An algorithm for mist and fog forecasting for noibai international airport, Hanoi, Vietnam

Transport and Communications Science Journal, Vol 72, Issue 3 (04/2021), 342-355  
Transport and Communications Science Journal  
AN ALGORITHM FOR MIST AND FOG FORECASTING  
FOR NOIBAI INTERNATIONALAIRPORT, HANOI, VIETNAM  
Le Thi Viet Ha, Hoang Nam Binh*, Tran Thu Phuong  
University of Transport and Communications, No 3 Cau Giay Street, Hanoi, Vietnam  
ARTICLE INFO  
TYPE: Research Article  
Received: 25/01/2021  
Revised: 18/03/2021  
Accepted: 29/03/2021  
Published online: 15/04/2021  
* Corresponding author  
Abstract. Mist or fog is a product of water vapor condensation in the air at or near Earth's  
surface limiting visibility, reducing visibility to less than 4,000 meters (mist) or 1,000 meters  
(fog). They are severe weather phenomenon and work in small or medium areas. Mist and fog  
conditions have potential negative impact on several economic activities, such as agriculture,  
marine, etc. and especially aviation operations. They are the limiting factor in aviation and  
can delay a flight or to cause the flight to divert to the planned destination airport. Therefore,  
the visibility forecasting is very important in aviation to ensure flight safety. This article  
presents an algorithm for fog and mist forecasting in a 24 hours period at Noibai International  
Airport, Hanoi, Vietnam by regression and classification method. Forecasting algorithm  
depends on the indexes FSI (Fog Stability Index), Fog Threat (Fog Potential), Fog Point (Fog  
formation temperature) and the thermal inversions layer at 1000 - 800 milibar level (sea level  
to near 1,500 meters). The forecasting model includes 2 regression equations combining other  
conditions. The results show that the forecasting model has good quality for the mist but not  
good for the fog phenomenon.  
Keywords: Fog forecating, Fog Index, Regression, Classification, Noibai international airport  
© 2021 University of Transport and Communications  
342  
Tạp chí Khoa học Giao thông vận tải, Tập 72, Số 3 (04/2021), 342-355  
Tạp chí Khoa học Giao thông vận tải  
THIẾT LẬP MỘT THUẬT TOÁN DỰ BÁO MÙ VÀ SƯƠNG MÙ  
CHO KHU VỰC SÂN BAY QUỐC TẾ NỘI BÀI  
Lê Thị Việt Hà, Hoàng Nam Bình*, Trần Thu Phương  
Trường Đại học Giao thông vận tải, Số 3 Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam  
THÔNG TIN BÀI BÁO  
CHUYÊN MỤC: Công trình khoa học  
Ngày nhận bài: 25/01/2021  
Ngày nhận bài sửa: 18/03/2021  
Ngày chấp nhận đăng: 29/03/2021  
Ngày xuất bản Online: 15/04/2021  
* Tác giả liên hệ  
Tóm tắt. Hiện tượng mù và sương mù là sản phẩm ngưng kết hơi nước trong lớp không khí  
sát mặt đất làm giảm tầm nhìn ngang xuống dưới 4000m (mù) hoặc 1000m (sương mù). Đây  
là hiện tượng thời tiết nguy hiểm có quy mô vừa và nhỏ, ảnh hưởng xấu đến nhiều lĩnh vực,  
đặc biệt là lĩnh vực hàng không. Nếu tầm nhìn ngang dưới giá trị khai thác tối thiểu, các  
chuyến bay phải hoãn lại việc cất cánh, hoặc bay chờ trong khoảng thời gian nhất định cho  
đến khi tầm nhìn đạt hoặc vượt ngưỡng khai thác tối thiểu để hạ cánh, hoặc quyết định chuyển  
sang sân bay dự bị. Do đó, công tác dự báo tầm nhìn ngang là rất cần thiết nhằm đảm bảo an  
toàn khai thác bay. Bài báo trình bày một thuật toán dự báo mù và sương mù trước 24 giờ cho  
khu vực sân bay quốc tế Nội Bài bằng phương pháp hồi quy và phân lớp. Thuật toán dự báo  
phụ thuộc các chỉ số FSI (Fog Stability Index), Fog Threat (Fog Potential), Fog Point (Fog  
formation temperature) và lớp nghịch nhiệt ở độ cao 1000 - 800mb tương ứng cao độ từ sát bề  
mặt đến độ cao khoảng 1500m. Thuật toán dự báo được thiết lập với hệ 2 phương trình hồi  
quy kết hợp một số điều kiện khác. Phân tích thống kê kết quả dự báo cho thấy mô hình có  
khả năng dự báo tốt hiện tượng có mù hoặc không mù nhưng chưa dự báo tốt hiện tượng  
sương mù.  
Từ khóa: Dự báo sương mù, Chỉ số sương mù, Phương pháp hồi quy, Phương pháp phân lớp,  
Sân bay quốc tế Nội Bài.  
© 2021 Trường Đại học Giao thông vận tải  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Cảng hàng không quốc tế Nội Bài là một trong những cảng hàng không lớn và quan trọng  
nhất Việt Nam với hàng trăm lượt chuyến nội địa và quốc tế cất hạ cánh trung bình mỗi ngày.  
343  
Transport and Communications Science Journal, Vol 72, Issue 3 (04/2021), 342-355  
Tuy nhiên, tình trạng sân bay bị "tê liệt" do ảnh hưởng của hoạt động mù, sương mù và mây  
thấp, đặc biệt trong các tháng mùa đông, gây không ít thiệt hại cho các hãng hàng không cũng  
như hành khách. Thông tư Quy định về khí tượng hàng không dân dụng [1] đã quy định rõ  
thời gian thực hiện quan trắc và báo cáo thời tiết (Điều 4), các nội dung quan trắc và báo cáo  
(Điều 5). Ngoài ra, Thông tư còn quy định trách nhiệm của cơ sở cung cấp dịch vụ khí tượng  
tại cảng hàng không quốc tế phải thực hiện các bản tin dự báo, cảnh báo thời tiết phục vụ khai  
thác bay như dự báo hạ cánh, dự báo cất cánh, dự báo thời tiết trên đường bay và khu vực bay,  
cảnh báo các điều kiện thời tiết nguy hiểm đến tàu bay... trong đó có hiện tượng mù, sương mù  
và mây thấp. Nhằm đảm bảo an toàn cho hoạt động khai thác bay, nhất là sau một số sự cố hàng  
không liên quan đến hiện tượng thời tiết nguy hiểm, Cục Hàng không Việt Nam đã ban hành  
Chỉ thị về Đảm bảo an toàn bay [2]. Chỉ thị nêu rõ quy định bắt buộc xác định ít nhất 01 sân  
bay dự bị hạ cánh khi lập kế hoạch bay. Nếu điều kiện thời tiết phức tạp như sương mù dày đặc  
trên diện rộng thì phải chọn thêm sân bay dự bị thứ 2 nằm ngoài vùng ảnh hưởng của khu vực  
thời tiết nguy hiểm. Chỉ thị cũng yêu cầu các cơ sở cung cấp dịch vụ khí tượng cảng hàng không  
quốc tế Nội Bài, Đà Nẵng, Tân Sơn Nhất có trách nhiệm phát bản tin dự báo thời tiết tại cảng  
hàng không, sân bay (TAF) và bản tin dự báo thời tiết tại cảng hàng không, sân bay được bổ  
sung (TAF AMD) cho các sân bay tương ứng, hiệu lực 24 giờ. Bên cạnh đó, các cảng hàng không  
quốc tế phải chấp hành nghiêm các quy định về tiêu chuẩn thời tiết tối thiểu đối với tàu bay và  
tổ lái. Xây dựng hướng dẫn hành động ứng phó của kiểm soát viên trong trường hợp thời tiết  
xuống dưới tiêu chuẩn tại sân bay để bổ sung vào tài liệu hướng dẫn khai thác của đài kiểm  
soát không lưu và nâng cao chất lượng bản tin cảnh báo thời tiết nguy hiểm trên đường bay.  
Mù, sương mù và mây thấp là một trong những hiện tượng thời tiết nguy hiểm ảnh hưởng  
xấu đến nhiều lĩnh vực (Ví dụ: đối với nông nghiệp: ảnh hưởng đến sự quang hợp của cây  
trồng; đối với giao thông: ảnh hưởng tầm nhìn...). Mù và sương mù là sản phẩm ngưng kết hơi  
nước trong khí quyển tạo thành những giọt nước nhỏ li ti hoặc những tinh thể băng có kích  
thước vô cùng bé bay lơ lửng trong lớp không khí ngay sát mặt đất gây giảm tầm nhìn ngang.  
Tầm nhìn ngang khí tượng, tầm nhìn ngang đường cất cánh và hạ cánh là vô cùng quan trọng  
đối với an toàn hàng không cũng như hiệu quả kinh tế. Khi tầm nhìn ngang xuống dưới  
4000m được gọi là hiện tượng mù và dưới 1000m là sương mù [3][4]. Sương mù ở Việt Nam  
thường xuất hiện từ các tháng cuối thu (tháng XI) cho đến cuối xuân (tháng IV), nhiều và  
mạnh nhất diễn ra trong các tháng mùa đông [5]. Khu vực ven biển Bắc Bộ, thời gian sương  
mù ảnh hưởng nhiều nhất là các tháng XII, I, II và III [6].  
Sương mù được hình thành bởi 04 nguyên nhân chính [3]: (1) Nước nóng bốc hơi vào  
không khí lạnh hơn; (2) Hai khối không khí gần bão hòa có nhiệt độ khác nhau hòa trộn lẫn  
nhau; (3) Lớp không khí sát mặt đất lạnh đi do ảnh hưởng của mặt đệm lạnh; và (4) Không  
khí ẩm lạnh đi đoạn nhiệt do khí áp giảm. Căn cứ các nguyên nhân hình thành, sương mù  
được phân thành 06 loại gồm (1) Sương mù bốc hơi; (2) Sương mù hỗn hợp; (3) Sương mù  
bức xạ; (4) Sương mù bình lưu; (5) Sương mù sườn dốc; và (6) Sương mù front. Phương pháp  
dự báo hiện tượng này có thể được sử dụng là mô hình số trị [6] hoặc sử dụng phương pháp  
thống kê các hình thế synop [5] trên cơ sở nguyên nhân hình thành. Vì sương mù là hiện  
tượng có quy mô vừa và nhỏ nên việc dự báo cho một địa điểm cụ thể bằng phương pháp  
synop thường gặp nhiều khó khăn do không thể đánh giá được hết các yếu tố ảnh hưởng của  
điều kiện địa phương. Để dự báo chính xác hiện tượng, bên cạnh phương pháp synop cần có  
phương pháp định lượng bổ sung. Một trong những phương pháp có khả năng đáp ứng được  
yêu cầu đó là phương pháp thống kê.  
Dự báo mù và sương mù được các nhà khoa học trong nước quan tâm nghiên cứu từ  
344  
Tạp chí Khoa học Giao thông vận tải, Tập 72, Số 3 (04/2021), 342-355  
những năm 60 của thế kỷ XX. Theo Phan Văn Tân [5], Đặng Trần Duy và cs. thực hiện  
nghiên cứu trên cơ sở chuỗi số liệu từ 1960 - 1966 của trạm Cô Tô để xây dựng những đặc  
trưng thống kê về sự xuất hiện mù và sương mù với các yếu tố như nhiệt độ, nhiệt độ điểm  
sương, độ ẩm, hướng gió và tốc độ gió. Trần Tân Tiến [6] xây dựng phương pháp dự báo  
sương mù bức xạ - bình lưu trên cơ sở giải hệ phương trình nhập nhiệt, vận chuyển nước và  
hơi nước. Kết quả nghiên cứu cho thấy mô hình dự báo có khả năng ứng dụng trong nghiệp  
vụ. Theo [5], Kiều Thị Xin đã sử dụng chuỗi số liệu từ năm 1961 đến 1981 của 3 trạm khí  
tượng ven biển Bắc Bộ xác định các đặc trưng thống kê để dự báo mù và sương mù. Nghiên  
cứu đưa ra nhận định hiện tượng mù và sương mù khu vực ven biển Bắc Bộ xuất hiện vào các  
tháng XII - III hàng năm và nhiều nhất là tháng III. Phan Văn Tân [5] nghiên cứu đặc điểm  
chế độ và phương pháp thống kê dự báo sương mù khu vực biển và ven bờ Vịnh Bắc Bộ.  
Nghiên cứu đã đưa ra bộ tiêu chí để áp dụng trong nghiệp vụ dự báo mù và sương mù. Các  
tiêu chí gồm thời gian xuất hiện sương mù trong năm cực đại vào tháng III, có thể kéo dài 1  
2 ngày; thời điểm xuất hiện sương mù trong ngày là 6 8 giờ hoặc 19 20 giờ. Ngoài ra, tác  
giả còn thống kê đặc điểm nhiệt độ, nhiệt độ điểm sương, độ ẩm, hướng gió, tốc độ gió và  
lượng mây trước và trong thời điểm xuất hiện sương mù. Nguyễn Xuân Tiến và cs. [7] nghiên  
cứu hoạt động sương mù, mưa nhỏ bằng phương pháp thống kê synop và đánh giá tác động  
của chúng tới điều kiện sinh trưởng của cây nông nghiệp ở khu vực Bắc Trung Bộ.  
Trên thế giới, việc nghiên cứu dự báo sương mù cũng rất được quan tâm. Các mô hình số  
trị sử dụng trong dự báo hiện tượng thời tiết có thể kể đến như NWP (Numerical Weather  
Prediction) [8], HIRLAM (High Resolution Limited Area Model) [9] hay WRF (Weather  
Research and Forecasting Model) [10]. Các mô hình số trị trên được ứng dụng dự báo sương  
mù ở các quốc gia như Anh, Mỹ, Tây Ban Nha, Đan Mạch, Phần Lan, Hàn Quốc... Kết quả dự  
báo từ mô hình đều được thực hiện kiểm chứng với các chỉ số dự báo sương mù như FSI (Fog  
Stability Index). FSI là chỉ số được phát triển bởi cơ quan dự báo thời tiết Mỹ. Cho đến nay,  
phương pháp dự báo sương mù bằng chỉ số FSI được nhiều tác giả trên thế giới nghiên cứu và  
áp dụng, như Arun và cs. [11] dự báo cho khu vực Indo-Gangetic (Ấn Độ), Karel và cs. [12]  
dự báo dựa trên số liệu 2 trạm Praha-Libus và Brno Sokolnice (Cộng hòa Séc), Song và cs.  
[13] phát triển chỉ số FSI dự báo cho sân bay Incheon (Hàn Quốc), Holtslag và cs. [14] thực  
hiện tối ưu hóa chỉ số từ số liệu 12 trạm khí tượng ở Hà Lan. Bên cạnh đó, một số nghiên cứu  
khác đã đề xuất công thức dự báo dựa trên chuỗi số liệu thống kê như công thức của Stoelinga  
và Warner [15] phụ thuộc vào mật độ hơi nước; công thức RUC (Rapid Update Cycle) được  
phát triển bởi Cơ quan Quản lý Khí quyển và Đại dương Quốc gia Hoa Kỳ (NOAA) [10] phụ  
thuộc vào độ ẩm tương đối; công thức FSL (Forecast Systems Laboratory) [16] phụ thuộc vào  
nhiệt độ bề mặt, nhiệt độ điểm sương và độ ẩm tương đối.  
Sự hình thành và phát triển sương mù là tổ hợp sự tương tác lớp bề mặt, mặt biển và lớp  
không khí gần bề mặt. Phương pháp dự báo sương mù bình lưu truyền thống cho các vùng  
ven biển là dựa vào hướng gió, nhưng áp dụng cho sương mù bức xạ hay sương mù địa hình  
thì gặp nhiều hạn chế. Hầu hết các nghiên cứu đều chỉ ra rằng việc dự báo sương mù không  
chỉ dựa vào điều kiện bề mặt mà còn phụ thuộc các điều kiện ở cao độ khác nhau như tốc độ  
xáo trộn, nhiệt độ không khí và điểm sương trong lớp 0 - 1000m; độ ẩm riêng; gradient nhiệt  
độ thẳng đứng và nhiều yếu tố khác [5][6].  
Bài báo giới thiệu một thuật toán dự báo mà trong đó các nhân tố sử dụng thể hiện ý  
nghĩa vật lý và các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hình thành mù và sương mù. Các nhân tố  
đó là tổ hợp đại lượng quan trắc khí tượng thông thường nhằm đưa ra kết quả dự báo có độ tin  
cậy tốt cho khu vực sân bay quốc tế Nội Bài - Hà Nội.  
345  
Transport and Communications Science Journal, Vol 72, Issue 3 (04/2021), 342-355  
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
Nghiên cứu lựa chọn phương pháp thống kê để xây dựng phương trình tương quan và xác  
định các ngưỡng dự báo bằng phương pháp phân lớp. Đây là phương pháp được nhiều nghiên  
cứu ứng dụng dựa trên tập cơ sở dữ liệu lớn và ưu thế về tốc độ xử lý tính toán [17]. Phương  
trình hồi quy tổng quát có dạng:  
F = C0 + C1x1 + C2x2 + ... + Cnxn  
(1)  
Trong đó: Ci - hệ số của phương trình hồi quy; xi - biến phụ thuộc là các nhân tố dự báo.  
Các hệ số Ci (i = 0 n) được tìm bằng phương pháp hồi quy tuyến tính đa biến từ tập số  
liệu quan trắc là mối liên hệ giữa trường số liệu thiên khí và dữ liệu quan trắc tầm nhìn. Số  
liệu quan trắc tầm nhìn được thu thập từ mã METAR (METeorological Aerodrome Reports).  
Bản tin METAR của sân bay Nội Bài được phát liên tục 24h/24h với tần suất 30 phút/lần  
tương ứng 48 phiên quan trắc (ốp) mỗi ngày. Độ dài chuỗi 10 năm quan trắc (2010 - 2019) là  
175.296 phần tử. Số liệu quan trắc được thu thập từ website của trường Đại học Wyoming  
(Mỹ) tại địa chỉ http://weather.uwyo.edu/upperair/sounding.html với các phiên quan trắc (ốp)  
00h00 và 12h00 từ 2010 đến 2019 và được xử lý tính toán thông qua phần mềm RAOB  
(RAwinsonde OBservation program).  
Các nhân tố dự báo là các chỉ số liên quan chặt chẽ đến sự hình thành và phát triển sương  
mù: FSI, Fog Point và Fog Threat.  
- FSI (Fog Stability Index) là chỉ số được sử dụng khá phổ biến. Chỉ số này là tổ hợp  
tuyến tính của các yếu tố khí tượng trong lớp khí quyển sát bề mặt đến mực 850mb: T2m  
(nhiệt độ tại độ cao 2m, oC), T850 (nhiệt độ tại mực 850mb, oC), Td2m (nhiệt độ điểm sương tại  
độ cao 2m, oC) và W850 (tốc độ gió tại mực 850mb, knot, 1knots = 1,852km/h). FSI được xác  
định theo công thức [14][18]:  
FSI = 4T2m − 2 T850 + Td2m + W  
(
)
(2)  
850  
Theo [14], khi FSI < 31 thì xác suất xuất hiện sương mù là cao; khi 31 < FSI < 55 thì xác  
suất là trung bình và khi FSI > 55 thì khả năng xuất hiện sương mù là thấp. Chỉ số FSI biểu  
thị khả năng xuất hiện sương mù càng cao khi có độ ẩm càng lớn (T2m - Td2m càng nhỏ), khí  
quyển ổn định (T2m - T850 nhỏ) và tốc độ gió nhỏ tại mực 850mb (W850 nhỏ). Chỉ số này có  
thể đánh giá được sự hình thành sương mù bức xạ.  
Số liệu thống kê thu thập tại trạm quan trắc Nội Bài (Hình 1) cho thấy khi FSI < 31 thì chỉ  
có 15,3% khả năng xuất hiện sương mù, khi 31 FSI < 55 thì khả năng đó là 5,9%. Trường  
hợp FSI 55 thì khả năng xuất hiện sương mù là thấp và khả năng xuất hiện giá trị tầm nhìn  
ngang trên 4000m là 63,53%. Như vậy khả năng dự báo sương mù của chỉ số FSI cho khu vực  
Nội Bài là không cao nhưng lại hữu hiệu trong việc dự báo không có hiện tượng sương mù.  
- Fog Point (FGP) là chỉ số biểu thị nhiệt độ hình thành sương mù. Chỉ số này được xác  
định căn cứ theo đường tỷ lệ giữa khối lượng hơi nước với khối lượng không khí khô trong  
khối không khí bão hòa từ đường cong nhiệt độ điểm sương tại mực ngưng kết nâng (LCL -  
Lifting condensation level) đến bề mặt [18]. Chỉ số này có thể đánh giá được sự hình thành  
sương mù bốc hơi. Hình 2 cho thấy giá trị Fog Point khu vực Nội Bài dao động từ -30 đến  
30oC. Khi FGP < 2 hoặc FGP > 28 thì không có khả năng hình thành sương mù.  
- Fog Threat (FGT) là chỉ số biểu thị sương mù tiềm năng, xác định theo công thức [18]:  
346  
 
Tạp chí Khoa học Giao thông vận tải, Tập 72, Số 3 (04/2021), 342-355  
FGT = WBPT850 −FGP  
(3)  
Trong đó, WBPT850 là nhiệt độ thế vị bầu ẩm mực 850mb. Đại lượng biểu thị nhiệt độ  
thấp nhất tiềm năng mà không khí có thể bị làm lạnh bởi quá trình bốc hơi ở mực 850mb  
(WBPT850 = 850mb wet bulb potential temperature). Chỉ số này có liên quan đến sự hình  
thành sương mù bình lưu và sương mù front.  
Hình 2. Phân bố chỉ số Fog Point  
và giá trị tầm nhìn tại trạm quan trắc Nội Bài.  
Hình 1. Phân bố chỉ số FSI  
và giá trị tầm nhìn tại trạm quan trắc Nội Bài.  
Hình 3. Phân bố chỉ số Fog Threat và giá trị tầm nhìn tại trạm quan trắc Nội Bài.  
Theo [18], khi FGT > 3 thì xác suất xuất hiện sương mù là thấp vì nhiệt độ ngưng tụ tiềm  
năng vượt ngưỡng nhiệt độ hình thành sương mù; khi 0 < FGT < 3 thì xác suất là trung bình  
và khi FGT < 0 thì khả năng xuất hiện sương mù là lớn. Dữ liệu Fog Threat tại trạm quan trắc  
Nội Bài (Hình 3) cho thấy giá trị này luôn không âm và do đó ngưỡng dự báo theo [18] không  
phù hợp đối với vùng nghiên cứu. Tuy nhiên khi FGT < 16 thì có khả năng xuất hiện sương  
mù và FGT 16 thì khả năng xuất hiện sương mù là rất thấp (2,6%).  
Ngoài ra, quá trình lạnh đi của khối không khí nóng ẩm sát bề mặt lan truyền lên những  
lớp không khí cao hơn sẽ tạo thành lớp nghịch nhiệt có thể lên tới mực 800mb (gần 1500m so  
với mực nước biển) và có thể tạo thành sương mù bình lưu [3] (ví dụ thời điểm 12h00 ngày  
23/12/2019 - Hình 4b). Do đó nghiên cứu lựa chọn thêm chỉ số nghịch nhiệt (Thermal  
inversion - TIN). Chỉ số này được xác định bằng giản đồ thiên khí (Hình 4), TIN = 1 nếu tồn  
tại lớp nghịch nhiệt trong khoảng 1000 - 800mb và ngược lại TIN = 0. Tuy nhiên cũng có  
nhiều thời điểm xuất hiện lớp nghịch nhiệt nhưng quan trắc trong 24 giờ tiếp theo không xuất  
hiện sương mù (ví dụ thời điểm 12h00 ngày 11/2/2018 - Hình 4a), thậm chí tầm nhìn ngang  
đạt giá trị trên 10km.  
347  
     
Transport and Communications Science Journal, Vol 72, Issue 3 (04/2021), 342-355  
a) Thời điểm 12h00 ngày 11/2/2018  
b) Thời điểm 12h00 ngày 23/12/2019  
Hình 4. Giản đồ thiên khí Skew-T tại trạm quan trắc Nội Bài.  
Như vậy, kết hợp các nhân tố dự báo FSI, Fog Threat (FGT), Fog Point (FGP) và  
Thermal inversion (TIN) có thể dự báo được sự xuất hiện mù và sương mù khu vực nghiên  
cứu. Với 4 nhân tố dự báo được lựa chọn, phương trình (1) được viết lại như sau:  
F = C0 + C1FSI + C2FGT + C3FGP + C4TIN  
(4)  
Bộ dữ liệu được lập thành ma trận 5 cột gồm 4 nhân tố dự báo (FSI, FGT, FGP và TIN)  
và 1 yếu tố dự báo (tầm nhìn). Tại mỗi thời điểm 00h00 hoặc 12h00 của số liệu quan trắc  
thám không, nếu 24 giờ sau đó ở bản tin METAR xuất hiện giá trị tầm nhìn dưới 4000m (mù)  
thì yếu tố dự báo mang giá trị "0,5", dưới 1000m (sương mù) mang giá trị 1,0 và trên 4000m  
mang giá trị "0". Như vậy, dữ liệu được xử lý thành ma trận kích thước (7304 hàng, 5 cột)  
dùng để xác định các hệ số trong phương trình (4) và xây dựng thuật toán dự báo sương mù  
hạn 24h cho khu vực sân bay quốc tế Nội Bài.  
3. THUẬT TOÁN DỰ BÁO  
3.1. Phương trình dự báo  
Ma trận dữ liệu được chia thành ma trận phụ thuộc (A) (2010 - 2016) có kích thước (5114  
hàng, 5 cột) dùng để phân tích xây dựng phương trình hồi quy và ma trận độc lập (B) (2017 -  
2019) có kích thước (2190 hàng, 5 cột) dùng để kiểm định độ tin cậy của phương trình. Thuật  
toán xác định các hệ số C0, C1, C2, C3 và C4 trong phương trình (4) như mô tả trên Hình 5.  
Với mục tiêu tìm bộ hệ số phương trình tương quan tốt nhất và ổn định trong phạm vi  
chuỗi số liệu thu thập, các hệ số được xác định bằng phương pháp hồi quy tuyến tính đa biến  
và tính lặp cho đến khi nhận được tổng sai số của các hệ số giữa bước tính trước và sau thỏa  
mãn giá trị cho phép (= 0,01). Trong trường hợp sử dụng toàn bộ dữ liệu của ma trận A  
nhưng vẫn chưa nhận được bộ hệ số ổn định thì tiếp tục tăng kích thước ma trận A bằng cách  
bổ sung dữ liệu từ ma trận B. Nếu số hàng trong ma trận B bằng 0 mà tổng sai số của các hệ  
số vẫn chưa thỏa mãn ràng buộc thì hệ số phương trình tương quan là chưa ổn định. Trong  
tình huống này, vòng lặp dừng cưỡng bức và hệ số phương trình tương quan là hệ số của  
phương trình ở bước lặp cuối cùng.  
348  
   
Tạp chí Khoa học Giao thông vận tải, Tập 72, Số 3 (04/2021), 342-355  
Hình 5. Sơ đồ khối xây dựng phương trình dự báo.  
Vì các hệ số phân bố tương đối đều cho cả 3 trường hợp (không mù, có mù và sương mù)  
nên quá trình lặp dừng lại khi sử dụng toàn bộ dữ liệu của ma trận B. Các phương trình hồi  
quy nhận được trong quá trình dò tìm có hệ số tương quan R2 thấp (R2 = 0,0059 - 0,0919), Để  
tăng khả năng dự báo của mô hình hồi quy, nghiên cứu lựa chọn tính toán đồng thời bằng 2  
phương trình:  
349  
 
Transport and Communications Science Journal, Vol 72, Issue 3 (04/2021), 342-355  
F = − 0,039FSI+ 0,086FGT+ 0,074FGP+0,011TIN  
(5)  
(6)  
1
F = 6,2499+ 0,0167FSI+ 0,0486FGT+ 0,0323FGP+0,0016TIN  
2
Trong đó, phương trình (5) được xây dựng từ mối quan hệ giữa 4 chỉ số với giá trị 0  
(không mù) hoặc 0,5 (có mù) hoặc 1 (sương mù) và kết quả của phương trình (6) được trả về  
logarit tự nhiên giá trị tầm nhìn ln(Vis).  
3.2. Ngưỡng dự báo  
Thông kê 3 chỉ số FSI (Hình 1), FGP (Hình 2) và FGT (Hình 3) cho thấy các ngưỡng dự  
báo thể hiện khả năng không xuất hiện sương mù. Nếu coi tổng khả năng xuất hiện mù và  
không mù là khả năng không có sương mù thì 3 chỉ số trên cho kết quả dự báo không sương  
mù ứng với từng ngưỡng lần lượt là FSI > 55 (98,25%), FGT > 16 (95,52%), FGP < 3  
Bảng 1. Ngưỡng dự báo của chỉ số sương mù.  
Ngưỡng  
Không mù (%)  
Mù (%)  
FSI < 9  
0,0  
55,5  
FSI > 55  
63,5  
35,0  
FGT > 16  
43,5  
FGP < 3  
63,0  
35,5  
52,0  
Sương mù (%)  
45,0  
1,5  
4,5  
1,5  
Khi các chỉ số không thuộc các ngưỡng trên Bảng 1 thì sử dụng phương trình (5) và (6)  
để dự báo. Đồ thị phân lớp kết quả tính toán hàm F1 và F2 thể hiện trên Hình 6 và Hình 7.  
Kết quả phân tích cho thấy hàm F1 và F2 cũng không thể đưa ra được ngưỡng dự báo khả  
năng cao xuất hiện sương mù mà chỉ có ngưỡng xuất hiện mù và không mù (Bảng 2).  
Hình 6. Đồ thị phân lớp phương trình (5).  
Hình 7. Đồ thị phân lớp phương trình (6).  
Bảng 2. Ngưỡng dự báo của hàm F1 và F2.  
F1 < -0,2 F2 < 7,3  
57,0 30,0  
Ngưỡng  
Không mù (%)  
Mù (%)  
F2 > 8,1  
58,0  
40,5  
42,0  
1,0  
70,0  
0,0  
Sương mù (%)  
1,5  
Bảng 2 cho thấy khi hàm F1 < -0,2 hoặc F2 < 7,3 hoặc F2 > 8,1 thì khả năng xuất hiện  
sương mù là rất nhỏ. Tuy nhiên số lượng mẫu thuộc ngưỡng này chỉ chiếm khoảng 20% tổng  
số mẫu. Do đó, 80% số mẫu còn lại phải được tính toán kết hợp cả 2 hàm F1, F2 và có thể bổ  
sung các tiêu chí phụ.  
Như vậy, căn cứ các ngưỡng dự báo của các chỉ số và các phương trình hồi quy, kết hợp  
với các kết quả phân tích thống kê khác, thuật toán dự báo mù và sương mù hạn 24 giờ cho  
khu vực sân bay quốc tế Nội Bài được mô tả theo sơ đồ khối (Hình 8) sau:  
350  
           
Tạp chí Khoa học Giao thông vận tải, Tập 72, Số 3 (04/2021), 342-355  
Hình 8. Thuật toán dự báo mù và sương mù hạn 24 giờ cho khu vực sân bay quốc tế Nội Bài.  
351  
 
Transport and Communications Science Journal, Vol 72, Issue 3 (04/2021), 342-355  
Kết quả xây dựng thuật toán cho thấy rất khó để dự báo chính xác sự xuất hiện của hiện  
tượng sương mù (F = 1,0). Tổ hợp tiêu chí cho khả năng cao xuất hiện hiện tượng là F2 = 7,6  
kết hợp F1 > 1,0 và F2 = 7,5 kết hợp F1 > 1,5. Đối với dự báo hiện tượng mù thì thuật toán  
trên cho kết quả đáng tin cậy với nhiều tổ hợp dự báo có khả năng cao xảy ra hiện tượng tầm  
nhìn ngang trên (F = 0,0) hoặc dưới 4000m (F = 0,5).  
Để kiểm định độ tin cậy của thuật toán, nghiên cứu thực hiện thu thập dữ liệu quan trắc  
tầm nhìn một số ngày cuối tháng XII/2020 và tháng I/2021 (chuỗi độc lập - 24 phần tử), đồng  
thời lựa chọn một số ngày đầu, giữa hoặc cuối các tháng từ chuỗi dữ liệu đã có (chuỗi phụ  
thuộc - 205 phần tử) và thực hiện tính toán theo sơ đồ khối Hình 8. Phương pháp đánh giá kết  
quả dự báo dựa trên bảng sự kiện ngẫu nhiên 2x2 của Doswell [19]. Các tiêu chí đánh giá chất  
lượng dự báo theo kết quả từ bảng sự kiện xảy ra ngẫu nhiên gồm tỷ lệ dự báo đúng toàn phần  
(H), tỷ lệ phát hiện quan trắc "Có" (POD), tỷ lệ báo khống (FAR), tỷ lệ phát hiện quan trắc  
"Không" (POFD), chỉ tiêu thành công (CSI), chỉ tiêu thống kê thực tế (TSS) và chỉ tiêu  
Heidke [19].  
Bảng 3. Đánh giá kết quả kiểm định với chuỗi phụ thuộc.  
Quan trắc  
Có  
Không  
Tổng số  
Dự báo  
Có  
Không  
Tổng số  
137  
13  
150  
47  
8
55  
184  
21  
205  
H
POD  
FAR  
POFD  
0,855  
CSI  
TSS  
Heidke  
0,073  
0,707  
0,913  
0,255  
0,695  
0,059  
Kết quả kiểm định dự báo với chuỗi phụ thuộc (Bảng 3) cho thấy chỉ số POD rất cao  
(trên 90%), CSI và H đạt khoảng 70%. Do đó có thể coi thuật toán phát hiện tốt pha có "mù".  
Tuy nhiên, chỉ số TSS chưa tốt và tỷ lệ báo khống FAR khoảng 25%. Nhận diện những  
trường hợp báo khống cho thấy số đông trường hợp mù/sương mù xảy ra với thời gian ngắn  
khoảng 120 phút thậm chí diễn biến rất nhanh từ tầm nhìn trên 10km xuống ngưỡng có mù và  
trở lại ngưỡng trên 10km trong 3 lần quan trắc liên tiếp. Những trường hợp báo khống này,  
thuật toán chưa thể phát hiện được mối liên hệ giữa các chỉ số sương mù với hiện tượng diễn  
ra trong 24 giờ tiếp theo. Tỷ lệ dự báo sai (số lần dự báo "không" nhưng quan trắc "có" trên  
tổng số lần dự báo) khoảng 5%.  
Bảng 4. Kiểm định với chuỗi độc lập.  
Tầm nhìn  
nhỏ nhất (m) tượng  
Hiện  
Đánh  
giá  
Ngày  
FSI FGT FGP TIN F1 F2  
Kết quả  
28/12/2020  
00h00-23h00  
29/12/2020  
00h00-23h00  
30/12/2020  
00h00-23h00  
31/12/2020  
00h00-23h00  
01/01/2021  
00h00-23h00  
02/01/2021  
00h00-23h00  
F = 0,5 (70%) Dự báo  
F = 1,0 (15%) Đúng  
F = 0,5 (70%) Dự báo  
F = 1,0 (10%) Đúng  
F = 0,0 (63,5%) Dự báo  
F = 1,0 (1,5%) Đúng  
F = 0,0 (63,5%) Dự báo  
F = 1,0 (1,5%) Đúng  
F = 0,0 (57%) Dự báo  
F = 1,0 (1,0%) Đúng  
F = 0,0 (63,5%) Dự báo  
F = 1,0 (1,5%) Sai  
2800  
2100  
0,5 34,0 7,3 20,6  
0,5 38,8 7,9 18,7  
0,0 56 12,3 4,7  
1
0
1
0
0
1
0,8 7,8  
0,6 7,9  
-0,8 7,9  
-1,3 7,9  
-0,9 7,8  
-0,1 7,5  
>10000  
5000  
0,0 61,6 8,3 5,5  
0,0 53,6 10 5,1  
0,5 32,4 13,8 0,2  
4400  
3400  
352  
   
Tạp chí Khoa học Giao thông vận tải, Tập 72, Số 3 (04/2021), 342-355  
Tầm nhìn Hiện  
Đánh  
giá  
Ngày  
FSI FGT FGP TIN F1 F2  
Kết quả  
nhỏ nhất (m) tượng  
03/01/2021  
00h00-23h00  
04/01/2021  
00h00-23h00  
05/01/2021  
00h00-23h00  
06/01/2021  
00h00-23h00  
07/01/2021  
00h00-23h00  
08/01/2021  
00h00-23h00  
09/01/2021  
00h00-23h00  
10/01/2021  
00h00-23h00  
11/01/2021  
00h00-23h00  
12/01/2021  
00h00-23h00  
13/01/2021  
00h00-23h00  
14/01/2021  
00h00-23h00  
15/01/2021  
00h00-23h00  
16/01/2021  
00h00-23h00  
17/01/2021  
00h00-23h00  
18/01/2021  
00h00-23h00  
19/01/2021  
00h00-23h00  
20/01/2021  
00h00-23h00  
F = 0,5 (50%) Dự báo  
F = 1,0 (20%) Đúng  
F = 0,5 (70%) Dự báo  
F = 1,0 (10%) Khống  
F = 0,5 (70%) Dự báo  
F = 1,0 (10%) Đúng  
F = 0,5 (60%) Dự báo  
F = 1,0 (15%) Đúng  
F = 0,5 (70%) Dự báo  
F = 1,0 (10%) Đúng  
F = 0,5 (50%) Dự báo  
F = 1,0 (20%) Khống  
F = 0,0 (63%) Dự báo  
F = 1,0 (1,5%) Đúng  
F = 0,0 (63%) Dự báo  
F = 1,0 (1,5%) Đúng  
F = 0,0 (63%) Dự báo  
F = 1,0 (1,5%) Đúng  
F = 0,0 (63%) Dự báo  
F = 1,0 (1,5%) Đúng  
F = 0,0 (63%) Dự báo  
F = 1,0 (1,5%) Sai  
F = 0,5 (70%) Dự báo  
F = 1,0 (10%) Đúng  
F = 0,5 (50%) Dự báo  
F = 1,0 (20%) Đúng  
F = 0,5 (70%) Dự báo  
F = 1,0 (10%) Đúng  
F = 0,5 (60%) Dự báo  
F = 1,0 (15%) Đúng  
F = 0,0 (63%) Dự báo  
F = 1,0 (1,5%) Sai  
F = 0,5 (50%) Dự báo  
F = 1,0 (20%) Đúng  
F = 0,5 (50%) Dự báo  
F = 1,0 (20%) Đúng  
2400  
5000  
0,5 33,2 8,5 9,3  
0,0 40,8 14,9 4,8  
1
0
0
0
1
1
1
1
1
0,1 7,5  
0,0 7,8  
0,0 7,9  
0,3 7,7  
0,3 7,8  
0,0 7,5  
7,6 -0,3  
7,7 -1,2  
8,2 -2,2  
1900  
0,5  
0,5  
44 11,9 9,1  
36 11,6 10,2  
3600  
3900  
0,5 39,2 11,6 11,4  
0,0 33,2 11,4 4,3  
0,0 38,4 13,4 1,1  
0,0 54,6 11,7 -1  
>10000  
>10000  
9000  
>10000  
4700  
0,0  
82 12,4 -1,6  
0,0 55,6 23,3 -15,2 0 7,8 -1,3  
3400  
0,5  
0,5 36,8 16  
0,5 26,8 7,2 13,3  
0,5 40 12,5 9,9  
36 14,5 -2,8  
1
1
1
1
0
1
1
0
7,5 -0,4  
7,8 0,4  
7,5 0,6  
7,8 0,3  
7,7 0,5  
7,9 -1,1  
7,4 0,6  
7,5 0,5  
2400  
6
1600  
2000  
1800  
0,5 33,6 7,6 15  
0,5 57,8 12,8 0,6  
0,5 22,2 10,2 7,2  
0,5 27,6 7,8 12,1  
3600  
1600  
2000  
Bảng 5. Đánh giá kết quả kiểm định với chuỗi độc lập.  
Quan trắc  
Có  
Không  
Tổng số  
Dự báo  
Có  
Không  
Tổng số  
12  
3
15  
2
7
9
14  
10  
24  
H
POD  
FAR  
POFD  
0,222  
CSI  
TSS  
Heidke  
0,565  
0,792  
0,800  
0,143  
0,706  
0,578  
Chuỗi kiểm định độc lập với tổng số 24 lần dự báo (Bảng 4, Bảng 5) cho thấy các chỉ số  
H, POD và CSI tương đối tốt với giá trị khoảng 70 - 80%. Tỷ lệ báo khống và tỷ lệ dự báo sai  
353  
 
Transport and Communications Science Journal, Vol 72, Issue 3 (04/2021), 342-355  
đều dưới 15%. Tuy nhiên, do chuỗi độc lập ngắn và diễn ra trong thời kỳ mù và sương mù bắt  
đầu hoạt động mạnh nên khả năng dự báo tương đối tốt. Để đánh giá chính xác hơn độ tin cậy  
của thuật toán cần tiếp tục kiểm định cho những thời đoạn khác trong quá trình thực hiện  
nghiệp vụ dự báo.  
5. KẾT LUẬN  
Mù và sương mù là hiện tượng thời tiết nguy hiểm diễn ra trên quy mô vừa và nhỏ. Đối  
với khu vực sân bay quốc tế Nội Bài, giá trị các chỉ số sương mù phân bố tương đối đều ở các  
pha không mù, có mù và sương mù cho thấy hiện tượng này rất khó dự báo chính xác. Số liệu  
thống kê 10 năm gần đây (2010 - 2019) chỉ ra rằng sương mù ở khu vực hoạt động mạnh nhất  
trong các tháng I - III với thời gian thịnh hành vào đêm tối và sáng sớm. Mô hình dự báo hạn  
24 giờ (Hình 8) cho vùng nghiên cứu sử dụng hệ 2 phương trình hồi quy (5) và (6) kết hợp  
các ngưỡng dự báo cho kết quả tương đối tốt ở 2 pha không mù "0" và có mù "0,5". Đối với  
pha sương mù "1" thì mô hình chưa thực sự cho kết quả tốt. Điều này có thể được lý giải bởi  
các tháng V - IX hiện tượng sương mù có thể có diễn biến rất nhanh. Sự thay đổi tầm nhìn  
ngang từ trên 10km xuống dưới 1km và trở lại trên 10km có thể chỉ diễn ra trong khoảng 60  
phút khiến cho việc dự báo trước 24 giờ gặp sai số lớn. Để cải thiện mô hình dự báo này, có  
thể bổ sung chi tiết hơn các ngưỡng dự báo kết hợp biến thời gian hoặc bổ sung phương trình  
tương quan có xét thêm biến thời gian.  
LỜI CẢM ƠN  
Nghiên cứu này được tài trợ bởi Trường đại học Giao thông vận tải trong đề tài mã số T2020-  
CT-002. Các tác giả cũng gửi lời cảm ơn tới Trung Tâm Khí tượng Hàng không Nội Bài đã hỗ  
trợ cung cấp dữ liệu bản tin METAR để thực hiện nghiên cứu này.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]. Bộ Giao thông vận tải, Thông tư Quy định về khí tượng hàng không dân dụng, số 19/2009/TT-  
BGTVT ngày 08 tháng 9 năm 2009.  
[2]. Cục Hàng không Việt Nam, Chỉ thị về việc đảm bảo an toàn bay, số 2690/CT-CHK ngày 25  
tháng 07 năm 2014.  
[3]. Nguyễn Viết Lành, Khí tượng cơ sở, NXB. Bản Đồ, 2004.  
[4]. The office of the Federal coordinator for Meteorological services and Supporting research,  
Federal Meteorological Handbook Number 1, Surface weather observations and reports, Washington,  
D.C., 2017, pp. 8 - 1, 8 - 2.  
[5]. Phan Văn Tân, Đặc điểm chế độ và phương pháp thống kê vật lý dự báo sương mù khu vực biển  
và ven bờ khu vực Vịnh Bắc Bộ, Luận án Phó tiến sĩ, Đại học Tổng hợp Hà Nội, 1994.  
[6]. Trần Tân Tiến, Nghiên cứu các phương pháp dự báo sương mù ở các sân bay chính, Đề tài nghiên  
cứu cấp Nhà nước Mã số 42A-0502, 1986-1989.  
[7]. Nguyễn Xuân Tiến, Trần Quỳnh Trang, Sương mù, mưa nhỏ trên khu vực Bắc Trung Bộ trong  
mùa vụ đông xuân 2013 - 2014, Tạp chí Khí tượng Thủy văn, 638 (2014) 23-25.  
[8]. Sultan Al-Yahyai, Yassine Charabi and Adel Gastli, Review of the use of Numerical Weather  
354  
               
Tạp chí Khoa học Giao thông vận tải, Tập 72, Số 3 (04/2021), 342-355  
Prediction (NWP) Models for wind energy assessment, , Renewable and Sustainable Energy Reviews,  
[9]. Clark P. A. et al., Prediction of visibility and aerosol within the operational Met Office Unified  
Model. I: Model formulation and variational assimilation, Quarterly Journal of the Royal  
Meteorological Society, 134 (636) 1801 - 1816. https://doi.org/10.1002/qj.318  
[10]. Cheol-Han Bang, Ji-Woo Lee, Song-You Hong, Predictability Experiments of Fog and Visibility in  
Local Airports over Korea using the WRF Model, Journal of Korean Society for Atmospheric  
_Predictability_Experiments_of_Fog_and_Visibility_in_Local_Airports_over_Korea_using_the_WRF_M  
odel/links/555d00b608ae8c0cab2a6aef/Predictability-Experiments-of-Fog-and-Visibility-in-Local-  
Airports-over-Korea-using-the-WRF-Model.pdf  
[11]. Arun S. H. et al., Fog Stability Index: A novel technique for fog/low clouds detection using  
multi-satellites data over the Indo-Gangetic plains during winter season, International Journal of  
Remote Sensing, 39 (2018) 8200 – 8218. https://doi.org/10.1080/01431161.2018.1483085  
[12]. Karel Dejmal, Josef Novotny, Application of Fog Stability Index for significantly reduced visibility  
forecasting in the Czech Republic, Recent Advances in Fluid Mechanics and Heat & Mass Transfer,  
[13]. Song, Y., S. S. Yum, Development and Verification of the Fog Stability Index for Incheon  
International Airport Based on the Measured Fog Characteristics, Atmosphere, 23 (2013) 443-452.  
[14]. Holtslag M. C., Steeneveld G. J., Holtslag A. A. M., Fog forecasting: “old fashioned” semi-  
empirical methods from radio sounding observations versus “modern” numerical models, 5th  
International Conference on Fog, Fog Collection and Dew, (2010), pp 1-4. https://www.  
researchgate.net/publication/229029505_Fog_forecastingold_fashioned_semi-  
empirical_methods_from_radio_ sounding_observations_versus_modern_numerical_models  
[15]. Stoelinga M. T., Warner T. T., Nonhydrostatic, Mesobeta-Scale Model Simulations of Cloud  
Ceiling and Visibility for an East Coast Winter Precipitation Event, Journal of Applied meteorology,  
[16]. Doran, J. A., Roohr P. J., Beberwyk D.J., Brooks G. R., Gayno G.A., Williams R. T., Lewis J.  
M., and Lefevre R. J., The MM5 at the Air Force Weather Agency-New products to support military  
operations, The 8th Conference on Aviation, Range, and Aerospace Meteorology, Dallas, Texas, 10-  
15 January 1999.  
[17]. Phan Văn Tân, Phương pháp thống kê trong khí hậu, NXB. Đại học Quốc gia, 2005.  
[18]. RAOB User guide and Technical manual, ver. 5.6 for window, Registered to Vietnam national  
hydrometeorology service, Serial No. 5607-1010-0543-0001-1108, 1994-2004.  
[19]. Doswell C. A. III, Davies-Jones R., and Keller D. L., On summary measures of skill in rare event  
forecasting based on contingency tables. Weather and Forecasting, 5 (1990) 576-585.  
355  
                     
pdf 14 trang yennguyen 20640 Free
Bạn đang xem tài liệu "An algorithm for mist and fog forecasting for noibai international airport, Hanoi, Vietnam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfan_algorithm_for_mist_and_fog_forecasting_for_noibai_interna.pdf