Bài giảng Quản trị ngân hàng thương mại 2 - Bài 4: Quản lý vốn chủ sở hữu

Bài 4: Quản lý vốn chủ sở hữu  
BÀI 4  
QUẢN LÝ VỐN CHỦ SỞ HỮU  
Hướng dẫn học  
Bài này giới thiệu về vốn chủ sở hữu trong ngân hàng thương mại, trong đó có các khoản  
mục cũng như vai trò của từng khoản mục đối với ngân hàng. Sinh viên phải tìm hiểu  
được vốn chủ sở hữu gồm những khoản mục gì và tại sao các cơ quan quản lý ở Việt Nam  
và trên thế giới lại có những yêu cầu khắt khe về vốn chủ sở hữu trong ngành ngân hàng  
nói chung và hệ thống tài chính nói riêng.  
Để học tốt bài này, sinh viên cần tham khảo các phương pháp học sau:  
Học đúng lịch trình của môn học theo tuần, làm các bài luyện tập đầy đủ và tham gia  
thảo luận trên diễn đàn.  
Đọc tài liệu:  
1. Phan Thị Thu Hà (2013), Ngân hàng Thương mại, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế  
Quốc dân, Hà Nội. Chương 14.  
2. Peter S. Rose (2003), Quản trị Ngân hàng Thương mại, Sách dịch. Nhà xuất bản  
Tài chính, Hà Nội.  
Sinh viên làm việc theo nhóm và trao đổi với giảng viên trực tiếp tại lớp học hoặc  
qua email.  
Tham khảo các thông tin từ trang Web môn học.  
Nội dung  
Tiếp tục những nội dung đã được giới thiệu tại môn học Ngân hàng Thương mại 1 (Bài  
Nguồn vốn và Quản lý Nguồn vốn), phần này tiếp tục nghiên cứu sâu nội dung và vai trò  
của vốn chủ sở hữu đối với hoạt động của ngân hàng thương mại, cùng một số vấn đề  
thực tiễn và gợi mở các ý tưởng giúp sinh viên có thể giải quyết được những câu hỏi thực  
tế liên quan đến các khoản mục của vốn chủ sở hữu trong ngân hàng.  
Mục tiêu  
Sau khi học xong bài này, sinh viên cần thực hiện được các việc sau:  
Trình bày được nội dung và vai trò của các khoản mục của vốn chủ sở hữu;  
Các cách thức để đảm bảo hiệu quả hoạt động của vốn chủ sở hữu;  
Phân tích những tác động của các chính sách vĩ mô đến ngân hàng thông qua các  
khoản mục của vốn chủ sở hữu.  
58  
TXNHTM04_Bai4_v1.0015103227  
Bài 4: Quản lý vốn chủ sở hữu  
Tìn h h u ốn g d ẫ n n h ậ p  
Áp lực tăng vốn điều lệ của các NHTM Việt Nam  
“Để nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng cũng như cân nhắc trước tình hình  
kinh tế còn khó khăn, đến nay Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã 3 lần yêu cầu điều chỉnh tăng  
vốn điều lệ đối với các ngân hàng thương mại (NHTM) và dự kiến trong năm 2015 quy mô vốn  
điều lệ tối đa là 10.000 tỷ đồng. Chính vì thế, trong những năm qua, các NHTM đã chủ động lên  
kế hoạch tăng dần quy mô vốn điều lệ trong từng năm để tránh áp lực lớn nếu như quy định này  
được NHNN áp dụng thực hiện bắt buộc. Riêng trong mùa đại hội cổ đông năm 2014, nhiều  
NHTM đã trình phương án tăng vốn điều lệ trong đó OCB, NamABank, SaigonBank trình kế  
hoạch tăng vốn lên 4.000 tỷ đồng, BaoVietBank muốn tăng vốn từ 3.000 tỷ lên 5.200 tỷ đồng,  
DongA Bank đề ra mục tiêu tăng vốn từ 5.000 tỷ lên 6.000 tỷ đồng, VPBank muốn tăng vốn lên  
7.325 tỷ đồng, SHB thông qua việc nâng vốn điều lệ lên 11.082 tỷ đồng… Trong số các ngân  
hàng trên, 6 NHTM là NamABank, VietBank, BaoVietBank, PGBank, KienLongBank,  
Vietcapital Bank đáp ứng được yêu cầu có quy mô vốn tối thiểu 3.000 tỷ đồng. Do đó nếu phải  
tăng vốn điều lệ lên 10.000 tỷ đồng sẽ là một sức ép không nhỏ với các ngân hàng. Nhiều  
NHTM mặc dù đã có kế hoạch tái cơ cấu lại ngân hàng nhưng vẫn bị “hụt hơi” với mục tiêu tăng  
vốn. Theo đó, năm 2013, NamABank đã có tờ trình với NHNN tăng vốn điều lệ lên 3.700 tỷ  
đồng nhưng sau đó rút lại. Lãnh đạo NamABank cho biết, việc tăng vốn là phù hợp với quá trình  
tái cơ cấu của ngân hàng… Tuy nhiên, mặc dù kế hoạch tăng vốn được đề ra trong quý III/2014,  
sau đó lùi sang quý IV/2014 nhưng đến nay vẫn chưa thực hiện được.”1  
1. Tại sao NHNN lại yêu cầu các NHTM tăng vốn điều lệ (là khoản mục chính  
trong vốn chủ sở hữu)?  
2. Tại sao các NHTM lại chậm trễ trong việc tăng mức vốn điều lệ?  
1 Nguồn trích dẫn: (Không rõ tác giả) (2015).Thanh lọc Ngân hàng từ tăng vốn. Link trích dẫn trực tiếp  
truy cập lần cuối vào ngày 10/1/2015 tại http://laisuat.vn/tin-tuc/-%E2%80%9CThanh-  
loc%E2%80%9D-ngan-hang-tu-tang-von-9865.aspx  
TXNHTM04_Bai4_v1.0015103227  
59  
Bài 4: Quản lý vốn chủ sở hữu  
4.1.  
Vai trò của vốn chủ sở hữu trong hoạt động của ngân hàng thương mại  
Tạo lập tư cách pháp nhân và duy trì hoạt động của ngân hàng  
4.1.1.  
Để hoạt động, điều kiện đầu tiên là ngân hàng phải có  
được số vốn chủ sở hữu tối thiểu ban đầu (vốn pháp  
định). Số vốn này, trước hết để mua sắm (hoặc thuê)  
trang thiết bị, nhà cửa cần thiết cho quá trình kinh  
doanh. Để cạnh tranh tốt, các ngân hàng phải không  
ngừng đổi mới công nghệ ngân hàng, nâng cao năng  
suất lao động và an toàn cho ngân hàng. Vốn chủ sở  
hữu được sử dụng để nhập công nghệ mới, xây thêm chi nhánh hoặc quầy giao dịch,  
mở văn phòng đại diện… Bên cạnh đó, một số quốc gia yêu cầu một số vốn điều lệ  
nhất định (khoản mục chính của vốn chủ sở hữu) để được phép mở chi nhánh tại một  
số địa bàn nhất định.  
4.1.2.  
Nguồn tài trợ cho các hoạt động  
Bên cạnh mua các tài sản cố định, vốn chủ sở hữu có thể được sử dụng để tài trợ cho  
các khoản cho vay và đầu tư.  
Việc thành lập công ty con, hoặc tham gia góp vốn để đa dạng hoạt động đòi hỏi phải  
có vốn chủ sở hữu. Việc mua cổ phiếu của doanh nghiệp khác (ngân hàng trở thành cổ  
đông) phải sử dụng vốn chủ sở hữu. Trong trường hợp khó huy động được nợ dài hạn,  
ngân hàng sử dụng vốn chủ sở hữu trong cho vay dài hạn. Như vậy, phần lớn các hoạt  
động có rủi ro cao đều được tài trợ bằng vốn chủ sở hữu.  
4.1.3.  
Bảo vệ lợi ích của người gửi tiền  
Đây là vai trò chủ yếu của vốn chủ sở hữu, chứng tỏ với công chúng và các cơ quan  
quản lý ngân hàng về khả năng của ngân hàng trong việc bù đắp các tổn thất trong  
kinh doanh, tức là khả năng thanh toán cuối cùng của ngân hàng đối với các khoản nợ.  
Khi một khoản cho vay hay đầu tư không có khả năng thu hồi, ngân hàng bù đắp bằng  
quĩ dự phòng. Nếu tổn thất rất lớn vượt giá trị dự phòng, sẽ được bù đắp bằng vốn chủ  
sở hữu. Trong trường hợp ngân hàng phá sản hoặc ngừng hoạt động, các khoản tiền  
gửi sẽ được hoàn trả trước, sau đó đến nghĩa vụ với chính phủ và người lao động, các  
khoản vay, cuối cùng mới đến phần các chủ sở hữu. Như vậy, nếu qui mô vốn chủ sở  
hữu lớn, người gửi tiền và người cho vay sẽ cảm thấy an tâm hơn về ngân hàng (với  
các điều kiện khác là như nhau). Khi cơ quan bảo hiểm tiền gửi được thành lập, vốn  
chủ sở hữu giảm bớt rủi ro cho cơ quan bảo hiểm. 2  
2Vì VCSH thường chiếm tỷ trọng nhỏ so với các khoản nợ, nên nhiều nhà nghiên cứu ngân hàng cho  
rằng nó không có khả năng bảo vệ người gửi tiền. Tài sản đảm bảo chính cho các khoản nợ của ngân  
hàng là chất lượng các khoản cho vay và chứng khoán chứ không phải là VCSH. Khi một ngân hàng  
hoặc cả hệ thống lâm vào khủng hoảng, VCSH trở nên ít có ý nghĩa trong việc cứu vớt các khoản tiền  
gửi. Bằng chứng là khi ngân hàng bị phá sản, hàng triệu người gửi tiền đã bị mất trắng trong các cuộc  
khủng hoảng kinh tế. Khi bảo hiểm tiền gửi hình thành, VCSH đã mất vai trò bảo vệ người gửi tiền.  
60  
TXNHTM04_Bai4_v1.0015103227  
Bài 4: Quản lý vốn chủ sở hữu  
Vốn chủ sở hữu đóng vai trò là một lá chắn về tài chính để giảm xác suất ngân hàng  
rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán, dẫn tới phá sản và hậu quả là những người  
gửi tiền và các chủ nợ của ngân hàng có thể mất tiền. Vì vậy vốn chủ sở hữu còn có  
giá trị quan trọng về mặt tâm lý. Nếu những người gửi tiền và vay tiền tin tưởng rằng  
một ngân hàng có đủ vốn để vượt qua những khó khăn nhất định, họ sẽ không đồng  
loạt rút tiền gửi và người vay tiền có xu hướng thực hiện nghĩa vụ của mình tốt hơn.  
4.1.4.  
Điều chỉnh các hoạt động của ngân hàng  
Với vai trò hạn chế rủi ro cho người gửi tiền, rất nhiều hoạt động của ngân hàng được  
qui định liên quan chặt chẽ với vốn chủ sở hữu. Ví dụ: qui mô huy động tiền gửi được  
tính theo tỷ lệ với vốn tự có, qui mô cho vay tối đa đối với một hoặc một nhóm khách  
hàng dựa trên một tỷ lệ nhất định so với vốn tự có, quyền đầu tư vào chứng khoán của  
công ty, số lượng chi nhánh, giá trị tài sản cố định, danh mục tài sản rủi ro…  
4.2.  
Các bộ phận cấu thành vốn chủ sở hữu  
Với vai trò như trên, vốn chủ sở hữu – qui mô và các bộ phận cấu thành – được xác  
định trên 2 quan điểm khác nhau, quan điểm của chủ ngân hàng và quan điểm của  
ngân hàng trung ương.  
4.2.1.  
Trên quan điểm của chủ ngân hàng  
Vốn chủ sở hữu – thuộc sở hữu của các cổ đông ngân hàng trên bản cân đối kế toán  
chính là phân chênh lệch giữa nợ và tài sản.  
Vốn chủ sở hữu = Tổng tài sản – Tổng nợ  
Trong giai đoạn đầu của lịch sử ngân hàng, các ngân hàng đều là ngân hàng tư nhân,  
với số vốn ban đầu thuộc sở hữu cá nhân. Để phân biệt với các khoản tiền của người  
khác mà ngân hàng đang nắm giữ (các khoản nợ), chủ ngân hàng gọi vốn của mình là  
vốn tự có. Vốn chủ sở hữu chỉ chiếm một phần nhỏ so với các khoản nợ, do ngân hàng  
huy động nợ để cho vay là chủ yếu.  
Tùy theo chế độ kế toán hiện hành mà vốn chủ sở hữu có thể có một số khoản mục  
khác nhau, song nhìn chung vốn chủ sở hữu bao gồm các bộ phận chính sau:  
Thứ nhất, cổ phiếu thường, thặng dư vốn và thu nhập giữ lại  
Các khoản mục vốn của ngân hàng bao gồm cổ phiếu thường, thặng dư vốn và thu  
nhập giữ lại. Đối với ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước/hoặc ngân hàng liên doanh  
vốn chủ sở hữu do nhà nước cấp, hoặc do các bên góp vốn.  
Giá trị ghi sổ của  
cổ phiếu thường  
Số lượng cổ  
Mệnh giá của một  
cổ phiếu thường  
=
phiếu thường  
Có thể nói rằng cổ phiếu thường, thặng dư vốn và lợi nhuận giữ lại hình thành nên  
phần lớn giá trị của vốn chủ sở hữu.  
Đối với các ngân hàng cổ phần, lợi nhuận sau thuế sau khi bù đắp các khoản chi phí  
đặc biệt, phần không chia được tính vào bổ sung vốn chủ sở hữu dưới tên gọi “lợi  
TXNHTM04_Bai4_v1.0015103227  
61  
Bài 4: Quản lý vốn chủ sở hữu  
nhận tích luỹ lại”. Các ngân hàng hoạt động lâu năm, lợi nhuận tích luỹ có thể rất lớn.3  
Đối với ngân hàng thuộc sở hữu Nhà nước, lợi nhuận sau thuế sau khi trừ thua lỗ (năm  
trước) và các chi phí đặc biệt, được trích bổ sung vốn chủ sở hữu theo qui định của  
Nhà nước.4 Nhiều ngân hàng trong điều lệ hoạt động của mình đều qui định mức Vốn  
điều lệ và thường xuyên bổ sung vào số vốn ban đầu bằng trích lợi nhuận để đạt được  
mức vốn điều lệ. Theo pháp luật quy định, vốn điều lệ là số vốn do các thành viên, cổ  
đông góp hoặc cam kết góp trong một thời hạn nhất định và được ghi vào điều lệ của  
ngân hàng.  
Trong quá trình hoạt động, có thể thị giá cổ phiếu của ngân hàng lớn hơn mệnh giá.  
Khi ngân hàng phát hành cổ phiếu mới, phần chênh lệch giữa thị giá và mệnh giá cổ  
phiếu được ghi lại dưới tên gọi thặng dư của vốn (capital surplus).5 Do giá trị các tài  
sản của ngân hàng thường xuyên thay đổi theo giá thị trường, đặc biệt là các chứng  
khoán, và bất động sản, mặc dù chưa bán, ngân hàng thường xuyên đánh giá lại các tài  
sản theo giá thị trường. Những thay đổi giữa giá thị trường và giá mua của các tài sản  
tại thời điểm đánh giá cũng được đưa vào thặng dư của vốn.  
Thứ hai, cổ phiếu ưu đãi  
Cổ phiếu ưu đãi là một dạng thức không phổ biến của  
vốn chủ sở hữu. Người sở hữu cổ phiếu ưu đãi có  
quyền nhận cổ tức xác định trước. Cổ phiếu ưu đãi có  
thể được tích lũy, đồng nghĩa với việc nếu cổ tức chưa  
được chia, thì nó sẽ được cộng dồn và phải được thanh  
toán trước khi cổ đông sở hữu cổ phiếu thường nhận  
được cổ tức. Cổ phiếu ưu đãi có thể được chuyển đổi  
hoặc không được chuyển đổi sang cổ phiếu thường.  
Lợi ích chủ yếu của việc huy động vốn bằng cổ phiếu ưu đãi đó là nó không có kỳ hạn  
và người nắm giữ nó không có quyền bỏ phiếu. Tuy nhiên, cổ tức của cổ phiếu ưu đãi  
không được khấu trừ thuế thu nhập, do đó chi phí huy động vốn bằng cách phát hành  
cổ phiếu ưu đãi là rất cao. Hơn nữa, phần lớn các nhà đầu tư nhận thấy cổ phiếu ưu đãi  
không có tính hấp dẫn bởi vì cơ hội tăng giá là hạn chế.  
Thứ ba, các quỹ  
Vốn ngân hàng cũng bao gồm các quỹ dự phòng và các quỹ dự trữ vốn khác được trích  
lập từ lợi nhuận không chia. Quỹ dự trữ vốn khác bao gồm quỹ dành cho cán bộ công  
nhân viên lúc nghỉ hưu. Những khoản mục này không được khấu trừ thuế thu nhập.  
3Vốn cổ phần thường của Ngân hàng công nghiệp Nhật Bản là 3.520.857 nghìn đôla Mỹ trong khi đó  
lợi nhuận tích luỹ lại là 3.155.610 nghìn đô la Mỹ (Báo cáo thường niên của ngân hàng công nghiệp  
Nhật bản, 31 tháng 3 năm 1998); vốn cổ phần của Deutsche Bank là 2.501 triệu DM, còn lợi nhuận tích  
luỹ là 14.088 triệu DM (báo cáo thường niên của ngân hàng, số liệu 31 tháng 12 năm 1996).  
4Vốn điều lệ của ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam tăng từ 8.405 tỷ VND năm 2007 lên 9.969  
tỷ VND năm 2008, 13.977 tỷ VND năm 2009 (báo cáo thường niên của ngân hàng Đầu tư và Phát triển  
Việt Nam - số liệu tính đến 31 tháng 12 hàng năm), phần này chủ yếu là vốn bổ sung.  
5Thặng dư vốn của ngân hàng công nghiệp Nhật Bản là 2.737.564 nghìn đôla Mỹ, trong tổng số gần 10 tỷ  
đôla mỹ tổng VCSH Mỹ (Báo cáo thường niên của ngân hàng công nghiệp Nhật bản, 31 tháng 3 năm 1998).  
62  
TXNHTM04_Bai4_v1.0015103227  
Bài 4: Quản lý vốn chủ sở hữu  
Để bảo toàn giá trị vốn chủ sở hữu, ngân hàng có thể trích lập quĩ bảo toàn vốn tính  
theo tỷ lệ lạm phát.  
Các ngân hàng đều trích lập các khoản dự trữ nhằm bù đắp tổn thất (nếu có) – quĩ dự  
phòng tổn thất. Nếu tổn thất thực của ngân hàng nhỏ hơn số trích lập, vốn chủ sở hữu  
sẽ gia tăng và ngược lại.6 Một số ngân hàng không hạch toán quĩ này vào vốn chủ sở  
hữu mà vào các khoản nợ do nguồn gốc của quĩ là trích từ thu nhập trước thuế như  
một khoản chi phí, và khi cần sẽ được chi ra để bù đắp tổn thất.7 Như vậy độ lớn của  
quĩ phụ thuộc vào tổn thất ròng, thu nhập của ngân hàng, và tỷ lệ trích lập quĩ.  
Một số ngân hàng còn thực hiện nhiều hoạt động cho vay đặc biệt khác. Các hoạt  
động này thường theo chỉ định của chính phủ (tín dụng chỉ định). Những ngân hàng  
này có thể được chính phủ cấp cho một khoản vốn đặc biệt dưới hình thức quĩ cho  
vay. Quĩ này, ngân hàng không phải trả lại cho chính phủ (do vậy không xếp vào các  
khoản nợ), song cũng không được "tuỳ ý" sử dụng. Đối với ngân hàng thuộc sở hữu  
Nhà nước, quĩ này cũng có tính chất tương tự như vốn Nhà nước cấp nên được hạch  
toán vào vốn chủ sở hữu.8  
Bảng 4.1. Vốn chủ sở hữu của ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu ACB  
(Đơn vị tính: triệu đồng)  
Vốn và các quỹ  
12.553.412  
9.376.965  
1.089.346  
(13.484)  
11.198.736  
9.376.965  
1.035.089  
–
Vốn điều lệ  
Các quỹ dự trữ  
Chênh lệnh tỷ giá hối đoái  
Lợi nhuận chưa phân phối  
2.100.585  
786.682  
(Nguồn: Báo cáo thường niên của ACB)  
Bảng thuyết minh chi tiết của khoản mục trên  
Vốn và các quỹ  
30/9/2011  
31/12/2010  
Cổ phiếu  
Số lượng cổ phiếu đăng ký phát hàng  
Số lượng cổ phiếu đã bán ra công chúng  
+ Cổ phiếu phổ thông  
937.696.506 937.696.506  
937.696.506 937.696.506  
+ Cổ phiếu ưu đãi  
–
–
Số lượng cổ phiếu được mua lại  
6Các quĩ dự phòng của Deutsche Bank là 12.201 triệu DM trong khi vốn cổ phần chỉ là 2.501 triệu DM  
(báo cáo thường niên của ngân hàng, số liệu 31 tháng 12 năm 1996).  
7Ngân hàng công nghiệp Nhật bản hạch toán quĩ dự phòng rủi ro vào các khoản nợ (như chi phí trích  
trước).  
8Vốn điều lệ của ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt nam là 10.499 tỷ VND, các quĩ khác là 3.922 tỷ  
VND (gồm quĩ tăng vốn, quĩ khen thưởng, phúc lợi.., lợi nhuận đã và chưa phân phối), và quĩ đầu tư  
phát triển 1.916 tỷ VND (báo cáo thường niên của ngân hàng Đầu tư và Phát triển -số liệu tính đến 31  
tháng 12 năm 2009).  
TXNHTM04_Bai4_v1.0015103227  
63  
Bài 4: Quản lý vốn chủ sở hữu  
+ Cổ phiếu phổ thông  
+ Cổ phiếu ưu đãi  
–
–
–
–
Số lượng cổ phiếu đang lưu hành  
+ Cổ phiếu phổ thông  
937.696.506 937.696.506  
–
+ Cổ phiếu ưu đãi  
–
Mệnh giá cổ phiếu đang lưu hành là 10.000 đồng  
Tình hình thay đổi Vốn và các quỹ  
(Đơn vị tính: triệu đồng)  
Lợi nhuận  
sau thuế  
chưa phân  
phối  
Chênh lệch  
tỷ giá hối  
đoái  
Quỹ dự  
phòng tài  
chính  
Quỹ dự trữ  
bổ sung  
vốn điều lệ  
Vốn điều lệ  
Quỹ khác  
Tổng  
Số dư  
đầu năm  
9.376.965  
–
972.300  
115.067  
(52.276)  
131.132  
(76.875)  
1.979  
786.682  
2.101.422  
(787.519)  
2.100.585  
11.198.736  
2.232.554  
(877.878)  
12.553.412  
Tăng  
trong kỳ  
–
–
–
–
–
–
–
Giảm  
trong kỳ  
(13.484)  
(13.484)  
Số dư  
9.376.965  
972.300  
115.067  
cuối quý  
Bảng 4.2. Bảng cân đối kế toán hợp nhất của ngân hàng Tokyo Mitsubishi  
(Shareholders’ equity – net)  
(Đơn vị tính: triệu yên)  
TT Khoản mục  
X
X+1  
663.870  
464.876  
5544  
1.  
2.  
3.  
Cổ phần ưu đãi loại 1  
122.100  
663.870  
Cổ phần thường  
Thặng dư vốn  
3.1. Quỹ đầu năm  
470.414  
121647  
3.2. Giá phát hành cổ phần ưu đãi vượt mệnh giá  
3.3. Thặng dư được khi trái phiểu chuyển đổi chuyển  
thành cổ phần  
3.4. Lãi (lỗ) do bán trái phiếu chính phủ  
3.5. Quỹ cuối năm  
(1)  
(6)  
592.060  
470.414  
4.  
Thu nhập giữ lại  
4.1. Quỹ đầu năm  
958.997  
7.974  
1.772.397  
7.967  
4.2. Thu tăng trong năm  
4.3. Lãi (lỗ) trong năm  
(344.423)  
(47.716)  
(773.737)  
(47.637)  
5.  
Chia cổ tức  
64  
TXNHTM04_Bai4_v1.0015103227  
Bài 4: Quản lý vốn chủ sở hữu  
6.  
Tổng 1 + 2 +3 + 4 + 5  
1.952.862  
2.093.274  
7.  
Các khoản thay đổi từ tài sản và nợ (không phải  
từ vốn chủ sở hữu) ảnh hưởng tới vốn chủ sở hữu  
688.896  
650.409  
7.1. Khoản tăng (giảm) do giá thị trường thay đổi đối  
với chứng khoán sẵn sàng bán  
905.337  
953.645  
7.2. Điều chỉnh nghĩa vụ trợ cấp tối thiểu  
7.3. Điều chỉnh do chuyển đổi tỷ giá  
(41.772)  
(67.227)  
(174.669)  
(135.009)  
8.  
Tổng 6 + 7  
4.2.2.  
Vốn ngân hàng trên quan điểm của ngân hàng trung ương9  
4.2.2.1. Quan điểm an toàn của ngân hàng trung ương  
Là cơ quan chịu trách nhiệm về sự an toàn của các  
ngân hàng, ngân hàng trung ương quan tâm tới vốn  
chủ sở hữu trên quan điểm đảm bảo lợi ích của người  
gửi tiền thông qua đảm bảo an toàn cho các hoạt động  
của ngân hàng. Các bộ phận vốn ngân hàng dùng để  
đảm bảo cho các tổn thất, được ngân hàng trung ương  
xem xét. Hiện nay, phần lớn các ngân hàng đều áp dụng chuẩn mực của Basel khi qui  
định nội dung này.  
Câu hỏi đặt ra là, nếu ngân hàng thương mại tuyên bố phá sản, hoặc chấm dứt hoạt  
động, giá trị tài sản của ngân hàng nếu bán để trả nợ nói chung và trả cho các khoản  
tiền gửi, nghĩa vụ đối với nhà nước nói riêng sẽ có thể bị giảm giá trị như thế nào?  
Nếu vốn chủ sở hữu càng lớn khả năng đảm bảo bù đắp sụt giảm giá trị tài sản càng  
cao, ngược lại các khoản cho vay và đầu tư chứng khoán rủi ro càng cao, càng cần  
lượng vốn chủ sở hữu lớn.  
Trong các khoản mục vốn chủ sở hữu, một số khoản mục – ví dụ một số quĩ – chỉ tồn  
tại trong khoảng một năm, hoặc dùng đảm bảo an toàn tại đơn vị ngân hàng khác… sẽ  
không đảm bảo yêu cầu an toàn trên.  
Các khoản nợ của ngân hàng có thứ tự ưu tiên trả nợ khác nhau. Bảo hiểm tiền gửi chỉ  
có nghĩa vụ chi trả cho các khoản tiền gửi. Các khoản nợ dài hạn – trái phiếu dài hạn  
(thời gian đáo hạn còn dài) hoặc trái phiếu chuyển đổi có nghĩa vụ trả nợ sau so với  
tiền gửi. Do vậy, các ngân hàng có qui mô nợ trái phiếu dài hạn cao so với tiền gửi,  
khi phá sản, áp lực trả nợ ngay thấp hơn các ngân hàng có qui mô tiền gửi cao.  
Theo quan điểm của ngân hàng nhà nước Việt Nam (Thể hiện thông qua  
TT36/2014/TT-NHNN) thì vốn tự có bằng vốn cấp 1 cộng vốn cấp 2 trừ các khoản  
giảm trừ.  
9Có nhiều cách phân loại/thuật ngữ chỉ vốn ngân hàng như vốn chủ sở hữu, vốn cổ phần thường, vốn  
nợ, vốn vay… Ở đây tác giả sử dụng vốn ngân hàng để chỉ một loại vốn theo cách tính của ngân hàng  
trung ương. Cụm từ vốn ngân hàng này không phải là vốn chủ sở hữu.  
TXNHTM04_Bai4_v1.0015103227  
65  
Bài 4: Quản lý vốn chủ sở hữu  
4.2.2.2. Vốn cấp 1  
Với quan điểm trên, ngân hàng trung ương chia vốn ngân hàng thành hai loại: vốn cấp  
1 và vốn cấp 2.  
Vốn cấp 1 bao gồm các khoản mục vốn chủ sở hữu cổ phiếu thường, thặng dư vốn và  
thu nhập giữ lại. Đối với ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước/hoặc ngân hàng liên doanh  
vốn chủ sở hữu do nhà nước cấp, hoặc do các bên góp vốn.  
Ngoài việc chỉ lấy phần lớn vốn chủ sở hữu làm vốn cấp 1, ngân hàng trung ương yêu  
cầu loại trừ khỏi vốn cấp 1 các khoản mục không đảm bảo mục tiêu mà ngân hàng  
trung ương đặt ra đối với vốn ngân hàng như khoản lỗ kinh doanh, bao gồm các khoản  
lỗ lũy kế, các khoản góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng khác, các khoản góp  
vốn, mua cổ phần của công ty con.  
4.2.2.3. Vốn cấp 2  
Ngân hàng trung ương coi cổ phần ưu đãi có thời hạn, % tăng giá chứng khoán và tài  
sản cố định của ngân hàng, trái phiếu có khả năng chuyển đổi, giấy nợ dài hạn… thuộc  
vốn cấp 2, tham gia vai trò đảm bảo an toàn cho người gửi tiền. Phần lớn các khoản mục  
trên có lãi suất cố định và thứ tự ưu tiên thanh toán đứng sau những người gửi tiền và  
các chủ nợ khác. Thứ nhất, thứ tự ưu tiên thanh toán là “thứ cấp”, vốn cấp 2 trực tiếp  
làm tăng khả năng của ngân hàng trong việc trang trải các khoản tổn thất. Vốn cấp 2  
cũng có một số lợi thế so với vốn chủ sở hữu. Thứ nhất, chi phí lãi suất là khoản khấu  
trừ thuế thu nhập trong khi cổ tức không được phép tính vào chi phí. Thứ hai, vốn cấp 2  
không gây ra hiện tượng loãng thu nhập trên một cổ phiếu trong ngắn hạn.  
Mặc dù chúng mang tính chất của một khoản nợ (phải hoàn trả) song tài sản do nguồn  
này hình thành vẫn được ưu tiên dùng để trả cho người gửi tiền. Các khoản mục được  
tính vào vốn cấp 2 thường bị ngân hàng trung ương giới hạn và kiểm soát chặt chẽ.10  
4.3.  
Quản lý vốn chủ sở hữu  
4.3.1.  
Khái niệm  
Quản lí vốn chủ sở hữu thực chất là xác định qui mô và  
cấu trúc vốn chủ sở hữu sao cho phù hợp với yêu cầu  
kinh doanh, đồng thời tìm kiếm các biện pháp tăng vốn  
chủ sở hữu một cách có hiệu quả trên quan điểm lợi ích  
của cổ đông.  
Ngân hàng cần có bao nhiêu vốn để đảm bảo an toàn cho  
người gửi tiền là câu hỏi mà các cơ quan quản lý và điều tiết ngân hàng luôn phải trả lời.  
Để bảo vệ những người gửi tiền và xây dựng một hệ thống ngân hàng ổn định, các cơ  
quan quản lý ngân hàng đã thiết lập những đòi hỏi về vốn để đảm bảo mức độ an toàn  
đối với các ngân hàng.  
10Edward W. Reed và Edward K. Gill.Ngân hàng thương mại. Sách dịch. NXB thành phố Hồ Chí  
Minh, năm 1993, trang 227  
66  
TXNHTM04_Bai4_v1.0015103227  
Bài 4: Quản lý vốn chủ sở hữu  
Yêu cầu của ngân hàng trung ương về mức đủ vốn như một chỉ dẫn quan trọng cho  
công chúng biết về uy tín của ngân hàng. Do vậy nhà quản lý ngân hàng phải coi quản  
lý vốn ngân hàng như một bộ phận không thể tách rời của quản lý vốn chủ sở hữu.  
Quản lý vốn chủ sở hữu nhằm đáp ứng yêu cầu:  
Trước hết là người gửi tiền. Vốn ngân hàng càng lớn, càng tạo cho người gửi tâm  
lí an toàn. Họ hi vọng rằng, khi bỏ ra một số tiền lớn, những người chủ sở hữu quan  
trọng của ngân hàng sẽ phải cố gắng hết sức để kinh doanh an toàn.  
Thứ hai là các nhà chức trách tiền tệ và các công ty bảo hiểm ngân hàng: Các vụ phá  
sản ngân hàng (đang ngày gia tăng) thường gây ra những hoảng loạn lớn trong dân  
chúng và các tổn thất khó lường hết được. Vốn của chủ ngân hàng được sử dụng để  
trả nợ cho người gửi tiền, giảm bớt khó khăn cho ngân sách, hoặc tổn thất của người  
gửi tiền.  
Thứ ba là các cổ đông. Vốn ngân hàng tăng có thể làm giảm lợi tức cổ phần, hoặc  
quyền lực của các cổ đông lớn. Do vậy các cổ đông mong muốn tỷ lệ vốn ngân hàng  
phù hợp sao cho quyền lợi của cổ đông được đảm bảo.  
4.3.2.  
Đảm bảo an toàn theo quy định của ngân hàng trung ương  
Ngân hàng phải đối đầu với nhiều rủi ro như rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, giá chứng  
khoán giảm… Trước hết, các nhà quản trị không ngừng tìm kiếm các phương cách để  
đo rủi ro, nhằm xác định chi phí trích trước dự phòng cho tổn thất xảy ra (trích dự  
phòng rủi ro). Nguyên tắc quản trị là tổn thất phải được dự tính trước và được bù đắp  
bằng dự phòng nhằm tránh biến động về vốn chủ sở hữu và lợi nhuận sau thuế.  
Tuy nhiên, nhiều tổn thất ngân hàng không thể dự tính được, hoặc dự tính thiếu chính  
xác, ví dụ khủng hoảng xảy ra. Trong trường hợp này, vốn chủ sở hữu sẽ là tấm đệm  
để bù đắp tổn thất, bảo vệ người gửi tiền.  
4.3.2.1. Xác định vốn chủ sở hữu trong quan hệ với tiền gửi  
Nhiều quan điểm cho rằng tỷ lệ vốn chủ sở hữu/tiền gửi càng cao, ngân hàng càng an  
toàn. Do qui mô tiền gửi phản ánh trách nhiệm chi trả bất kì lúc nào của ngân hàng,  
nên nếu tiền gửi càng lớn, yêu cầu chi trả càng cao khi ngân hàng bị phá sản. Các cơ  
quan quản lí ngân hàng ở nhiều nước đã qui địmh tỷ lệ vốn chủ sở hữu/tiền gửi tối đa,  
và coi đó như là một tiêu thức xác định an toàn trong thanh toán. Cách xác định này  
đơn giản, dễ áp dụng và kiểm soát. Tỷ lệ vốn chủ sở hữu/tiền gửi thường nhỏ hơn 1  
nhiều.11 Tuy nhiên, các vụ phá sản ngân hàng đã chứng minh rằng, qui mô vốn chủ sở  
hữu nhỏ ít liên quan đến các thua lỗ trong kinh doanh. Và ngay các ngân hàng có tỷ lệ  
này cao cũng không có khả năng thanh toán các khoản nợ của người gửi tiền khi lâm  
vào tình trạng phá sản. Khi cơ quan bảo hiểm tiền gửi đi vào hoạt động, người gửi tiền  
càng ít quan tâm tới vốn chủ sở hữu so với mức lãi suất và tính thuận tiện trong các dịch  
vụ mà ngân hàng cung cấp. Độ an toàn của các ngân hàng được quyết định bởi tính an  
toàn của danh mục tài sản, trong đó chủ yếu là tín dụng và đầu tư vào chứng khoán.  
11 Nhiều nước qui định tỷ lệ vốn chủ sở hữu/tiền gửi có thể là 1/13, 1/20, 1/80. Ngân hàng Nhà nước  
Việt nam đã từng qui định tỷ lệ này là 1/20 đối với các ngân hàng thương mại.  
TXNHTM04_Bai4_v1.0015103227  
67  
Bài 4: Quản lý vốn chủ sở hữu  
4.3.2.2. Xác định vốn chủ sở hữu trong quan hệ với tổng tài sản rủi ro  
Tổn thất do khủng hoảng thanh khoản – người gửi rút tiền hàng loạt – do các nguyên  
nhân vĩ mô, thường vượt quá sức chịu đựng của vốn chủ sở hữu của mỗi ngân hàng.  
Trong trường hợp như vậy, ngân hàng phải nhờ đến sự “cứu giúp” của ngân hàng  
trung ương, chính phủ, thậm chí các cơ quan tiền tệ quốc tế. Tổn thất đến với ngân  
hàng chủ yếu từ tài sản rủi ro: các khoản cho vay không thu hồi được, chứng khoán bị  
giảm giá… Các tổn thất này làm giảm qui mô tổng tài sản và trực tiếp làm giảm vốn  
chủ sở hữu. Do vậy, một số cơ quan quản lí ngân hàng tìm kiếm mối liên hệ giữa vốn  
chủ sở hữu và các tài sản rủi ro.  
Chỉ tiêu thứ nhất:  
Vốn chủ sở hữu  
Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản =  
Tổng tài sản  
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ phần trăm giảm trong tổng tài sản có thể được bù đắp  
bởi vốn chủ sở hữu, bởi vì toàn bộ các tài sản đều có một khả năng tổn thất nhất định  
và bất cứ tổn thất hay sụt giảm nào về giá trị đều dẫn đến giảm khoản mục dự phòng  
hay vốn chủ sở hữu.  
Chỉ tiêu thứ hai:  
Vốn chủ sở hữu  
Chứng  
Tỷ lệ vốn  
chủ sở hữu  
trên tài sản  
rủi ro  
=
Chứng khoán được  
Tổng tài sản – Tiền – khoán chính – phát hành bởi các cơ  
phủ quan thuộc chính phủ  
Do ngân quĩ và trái phiếu chính phủ có rủi ro gần bằng không, tỷ lệ trên cho thấy khả  
năng bù đắp tổn thất bằng vốn chủ sở hữu cho các khoản cho vay và đầu tư rủi ro (cổ  
phiếu, trái phiếu công ty).  
Chỉ tiêu thứ ba:  
Vốn cấp 1 + Vốn cấp 2 – Các khoản giảm trừ  
Tỷ lệ an toàn vốn  
(CAR)  
=
Tổng tài sản nội và ngoại bảng điều chỉnh qua hệ số rủi ro  
Theo yêu cầu của Basel, CAR ≥ 8% (hoặc 9% theo Basel 3). Theo chỉ tiêu này, tài sản  
của ngân hàng được phân loại theo mức độ rủi ro (khả năng tổn thất) dựa trên kinh  
nghiệm nhiều năm, có tính đến các nhân tố mới. Thông qua các hệ số chuyển đổi tính  
cho từng loại tài sản rủi ro, các ngân hàng tính được tổng tài sản đã chuyển đổi. Sau  
đó, một tỷ lệ giữa tổng tài sản rủi ro đã chuyển đổi và vốn ngân hàng sẽ được các nhà  
chức trách tiền tệ tìm kiếm sao cho thoả mãn nhu cầu an toàn.  
Quan niệm về tài sản chuyển đổi rủi ro được mở rộng sang tài sản ngoại bảng khi thị  
trường phái sinh phát triển, đồng thời không chỉ vốn chủ sở hữu mà cả nợ – vốn cấp 2  
– cũng được coi là có khả năng đảm bảo an toàn. CAR đang được các nhà quản lý  
ngân hàng thay đổi các bộ phận cấu thành cũng như giới hạn nhằm đáp ứng yêu cầu  
đảm bảo an toàn trong môi trường kinh doanh ngân hàng có nhiều thay đổi.  
68  
TXNHTM04_Bai4_v1.0015103227  
Bài 4: Quản lý vốn chủ sở hữu  
Ví dụ: Một ngân hàng có qui mô và cấu trúc tài sản như sau (số bình quân)  
Tỷ lệ chuyển  
đổi (%)  
Qui mô tài  
sản có rủi ro  
Phân loại các tài sản nội bảng  
Qui mô tài sản  
1. Tiền mặt và tiền gửi tại ngân  
hàng Nhà nước  
100  
0
0
2. Cho vay có đảm bảo  
3. Cho vay không có đảm bảo  
Tổng tài sản nội bảng  
400  
300  
800  
50  
200  
300  
500  
100  
Các nhà chức trách tiền tệ xây dựng tỷ lệ chuyển đổi đối với các loại tài sản khác  
nhau. Qui mô tài sản rủi ro được tính bằng cách nhân qui mô tài sản (số dư) với tỷ lệ  
chuyển đổi (theo ví dụ là 500). Sau đó, các nhà chức trách tiền tệ qui định tỷ lệ hợp lí  
giữa vốn ngân hàng và vốn chủ sở hữu với qui mô tài sản rủi ro (tiêu chuẩn dựa trên  
rủi ro: Risk – based Capital Standars).  
Nếu yêu cầu Vốn chủ sở hữu/Tài sản có rủi ro là 5% thì Vốn chủ sở hữu cần thiết tối  
thiểu là 25.  
Nếu yêu cầu Vốn ngân hàng/Tài sản có rủi ro là 8% thì Vốn ngân hàng (cấp 1 + cấp 2  
– các khoản giảm trừ) tối thiểu là 40.  
Đây là chỉ tiêu xác định vốn cần thiết dựa trên căn cứ mức độ rủi ro của tài sản nội và  
ngoại bảng. Vốn chủ sở hữu được tính toán trong mối liên hệ với mức độ rủi ro của  
các loại tài sản. Một ngân hàng có thể tăng qui mô tài sản (bằng cách tăng các khoản  
nợ) mà không cần tăng vốn chủ sở hữu nếu thay đổi cấu trúc danh mục đầu tư. Với qui  
mô đầu tư như nhau, song ngân hàng nào có nhiều tài sản chuyển đổi theo hệ số rủi ro  
hơn sẽ cần có vốn hoặc vốn chủ sở hữu) nhiều hơn.  
Vốn chủ sở hữu được tính toán trong mối liên hệ với mức vốn cần thiết. Mặc dù được  
sử dụng vốn cấp 2, song quy mô không vượt quá vốn cấp 1.  
Lấy tài sản “cho vay” các doanh nghiệp làm ví dụ. Với nghiên cứu trên nhiều ngân  
hàng, trong khoảng thời gian dài, các nhà nghiên cứu nhận thấy, trung bình cứ 100  
đơn vị cho vay trên bản cân đối, sẽ chỉ thu về được tối thiểu 92 đơn vị khi ngân hàng  
bị phá sản12. Như vậy ngân hàng bị mất 8 đơn vị. Để đảm bảo an toàn cho người gửi  
tiền khi ngân hàng phá sản, chủ ngân hàng tối thiểu phải có 8 đơn vị vốn tức là tỷ lệ  
an toàn phải là 8/100. Các tài sản khác cũng được tính tương tự, ví dụ trái phiếu chính  
phủ, tỷ lệ tổn thất là 0,5%, cổ phiếu là 16%… tức là mỗi loại tài sản sẽ có tỷ lệ an toàn  
vốn tối thiểu khác nhau, phản ảnh ước tính tổn thất khác nhau và yêu cầu vốn ngân  
hàng khác nhau cho cùng 100 đơn vị. Để có tỷ lệ CAR chung cho cả danh mục tài sản  
nội và ngoại bảng, ngân hàng đã chọn CAR = 8% của danh mục “cho vay doanh  
nghiệp”, tức là danh mục này có tỷ lệ chuyển đổi rủi ro bằng 1, các loại tài sản khác  
có tỷ lệ chuyển đổi bằng cách chia tỷ lệ tổn thất của nó cho 8%.  
Ví dụ  
12 100 đơn vị này là số dư ròng (net loan). Dư hiện tại là 106, dự phòng tổn thất là 6 đơn vị, dư ròng =  
106 – 6 = 100. Như vậy, tài sản cho vay có tấm đệm chống rủi ro là dự phòng tổn thất (trích trước trong  
chi phí)  
TXNHTM04_Bai4_v1.0015103227  
69  
Bài 4: Quản lý vốn chủ sở hữu  
Mức vốn tối  
thiểu đảm  
bảo an toàn  
Mức và Tỷ  
Qui mô tài  
Tỷ lệ  
chuyển đổi  
Phân loại các tài sản nội bảng  
lệ tổn thất  
CAR  
8%  
sản (đơn vị)  
trên tài sản  
(đơn vị)  
1. Tiền mặt và tiền gửi tại  
NHNN  
100  
0 (0%)  
0
0
2. Cho vay có đảm bảo  
3. Cho vay không có đảm bảo  
4. Cổ phiếu công ty  
100  
100  
100  
4 (4%)  
8 (8%)  
4
8
50%  
100%  
200%  
8%  
8%  
8%  
16 (16%)  
16  
Như vậy, nếu ngân hàng đầu tư vào cổ phiếu công ty 100 đơn vị, ngân hàng phải có  
vốn 16 đơn vị, gấp đôi số vốn cần thiết đối với cho vay doanh nghiệp không có đảm  
bảo. Tuy nhiên vì CAR là 8% chung cho 2 danh mục này, nên hệ số chuyển đổi của cổ  
phiếu là 2. Việc tính tài sản có rủi ro (tài sản chuyển đổi qua hệ số rủi ro) của cổ phiếu  
= 100 2 = 200 đơn vị chỉ có ý nghĩa là cổ phiếu cần gấp đôi vốn ngân hàng so với  
danh mục có hệ số là 1.  
Bảng 4.3. Vốn chủ sở hữu và vốn đảm bảo an toàn của VCB giai đoạn 2006 – 2009  
(Đơn vị tính: tỷ đồng)  
Khoản mục  
2006  
2007  
2008  
2009  
1. Vốn điều lệ  
4.356,7  
332  
4.429,3  
457,4  
12.100,86 12.100,86  
2. Quỹ bổ sung vốn điều lệ  
3. Quỹ dự phòng tài chính  
4. Lợi nhuận để lại  
71,2  
245  
612,38  
256,31  
904,81  
404,35  
164,97  
1.014,46  
517,79  
1.267,12  
A, Vốn chủ sở hữu (1+2+3+4+5) 9.795,39  
12.125,36 13.563,11 14.180,63  
(a) Tổng vốn cấp 1  
(b) Vốn cấp 2  
9.795,39  
1.937  
12.125,36 13.563,11 14.180,63  
991,88  
2.555  
1.022,52  
3.338,08  
1.383,05  
3.394,84  
(c) Các khoản giảm trừ  
3.135,41  
B, Vốn đảm bảo an toàn (a+b – c) 8.596,98  
10.562,24 11.247,55 12.468,84  
(Nguồn: Báo cáo thường niên của VCB các năm 2006, 2007, 2008 và 2009)  
Basel (từ Basel 1, 2 đến 3) đã đưa ra nhiều phương pháp để xác định hệ số chuyển đổi,  
tức là xác định giá trị tổn thất kỳ vọng cho các loại tài sản khác nhau, từ phương pháp  
cơ bản đến nâng cao cho các điều kiện khác nhau (quốc gia, khu vực, các loại hình  
kinh doanh, các sản phẩm). Phương pháp của Basel đã tạo nên chỉ dẫn hữu ích cho  
nhiều ngân hàng trung ương trên thế giới về xác định CAR.  
4.3.2.3. Xác định vốn chủ sở hữu trong mối liên hệ với các nhân tố khác  
Nhiều nhà nghiên cứu ngân hàng cho rằng chỉ tìm mỗi liên hệ giữa vốn chủ sở hữu  
với tài sản rủi ro là chưa đủ, mà cần tìm mỗi liên hệ giữa vốn chủ sở hữu với nhiều  
nhân tố đặc biệt là chất lượng kinh doanh (khả năng tạo lợi nhuận) của ngân hàng. Các  
nhân tố bao gồm: 13  
Chất lượng quản lí;  
Thanh khoản của tài sản;  
13Edward W. Reed và Edward K. Gill. Sách đã dẫn, trang 252 -254.  
70  
TXNHTM04_Bai4_v1.0015103227  
Bài 4: Quản lý vốn chủ sở hữu  
Lợi nhuận các năm trước, và tỷ lệ lợi nhuận giữ lại;  
Chất lượng và đặc điểm quyền sở hữu;  
Khả năng thay đổi kết cấu tiền gửi và khả năng vay mượn;  
Chất lượng các nghiệp vụ;  
Khả năng bù đắp các chi phí.  
Theo phương pháp này, mỗi ngân hàng cần có mức vốn chủ sở hữu khác nhau, thậm  
chí một ngân hàng cũng có thể có yêu cầu vốn chủ sở hữu khác nhau trong từng  
trường hợp cụ thể. Những ngân hàng hoạt động yếu kém, ngân hàng nhỏ, hoặc trong  
giai đoạn khủng hoảng cần phải có mức vốn chủ sở hữu lớn hơn để bảo đảm an toàn.  
Rủi ro hoạt động, thanh khoản, tỷ giá… được nghiên cứu nhằm xác định mức tổn thất  
dự kiến để trích dự phòng và xác định mức tổn thất ngoài dự kiến để xác định mức  
vốn ngân hàng cần thiết.  
4.3.2.4. Kiểm soát vốn ngân hàng theo yêu cầu của ngân hàng trung ương  
Nhiều cơ quan quản lý theo dõi tỷ lệ CAR và vốn pháp định. Khi ngân hàng mới  
thành lập, yêu cầu vốn pháp định buộc các ngân hàng phải tuân thủ. Tuy nhiên trong  
quá trình hoạt động, nếu mức vốn pháp định ngân hàng trung ương qui định tăng, có  
thể một số ngân hàng nhỏ không đáp ứng kịp; hoặc ngân hàng kinh doanh thua lỗ làm  
số vốn chủ sở hữu thực có nhỏ hơn vốn pháp định.  
Bảng 4.4. Mức vốn pháp định của tổ chức tín dụng  
(Ban hành kèm theo Nghị định số 141/2006/NĐ-CP)  
Loại tổ chức  
Ngân hàng thương mại Nhà nước  
Ngân hàng thương mại cổ phần  
Ngân hàng liên doanh  
Đến 2008  
Đến 2010  
3000 tỷ VND  
3000 tỷ VND  
1000 tỷ VND  
1000 tỷ VND  
1000 tỷ VND  
15 triệu USD  
5.000 tỷ đồng  
3.000 tỷ đồng  
5.000 tỷ đồng  
1000 – 3000 tỷ VND  
3000 tỷ VND  
Ngân hàng 100% vốn nước ngoài  
Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài  
Ngân hàng chính sách  
3000 tỷ VND  
15 triệu USD  
5.000 tỷ đồng  
3.000 tỷ đồng  
5.000 tỷ đồng  
Ngân hàng đầu tư  
Ngân hàng phát triển  
Ngân hàng hợp tác  
1000 tỷ VND  
1000 tỷ VND  
3000 tỷ VND  
3000 tỷ VND  
Quỹ tín dụng nhân dân trung ương  
Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở  
Công ty tài chính  
0,1 VND  
300 tỷ VND  
100 tỷ VND  
0,1 tỷ VND  
500 tỷ VND  
150 tỷ VND  
Công ty cho thuê tài chính  
TXNHTM04_Bai4_v1.0015103227  
71  
Bài 4: Quản lý vốn chủ sở hữu  
Việc kiểm soát CAR lại càng phức tạp hơn. Do cấu thành bởi rất nhiều chỉ tiêu thường  
xuyên thay đổi, ngân hàng đang từ có CAR ≥ 8% có thể bị tụt xuống dưới mức tối  
thiểu do bị thua lỗ, chuyển dịch cơ cấu tài sản, mức giảm giá chứng khoán lớn… việc  
điều chỉnh để đảm bảo CAR cũng đòi hỏi có thời gian.  
4.3.3.  
Đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu  
4.3.3.1. Quan niệm về hiệu quả vốn chủ sở hữu  
Vốn chủ sở hữu là của các cổ đông. Các nhà đầu tư đều kỳ vọng về mức sinh lời. Mặc  
dù các nhà đầu tư nhỏ và lớn có mức kỳ vọng khác nhau, song họ đều mong muốn  
mức sinh lời trên cổ phần thường (lợi tức cổ phần), hoặc chênh lệch giá ở mức trung  
bình tiên tiến trên thị trường.  
Hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu được đo bằng tỷ lệ thu nhập sau thuế của ngân hàng  
trên vốn chủ sở hữu (ROE) hoặc trên vốn cổ phần thường.  
4.3.3.2. Sử dụng vốn chủ sở hữu  
Phần lớn vốn chủ sở hữu là không sinh lời trực tiếp: chúng được ưu tiên tài trợ cho  
xây dựng nhà cửa, mua sắm trang thiết bị, công nghệ, thành lập công ty mới… cho  
ngân hàng. Một phần khác được đầu tư vào cổ phiếu công ty, hoặc cho vay dài hạn.  
Các hoạt động ngân hàng thường yêu cầu phải xây dựng mới các trụ sở, phương tiện  
làm việc… Đồng thời với nhà cửa là trang thiết bị và công nghệ với các chi phí ban  
đầu thường rất đắt. Các ngân hàng thường xuyên gia tăng vốn chủ sở hữu thông qua  
phát hành thêm cổ phiếu mới, hoặc tự tích luỹ… để mở rộng qui mô hoặc nâng cao  
chất lượng hoạt động. Phân bổ vốn chủ sở hữu cho các hoạt động của ngân hàng nhằm  
tối đa hóa giá trị ngân hàng là nội dung quan trọng trong quản lý vốn chủ sở hữu.  
ROE phản ảnh hiệu quả cuối cùng của hoạt động ngân hàng. Do mức độ rủi ro cao,  
các cổ đông ngân hàng yêu cầu lợi tức đối với khoản đầu tư của họ (ROE), chính là  
chi phí vốn chủ sở hữu tương đối cao so với các hoạt động đầu tư khác. Nhìn chung  
các cổ đông yêu cầu ROE trung bình lớn hơn khoảng gấp rưỡi lãi suất huy động tiết  
kiệm của ngân hàng.  
Từ ROE kỳ vọng, theo phương pháp Doupont, ngân hàng xác định các mức lãi suất  
(huy động và cho vay…), các cơ cấu tài sản và nguồn vốn tối ưu.  
Giả sử một ngân hàng có số liệu sau:  
Nguồn  
vốn  
Tài sản  
Qui mô  
Lãi suất  
Qui mô  
Lãi suất  
Cho vay và đầu tư  
Tài sản khác  
7
3
15%  
0%  
Nợ  
9
1
10%  
15%  
VCSH  
Bỏ qua các yếu tố khác, các khoản cho vay và đầu tư phải đạt lãi suất sinh lời 15% để  
ROE đạt 15%. Nếu lãi suất các khoản cho vay và đầu tư 14%, thì ngân hàng phải tăng  
cho vay và đầu tư lên 7,5. Nếu cơ cấu tài sản không thay đổi được trong khi lãi suất  
cho vay giảm, ngân hàng sẽ phải tăng nợ. Nếu tăng nợ (tăng tài sản) trong khi vốn chủ  
sở hữu không đổi, có nguy cơ tỷ lệ an toàn tối thiểu sẽ giảm, buộc ngân hàng phải  
giảm các tài sản có tỷ lệ sinh lời cao.  
72  
TXNHTM04_Bai4_v1.0015103227  
Bài 4: Quản lý vốn chủ sở hữu  
Ngoài việc phải đảm bảo vốn pháp định, ngân hàng phải tăng vốn chủ sở hữu để đảm  
bảo CAR. Vốn chủ sở hữu được ưu tiên phân bổ cho xây dựng nhà cửa và mua công  
nghệ, đầu tư vào công ty con, góp vốn… vì đây là những hoạt động có khả năng sử  
dụng đòn bẩy lớn.  
Bảng 4.5. Đầu tư góp vốn, liên doanh, liên kết của BIDV  
(Đơn vị: Triệu VND)  
Đầu tư vào  
các công ty  
liên doanh  
Đầu tư vào các  
công ty liên kết  
Chỉ tiêu  
Tổng cộng  
1. Số dư tại ngày 1 tháng 1 năm 2009  
2. Vốn góp tăng trong năm  
1.398.335  
94.931  
244.086  
998  
1.642.421  
95.929  
3. Phần chia sẻ lãi/(lỗ) trong năm của các  
công ty liên doanh, liên kết theo phương  
pháp vốn chủ sở hữu  
127.040  
47.725  
14.119  
–
141.159  
47.725  
4. Chênh lệch tỷ giá do chuyển đổi báo cáo  
tài chính  
5. Trừ: Cổ tức nhận được trong năm  
6. Vốn góp giảm trong năm  
(64.057)  
–
–
–
(64.057)  
–
Tại ngày 31 tháng 12 năm 2009  
1.603.974  
259.203  
1.863.177  
(Nguồn: Báo cáo thường niên của BIDV 2009)  
Ngân hàng có qui mô vốn chủ sở hữu lớn có danh mục đầu tư từ vốn chủ sở hữu rất  
phong phú. Phần lớn các ngân hàng thương mại Việt Nam có qui mô vốn lớn đều  
thành lập công ty con như công ty chứng khoán, công ty mua bán nợ, công ty cho thuê  
tài chính, công ty quản lý quĩ, công ty kinh doanh vàng bạc… và đều mua cổ phiếu  
của ngân hàng, công ty chứng khoán khác. Việc này, một mặt góp phần đa dạng hóa  
hoạt động, đặc biệt các hoạt động mà pháp luật đòi hỏi phải tổ chức công ty độc lập,  
mặt khác cho phép ngân hàng cung cấp dịch vụ tài chính trọn gói.Việc sử dụng vốn  
chủ sở hữu cho các hoạt động này phải chịu rủi ro cao. Nếu công ty con, hoặc công ty  
liên kết làm ăn thua lỗ hoặc sinh lời thấp, việc rút vốn hoặc thay đổi hướng kinh  
doanh thường rất khó khăn.  
4.3.3.3. Các biện pháp gia tăng vốn chủ sở hữu và các nhân tố ảnh hưởng  
Qui mô vốn chủ sở hữu lớn không chỉ liên quan tới hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu,  
mà còn liên quan tới đa dạng hóa hoạt động ngân hàng, hình ảnh và uy tín của ngân  
hàng trên thị trường.  
Phát hành cổ phiếu cho phép ngân hàng mở rộng qui mô vốn chủ sở hữu một cách  
nhanh nhất. Tuy nhiên có nhiều vấn đề mà nhà quản lí phải cân nhắc. Trước hết, sự  
phát triển của thị trường chứng khoán là nhân tố quan trọng quyết định tới phạm vi,  
tốc độ, qui mô và chi phí phát hành chứng khoán của ngân hàng. Sau đó là uy tín của  
ngân hàng: thường các ngân hàng lớn, có uy tín có chi phí phát hành thấp hơn các  
ngân hàng nhỏ. Cuối cùng, việc phát hành chứng khoán phải có sự đồng ý của cổ đông  
bởi vì nó sẽ ảnh hưởng tới quyền bỏ phiếu, quyền kiểm soát, và phân chia lợi nhuận.  
Nếu việc gia tăng vốn chủ sở hữu thông qua phát hành cổ phiếu mới không gắn một  
TXNHTM04_Bai4_v1.0015103227  
73  
Bài 4: Quản lý vốn chủ sở hữu  
cách phù hợp với việc mở rộng qui mô và nâng cao hiệu quả kinh doanh của ngân  
hàng sẽ làm cho thị giá cổ phiếu giảm xuống.  
Tăng vốn chủ sở hữu thông qua tích luỹ là rất cần thiết đối với ngân hàng. Tích luỹ  
không làm thay đổi quyền bỏ phiếu, hơn nữa còn làm tăng thị giá cổ phiếu do thu  
nhập ròng trên cổ phần thường sẽ gia tăng. Qui mô của lợi nhuận tích luỹ được quyết  
định bởi qui mô của lợi nhận sau thuế và chính sách phân phối nó.  
Ví dụ về ảnh hưởng của chi phí đối với biện pháp tăng vốn chủ sở hữu:  
Một ngân hàng có bản cân đối tài sản rút gọn như sau (số dư bình quân, lãi suất bình quân):  
Trường hợp 1  
Số  
tiền  
Lãi  
suất  
Số  
tiền  
Lãi  
suất  
Nguồn vốn  
1. Tiền gửi  
Khoản mục tài sản  
200  
7000  
2000  
6%  
1. Ngân quĩ  
9000  
300  
8%  
7%  
2. Tài sản sinh lời  
3. Tài sản cố định  
2. Vay mượn  
3. Vốn và quĩ:  
4. Vốn cổ phần  
500  
Trường hợp 1  
200  
Tiền gửi  
7000  
2000  
6%  
7%  
1. Ngân quĩ  
9000  
100  
8%  
9%  
2. Tài sản sinh lời  
3. Cho vay dự án  
1. Vay  
2. Vốn và quĩ  
300  
500  
100  
4. Tài sản cố định  
3. Vốn cổ phần  
8%  
4. Trái phiếu chuyển đổi  
Trường hợp 2  
200  
9000  
100  
300  
7000  
2000  
1. Ngân quĩ  
1. Tiền gửi  
2. Vay  
8%  
9%  
2. Tài sản sinh lời  
3. Cho vay dự án (*)  
4. Tài sản cố định  
3. Vốn và quĩ  
4. Vốn cổ phần  
600  
Ngân hàng có Tổng tài sản = Tổng nguồn vốn = 9500; Trong đó nợ 9200, vốn chủ sở  
hữu 300 (Vốn cổ phần 300)  
Thu lãi : 900 8% = 720  
Chi trả lãi = 7000 6% + 2000 7% = 420 + 140 = 560  
Nếu chênh lệch thu chi khác là – 60 và thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 30%  
thì lợi nhuận sau thuế:  
(720 – 560 – 60) (1 – 0,3) = 100 0,7 = 70;  
Thuế phải nộp là 30,3  
Tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu (cổ phần):  
ROE = 70/500 = 0,14  
Trường hợp thứ nhất  
Ngân hàng quyết định tăng qui mô hoạt động bằng cách phát hành trái phiếu dài  
hạn có khả năng chuyển đổi thành cổ phần. Quyết định này làm tăng vốn cấp 2.  
74  
TXNHTM04_Bai4_v1.0015103227  
Bài 4: Quản lý vốn chủ sở hữu  
Giả sử ngân hàng tăng 100 trái phiếu dài hạn, để cho vay dự án lãi suất 9%  
Thu lãi = 9000 8% + 100 9% = 729  
Chi trả lãi = 7000 6% + 2000 7% + 100 8% = 568  
Lợi nhuận trước thuế = 729 – 568 – 60 = 101  
Lợi nhuận sau thuế = 101 0,7 = 70,7  
Thuế phải nộp là 30,3  
Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (cổ phần)  
ROE = 70,7/500 = 0,1414  
Trường hợp thứ 2  
Ngân hàng tăng qui mô hoạt động bằng cách phát hành thêm cổ phiếu. Để đơn  
giản cách tính toán, giả sử khoản tăng thêm cũng được sử dụng để cho vay dự án.  
Thu lãi = 9000 8% + 100 9% = 729  
Chi trả lãi = 7000 6% + 2000 7% = 560  
Lợi nhuận trước thuế = 729 – 560 – 60 = 109  
Lợi nhuận sau thuế = 109 0,7 = 76,3  
Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu: ROE = 76,3/600 = 0,127  
Như vậy, trong trường hợp gia tăng vốn chủ sở hữu bằng phát hành cổ phiếu sẽ  
làm tăng lợi nhuận sau thuế lên nhiều nhất, song lại làm tỷ lệ lợi nhuận trên vốn  
chủ sở hữu giảm đi. (Giả sử các yếu tố khác không đổi và tỷ lệ sinh lời của cổ  
phiếu lớn hơn tỷ lệ sinh lời của trái phiếu).  
Ví dụ trên minh hoạ sự thay đổi trong cơ cấu vốn chủ sở hữu sẽ ảnh hưởng tới chi phí,  
doanh lợi và ROE. Việc lựa chọn cơ cấu này vì vậy tác động tới hiệu quả vốn chủ sở  
hữu. Trên thực tế, việc gia tăng vốn chủ sở hữu bằng phát hành thêm cổ phiếu ở ngân  
hàng ngoài việc đáp ứng yêu cầu an toàn của ngân hàng nhà nước, chủ yếu để mở  
rộng qui mô hoạt động đầu tư (hùn vốn, mua cổ phiếu, thành lập công ty con, mua  
sắm tài sản cố định).  
TXNHTM04_Bai4_v1.0015103227  
75  
Bài 4: Quản lý vốn chủ sở hữu  
T
ó m l ư ợ c cu ối b à i  
Quản lý vốn chủ sở hữu nhắm đáp ứng yêu cầu của cổ đông – yêu cầu sinh lời và yêu cầu của  
ngân hàng trung ương – yêu cầu an toàn.  
Xác định các bộ phận cấu thành vốn chủ sở hữu và vốn ngân hàng nhằm đảm bảo an toàn,  
xác định các tỷ lệ an toàn của vốn ngân hàng.  
Xác định tính sinh lời của vốn chủ sở hữu, các biện pháp phân bổ (sử dụng) vốn chủ sở hữu  
cho các hoạt động chính của ngân hàng và các biện pháp gia tăng vốn chủ sở hữu.  
76  
TXNHTM04_Bai4_v1.0015103227  
Bài 4: Quản lý vốn chủ sở hữu  
Câ u h ỏ i ô n t ậ p  
1. Hãy trình bày các khoản mục của vốn chủ sở hữu.  
2. Hãy phân tích vai trò của vốn chủ sở hữu trong hoạt động ngân hàng.  
3. Nêu các tỷ lệ đảm bảo an toàn vốn và ý nghĩa của tỷ lệ đó tới đảm bảo an toàn trong hoạt  
động ngân hàng.  
TXNHTM04_Bai4_v1.0015103227  
77  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 33 trang yennguyen 12100 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng Quản trị ngân hàng thương mại 2 - Bài 4: Quản lý vốn chủ sở hữu", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbai_giang_quan_tri_ngan_hang_thuong_mai_2_bai_4_quan_ly_von.pdf