Bài giảng Quản trị ngân hàng thương mại 2 - Bài 4: Quản lý vốn chủ sở hữu
Bài 4: Quản lý vốn chủ sở hữu
BÀI 4
QUẢN LÝ VỐN CHỦ SỞ HỮU
Hướng dẫn học
Bài này giới thiệu về vốn chủ sở hữu trong ngân hàng thương mại, trong đó có các khoản
mục cũng như vai trò của từng khoản mục đối với ngân hàng. Sinh viên phải tìm hiểu
được vốn chủ sở hữu gồm những khoản mục gì và tại sao các cơ quan quản lý ở Việt Nam
và trên thế giới lại có những yêu cầu khắt khe về vốn chủ sở hữu trong ngành ngân hàng
nói chung và hệ thống tài chính nói riêng.
Để học tốt bài này, sinh viên cần tham khảo các phương pháp học sau:
Học đúng lịch trình của môn học theo tuần, làm các bài luyện tập đầy đủ và tham gia
thảo luận trên diễn đàn.
Đọc tài liệu:
1. Phan Thị Thu Hà (2013), Ngân hàng Thương mại, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế
Quốc dân, Hà Nội. Chương 14.
2. Peter S. Rose (2003), Quản trị Ngân hàng Thương mại, Sách dịch. Nhà xuất bản
Tài chính, Hà Nội.
Sinh viên làm việc theo nhóm và trao đổi với giảng viên trực tiếp tại lớp học hoặc
qua email.
Tham khảo các thông tin từ trang Web môn học.
Nội dung
Tiếp tục những nội dung đã được giới thiệu tại môn học Ngân hàng Thương mại 1 (Bài
Nguồn vốn và Quản lý Nguồn vốn), phần này tiếp tục nghiên cứu sâu nội dung và vai trò
của vốn chủ sở hữu đối với hoạt động của ngân hàng thương mại, cùng một số vấn đề
thực tiễn và gợi mở các ý tưởng giúp sinh viên có thể giải quyết được những câu hỏi thực
tế liên quan đến các khoản mục của vốn chủ sở hữu trong ngân hàng.
Mục tiêu
Sau khi học xong bài này, sinh viên cần thực hiện được các việc sau:
Trình bày được nội dung và vai trò của các khoản mục của vốn chủ sở hữu;
Các cách thức để đảm bảo hiệu quả hoạt động của vốn chủ sở hữu;
Phân tích những tác động của các chính sách vĩ mô đến ngân hàng thông qua các
khoản mục của vốn chủ sở hữu.
58
TXNHTM04_Bai4_v1.0015103227
Bài 4: Quản lý vốn chủ sở hữu
Tìn h h u ốn g d ẫ n n h ậ p
Áp lực tăng vốn điều lệ của các NHTM Việt Nam
“Để nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng cũng như cân nhắc trước tình hình
kinh tế còn khó khăn, đến nay Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã 3 lần yêu cầu điều chỉnh tăng
vốn điều lệ đối với các ngân hàng thương mại (NHTM) và dự kiến trong năm 2015 quy mô vốn
điều lệ tối đa là 10.000 tỷ đồng. Chính vì thế, trong những năm qua, các NHTM đã chủ động lên
kế hoạch tăng dần quy mô vốn điều lệ trong từng năm để tránh áp lực lớn nếu như quy định này
được NHNN áp dụng thực hiện bắt buộc. Riêng trong mùa đại hội cổ đông năm 2014, nhiều
NHTM đã trình phương án tăng vốn điều lệ trong đó OCB, NamABank, SaigonBank trình kế
hoạch tăng vốn lên 4.000 tỷ đồng, BaoVietBank muốn tăng vốn từ 3.000 tỷ lên 5.200 tỷ đồng,
DongA Bank đề ra mục tiêu tăng vốn từ 5.000 tỷ lên 6.000 tỷ đồng, VPBank muốn tăng vốn lên
7.325 tỷ đồng, SHB thông qua việc nâng vốn điều lệ lên 11.082 tỷ đồng… Trong số các ngân
hàng trên, 6 NHTM là NamABank, VietBank, BaoVietBank, PGBank, KienLongBank,
Vietcapital Bank đáp ứng được yêu cầu có quy mô vốn tối thiểu 3.000 tỷ đồng. Do đó nếu phải
tăng vốn điều lệ lên 10.000 tỷ đồng sẽ là một sức ép không nhỏ với các ngân hàng. Nhiều
NHTM mặc dù đã có kế hoạch tái cơ cấu lại ngân hàng nhưng vẫn bị “hụt hơi” với mục tiêu tăng
vốn. Theo đó, năm 2013, NamABank đã có tờ trình với NHNN tăng vốn điều lệ lên 3.700 tỷ
đồng nhưng sau đó rút lại. Lãnh đạo NamABank cho biết, việc tăng vốn là phù hợp với quá trình
tái cơ cấu của ngân hàng… Tuy nhiên, mặc dù kế hoạch tăng vốn được đề ra trong quý III/2014,
sau đó lùi sang quý IV/2014 nhưng đến nay vẫn chưa thực hiện được.”1
1. Tại sao NHNN lại yêu cầu các NHTM tăng vốn điều lệ (là khoản mục chính
trong vốn chủ sở hữu)?
2. Tại sao các NHTM lại chậm trễ trong việc tăng mức vốn điều lệ?
1 Nguồn trích dẫn: (Không rõ tác giả) (2015).Thanh lọc Ngân hàng từ tăng vốn. Link trích dẫn trực tiếp
truy cập lần cuối vào ngày 10/1/2015 tại http://laisuat.vn/tin-tuc/-%E2%80%9CThanh-
loc%E2%80%9D-ngan-hang-tu-tang-von-9865.aspx
TXNHTM04_Bai4_v1.0015103227
59
Bài 4: Quản lý vốn chủ sở hữu
4.1.
Vai trò của vốn chủ sở hữu trong hoạt động của ngân hàng thương mại
Tạo lập tư cách pháp nhân và duy trì hoạt động của ngân hàng
4.1.1.
Để hoạt động, điều kiện đầu tiên là ngân hàng phải có
được số vốn chủ sở hữu tối thiểu ban đầu (vốn pháp
định). Số vốn này, trước hết để mua sắm (hoặc thuê)
trang thiết bị, nhà cửa cần thiết cho quá trình kinh
doanh. Để cạnh tranh tốt, các ngân hàng phải không
ngừng đổi mới công nghệ ngân hàng, nâng cao năng
suất lao động và an toàn cho ngân hàng. Vốn chủ sở
hữu được sử dụng để nhập công nghệ mới, xây thêm chi nhánh hoặc quầy giao dịch,
mở văn phòng đại diện… Bên cạnh đó, một số quốc gia yêu cầu một số vốn điều lệ
nhất định (khoản mục chính của vốn chủ sở hữu) để được phép mở chi nhánh tại một
số địa bàn nhất định.
4.1.2.
Nguồn tài trợ cho các hoạt động
Bên cạnh mua các tài sản cố định, vốn chủ sở hữu có thể được sử dụng để tài trợ cho
các khoản cho vay và đầu tư.
Việc thành lập công ty con, hoặc tham gia góp vốn để đa dạng hoạt động đòi hỏi phải
có vốn chủ sở hữu. Việc mua cổ phiếu của doanh nghiệp khác (ngân hàng trở thành cổ
đông) phải sử dụng vốn chủ sở hữu. Trong trường hợp khó huy động được nợ dài hạn,
ngân hàng sử dụng vốn chủ sở hữu trong cho vay dài hạn. Như vậy, phần lớn các hoạt
động có rủi ro cao đều được tài trợ bằng vốn chủ sở hữu.
4.1.3.
Bảo vệ lợi ích của người gửi tiền
Đây là vai trò chủ yếu của vốn chủ sở hữu, chứng tỏ với công chúng và các cơ quan
quản lý ngân hàng về khả năng của ngân hàng trong việc bù đắp các tổn thất trong
kinh doanh, tức là khả năng thanh toán cuối cùng của ngân hàng đối với các khoản nợ.
Khi một khoản cho vay hay đầu tư không có khả năng thu hồi, ngân hàng bù đắp bằng
quĩ dự phòng. Nếu tổn thất rất lớn vượt giá trị dự phòng, sẽ được bù đắp bằng vốn chủ
sở hữu. Trong trường hợp ngân hàng phá sản hoặc ngừng hoạt động, các khoản tiền
gửi sẽ được hoàn trả trước, sau đó đến nghĩa vụ với chính phủ và người lao động, các
khoản vay, cuối cùng mới đến phần các chủ sở hữu. Như vậy, nếu qui mô vốn chủ sở
hữu lớn, người gửi tiền và người cho vay sẽ cảm thấy an tâm hơn về ngân hàng (với
các điều kiện khác là như nhau). Khi cơ quan bảo hiểm tiền gửi được thành lập, vốn
chủ sở hữu giảm bớt rủi ro cho cơ quan bảo hiểm. 2
2Vì VCSH thường chiếm tỷ trọng nhỏ so với các khoản nợ, nên nhiều nhà nghiên cứu ngân hàng cho
rằng nó không có khả năng bảo vệ người gửi tiền. Tài sản đảm bảo chính cho các khoản nợ của ngân
hàng là chất lượng các khoản cho vay và chứng khoán chứ không phải là VCSH. Khi một ngân hàng
hoặc cả hệ thống lâm vào khủng hoảng, VCSH trở nên ít có ý nghĩa trong việc cứu vớt các khoản tiền
gửi. Bằng chứng là khi ngân hàng bị phá sản, hàng triệu người gửi tiền đã bị mất trắng trong các cuộc
khủng hoảng kinh tế. Khi bảo hiểm tiền gửi hình thành, VCSH đã mất vai trò bảo vệ người gửi tiền.
60
TXNHTM04_Bai4_v1.0015103227
Bài 4: Quản lý vốn chủ sở hữu
Vốn chủ sở hữu đóng vai trò là một lá chắn về tài chính để giảm xác suất ngân hàng
rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán, dẫn tới phá sản và hậu quả là những người
gửi tiền và các chủ nợ của ngân hàng có thể mất tiền. Vì vậy vốn chủ sở hữu còn có
giá trị quan trọng về mặt tâm lý. Nếu những người gửi tiền và vay tiền tin tưởng rằng
một ngân hàng có đủ vốn để vượt qua những khó khăn nhất định, họ sẽ không đồng
loạt rút tiền gửi và người vay tiền có xu hướng thực hiện nghĩa vụ của mình tốt hơn.
4.1.4.
Điều chỉnh các hoạt động của ngân hàng
Với vai trò hạn chế rủi ro cho người gửi tiền, rất nhiều hoạt động của ngân hàng được
qui định liên quan chặt chẽ với vốn chủ sở hữu. Ví dụ: qui mô huy động tiền gửi được
tính theo tỷ lệ với vốn tự có, qui mô cho vay tối đa đối với một hoặc một nhóm khách
hàng dựa trên một tỷ lệ nhất định so với vốn tự có, quyền đầu tư vào chứng khoán của
công ty, số lượng chi nhánh, giá trị tài sản cố định, danh mục tài sản rủi ro…
4.2.
Các bộ phận cấu thành vốn chủ sở hữu
Với vai trò như trên, vốn chủ sở hữu – qui mô và các bộ phận cấu thành – được xác
định trên 2 quan điểm khác nhau, quan điểm của chủ ngân hàng và quan điểm của
ngân hàng trung ương.
4.2.1.
Trên quan điểm của chủ ngân hàng
Vốn chủ sở hữu – thuộc sở hữu của các cổ đông ngân hàng trên bản cân đối kế toán
chính là phân chênh lệch giữa nợ và tài sản.
Vốn chủ sở hữu = Tổng tài sản – Tổng nợ
Trong giai đoạn đầu của lịch sử ngân hàng, các ngân hàng đều là ngân hàng tư nhân,
với số vốn ban đầu thuộc sở hữu cá nhân. Để phân biệt với các khoản tiền của người
khác mà ngân hàng đang nắm giữ (các khoản nợ), chủ ngân hàng gọi vốn của mình là
vốn tự có. Vốn chủ sở hữu chỉ chiếm một phần nhỏ so với các khoản nợ, do ngân hàng
huy động nợ để cho vay là chủ yếu.
Tùy theo chế độ kế toán hiện hành mà vốn chủ sở hữu có thể có một số khoản mục
khác nhau, song nhìn chung vốn chủ sở hữu bao gồm các bộ phận chính sau:
Thứ nhất, cổ phiếu thường, thặng dư vốn và thu nhập giữ lại
Các khoản mục vốn của ngân hàng bao gồm cổ phiếu thường, thặng dư vốn và thu
nhập giữ lại. Đối với ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước/hoặc ngân hàng liên doanh
vốn chủ sở hữu do nhà nước cấp, hoặc do các bên góp vốn.
Giá trị ghi sổ của
cổ phiếu thường
Số lượng cổ
Mệnh giá của một
cổ phiếu thường
=
phiếu thường
Có thể nói rằng cổ phiếu thường, thặng dư vốn và lợi nhuận giữ lại hình thành nên
phần lớn giá trị của vốn chủ sở hữu.
Đối với các ngân hàng cổ phần, lợi nhuận sau thuế sau khi bù đắp các khoản chi phí
đặc biệt, phần không chia được tính vào bổ sung vốn chủ sở hữu dưới tên gọi “lợi
TXNHTM04_Bai4_v1.0015103227
61
Bài 4: Quản lý vốn chủ sở hữu
nhận tích luỹ lại”. Các ngân hàng hoạt động lâu năm, lợi nhuận tích luỹ có thể rất lớn.3
Đối với ngân hàng thuộc sở hữu Nhà nước, lợi nhuận sau thuế sau khi trừ thua lỗ (năm
trước) và các chi phí đặc biệt, được trích bổ sung vốn chủ sở hữu theo qui định của
Nhà nước.4 Nhiều ngân hàng trong điều lệ hoạt động của mình đều qui định mức Vốn
điều lệ và thường xuyên bổ sung vào số vốn ban đầu bằng trích lợi nhuận để đạt được
mức vốn điều lệ. Theo pháp luật quy định, vốn điều lệ là số vốn do các thành viên, cổ
đông góp hoặc cam kết góp trong một thời hạn nhất định và được ghi vào điều lệ của
ngân hàng.
Trong quá trình hoạt động, có thể thị giá cổ phiếu của ngân hàng lớn hơn mệnh giá.
Khi ngân hàng phát hành cổ phiếu mới, phần chênh lệch giữa thị giá và mệnh giá cổ
phiếu được ghi lại dưới tên gọi thặng dư của vốn (capital surplus).5 Do giá trị các tài
sản của ngân hàng thường xuyên thay đổi theo giá thị trường, đặc biệt là các chứng
khoán, và bất động sản, mặc dù chưa bán, ngân hàng thường xuyên đánh giá lại các tài
sản theo giá thị trường. Những thay đổi giữa giá thị trường và giá mua của các tài sản
tại thời điểm đánh giá cũng được đưa vào thặng dư của vốn.
Thứ hai, cổ phiếu ưu đãi
Cổ phiếu ưu đãi là một dạng thức không phổ biến của
vốn chủ sở hữu. Người sở hữu cổ phiếu ưu đãi có
quyền nhận cổ tức xác định trước. Cổ phiếu ưu đãi có
thể được tích lũy, đồng nghĩa với việc nếu cổ tức chưa
được chia, thì nó sẽ được cộng dồn và phải được thanh
toán trước khi cổ đông sở hữu cổ phiếu thường nhận
được cổ tức. Cổ phiếu ưu đãi có thể được chuyển đổi
hoặc không được chuyển đổi sang cổ phiếu thường.
Lợi ích chủ yếu của việc huy động vốn bằng cổ phiếu ưu đãi đó là nó không có kỳ hạn
và người nắm giữ nó không có quyền bỏ phiếu. Tuy nhiên, cổ tức của cổ phiếu ưu đãi
không được khấu trừ thuế thu nhập, do đó chi phí huy động vốn bằng cách phát hành
cổ phiếu ưu đãi là rất cao. Hơn nữa, phần lớn các nhà đầu tư nhận thấy cổ phiếu ưu đãi
không có tính hấp dẫn bởi vì cơ hội tăng giá là hạn chế.
Thứ ba, các quỹ
Vốn ngân hàng cũng bao gồm các quỹ dự phòng và các quỹ dự trữ vốn khác được trích
lập từ lợi nhuận không chia. Quỹ dự trữ vốn khác bao gồm quỹ dành cho cán bộ công
nhân viên lúc nghỉ hưu. Những khoản mục này không được khấu trừ thuế thu nhập.
3Vốn cổ phần thường của Ngân hàng công nghiệp Nhật Bản là 3.520.857 nghìn đôla Mỹ trong khi đó
lợi nhuận tích luỹ lại là 3.155.610 nghìn đô la Mỹ (Báo cáo thường niên của ngân hàng công nghiệp
Nhật bản, 31 tháng 3 năm 1998); vốn cổ phần của Deutsche Bank là 2.501 triệu DM, còn lợi nhuận tích
luỹ là 14.088 triệu DM (báo cáo thường niên của ngân hàng, số liệu 31 tháng 12 năm 1996).
4Vốn điều lệ của ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam tăng từ 8.405 tỷ VND năm 2007 lên 9.969
tỷ VND năm 2008, 13.977 tỷ VND năm 2009 (báo cáo thường niên của ngân hàng Đầu tư và Phát triển
Việt Nam - số liệu tính đến 31 tháng 12 hàng năm), phần này chủ yếu là vốn bổ sung.
5Thặng dư vốn của ngân hàng công nghiệp Nhật Bản là 2.737.564 nghìn đôla Mỹ, trong tổng số gần 10 tỷ
đôla mỹ tổng VCSH Mỹ (Báo cáo thường niên của ngân hàng công nghiệp Nhật bản, 31 tháng 3 năm 1998).
62
TXNHTM04_Bai4_v1.0015103227
Bài 4: Quản lý vốn chủ sở hữu
Để bảo toàn giá trị vốn chủ sở hữu, ngân hàng có thể trích lập quĩ bảo toàn vốn tính
theo tỷ lệ lạm phát.
Các ngân hàng đều trích lập các khoản dự trữ nhằm bù đắp tổn thất (nếu có) – quĩ dự
phòng tổn thất. Nếu tổn thất thực của ngân hàng nhỏ hơn số trích lập, vốn chủ sở hữu
sẽ gia tăng và ngược lại.6 Một số ngân hàng không hạch toán quĩ này vào vốn chủ sở
hữu mà vào các khoản nợ do nguồn gốc của quĩ là trích từ thu nhập trước thuế như
một khoản chi phí, và khi cần sẽ được chi ra để bù đắp tổn thất.7 Như vậy độ lớn của
quĩ phụ thuộc vào tổn thất ròng, thu nhập của ngân hàng, và tỷ lệ trích lập quĩ.
Một số ngân hàng còn thực hiện nhiều hoạt động cho vay đặc biệt khác. Các hoạt
động này thường theo chỉ định của chính phủ (tín dụng chỉ định). Những ngân hàng
này có thể được chính phủ cấp cho một khoản vốn đặc biệt dưới hình thức quĩ cho
vay. Quĩ này, ngân hàng không phải trả lại cho chính phủ (do vậy không xếp vào các
khoản nợ), song cũng không được "tuỳ ý" sử dụng. Đối với ngân hàng thuộc sở hữu
Nhà nước, quĩ này cũng có tính chất tương tự như vốn Nhà nước cấp nên được hạch
toán vào vốn chủ sở hữu.8
Bảng 4.1. Vốn chủ sở hữu của ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu ACB
(Đơn vị tính: triệu đồng)
Vốn và các quỹ
12.553.412
9.376.965
1.089.346
(13.484)
11.198.736
9.376.965
1.035.089
–
Vốn điều lệ
Các quỹ dự trữ
Chênh lệnh tỷ giá hối đoái
Lợi nhuận chưa phân phối
2.100.585
786.682
(Nguồn: Báo cáo thường niên của ACB)
Bảng thuyết minh chi tiết của khoản mục trên
Vốn và các quỹ
30/9/2011
31/12/2010
Cổ phiếu
Số lượng cổ phiếu đăng ký phát hàng
Số lượng cổ phiếu đã bán ra công chúng
+ Cổ phiếu phổ thông
937.696.506 937.696.506
937.696.506 937.696.506
+ Cổ phiếu ưu đãi
–
–
Số lượng cổ phiếu được mua lại
6Các quĩ dự phòng của Deutsche Bank là 12.201 triệu DM trong khi vốn cổ phần chỉ là 2.501 triệu DM
(báo cáo thường niên của ngân hàng, số liệu 31 tháng 12 năm 1996).
7Ngân hàng công nghiệp Nhật bản hạch toán quĩ dự phòng rủi ro vào các khoản nợ (như chi phí trích
trước).
8Vốn điều lệ của ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt nam là 10.499 tỷ VND, các quĩ khác là 3.922 tỷ
VND (gồm quĩ tăng vốn, quĩ khen thưởng, phúc lợi.., lợi nhuận đã và chưa phân phối), và quĩ đầu tư
phát triển 1.916 tỷ VND (báo cáo thường niên của ngân hàng Đầu tư và Phát triển -số liệu tính đến 31
tháng 12 năm 2009).
TXNHTM04_Bai4_v1.0015103227
63
Bài 4: Quản lý vốn chủ sở hữu
+ Cổ phiếu phổ thông
+ Cổ phiếu ưu đãi
–
–
–
–
Số lượng cổ phiếu đang lưu hành
+ Cổ phiếu phổ thông
937.696.506 937.696.506
–
+ Cổ phiếu ưu đãi
–
Mệnh giá cổ phiếu đang lưu hành là 10.000 đồng
Tình hình thay đổi Vốn và các quỹ
(Đơn vị tính: triệu đồng)
Lợi nhuận
sau thuế
chưa phân
phối
Chênh lệch
tỷ giá hối
đoái
Quỹ dự
phòng tài
chính
Quỹ dự trữ
bổ sung
vốn điều lệ
Vốn điều lệ
Quỹ khác
Tổng
Số dư
đầu năm
9.376.965
–
972.300
115.067
(52.276)
131.132
(76.875)
1.979
786.682
2.101.422
(787.519)
2.100.585
11.198.736
2.232.554
(877.878)
12.553.412
Tăng
trong kỳ
–
–
–
–
–
–
–
Giảm
trong kỳ
(13.484)
(13.484)
Số dư
9.376.965
972.300
115.067
cuối quý
Bảng 4.2. Bảng cân đối kế toán hợp nhất của ngân hàng Tokyo Mitsubishi
(Shareholders’ equity – net)
(Đơn vị tính: triệu yên)
TT Khoản mục
X
X+1
663.870
464.876
5544
1.
2.
3.
Cổ phần ưu đãi loại 1
122.100
663.870
Cổ phần thường
Thặng dư vốn
3.1. Quỹ đầu năm
470.414
121647
3.2. Giá phát hành cổ phần ưu đãi vượt mệnh giá
3.3. Thặng dư được khi trái phiểu chuyển đổi chuyển
thành cổ phần
3.4. Lãi (lỗ) do bán trái phiếu chính phủ
3.5. Quỹ cuối năm
(1)
(6)
592.060
470.414
4.
Thu nhập giữ lại
4.1. Quỹ đầu năm
958.997
7.974
1.772.397
7.967
4.2. Thu tăng trong năm
4.3. Lãi (lỗ) trong năm
(344.423)
(47.716)
(773.737)
(47.637)
5.
Chia cổ tức
64
TXNHTM04_Bai4_v1.0015103227
Bài 4: Quản lý vốn chủ sở hữu
6.
Tổng 1 + 2 +3 + 4 + 5
1.952.862
2.093.274
7.
Các khoản thay đổi từ tài sản và nợ (không phải
từ vốn chủ sở hữu) ảnh hưởng tới vốn chủ sở hữu
688.896
650.409
7.1. Khoản tăng (giảm) do giá thị trường thay đổi đối
với chứng khoán sẵn sàng bán
905.337
953.645
7.2. Điều chỉnh nghĩa vụ trợ cấp tối thiểu
7.3. Điều chỉnh do chuyển đổi tỷ giá
(41.772)
(67.227)
(174.669)
(135.009)
8.
Tổng 6 + 7
4.2.2.
Vốn ngân hàng trên quan điểm của ngân hàng trung ương9
4.2.2.1. Quan điểm an toàn của ngân hàng trung ương
Là cơ quan chịu trách nhiệm về sự an toàn của các
ngân hàng, ngân hàng trung ương quan tâm tới vốn
chủ sở hữu trên quan điểm đảm bảo lợi ích của người
gửi tiền thông qua đảm bảo an toàn cho các hoạt động
của ngân hàng. Các bộ phận vốn ngân hàng dùng để
đảm bảo cho các tổn thất, được ngân hàng trung ương
xem xét. Hiện nay, phần lớn các ngân hàng đều áp dụng chuẩn mực của Basel khi qui
định nội dung này.
Câu hỏi đặt ra là, nếu ngân hàng thương mại tuyên bố phá sản, hoặc chấm dứt hoạt
động, giá trị tài sản của ngân hàng nếu bán để trả nợ nói chung và trả cho các khoản
tiền gửi, nghĩa vụ đối với nhà nước nói riêng sẽ có thể bị giảm giá trị như thế nào?
Nếu vốn chủ sở hữu càng lớn khả năng đảm bảo bù đắp sụt giảm giá trị tài sản càng
cao, ngược lại các khoản cho vay và đầu tư chứng khoán rủi ro càng cao, càng cần
lượng vốn chủ sở hữu lớn.
Trong các khoản mục vốn chủ sở hữu, một số khoản mục – ví dụ một số quĩ – chỉ tồn
tại trong khoảng một năm, hoặc dùng đảm bảo an toàn tại đơn vị ngân hàng khác… sẽ
không đảm bảo yêu cầu an toàn trên.
Các khoản nợ của ngân hàng có thứ tự ưu tiên trả nợ khác nhau. Bảo hiểm tiền gửi chỉ
có nghĩa vụ chi trả cho các khoản tiền gửi. Các khoản nợ dài hạn – trái phiếu dài hạn
(thời gian đáo hạn còn dài) hoặc trái phiếu chuyển đổi có nghĩa vụ trả nợ sau so với
tiền gửi. Do vậy, các ngân hàng có qui mô nợ trái phiếu dài hạn cao so với tiền gửi,
khi phá sản, áp lực trả nợ ngay thấp hơn các ngân hàng có qui mô tiền gửi cao.
Theo quan điểm của ngân hàng nhà nước Việt Nam (Thể hiện thông qua
TT36/2014/TT-NHNN) thì vốn tự có bằng vốn cấp 1 cộng vốn cấp 2 trừ các khoản
giảm trừ.
9Có nhiều cách phân loại/thuật ngữ chỉ vốn ngân hàng như vốn chủ sở hữu, vốn cổ phần thường, vốn
nợ, vốn vay… Ở đây tác giả sử dụng vốn ngân hàng để chỉ một loại vốn theo cách tính của ngân hàng
trung ương. Cụm từ vốn ngân hàng này không phải là vốn chủ sở hữu.
TXNHTM04_Bai4_v1.0015103227
65
Bài 4: Quản lý vốn chủ sở hữu
4.2.2.2. Vốn cấp 1
Với quan điểm trên, ngân hàng trung ương chia vốn ngân hàng thành hai loại: vốn cấp
1 và vốn cấp 2.
Vốn cấp 1 bao gồm các khoản mục vốn chủ sở hữu cổ phiếu thường, thặng dư vốn và
thu nhập giữ lại. Đối với ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước/hoặc ngân hàng liên doanh
vốn chủ sở hữu do nhà nước cấp, hoặc do các bên góp vốn.
Ngoài việc chỉ lấy phần lớn vốn chủ sở hữu làm vốn cấp 1, ngân hàng trung ương yêu
cầu loại trừ khỏi vốn cấp 1 các khoản mục không đảm bảo mục tiêu mà ngân hàng
trung ương đặt ra đối với vốn ngân hàng như khoản lỗ kinh doanh, bao gồm các khoản
lỗ lũy kế, các khoản góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng khác, các khoản góp
vốn, mua cổ phần của công ty con.
4.2.2.3. Vốn cấp 2
Ngân hàng trung ương coi cổ phần ưu đãi có thời hạn, % tăng giá chứng khoán và tài
sản cố định của ngân hàng, trái phiếu có khả năng chuyển đổi, giấy nợ dài hạn… thuộc
vốn cấp 2, tham gia vai trò đảm bảo an toàn cho người gửi tiền. Phần lớn các khoản mục
trên có lãi suất cố định và thứ tự ưu tiên thanh toán đứng sau những người gửi tiền và
các chủ nợ khác. Thứ nhất, thứ tự ưu tiên thanh toán là “thứ cấp”, vốn cấp 2 trực tiếp
làm tăng khả năng của ngân hàng trong việc trang trải các khoản tổn thất. Vốn cấp 2
cũng có một số lợi thế so với vốn chủ sở hữu. Thứ nhất, chi phí lãi suất là khoản khấu
trừ thuế thu nhập trong khi cổ tức không được phép tính vào chi phí. Thứ hai, vốn cấp 2
không gây ra hiện tượng loãng thu nhập trên một cổ phiếu trong ngắn hạn.
Mặc dù chúng mang tính chất của một khoản nợ (phải hoàn trả) song tài sản do nguồn
này hình thành vẫn được ưu tiên dùng để trả cho người gửi tiền. Các khoản mục được
tính vào vốn cấp 2 thường bị ngân hàng trung ương giới hạn và kiểm soát chặt chẽ.10
4.3.
Quản lý vốn chủ sở hữu
4.3.1.
Khái niệm
Quản lí vốn chủ sở hữu thực chất là xác định qui mô và
cấu trúc vốn chủ sở hữu sao cho phù hợp với yêu cầu
kinh doanh, đồng thời tìm kiếm các biện pháp tăng vốn
chủ sở hữu một cách có hiệu quả trên quan điểm lợi ích
của cổ đông.
Ngân hàng cần có bao nhiêu vốn để đảm bảo an toàn cho
người gửi tiền là câu hỏi mà các cơ quan quản lý và điều tiết ngân hàng luôn phải trả lời.
Để bảo vệ những người gửi tiền và xây dựng một hệ thống ngân hàng ổn định, các cơ
quan quản lý ngân hàng đã thiết lập những đòi hỏi về vốn để đảm bảo mức độ an toàn
đối với các ngân hàng.
10Edward W. Reed và Edward K. Gill.Ngân hàng thương mại. Sách dịch. NXB thành phố Hồ Chí
Minh, năm 1993, trang 227
66
TXNHTM04_Bai4_v1.0015103227
Bài 4: Quản lý vốn chủ sở hữu
Yêu cầu của ngân hàng trung ương về mức đủ vốn như một chỉ dẫn quan trọng cho
công chúng biết về uy tín của ngân hàng. Do vậy nhà quản lý ngân hàng phải coi quản
lý vốn ngân hàng như một bộ phận không thể tách rời của quản lý vốn chủ sở hữu.
Quản lý vốn chủ sở hữu nhằm đáp ứng yêu cầu:
Trước hết là người gửi tiền. Vốn ngân hàng càng lớn, càng tạo cho người gửi tâm
lí an toàn. Họ hi vọng rằng, khi bỏ ra một số tiền lớn, những người chủ sở hữu quan
trọng của ngân hàng sẽ phải cố gắng hết sức để kinh doanh an toàn.
Thứ hai là các nhà chức trách tiền tệ và các công ty bảo hiểm ngân hàng: Các vụ phá
sản ngân hàng (đang ngày gia tăng) thường gây ra những hoảng loạn lớn trong dân
chúng và các tổn thất khó lường hết được. Vốn của chủ ngân hàng được sử dụng để
trả nợ cho người gửi tiền, giảm bớt khó khăn cho ngân sách, hoặc tổn thất của người
gửi tiền.
Thứ ba là các cổ đông. Vốn ngân hàng tăng có thể làm giảm lợi tức cổ phần, hoặc
quyền lực của các cổ đông lớn. Do vậy các cổ đông mong muốn tỷ lệ vốn ngân hàng
phù hợp sao cho quyền lợi của cổ đông được đảm bảo.
4.3.2.
Đảm bảo an toàn theo quy định của ngân hàng trung ương
Ngân hàng phải đối đầu với nhiều rủi ro như rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, giá chứng
khoán giảm… Trước hết, các nhà quản trị không ngừng tìm kiếm các phương cách để
đo rủi ro, nhằm xác định chi phí trích trước dự phòng cho tổn thất xảy ra (trích dự
phòng rủi ro). Nguyên tắc quản trị là tổn thất phải được dự tính trước và được bù đắp
bằng dự phòng nhằm tránh biến động về vốn chủ sở hữu và lợi nhuận sau thuế.
Tuy nhiên, nhiều tổn thất ngân hàng không thể dự tính được, hoặc dự tính thiếu chính
xác, ví dụ khủng hoảng xảy ra. Trong trường hợp này, vốn chủ sở hữu sẽ là tấm đệm
để bù đắp tổn thất, bảo vệ người gửi tiền.
4.3.2.1. Xác định vốn chủ sở hữu trong quan hệ với tiền gửi
Nhiều quan điểm cho rằng tỷ lệ vốn chủ sở hữu/tiền gửi càng cao, ngân hàng càng an
toàn. Do qui mô tiền gửi phản ánh trách nhiệm chi trả bất kì lúc nào của ngân hàng,
nên nếu tiền gửi càng lớn, yêu cầu chi trả càng cao khi ngân hàng bị phá sản. Các cơ
quan quản lí ngân hàng ở nhiều nước đã qui địmh tỷ lệ vốn chủ sở hữu/tiền gửi tối đa,
và coi đó như là một tiêu thức xác định an toàn trong thanh toán. Cách xác định này
đơn giản, dễ áp dụng và kiểm soát. Tỷ lệ vốn chủ sở hữu/tiền gửi thường nhỏ hơn 1
nhiều.11 Tuy nhiên, các vụ phá sản ngân hàng đã chứng minh rằng, qui mô vốn chủ sở
hữu nhỏ ít liên quan đến các thua lỗ trong kinh doanh. Và ngay các ngân hàng có tỷ lệ
này cao cũng không có khả năng thanh toán các khoản nợ của người gửi tiền khi lâm
vào tình trạng phá sản. Khi cơ quan bảo hiểm tiền gửi đi vào hoạt động, người gửi tiền
càng ít quan tâm tới vốn chủ sở hữu so với mức lãi suất và tính thuận tiện trong các dịch
vụ mà ngân hàng cung cấp. Độ an toàn của các ngân hàng được quyết định bởi tính an
toàn của danh mục tài sản, trong đó chủ yếu là tín dụng và đầu tư vào chứng khoán.
11 Nhiều nước qui định tỷ lệ vốn chủ sở hữu/tiền gửi có thể là 1/13, 1/20, 1/80. Ngân hàng Nhà nước
Việt nam đã từng qui định tỷ lệ này là 1/20 đối với các ngân hàng thương mại.
TXNHTM04_Bai4_v1.0015103227
67
Bài 4: Quản lý vốn chủ sở hữu
4.3.2.2. Xác định vốn chủ sở hữu trong quan hệ với tổng tài sản rủi ro
Tổn thất do khủng hoảng thanh khoản – người gửi rút tiền hàng loạt – do các nguyên
nhân vĩ mô, thường vượt quá sức chịu đựng của vốn chủ sở hữu của mỗi ngân hàng.
Trong trường hợp như vậy, ngân hàng phải nhờ đến sự “cứu giúp” của ngân hàng
trung ương, chính phủ, thậm chí các cơ quan tiền tệ quốc tế. Tổn thất đến với ngân
hàng chủ yếu từ tài sản rủi ro: các khoản cho vay không thu hồi được, chứng khoán bị
giảm giá… Các tổn thất này làm giảm qui mô tổng tài sản và trực tiếp làm giảm vốn
chủ sở hữu. Do vậy, một số cơ quan quản lí ngân hàng tìm kiếm mối liên hệ giữa vốn
chủ sở hữu và các tài sản rủi ro.
Chỉ tiêu thứ nhất:
Vốn chủ sở hữu
Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản =
Tổng tài sản
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ phần trăm giảm trong tổng tài sản có thể được bù đắp
bởi vốn chủ sở hữu, bởi vì toàn bộ các tài sản đều có một khả năng tổn thất nhất định
và bất cứ tổn thất hay sụt giảm nào về giá trị đều dẫn đến giảm khoản mục dự phòng
hay vốn chủ sở hữu.
Chỉ tiêu thứ hai:
Vốn chủ sở hữu
Chứng
Tỷ lệ vốn
chủ sở hữu
trên tài sản
rủi ro
=
Chứng khoán được
Tổng tài sản – Tiền – khoán chính – phát hành bởi các cơ
phủ quan thuộc chính phủ
Do ngân quĩ và trái phiếu chính phủ có rủi ro gần bằng không, tỷ lệ trên cho thấy khả
năng bù đắp tổn thất bằng vốn chủ sở hữu cho các khoản cho vay và đầu tư rủi ro (cổ
phiếu, trái phiếu công ty).
Chỉ tiêu thứ ba:
Vốn cấp 1 + Vốn cấp 2 – Các khoản giảm trừ
Tỷ lệ an toàn vốn
(CAR)
=
Tổng tài sản nội và ngoại bảng điều chỉnh qua hệ số rủi ro
Theo yêu cầu của Basel, CAR ≥ 8% (hoặc 9% theo Basel 3). Theo chỉ tiêu này, tài sản
của ngân hàng được phân loại theo mức độ rủi ro (khả năng tổn thất) dựa trên kinh
nghiệm nhiều năm, có tính đến các nhân tố mới. Thông qua các hệ số chuyển đổi tính
cho từng loại tài sản rủi ro, các ngân hàng tính được tổng tài sản đã chuyển đổi. Sau
đó, một tỷ lệ giữa tổng tài sản rủi ro đã chuyển đổi và vốn ngân hàng sẽ được các nhà
chức trách tiền tệ tìm kiếm sao cho thoả mãn nhu cầu an toàn.
Quan niệm về tài sản chuyển đổi rủi ro được mở rộng sang tài sản ngoại bảng khi thị
trường phái sinh phát triển, đồng thời không chỉ vốn chủ sở hữu mà cả nợ – vốn cấp 2
– cũng được coi là có khả năng đảm bảo an toàn. CAR đang được các nhà quản lý
ngân hàng thay đổi các bộ phận cấu thành cũng như giới hạn nhằm đáp ứng yêu cầu
đảm bảo an toàn trong môi trường kinh doanh ngân hàng có nhiều thay đổi.
68
TXNHTM04_Bai4_v1.0015103227
Bài 4: Quản lý vốn chủ sở hữu
Ví dụ: Một ngân hàng có qui mô và cấu trúc tài sản như sau (số bình quân)
Tỷ lệ chuyển
đổi (%)
Qui mô tài
sản có rủi ro
Phân loại các tài sản nội bảng
Qui mô tài sản
1. Tiền mặt và tiền gửi tại ngân
hàng Nhà nước
100
0
0
2. Cho vay có đảm bảo
3. Cho vay không có đảm bảo
Tổng tài sản nội bảng
400
300
800
50
200
300
500
100
Các nhà chức trách tiền tệ xây dựng tỷ lệ chuyển đổi đối với các loại tài sản khác
nhau. Qui mô tài sản rủi ro được tính bằng cách nhân qui mô tài sản (số dư) với tỷ lệ
chuyển đổi (theo ví dụ là 500). Sau đó, các nhà chức trách tiền tệ qui định tỷ lệ hợp lí
giữa vốn ngân hàng và vốn chủ sở hữu với qui mô tài sản rủi ro (tiêu chuẩn dựa trên
rủi ro: Risk – based Capital Standars).
Nếu yêu cầu Vốn chủ sở hữu/Tài sản có rủi ro là 5% thì Vốn chủ sở hữu cần thiết tối
thiểu là 25.
Nếu yêu cầu Vốn ngân hàng/Tài sản có rủi ro là 8% thì Vốn ngân hàng (cấp 1 + cấp 2
– các khoản giảm trừ) tối thiểu là 40.
Đây là chỉ tiêu xác định vốn cần thiết dựa trên căn cứ mức độ rủi ro của tài sản nội và
ngoại bảng. Vốn chủ sở hữu được tính toán trong mối liên hệ với mức độ rủi ro của
các loại tài sản. Một ngân hàng có thể tăng qui mô tài sản (bằng cách tăng các khoản
nợ) mà không cần tăng vốn chủ sở hữu nếu thay đổi cấu trúc danh mục đầu tư. Với qui
mô đầu tư như nhau, song ngân hàng nào có nhiều tài sản chuyển đổi theo hệ số rủi ro
hơn sẽ cần có vốn hoặc vốn chủ sở hữu) nhiều hơn.
Vốn chủ sở hữu được tính toán trong mối liên hệ với mức vốn cần thiết. Mặc dù được
sử dụng vốn cấp 2, song quy mô không vượt quá vốn cấp 1.
Lấy tài sản “cho vay” các doanh nghiệp làm ví dụ. Với nghiên cứu trên nhiều ngân
hàng, trong khoảng thời gian dài, các nhà nghiên cứu nhận thấy, trung bình cứ 100
đơn vị cho vay trên bản cân đối, sẽ chỉ thu về được tối thiểu 92 đơn vị khi ngân hàng
bị phá sản12. Như vậy ngân hàng bị mất 8 đơn vị. Để đảm bảo an toàn cho người gửi
tiền khi ngân hàng phá sản, chủ ngân hàng tối thiểu phải có 8 đơn vị vốn tức là tỷ lệ
an toàn phải là 8/100. Các tài sản khác cũng được tính tương tự, ví dụ trái phiếu chính
phủ, tỷ lệ tổn thất là 0,5%, cổ phiếu là 16%… tức là mỗi loại tài sản sẽ có tỷ lệ an toàn
vốn tối thiểu khác nhau, phản ảnh ước tính tổn thất khác nhau và yêu cầu vốn ngân
hàng khác nhau cho cùng 100 đơn vị. Để có tỷ lệ CAR chung cho cả danh mục tài sản
nội và ngoại bảng, ngân hàng đã chọn CAR = 8% của danh mục “cho vay doanh
nghiệp”, tức là danh mục này có tỷ lệ chuyển đổi rủi ro bằng 1, các loại tài sản khác
có tỷ lệ chuyển đổi bằng cách chia tỷ lệ tổn thất của nó cho 8%.
Ví dụ
12 100 đơn vị này là số dư ròng (net loan). Dư hiện tại là 106, dự phòng tổn thất là 6 đơn vị, dư ròng =
106 – 6 = 100. Như vậy, tài sản cho vay có tấm đệm chống rủi ro là dự phòng tổn thất (trích trước trong
chi phí)
TXNHTM04_Bai4_v1.0015103227
69
Bài 4: Quản lý vốn chủ sở hữu
Mức vốn tối
thiểu đảm
bảo an toàn
Mức và Tỷ
Qui mô tài
Tỷ lệ
chuyển đổi
Phân loại các tài sản nội bảng
lệ tổn thất
CAR
8%
sản (đơn vị)
trên tài sản
(đơn vị)
1. Tiền mặt và tiền gửi tại
NHNN
100
0 (0%)
0
0
2. Cho vay có đảm bảo
3. Cho vay không có đảm bảo
4. Cổ phiếu công ty
100
100
100
4 (4%)
8 (8%)
4
8
50%
100%
200%
8%
8%
8%
16 (16%)
16
Như vậy, nếu ngân hàng đầu tư vào cổ phiếu công ty 100 đơn vị, ngân hàng phải có
vốn 16 đơn vị, gấp đôi số vốn cần thiết đối với cho vay doanh nghiệp không có đảm
bảo. Tuy nhiên vì CAR là 8% chung cho 2 danh mục này, nên hệ số chuyển đổi của cổ
phiếu là 2. Việc tính tài sản có rủi ro (tài sản chuyển đổi qua hệ số rủi ro) của cổ phiếu
= 100 2 = 200 đơn vị chỉ có ý nghĩa là cổ phiếu cần gấp đôi vốn ngân hàng so với
danh mục có hệ số là 1.
Bảng 4.3. Vốn chủ sở hữu và vốn đảm bảo an toàn của VCB giai đoạn 2006 – 2009
(Đơn vị tính: tỷ đồng)
Khoản mục
2006
2007
2008
2009
1. Vốn điều lệ
4.356,7
332
4.429,3
457,4
12.100,86 12.100,86
2. Quỹ bổ sung vốn điều lệ
3. Quỹ dự phòng tài chính
4. Lợi nhuận để lại
71,2
245
612,38
256,31
904,81
404,35
164,97
1.014,46
517,79
1.267,12
A, Vốn chủ sở hữu (1+2+3+4+5) 9.795,39
12.125,36 13.563,11 14.180,63
(a) Tổng vốn cấp 1
(b) Vốn cấp 2
9.795,39
1.937
12.125,36 13.563,11 14.180,63
991,88
2.555
1.022,52
3.338,08
1.383,05
3.394,84
(c) Các khoản giảm trừ
3.135,41
B, Vốn đảm bảo an toàn (a+b – c) 8.596,98
10.562,24 11.247,55 12.468,84
(Nguồn: Báo cáo thường niên của VCB các năm 2006, 2007, 2008 và 2009)
Basel (từ Basel 1, 2 đến 3) đã đưa ra nhiều phương pháp để xác định hệ số chuyển đổi,
tức là xác định giá trị tổn thất kỳ vọng cho các loại tài sản khác nhau, từ phương pháp
cơ bản đến nâng cao cho các điều kiện khác nhau (quốc gia, khu vực, các loại hình
kinh doanh, các sản phẩm). Phương pháp của Basel đã tạo nên chỉ dẫn hữu ích cho
nhiều ngân hàng trung ương trên thế giới về xác định CAR.
4.3.2.3. Xác định vốn chủ sở hữu trong mối liên hệ với các nhân tố khác
Nhiều nhà nghiên cứu ngân hàng cho rằng chỉ tìm mỗi liên hệ giữa vốn chủ sở hữu
với tài sản rủi ro là chưa đủ, mà cần tìm mỗi liên hệ giữa vốn chủ sở hữu với nhiều
nhân tố đặc biệt là chất lượng kinh doanh (khả năng tạo lợi nhuận) của ngân hàng. Các
nhân tố bao gồm: 13
Chất lượng quản lí;
Thanh khoản của tài sản;
13Edward W. Reed và Edward K. Gill. Sách đã dẫn, trang 252 -254.
70
TXNHTM04_Bai4_v1.0015103227
Bài 4: Quản lý vốn chủ sở hữu
Lợi nhuận các năm trước, và tỷ lệ lợi nhuận giữ lại;
Chất lượng và đặc điểm quyền sở hữu;
Khả năng thay đổi kết cấu tiền gửi và khả năng vay mượn;
Chất lượng các nghiệp vụ;
Khả năng bù đắp các chi phí.
Theo phương pháp này, mỗi ngân hàng cần có mức vốn chủ sở hữu khác nhau, thậm
chí một ngân hàng cũng có thể có yêu cầu vốn chủ sở hữu khác nhau trong từng
trường hợp cụ thể. Những ngân hàng hoạt động yếu kém, ngân hàng nhỏ, hoặc trong
giai đoạn khủng hoảng cần phải có mức vốn chủ sở hữu lớn hơn để bảo đảm an toàn.
Rủi ro hoạt động, thanh khoản, tỷ giá… được nghiên cứu nhằm xác định mức tổn thất
dự kiến để trích dự phòng và xác định mức tổn thất ngoài dự kiến để xác định mức
vốn ngân hàng cần thiết.
4.3.2.4. Kiểm soát vốn ngân hàng theo yêu cầu của ngân hàng trung ương
Nhiều cơ quan quản lý theo dõi tỷ lệ CAR và vốn pháp định. Khi ngân hàng mới
thành lập, yêu cầu vốn pháp định buộc các ngân hàng phải tuân thủ. Tuy nhiên trong
quá trình hoạt động, nếu mức vốn pháp định ngân hàng trung ương qui định tăng, có
thể một số ngân hàng nhỏ không đáp ứng kịp; hoặc ngân hàng kinh doanh thua lỗ làm
số vốn chủ sở hữu thực có nhỏ hơn vốn pháp định.
Bảng 4.4. Mức vốn pháp định của tổ chức tín dụng
(Ban hành kèm theo Nghị định số 141/2006/NĐ-CP)
Loại tổ chức
Ngân hàng thương mại Nhà nước
Ngân hàng thương mại cổ phần
Ngân hàng liên doanh
Đến 2008
Đến 2010
3000 tỷ VND
3000 tỷ VND
1000 tỷ VND
1000 tỷ VND
1000 tỷ VND
15 triệu USD
5.000 tỷ đồng
3.000 tỷ đồng
5.000 tỷ đồng
1000 – 3000 tỷ VND
3000 tỷ VND
Ngân hàng 100% vốn nước ngoài
Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài
Ngân hàng chính sách
3000 tỷ VND
15 triệu USD
5.000 tỷ đồng
3.000 tỷ đồng
5.000 tỷ đồng
Ngân hàng đầu tư
Ngân hàng phát triển
Ngân hàng hợp tác
1000 tỷ VND
1000 tỷ VND
3000 tỷ VND
3000 tỷ VND
Quỹ tín dụng nhân dân trung ương
Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở
Công ty tài chính
0,1 VND
300 tỷ VND
100 tỷ VND
0,1 tỷ VND
500 tỷ VND
150 tỷ VND
Công ty cho thuê tài chính
TXNHTM04_Bai4_v1.0015103227
71
Bài 4: Quản lý vốn chủ sở hữu
Việc kiểm soát CAR lại càng phức tạp hơn. Do cấu thành bởi rất nhiều chỉ tiêu thường
xuyên thay đổi, ngân hàng đang từ có CAR ≥ 8% có thể bị tụt xuống dưới mức tối
thiểu do bị thua lỗ, chuyển dịch cơ cấu tài sản, mức giảm giá chứng khoán lớn… việc
điều chỉnh để đảm bảo CAR cũng đòi hỏi có thời gian.
4.3.3.
Đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu
4.3.3.1. Quan niệm về hiệu quả vốn chủ sở hữu
Vốn chủ sở hữu là của các cổ đông. Các nhà đầu tư đều kỳ vọng về mức sinh lời. Mặc
dù các nhà đầu tư nhỏ và lớn có mức kỳ vọng khác nhau, song họ đều mong muốn
mức sinh lời trên cổ phần thường (lợi tức cổ phần), hoặc chênh lệch giá ở mức trung
bình tiên tiến trên thị trường.
Hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu được đo bằng tỷ lệ thu nhập sau thuế của ngân hàng
trên vốn chủ sở hữu (ROE) hoặc trên vốn cổ phần thường.
4.3.3.2. Sử dụng vốn chủ sở hữu
Phần lớn vốn chủ sở hữu là không sinh lời trực tiếp: chúng được ưu tiên tài trợ cho
xây dựng nhà cửa, mua sắm trang thiết bị, công nghệ, thành lập công ty mới… cho
ngân hàng. Một phần khác được đầu tư vào cổ phiếu công ty, hoặc cho vay dài hạn.
Các hoạt động ngân hàng thường yêu cầu phải xây dựng mới các trụ sở, phương tiện
làm việc… Đồng thời với nhà cửa là trang thiết bị và công nghệ với các chi phí ban
đầu thường rất đắt. Các ngân hàng thường xuyên gia tăng vốn chủ sở hữu thông qua
phát hành thêm cổ phiếu mới, hoặc tự tích luỹ… để mở rộng qui mô hoặc nâng cao
chất lượng hoạt động. Phân bổ vốn chủ sở hữu cho các hoạt động của ngân hàng nhằm
tối đa hóa giá trị ngân hàng là nội dung quan trọng trong quản lý vốn chủ sở hữu.
ROE phản ảnh hiệu quả cuối cùng của hoạt động ngân hàng. Do mức độ rủi ro cao,
các cổ đông ngân hàng yêu cầu lợi tức đối với khoản đầu tư của họ (ROE), chính là
chi phí vốn chủ sở hữu tương đối cao so với các hoạt động đầu tư khác. Nhìn chung
các cổ đông yêu cầu ROE trung bình lớn hơn khoảng gấp rưỡi lãi suất huy động tiết
kiệm của ngân hàng.
Từ ROE kỳ vọng, theo phương pháp Doupont, ngân hàng xác định các mức lãi suất
(huy động và cho vay…), các cơ cấu tài sản và nguồn vốn tối ưu.
Giả sử một ngân hàng có số liệu sau:
Nguồn
vốn
Tài sản
Qui mô
Lãi suất
Qui mô
Lãi suất
Cho vay và đầu tư
Tài sản khác
7
3
15%
0%
Nợ
9
1
10%
15%
VCSH
Bỏ qua các yếu tố khác, các khoản cho vay và đầu tư phải đạt lãi suất sinh lời 15% để
ROE đạt 15%. Nếu lãi suất các khoản cho vay và đầu tư 14%, thì ngân hàng phải tăng
cho vay và đầu tư lên 7,5. Nếu cơ cấu tài sản không thay đổi được trong khi lãi suất
cho vay giảm, ngân hàng sẽ phải tăng nợ. Nếu tăng nợ (tăng tài sản) trong khi vốn chủ
sở hữu không đổi, có nguy cơ tỷ lệ an toàn tối thiểu sẽ giảm, buộc ngân hàng phải
giảm các tài sản có tỷ lệ sinh lời cao.
72
TXNHTM04_Bai4_v1.0015103227
Bài 4: Quản lý vốn chủ sở hữu
Ngoài việc phải đảm bảo vốn pháp định, ngân hàng phải tăng vốn chủ sở hữu để đảm
bảo CAR. Vốn chủ sở hữu được ưu tiên phân bổ cho xây dựng nhà cửa và mua công
nghệ, đầu tư vào công ty con, góp vốn… vì đây là những hoạt động có khả năng sử
dụng đòn bẩy lớn.
Bảng 4.5. Đầu tư góp vốn, liên doanh, liên kết của BIDV
(Đơn vị: Triệu VND)
Đầu tư vào
các công ty
liên doanh
Đầu tư vào các
công ty liên kết
Chỉ tiêu
Tổng cộng
1. Số dư tại ngày 1 tháng 1 năm 2009
2. Vốn góp tăng trong năm
1.398.335
94.931
244.086
998
1.642.421
95.929
3. Phần chia sẻ lãi/(lỗ) trong năm của các
công ty liên doanh, liên kết theo phương
pháp vốn chủ sở hữu
127.040
47.725
14.119
–
141.159
47.725
4. Chênh lệch tỷ giá do chuyển đổi báo cáo
tài chính
5. Trừ: Cổ tức nhận được trong năm
6. Vốn góp giảm trong năm
(64.057)
–
–
–
(64.057)
–
Tại ngày 31 tháng 12 năm 2009
1.603.974
259.203
1.863.177
(Nguồn: Báo cáo thường niên của BIDV 2009)
Ngân hàng có qui mô vốn chủ sở hữu lớn có danh mục đầu tư từ vốn chủ sở hữu rất
phong phú. Phần lớn các ngân hàng thương mại Việt Nam có qui mô vốn lớn đều
thành lập công ty con như công ty chứng khoán, công ty mua bán nợ, công ty cho thuê
tài chính, công ty quản lý quĩ, công ty kinh doanh vàng bạc… và đều mua cổ phiếu
của ngân hàng, công ty chứng khoán khác. Việc này, một mặt góp phần đa dạng hóa
hoạt động, đặc biệt các hoạt động mà pháp luật đòi hỏi phải tổ chức công ty độc lập,
mặt khác cho phép ngân hàng cung cấp dịch vụ tài chính trọn gói.Việc sử dụng vốn
chủ sở hữu cho các hoạt động này phải chịu rủi ro cao. Nếu công ty con, hoặc công ty
liên kết làm ăn thua lỗ hoặc sinh lời thấp, việc rút vốn hoặc thay đổi hướng kinh
doanh thường rất khó khăn.
4.3.3.3. Các biện pháp gia tăng vốn chủ sở hữu và các nhân tố ảnh hưởng
Qui mô vốn chủ sở hữu lớn không chỉ liên quan tới hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu,
mà còn liên quan tới đa dạng hóa hoạt động ngân hàng, hình ảnh và uy tín của ngân
hàng trên thị trường.
Phát hành cổ phiếu cho phép ngân hàng mở rộng qui mô vốn chủ sở hữu một cách
nhanh nhất. Tuy nhiên có nhiều vấn đề mà nhà quản lí phải cân nhắc. Trước hết, sự
phát triển của thị trường chứng khoán là nhân tố quan trọng quyết định tới phạm vi,
tốc độ, qui mô và chi phí phát hành chứng khoán của ngân hàng. Sau đó là uy tín của
ngân hàng: thường các ngân hàng lớn, có uy tín có chi phí phát hành thấp hơn các
ngân hàng nhỏ. Cuối cùng, việc phát hành chứng khoán phải có sự đồng ý của cổ đông
bởi vì nó sẽ ảnh hưởng tới quyền bỏ phiếu, quyền kiểm soát, và phân chia lợi nhuận.
Nếu việc gia tăng vốn chủ sở hữu thông qua phát hành cổ phiếu mới không gắn một
TXNHTM04_Bai4_v1.0015103227
73
Bài 4: Quản lý vốn chủ sở hữu
cách phù hợp với việc mở rộng qui mô và nâng cao hiệu quả kinh doanh của ngân
hàng sẽ làm cho thị giá cổ phiếu giảm xuống.
Tăng vốn chủ sở hữu thông qua tích luỹ là rất cần thiết đối với ngân hàng. Tích luỹ
không làm thay đổi quyền bỏ phiếu, hơn nữa còn làm tăng thị giá cổ phiếu do thu
nhập ròng trên cổ phần thường sẽ gia tăng. Qui mô của lợi nhuận tích luỹ được quyết
định bởi qui mô của lợi nhận sau thuế và chính sách phân phối nó.
Ví dụ về ảnh hưởng của chi phí đối với biện pháp tăng vốn chủ sở hữu:
Một ngân hàng có bản cân đối tài sản rút gọn như sau (số dư bình quân, lãi suất bình quân):
Trường hợp 1
Số
tiền
Lãi
suất
Số
tiền
Lãi
suất
Nguồn vốn
1. Tiền gửi
Khoản mục tài sản
200
7000
2000
6%
1. Ngân quĩ
9000
300
8%
7%
2. Tài sản sinh lời
3. Tài sản cố định
2. Vay mượn
3. Vốn và quĩ:
4. Vốn cổ phần
500
Trường hợp 1
200
Tiền gửi
7000
2000
6%
7%
1. Ngân quĩ
9000
100
8%
9%
2. Tài sản sinh lời
3. Cho vay dự án
1. Vay
2. Vốn và quĩ
300
500
100
4. Tài sản cố định
3. Vốn cổ phần
8%
4. Trái phiếu chuyển đổi
Trường hợp 2
200
9000
100
300
7000
2000
1. Ngân quĩ
1. Tiền gửi
2. Vay
8%
9%
2. Tài sản sinh lời
3. Cho vay dự án (*)
4. Tài sản cố định
3. Vốn và quĩ
4. Vốn cổ phần
600
Ngân hàng có Tổng tài sản = Tổng nguồn vốn = 9500; Trong đó nợ 9200, vốn chủ sở
hữu 300 (Vốn cổ phần 300)
Thu lãi : 900 8% = 720
Chi trả lãi = 7000 6% + 2000 7% = 420 + 140 = 560
Nếu chênh lệch thu chi khác là – 60 và thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 30%
thì lợi nhuận sau thuế:
(720 – 560 – 60) (1 – 0,3) = 100 0,7 = 70;
Thuế phải nộp là 30,3
Tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu (cổ phần):
ROE = 70/500 = 0,14
Trường hợp thứ nhất
Ngân hàng quyết định tăng qui mô hoạt động bằng cách phát hành trái phiếu dài
hạn có khả năng chuyển đổi thành cổ phần. Quyết định này làm tăng vốn cấp 2.
74
TXNHTM04_Bai4_v1.0015103227
Bài 4: Quản lý vốn chủ sở hữu
Giả sử ngân hàng tăng 100 trái phiếu dài hạn, để cho vay dự án lãi suất 9%
Thu lãi = 9000 8% + 100 9% = 729
Chi trả lãi = 7000 6% + 2000 7% + 100 8% = 568
Lợi nhuận trước thuế = 729 – 568 – 60 = 101
Lợi nhuận sau thuế = 101 0,7 = 70,7
Thuế phải nộp là 30,3
Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (cổ phần)
ROE = 70,7/500 = 0,1414
Trường hợp thứ 2
Ngân hàng tăng qui mô hoạt động bằng cách phát hành thêm cổ phiếu. Để đơn
giản cách tính toán, giả sử khoản tăng thêm cũng được sử dụng để cho vay dự án.
Thu lãi = 9000 8% + 100 9% = 729
Chi trả lãi = 7000 6% + 2000 7% = 560
Lợi nhuận trước thuế = 729 – 560 – 60 = 109
Lợi nhuận sau thuế = 109 0,7 = 76,3
Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu: ROE = 76,3/600 = 0,127
Như vậy, trong trường hợp gia tăng vốn chủ sở hữu bằng phát hành cổ phiếu sẽ
làm tăng lợi nhuận sau thuế lên nhiều nhất, song lại làm tỷ lệ lợi nhuận trên vốn
chủ sở hữu giảm đi. (Giả sử các yếu tố khác không đổi và tỷ lệ sinh lời của cổ
phiếu lớn hơn tỷ lệ sinh lời của trái phiếu).
Ví dụ trên minh hoạ sự thay đổi trong cơ cấu vốn chủ sở hữu sẽ ảnh hưởng tới chi phí,
doanh lợi và ROE. Việc lựa chọn cơ cấu này vì vậy tác động tới hiệu quả vốn chủ sở
hữu. Trên thực tế, việc gia tăng vốn chủ sở hữu bằng phát hành thêm cổ phiếu ở ngân
hàng ngoài việc đáp ứng yêu cầu an toàn của ngân hàng nhà nước, chủ yếu để mở
rộng qui mô hoạt động đầu tư (hùn vốn, mua cổ phiếu, thành lập công ty con, mua
sắm tài sản cố định).
TXNHTM04_Bai4_v1.0015103227
75
Bài 4: Quản lý vốn chủ sở hữu
T
ó m l ư ợ c cu ối b à i
Quản lý vốn chủ sở hữu nhắm đáp ứng yêu cầu của cổ đông – yêu cầu sinh lời và yêu cầu của
ngân hàng trung ương – yêu cầu an toàn.
Xác định các bộ phận cấu thành vốn chủ sở hữu và vốn ngân hàng nhằm đảm bảo an toàn,
xác định các tỷ lệ an toàn của vốn ngân hàng.
Xác định tính sinh lời của vốn chủ sở hữu, các biện pháp phân bổ (sử dụng) vốn chủ sở hữu
cho các hoạt động chính của ngân hàng và các biện pháp gia tăng vốn chủ sở hữu.
76
TXNHTM04_Bai4_v1.0015103227
Bài 4: Quản lý vốn chủ sở hữu
Câ u h ỏ i ô n t ậ p
1. Hãy trình bày các khoản mục của vốn chủ sở hữu.
2. Hãy phân tích vai trò của vốn chủ sở hữu trong hoạt động ngân hàng.
3. Nêu các tỷ lệ đảm bảo an toàn vốn và ý nghĩa của tỷ lệ đó tới đảm bảo an toàn trong hoạt
động ngân hàng.
TXNHTM04_Bai4_v1.0015103227
77
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng Quản trị ngân hàng thương mại 2 - Bài 4: Quản lý vốn chủ sở hữu", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
bai_giang_quan_tri_ngan_hang_thuong_mai_2_bai_4_quan_ly_von.pdf

