Transport Layer Security). Thông tin  
truyền tải giữa máy khách và máy chủ được mã hóa.cho phꢅp trao đổi thông tin một cách bảo mật  
trên Internet.  
Trang 5  
           
KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN ĐẠI HỌC NHA TRANG  
2.2.4. Trình duyệt (web browser)  
Là một phần mềm để hiển thị các trang web viết bằng HTML cho người dꢄng. Trình duyệt  
là cầu nối liên lạc giữa người dꢄng với máy chủ web. Thông qua trình duyệt, người dꢄng gửi yêu  
cầu đến máy chủ dịch vụ web. Máy chủ dịch vụ web sẽ gửi kết quả trả về trình duyệt để hiển thị  
cho người dꢄng.  
Một số trình duyệt thông dụng hiện nay: Internet Explorer (IE), FireFox, Google Chrome,  
Safari, Opera  
Internet Explorer  
FireFox  
Google Chrome  
Safari  
2.2.5. URL (Uniform Resource Locator)  
URL là địa chỉ tham chiếu đến 1 tài nguyên trên Internet. Tài nguyên có thể là 1 trang web,  
1 hình ảnh, tập tin multimedia,…  
URL có cấu trúc phân cấp giống như folder và file trên máy tính.  
protocol://host_name[:port_num][/path][/file_name][?query]  
protocol: một trong các giao thức trên Internet, ví dụ: http, ftp, …  
host_name: tên máy chủ  
port_num: cổng giao tiếp. Ví dụ: Dịch vụ World Wide Web với giao thức http sử dụng  
cổng 80, nếu là giao thức https thì sử dụng cổng 443.  
path và file_name: đường dꢂn đến tập tin tài nguyên.  
query: giới hạn tài nguyên truy xuất từ tập tin hoặc thao tác trên kết quả (ví dụ như sắp xếp)  
Trang 6  
   
KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN ĐẠI HỌC NHA TRANG  
Ví dụ:  
URL dạng đầy đủ  
http://www.example.com/factory/item.php?product=1234&sort=price&print=1  
URL dạng không đầy đủ  
2.3. Mô hình tương tác Client-Server trong một ứng dụng Web  
2.3.1. Khái niệm ứng dụng web  
Ứng dụng Web là loại ứng dụng Internet cho phép cho phép các máy khách (client) sử dụng  
trình duyệt Web để truy cập và xem thông tin hoặc thực hiện tác vụ cụ thể nào đó được cung cấp  
bởi máy phục vụ (web server).  
Một điểm cần lưu ꢃ là tại một thời điểm nào đó có thể có nhiều người sử dụng cꢄng đồng  
thời truy cập một trang web hoặc cùng thực hiện một tác vụ, như vậy có nghĩa là mọi ứng dụng  
Web đều có khả năng quản lý và phục vụ đa phiên.  
2.3.2. Mô hình client-server  
Trong mô hình tương tác này, một ứng dụng Web có thể được xem gồm 2 phần:  
Client  
Bên phía client, người dùng (user) sử dụng trình duyệt web để gửi yêu cầu (request) đến  
Server bằng cách gõ địa chỉ của trang web cần đến vào thanh địa chỉ của trình duyệt. Kết quả nhận  
được sau đó sẽ được hiển thị trên cửa sổ của trình duyệt  
Server  
Về phía Server, máy phục vụ web khởi chạy một ứng dụng web tương ứng để xử lý yêu cầu  
của người sử dụng, kết quả là ứng dụng web sinh ra một trang HTML trả lại cho trình duyệt, sau  
Trang 7  
     
KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN ĐẠI HỌC NHA TRANG  
đó trình duyệt sẽ hiển thị kết quả cho người dꢄng. Trong mô hình tương tác này, cả hai (Client &  
Server) cùng sử dụng chung một giao thức truyền thông siêu văn bản HTTP.  
Một máy phục vụ thường được cài các phần mềm chuyên dụng và có thể dùng cho một hay  
nhiều mục đích  
o Web server  
o File server  
o Application server  
o Database server  
o Mail server  
…
Chú ý: Phân biệt trang web tĩnh và trang web động  
Trang web tĩnh  
+ Trang web tĩnh tương tác yếu với người dùng, nội dung của trang web không bị  
thay đổi theo thời gian cho đến khi người lập trình thay đổi code của trang web.  
+ Trang web tĩnh thường được viết bằng thuần HTML hoặc XHTML  
Trang web động  
+ Trang web động tương tác mạnh với người dùng, nội dung trang web bị thay đổi  
tùy theo ngữ cảnh người dùng yêu cầu.  
+ Trang web động được xây dựng bằng HTML (XHTML) kết hợp với các ngôn  
ngữ kịch bản dành cho server (ASP, PHP, Java,…)  
+ Trang web động thường có yêu cầu truy xuất dữ liệu từ database.  
2.4. Một số tổ chức quản lý chuẩn và công nghệ web  
Để làm cho Internet trở thành nơi tốt hơn cho cả những người phát triển web và người dùng  
cuối cùng, cả trình duyệt và những nhà thiết kế web cần thiết phải tuân thủ theo các chuẩn web.  
Khi những nhà phát triển tuân theo các chuẩn web, việc phát triển web sẽ được đơn giản hóa. Khi  
đó, người phát triển có thể dễ dàng hiểu những cách viết mã khác. Sử dụng các chuẩn web giúp  
đảm bảo rằng trang web hiển thị chính xác trên các trình duyệt khác nhau, mà không phải thường  
xuyên tốn thời gian viết lại.  
Những trang web tuân theo chuẩn sẽ dễ dàng được các cꢁ máy tìm kiếm truy cập và lập chỉ  
mục hơn, dễ dàng chuyển đổi định dạng hơn, và dễ dàng tiếp cận các mã chương trình (như  
JavaSrcipt)  
Trang 8  
 
KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN ĐẠI HỌC NHA TRANG  
Một số tổ chức quản lý các chuẩn web:  
2.4.1. W3C - The World Wide Web Consortium  
W3C là một tổ chức quốc tế phi chính phủ thiết lập các chuẩn cho World Wide Web. Được  
thành lập năm 1994 bởi nhà sáng lập và lãnh đạo hiện nay Tim Berners-Lee, người sáng tạo ra  
HTTP và HTML.  
Mꢁi chuẩn của W3C đi qua bốn giai đoạn: Phác thảo (Working Draft), Chỉnh sửa cuối cùng  
(Last Call), Chuẩn đủ tư cách ứng cử (Candidate Recommendation), Trình chuẩn (Proposed  
Recommendation) trước khi được gọi là Chuẩn chính thức (Recommendation). Các nhà công  
nghiệp phần mềm được tự quyết định có theo tiêu chuẩn hay không. Thông thường, nhiều trong  
số họ theo các tiêu chuẩn này.  
Việc tuân thủ chuẩn W3C sẽ giúp:  
Trang web thân thiện hơn với các Search Engine  
Trang web được hꢁ trợ tốt trên nhiều trình duyệt, không mất nhiều thời gian để chỉnh sửa  
và tối ưu hóa cho từng trình duyệt.  
Trang web được tải nhanh hơn.  
Các thiết bị hiển thị website di động như điện thoại IPad đều dựa trên chuẩn W3C. Do  
đó, trang web sẽ được hiển thị tốt hơn trên các thiết bị này  
2.4.2. ECMA - European Computer Manufacturers Association  
ECMA thành lập năm 1961, nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu chuẩn hóa ngôn ngữ máy tính  
và các mã đầu vào/đầu ra.  
ECMA không phải là một tổ chức chuẩn hóa chính thức, mà là một hiệp hội các công ty phối  
hợp với các tổ chức chính thức khác như International Organization for Standardization (ISO) và  
the European Telecommunications Standards Institute (ETSI).  
Với các nhà phát triển web, chuẩn quan trong nhất là ECMAScript, một dạng chuẩn hóa của  
JavaScript.  
2.4.3. OASIS – Organization for the Advancement of Structured Information Standards  
OASIS hướng tới sự an toàn các ứng dụng web bằng việc đưa ra các chuẩn về xác thực, trao  
quyền và an toàn dịch vụ web như: Security Assertion Markup Language (SAML), eXtensible  
Access Control Markup Language (XACML), Service Provisioning Markup Language (SPML),  
Web Services Security,…  
Trang 9  
     
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 153 trang yennguyen 22080 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng Thiết kế trang web - Đại học Nha Trang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbai_giang_thiet_ke_trang_web_dai_hoc_nha_trang.pdf