Lược đồ sai phân khác thường mô phỏng số mô hình siêu quần thể: Sử dụng định lý ổn định Lyapunov

Kỷ yếu Hội nghị Khoa học Quốc gia lần thứ IX “Nghiên cứu cơ bản và ứng dụng Công nghệ thông tin (FAIR'9)”; Cần Thơ, ngày 4-5/8/2016  
DOI: 10.15625/vap.2016.00034  
LƯỢC ĐỒ SAI PHÂN KHÁC THƯỜNG MÔ PHỎNG SỐ MÔ HÌNH  
SIÊU QUẦN THỂ: SỬ DỤNG ĐỊNH LÝ ỔN ĐỊNH LYAPUNOV  
Đặng Quang Á1, Hoàng Mạnh Tuấn2  
1Trung tâm Tin học và Tính toán, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam  
2Viện Công nghệ Thông tin, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam  
[email protected], hmtuan01121990gmail.com  
TÓM TẮT— Trong bài báo này lược đồ sai phân khác thường cho mô hình siêu quần thể được xây dựng. Tính chất ổn định của mô  
hình rời rạc được nghiên cứu dựa trên một mở rộng của Định lý ổn định Lyapunov. Dựa trên kết quả này chúng tôi chứng minh  
được rằng lược đồ sai phân khác thường bảo toàn tất cả các tính chất của mô hình siêu quần thể. Các thử nghiệm số chỉ ra rằng  
các kết quả lý thuyết là hoàn toàn đúng đắn. So với phương pháp chúng tôi đã sử dụng trước đó [1], phương pháp hàm Lyapunov  
đơn giản hơn rất nhiều vì không cần thực hiện các tính toán phức tạp và các kỹ thuật khó để chứng minh tính chất ổn định của mô  
hình rời rạc.  
Từ khóa— Lược đồ sai phân khác thường, mô hình siêu quần thể, định lý ổn định Lyapunov, mô phỏng số.  
I. GIỚI THIỆU  
Các nghiên cứu về các hệ thống sinh học, hóa học, vật lý, cơ học,… đã được phát triển trong nhiều năm qua  
[2, 4]. Các hệ thống này thường được mô tả bởi các phương trình vi phân đạo hàm riêng cũng như các phương trình vi  
phân thường. Nghiệm của các phương trình này có các tính chất đặc biệt như tính chất dương (chẳng hạn, số lượng  
quần thể trong các mô hình sinh học, nồng độ các chất trong phản ứng sinh hóa, kích thước, năng lượng,…), tính chất  
đơn điệu, tính chất tuần hoàn, tính chất ổn định và một số tính chất bất biến khác… Bên cạnh đó các phương trình mô  
tả các hệ thống này thường rất phức tạp, không có hi vọng giải đúng. Chính vì vậy việc nghiên cứu các phương pháp  
giải gần đúng và mô phỏng số phương trình vi phân là một trong những vấn đề quan trọng của toán học nói chung và  
toán học tính toán nói riêng. Do nhu cầu của thực tiễn và sự phát triển của lý thuyết toán học các nhà toán học đã tìm ra  
rất nhiều phương pháp giải gần đúng phương trình vi phân.  
Để giải gần đúng phương trình vi phân mô tả các quá trình vật lý, sinh học, hóa học, cơ học,… nhiều phương  
pháp giải gần đúng được sử dụng, trong đó là phương pháp sai phân là phương pháp phổ biến nhất. Lý thuyết chung về  
các lược đồ sai phân giải phương trình vi phân đã được xây dựng và phát triển trong nhiều cuốn sách mà ngày nay đã  
trở thành kinh điển (xem, chẳng hạn, [17]). Ta sẽ gọi các lược đồ loại này là ―lược đồ sai phân bình thường‖ (standard  
finite difference schemes). Trong nhiều bài toán phi tuyến các lược đồ sai phân bình thường có nhược điểm là gây ra  
hiện tượng không ổn định số (numerical instabilities) [12-14]. Một mô hình rời rạc được gọi là có hiện tượng không ổn  
định số nếu tồn tại nghiệm của phương trình sai phân (hay lược đồ sai phân) không bảo toàn các tính chất nghiệm của  
phương trình vi phân tương ứng. Trong [12-14] Mickens đưa ra rất nhiều các ví dụ chi tiết và phân tích sâu sắc hiện  
tượng không ổn định số xảy ra khi sử dụng các lược đồ sai phân bình thường. Nói chung lược đồ sai phân bình thường  
chỉ có thể bảo toàn được các tính chất của bài toán khi bước lưới   được chọn để rời rạc trục thời gian đủ nhỏ, tức là  
 
 
      nào đó với   rất nhỏ. Chính vì thế khi nghiên cứu mô hình trong khoảng thời gian rất lớn (       thì việc  
chọn bưới lưới quá nhỏ dẫn đến chi phí tính toán rất lớn.  
Để khắc phục hiện tượng không ổn định số, vào những năm 80 của thế kỷ trước Mickens đã đề xuất một khái  
niệm mới, được gọi là lược đồ sai phân khác thường (nonstandard finite difference schemes) để phân biệt với các lược  
đồ sai phân bình thường [12-14]. Theo đó, lược đồ sai phân khác thường là lược đồ được xây dựng dựa trên một bộ  
quy tắc xác định. Các quy tắc này được đề xuất bởi Mickens dựa trên các phân tích hiện tượng không ổn định số khi sử  
dụng các lược đồ sai phân bình thường. Đây là lớp phương pháp số bảo toàn các tính chất của phương trình vi phân  
tương ứng. Đó là các tính chất của nghiệm của phương trình vi phân như: tính chất nghiệm dương, tính chất nghiệm  
đơn điệu, tính chất nghiệm bị chặn, tính chất nghiệm tuần hoàn, các tính chất ổn định của nghiệm và một số tính chất  
bất biến khác như bảo toàn năng lượng, bảo toàn hình dạng hình học… Ưu thế của các lược đồ sai phân khác thường là  
có thể bảo toàn các tính chất nghiệm của phương trình vi phân tương ứng với mọi bước lưới      . Các lược đồ thỏa  
mãn tính chất này còn được gọi là các lược đồ sai phân tương thích động lực (dynamically consistent).  
Một tính chất đặc biệt quan trọng của phương trình vi phân là tính chất ổn định của tập hợp điểm cân bằng.  
Cần nhấn mạnh rằng việc phân tích tính chất ổn định của tập hợp điểm cân bằng có vai trò quan trọng trong việc  
nghiên cứu dáng điệu tiệm cận nghiệm của phương trình vi phân. Vì thế việc xây dựng các lược đồ sai phân bảo toàn  
tính chất ổn định cho tập hợp điểm cân bằng là thực sự quan trọng trong việc mô phỏng số và giải số phương trình vi  
phân. Các lược đồ sai phân bảo toàn tính chất này còn được gọi là lược đồ ổn định cơ bản (elementary stable). Có rất  
nhiều kết quả khác nhau về các lược đồ ổn định cơ bản, mà tiêu biểu là kết quả cho hệ động lực tổng quát [5, 6, 10] và  
một số kết quả khác cho các hệ phương trình cụ thể [7, 15, 16, 18]. Cách tiếp cận chung, phổ biến là xem xét ma trận  
Jacobian của lược đồ rời rạc tại các điểm cân bằng. Sau đó xác định các điều kiện để tất cả các giá trị riêng λ của ma  
Đặng Quang Á, Hoàng Mạnh Tuấn  
275  
trận Jacobian đều nằm trong hình cầu đơn vị. Đây chính là điều kiện cần và đủ để điểm cân bằng hyperbolic là ổn định  
địa phương [2, 8]. Nhược điểm chính và hạn chế chung của cách tiếp cận này là:  
1. Cách tiếp cận này chỉ áp dụng được khi tất cả các điểm cân bằng đều là các điểm cân bằng hyperbolic. Nếu  
tồn tại một điểm cân bằng non-hyperbolic thì không thể sử dụng cách tiếp cận này. Nói chung chưa có các kết quả về  
lược đồ sai phân khác thường bảo toàn tính chất ổn định cho tập hợp điểm cân bằng non-hyperbolic.  
2. Ngay cả khi tất cả các điểm cân bằng đều là các điểm cân bằng hyperbolic thì việc xác định điều kiện để tất  
cả các giá trị riêng λ của ma trận Jacobian nằm trong hình cầu đơn vị là cực kỳ khó khăn và phức tạp. Về mặt lý thuyết  
có thể áp dụng điều kiện Jury [2, 7, 18] để xác định các điều kiện này. Tuy nhiên trên thực tế, trong một số trường hợp  
việc áp dụng điều kiện này là cực kỳ phức tạp vì có thể không xác định được biểu thức của các điểm cân bằng hoặc  
biểu thức của các điểm cân bằng là quá phức tạp, thí dụ khi phương trình vi phân có số chiều lớn và chứa nhiều tham  
số trong phương trình [3]. Song song với đó khi sử dụng lược đồ sai phân có số chiều lớn (bằng số chiều của phương  
trình vi phân) và chứa nhiều tham số lặp (nhằm đảm bảo việc bảo toàn các tính chất của phương trình) thì việc phân  
tích ma trận Jacobian của lược đồ sai phân nhờ điều kiện Jury là không thực hiện được.  
3. Việc xem xét ma trận Jacobian như trên chỉ đảm bảo tính chất ổn định địa phương trong khi nhiều mô hình  
lại có tính chất ổn định toàn cục [2, 4].  
Để khắc phục hạn chế này có thể sử dụng lý thuyết ổn định Lyapunov để chỉ ra tính chất ổn định của tập hợp  
điểm cân bằng, kể cả điểm cân bằng nonhyperbolic [8, 9]. Tất nhiên, nhược điểm của Định lý ổn định Lyapunov là  
không phải lúc nào cũng xác định được hàm Lyapunov phù hợp. Mặc dù vậy, trong nhiều bài toán có tính chất đặc biệt  
việc xây dựng hàm Lyapunov (liên kết chặt với tính chất của bài toán) lại là công việc đơn giản hơn rất nhiều. Khi đó  
tính chất ổn định của các điểm cân bằng được chỉ ra mà không cần thực hiện các phân tích ma trận Jacobian của  
phương trình rời rạc. Đây là hướng tiếp cận có thể áp dụng cho nhiều lớp bài toán khác nhau, khắc phục được hạn chế  
của cách tiếp cận dựa trên việc phân tích ma trận Jacobian trước đó.  
Với mục tiêu minh họa cho hướng tiếp cận này, trong bài báo này, chúng tôi xét mô hình siêu quần thể (dạng  
thu gọn) được đề xuất bởi Keymer năm 2000 [11]  
   
   
   
   
(   
(
 
(   
                 
                               
trong đó            là các tham số dương đặc trưng cho mô hình. Do ý nghĩa sinh học nên ta chỉ xét các giá trị  
 
{(  
 
}
ban đầu trong tập                                    , tức là các giá trị ban đầu thỏa mãn  
(   (   
                (      (        
(   
Các phân tích toán học [2, Chapter 6] chỉ ra mô hình (1) có các tính chất sau đây:  
(   
(   
(   . Tính chất hội tụ đơn điệu của tổng              (  :  
 
 
(   
(   
(   
(   
(   
Với mọi giá trị ban đầu thỏa mãn               (            thì mọi nghiệm        (   đều thỏa mãn  
 
 
(   
(   
(   
(   
(   
(   
              . Với mọi giá trị ban đầu thỏa mãn               thì mọi nghiệm        (   đều thỏa mãn  
          hội tụ đơn điệu giảm đến     ngược lại, với mọi giá trị ban đầu thỏa mãn               thì mọi  
 
 
(   
 
(   
(   
(   
nghiệm        (   đều thỏa mãn           hội tụ đơn điệu tăng đến   .  
(   . Tính chất bị chặn:  
 
Tất cả các nghiệm của mô hình (1) với các giá trị ban đầu thỏa mãn (2) cũng thỏa mãn (2). Nói các khác thì  
tập D là bất biến dương.  
(   . Tính chất ổn định tiệm cận địa phương:  
 
 
    
 
    
   
Mô hình (1) có hai điểm cân bằng là     (  
     và     (  
 
 
 . Đặt   =  
.
 
 
 
(
 
    
 
    
 
    (     
Theo [2, Chapter 6] thì   là ổn định tiệm cận địa phương nếu       và   là ổn định tiệm cận địa phương  
 
 
 
nếu      .  
 
(   . Tính chất ổn định tiệm cận toàn cục:  
 
Định lý Poincare-Bendixon [2] chỉ ra rằng   là ổn định tiệm cận toàn cục trên   nếu       và   là ổn định  
 
 
 
 
 
{(  
 
}
tiệm cận toàn cục trên                                        nếu      .  
 
(   . Tính chất không tuần hoàn của nghiệm  
 
Tiêu chuẩn Dulax [2] chỉ ra rằng mô hình (1) không có nghiệm tuần hoàn trên  .  
276  
LƯỢC ĐỒ SAI PHÂN KHÁC THƯỜNG MÔ PHỎNG SỐ MÔ HÌNH SIÊU QUẦN THỂ: SỬ DỤNG ĐỊNH LÝ ỔN ĐỊNH LYAPUNOV  
Đây là mô hình có tính chất rất phức tạp. Mới đây bằng cách sử dụng lược đồ sai phân khác thường chúng tôi  
đã xây dựng thành công mô hình siêu quần thể rời rạc tương thích động lực [1], tức là mô hình rời rạc bảo toàn các tính  
chất (      (    của mô hình (1). Việc xây lược đồ sai phân khác thường cho mô hình (1) là rất phức tạp. Khó khăn  
 
 
chính là ở bảo toàn tính chất ổn định toàn cục (  ). Để xây dựng lược đồ sai phân khác thường bảo toàn tính chất này  
 
cần sử dụng các kỹ thuật tinh vi và các tính toán rất phức tạp.  
Trong bài báo này nhờ Định lý ổn định Lyapunov chúng tôi xây dựng lược đồ sai phân khác thường bảo toàn  
tính chất ổn định toàn cục của mô hình (1), nhờ đó nhận được lược đồ sai phân bảo toàn tất cả các tính chất của mô  
hình (1). So với cách chứng minh của chúng tôi trước đây, cách chứng minh sử dụng sử dụng định lý ổn định  
Lyapunov ngắn gọn và đơn giản hơn rất nhiều. Ở đây, không cần thực hiện các tính toán phức tạp và các kỹ thuật tinh  
vi. Cách tiếp cận này có thể được áp dụng cho các lớp bài toán tương tự.  
Trong phần II lược đồ sai phân khác thường bảo toàn các tính chất của mô hình (1) được xây dựng. Phần III  
trình bày các thử nghiệm số nhằm chỉ ra các kết quả lý thuyết là hoàn toàn đúng đắn. Phần kết luận và hướng nghiên  
cứu tiếp theo được trình bày trong phần IV.  
II. XÂY DỰNG LƯỢC ĐỒ SAI PHÂN KHÁC THƯỜNG  
Chúng tôi đề xuất lược đồ sai phân khác thường cho mô hình (1) ở dạng  
 
    
    
 
(
 
    
              
                 ,  
          
(   
 
 
    
    
 
 
(   
                                     khi      .  
    
(
 
 
 
 
 
So với lược đồ chúng tôi đã xây dựng trước đây [1] lược đồ (3) đơn giản hơn, chỉ chứa một tham số   . Mục  
tiêu của chúng ta là xác định điều kiện đặt lên hàm mẫu số   đề lược đồ (3) bảo toàn các tính chất (      (    của mô  
 
 
hình (1).  
(   
(   
A. Tính chất hội tụ đơn điệu của tổng              (   
(   
Định lý 1. Lược đồ sai phân (3) bảo toàn tính chất (    của mô hình (1) với mọi hàm     thỏa mãn.  
 
 
(   
(   
(
 
                               khi      .  
(   
Chứng minh. Đặt           . Cộng vế với vế hai phương trình của (3) ta thu được phương trình sai phân tuyến  
 
 
 
tính với hệ số hằng số đối với   
 
 
   
 
 
    
 
 
 
(   
     (       
     (       
Dễ dàng tìm được biểu thức nghiệm tường minh của (5)  
 
 
 
 
(   
    (    
) (  
)   
 
 
 
(
 
                  
      
 
 
 
(
 
Chú ý rằng nếu φ là hàm dương thì  
         Vì thế điểm cân bằng     
là điểm cân bằng  
(
 
        
    
ổn định tiệm cận địa phương của phương trình sai phân tuyến tính (5). Do đó nó cũng chính là điểm cân bằng ổn định  
tiệm cận toàn cục. Kết hợp với (6) Định lý được chứng minh.  
B. Tính chất bị chặn  
Định lý 2. Lược đồ sai phân (3) bảo toàn tính chất (    của mô hình (1) nếu hàm  (   thỏa mãn điều kiện  
 
 
 
(   
          {  
 
   }   
        
(   
 
            
Chứng minh. Ta sẽ chứng minh định lý bằng phương pháp quy nạp toán học. Đầu tiên theo Định lý 1 thì lược đồ (3)  
bảo toàn tính chất (                (  . Do đó, với mọi giá trị ban đầu thỏa mãn (2) thì nghiệm của (1) đều thỏa mãn  
 
      
    
             
    
    
Do đó để chỉ ra lược đồ (3) bảo toàn tính chất (    của mô hình (1) ta chỉ cần chứng minh với mọi giá trị ban  
 
đầu thỏa mãn (2) thì nghiệm của (3) đều không âm. Thật vậy, dễ dàng đưa lược đồ (3) về dạng lược đồ hiển dạng  
(
 
                 
 
 
 
 
    
 
 
(   
       
Đặng Quang Á, Hoàng Mạnh Tuấn  
277  
 
      
                   
(   
     (       
Do hàm   thỏa mãn (7) nên từ (8) ta thu được       với mọi      . Ta cần chỉ ra       với mọi  
    
 
          
 
    
 
 
    
 
  và   thỏa mãn (2). Thế   
vào biểu thức của   
ta nhận được  
 
 
    
    
 
(
 
                     
 
 
 
 
 
 
                   
      
      
 
    
 
 
     (       
(
 
Mẫu số của biểu thức   
là                 nên ta chỉ cần chỉ ra tử số là không âm. Đặt  
    
 
(
 
 
      
      
           
      
      
 
        
        
      
 
thì  
             
 
 
 
    
 
 
(    
     (       
(
 
         
   
Do           nên          
       
     Mặt khác, do           ta có  
      
 
      
 
 
     Do đó  
 
 
 
     
                      
      
    (             
      
        
     =  
 
     
      
Vì thế từ (10) ta thu được   
    với mọi   và   thỏa mãn (2). Từ đó Định lý được chứng minh.  
    
    
C. Tính chất ổn định toàn cục của tập hợp điểm cân bằng  
Bằng cách sử dụng một định lý mở rộng của Định lý ổn định Lyapunov [9, Theorem 3.3] chúng ta chỉ ra tính  
chất ổn định toàn cục của tập hợp điểm cân bằng.  
1. Trường hợp       
 
 
Trường hợp này trên tập     {(    }                          } mô hình (1) chỉ có duy nhất điểm cân  
 
bằng     (  
    . Chúng ta cần xác định điều kiện đặt lên hàm φ sao điểm cân bằng   là ổn định tiệm cận toàn cục  
 
 
    
của phương trình (3), tức là   là ổn định tiệm cận địa phương và điểm hút toàn cục.  
 
Định lý 3. Nếu hàm   thỏa mãn các điều kiện của Định lý 2 thì điểm cân bằng   là ổn định tiệm cận toàn  
 
cục của phương trình (3) trên tập D.  
Chứng minh. Sử dụng một mở rộng của Định lý ổn định Lyapunov [9, Theorem 3.3] ta sẽ chỉ ra tính chất ổn  
định toàn cục của   .  
 
 
 
(
 
Xét hàm          (        
) trên tập  . Ta chỉ ra hàm  (      thỏa mãn 4 điều kiện trong Định lý [9,  
    
 
(
 
Theorem 3.3] trên miền   (thay vì trên   vì ta chỉ xét tính chất ổn định toàn cục trên  ). Rõ ràng hàm        là liên  
tục trên  . Hơn nữa  
(
 
(
 
(
 
1)  
2)  
           với mọi          và          
 
Ta có  
 
 
 
 
(
 
(
 
(
 
 
                   
            (  
    
 
)
  (        
)
 
 
        
 
    
    
 
 
      
      
   
(    
(
 
    
    
        (  
    
          
)  
    
    
 
 
    
    
 
 
      
(   
Ta để ý rằng: Do tính chất (    của mô hình được bảo toàn nên với mọi giá trị ban đầu thuộc   và       
 
 
(   
      
thì  
    
278  
LƯỢC ĐỒ SAI PHÂN KHÁC THƯỜNG MÔ PHỎNG SỐ MÔ HÌNH SIÊU QUẦN THỂ: SỬ DỤNG ĐỊNH LÝ ỔN ĐỊNH LYAPUNOV  
 
 
(    
(    
 
    
                  
    
    
 
 
 
    
    
 
 
 
 
    
    
      
      
 
(   
(   
Tương tự, với mọi giá trị ban đầu thuộc   và             
thì  
    
 
 
 
    
    
                  
        
    
 
    
 
 
 
 
    
      
      
(
 
Vì thế từ (11), (12), (13) ta nhận được             với mọi (         . Do đó, điều kiện (2) của Định lý  
được thỏa mãn.  
 
(
 
3) Mặt khác, từ (11) ta thấy rằng             khi và chỉ khi (        {(    }              
} . Do tính chất (    
 
    
 
 
 
được bảo toàn nên trong trường hợp này ta có   = {(    }              
} . Ta cần chỉ ra   là   -ổn định toàn  
 
    
 
 
cục, tức là   là ổn định địa phương trên   và với mọi giá trị ban đầu thuộc   thì (    )   
  khi      .  
 
 
   
 
Thật vậy:  
 
 
Nếu các giá trị ban đầu thuộc tập   , tức là thỏa mãn         
thì từ (6) ta thấy nghiệm của (3) thỏa  
 
 
    
 
 
mãn         
với mọi  , hay tương đương với     
    . Thế vào (5) ta thu được  
 
 
 
 
    
    
 
 
(
 
(            
)   
               (  
      
 
 
 
 
    
    
 
    
 
 
    
       
       
 
(    
            
       
    
    
  (  
)
    
 
 
    
          
      
 
Do   thỏa mãn các điều kiện của Định lý 2 nên     do đó  
 
   . Mặt khác do       nên  
 
 
          
    
   . Do đó, từ (14) suy ra       khi      , tức là       là điểm hút toàn cục. Bên cạnh đó, từ (14)  
 
      
ta thấy  
 
            
       
   
    
    
(    
(   
    
(
 
         
   
 
Do đó       là ổn định tiệm cận địa phương. Kết hợp với       là hút toàn cục nên nó là ổn định toàn cục.  
 
Mặt khác do tính chất (    được bảo toàn nên rõ ràng   là là   -ổn định toàn cục. Từ đó điều kiện (3) của Định lý  
 
 
được thỏa mãn.  
4) Do tính chất (    được bảo toàn nên hiển nhiên mọi nghiệm của (3) đều bị chặn trên  .  
 
Như vậy, các điều kiện của định lý mở rộng của Định lý ổn định Lyapunov được thỏa mãn nên   là ổn định toàn cục  
 
trên  . Từ đó định lý được chứng minh.  
2. Trường hợp       
 
Ta để ý rằng nếu xuất phát từ giá trị ban đầu       thì từ (5) ta nhận được nghiệm của (3) là  
 
 
     
 
       
 
 
    
 
 
     (       
(
 
Do đó dễ dàng chỉ ra trong trường hợp này           và   là ổn định tiệm cận toàn cục. Vì thế trong  
 
 
 
 
 
 
trường hợp       ta chỉ xét giá trị ban đầu thuộc vào tập     {(    }                              }. Nếu  
 
 
 
      thì   là điểm cân bằng duy nhất thuộc vào   . Ta cần chỉ ra tính chất ổn định tiệm cận toàn cục trong   của  
 
 
    
 
Định lý sau đây được phát biểu và chứng minh tương tự Định lý 3.  
Định lý 4. Nếu hàm   thỏa mãn các điều kiện của Định lý 2 thì điểm cân bằng   là ổn định tiệm cận toàn  
 
 
cục của phương trình (3) trên tập   .  
Chú ý 1. Hàm  (      được xây dựng trong chứng minh Định lý 3 không thỏa mãn các điều kiện của Định lý  
 
ổn định toàn cục Lyapunov cổ điển trên tập {(    }              
}. Vì thế ở đây thay vì sử dụng Định lý ổn định  
    
Lyapunov cổ điển chúng ta sử dụng một mở rộng của Định lý ổn định Lyapunov cổ điển.  
Đặng Quang Á, Hoàng Mạnh Tuấn  
279  
Chú ý 2. Mấu chốt quan trọng trong chứng minh tính chất ổn định tiệm cận toàn cục của hai điểm cân bằng  
  và   là xây dựng được hàm Lyapunov (mở rộng). Trong trường hợp này, tính chất (    và (    có vai trò đặc biệt  
 
 
 
 
quan trọng trong việc xây dựng hàm Lyapunov. Nói cách khác thì tính chất ổn định toàn cục của lược đồ sai phân có  
liên kết chặt chẽ với tính chất (    và (    của mô hình. Nếu không có hai tính chất này thì việc chỉ ra hàm Lyapunov  
 
 
là cực kỳ khó khăn và phức tạp.  
Chú ý 3. Có thể áp dụng các kỹ thuật trong phần này cho các lược đồ sai phân mà chúng tôi đã đề xuất trước  
đó [1] để chứng minh tính chất ổn định toàn cục của tập hợp điểm cân bằng.  
D. Tính chất không tuần hoàn của nghiệm  
Nhờ tiêu chuẩn Dulax ta dễ dàng chỉ ra mô hình (1) không có nghiệm tuần hoàn. Đối với các phương trình sai  
phân việc chỉ ra tính chất không tuần hoàn của nghiệm phức tạp hơn rất nhiều. Tuy nhiên, do điểm cân bằng là ổn định  
toàn cục nên rõ ràng lược đồ sai phân (3) cũng không thể có nghiệm tuần hoàn.  
Tổng hợp các kết quả ta nhận được các lược đồ bảo toàn chính xác các tính chất cho mô hình (1).  
(
 
 
Định lý 5. Lược đồ sai phân (3) bảo toàn tính chất (        của mô hình (1) nếu hàm  (   thỏa mãn  
 
điều kiện  
 
 
 
(   
              {  
 
   }   
        
(    
 
            
Chú ý 4. Có rất nhiều cách để lựa chọn hàm   thỏa mãn điều kiện (16), chẳng hạn ta có thể chọn hàm  
    
     
 
(   
      
,     
.
 
 
 
III. CÁC THỬ NGHIỆM SỐ  
Trong phần này chúng tôi trình bày một vài thử nghiệm số nhằm chỉ ra rằng các kết quả lý thuyết nhận được  
bên trên là hoàn toàn chính xác.  
A. Trường hợp       
 
Xét mô hình (1) với các tham số                                    . Trong trường hợp này            .  
 
(
 
(
 
Mô hình có hai điểm cân bằng là             và                   , trong đó   là điểm cân bằng ổn định toàn  
 
 
 
cục, còn   là điểm cân bằng không ổn định.  
 
Nghiệm số thu được từ các phương pháp Runge-Kutta bốn nấc kinh điển (classical four stage Runge–Kutta  
method), phương pháp Runge-Kutta hiển hai nấc (two stage Runge–Kutta method) và phương pháp Euler hiển (explicit  
Euler method) được biểu diễn lần lượt trong các Hình 1-3. Ta thấy rằng phương pháp Runge-Kutta bốn nấc không bảo  
toàn được tính chất nghiệm dương của mô hình. Phương pháp Runge-Kutta hai nấc và phương pháp Euler hiển có  
nghiệm dao động xung quanh điểm cân bằng   với biên độ dao động tăng dần. Khi xem xét nghiệm của mô hình trên  
 
khoảng thời gian càng lớn thì dao động xảy ra càng mạnh. Nghiệm số thu được trong các trường hợp này không thể  
bảo toàn các tính chất của mô hình (1). Nói chung, các phương pháp sai phân bình thường như Runge-Kutta và Taylor  
chỉ bảo toàn tính chất của bài toán khi bước lưới được chọn đủ nhỏ.  
Nghiệm số thu được từ lược đồ (3) được biểu diễn trong Hình 4, ở đây ta chọn   = 5. Trong hình mỗi cặp  
đường màu xanh và màu đỏ tương ứng với một cặp nghiệm   và   . Trường hợp này, lược đồ (3) bảo toàn các tính  
 
 
chất của mô hình (1). Tương tự như vậy, khi ta chọn bước lưới bất kỳ thì tính chất của mô hình vẫn được bảo toàn nhờ  
lược đồ (3).  
(   
(   
Hình 1. Phương pháp Runge-Kutta bốn nấc kinh điển với                               
280  
LƯỢC ĐỒ SAI PHÂN KHÁC THƯỜNG MÔ PHỎNG SỐ MÔ HÌNH SIÊU QUẦN THỂ: SỬ DỤNG ĐỊNH LÝ ỔN ĐỊNH LYAPUNOV  
(   
(   
Hình 2. Phương pháp Runge-Kutta hai nấc với                             
(   
(   
Hình 3. Phương pháp Euler hiển với                             
Hình 4. Lược đồ (3) với bước lưới        
Đặng Quang Á, Hoàng Mạnh Tuấn  
281  
B. Trường hợp       
 
Ta xét mô hình (1) với các tham số                                 . Trường hợp này             . Mô  
 
hình có hai điểm cân bằng là   = (0.75, 0) và   = (0.2, 0.55), trong đó   là điểm cân bằng ổn định toàn cục, còn   
 
 
 
 
là điểm cân bằng không ổn định.  
Tương tự như trường hợp      , các lược đồ sai phân bình thường như Runge-Kutta hay Taylor chỉ bảo  
 
toàn được tính chất của mô hình khi bước lưới được chọn rất nhỏ. Nghiệm số thu được từ phương pháp Euler hiển với  
bước lưới         được biểu diễn trong Hình 5 và 6 tương ứng. Trường hợp này các tính chất của mô hình không được  
bảo toàn. Nghiệm số thu được dao động mạnh xung quanh điểm cân bằng     Cuối cùng, nghiệm số thu được từ lược  
 
đồ (3) với       được biểu diễn trong Hình 7. Các tính chất của mô hình được bảo toàn chính xác nhờ lược đồ (3).  
Hình 5. Nghiệm số thu được từ phương pháp Euler hiển  
Hình 6. Nghiệm số thu được từ phương pháp Euler hiển  
282  
LƯỢC ĐỒ SAI PHÂN KHÁC THƯỜNG MÔ PHỎNG SỐ MÔ HÌNH SIÊU QUẦN THỂ: SỬ DỤNG ĐỊNH LÝ ỔN ĐỊNH LYAPUNOV  
Hình 7. Lược đồ (3) với bước lưới        
IV. KẾT LUẬN  
Trong bài báo này, lược đồ sai phân khác thường cho mô hình siêu quần thể được xây dựng. Tính chất ổn định  
của mô hình rời rạc được nghiên cứu dựa trên một mở rộng của Định lý ổn định Lyapunov. Nhờ đó chúng tôi xây dựng  
được lược đồ sai phân bảo toàn tất cả các tính chất của mô hình siêu quần thể. So với cách xây dựng của chúng tôi  
trước đó, cách xây dựng này ngắn gọn và đơn giản hơn rất nhiều. Ở đây, không cần thực hiện các tính toán phức tạp và  
các kỹ thuật khó. Cách tiếp cận này khắc phục được các hạn chế của các cách tiếp cận trước đó và có thể được áp dụng  
cho các lớp bài toán khác tương tự. Trong tương lai chúng tôi sẽ phát triển kết quả này để xây dựng các mô hình rời rạc  
bảo toàn các tính chất của các mô hình liên tục khác.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Dang Quang A, Hoang Manh Tuan, ―Dynamically consistent discrete metapopulation model‖, Journal of Difference Equations  
and Applications, DOI:10.1080/10236198.2016.1197213, 2016.  
[2] Linda. J. S. Allen, ―An Introduction to Mathematical Biology, Prentice Hall‖, New Jersey, 2007.  
[3] P. Amarasekare and H. Possingham, ―Patch dynamics and metapopulation theory: The case of successional species”, J. Theor.  
Biol. 209 (2001), pp. 333–344.  
[4] F. Brauer, C. Castillo - Chavez, ―Mathematical Models in Population Biology and Epidemiology‖, Springer New York, 2001.  
[5] T. D. Dimitrov, H. V. Kojouharov, ―Nonstandard finite difference schemes for general two - dimensional autonomous  
dynamical systems‖, Applied Mathematics Letters, 18, pp. 769–774, 2005.  
[6] T. D. Dimitrov, H. V. Kojouharov, ―Stability - Preserving Finite - Difference Methods For General Multi - Dimensional  
Autonomous Dynamical Systems‖, International Journal Of Numerical Analysis And Modeling, 4(2), pp. 280 – 290, 2007.  
[7] T. D. Dimitrov, H. V. Kojouharov, ―Dynamically consistent numerical methods for general productive– destructive systems‖,  
Journal of Difference Equations and Applications, 17(12), pp. 1721-1736, 2011.  
[8] S. Elaydi, ―An Introduction to Difference Equations‖, Springer Science+Business Media, Inc, 2005.  
[9] A. Iggidr, M. Bensoubaya, ―New Results on the Stability of Discrete-Time Systems and Applications to Control Problems‖,  
Journal of Mathematical Analysis and Applications, 291, pp. 392-414, 1998.  
[10] Hristo V. Kojouharov, Daniel T. Wood, ―A class of nonstandard numerical methods for autonomous dynamical systems‖,  
Applied Mathematics Letters, 50, pp.78 – 82, 2015.  
[11] Keymer, J. E., P. A. Marquet, J. X. Velasco-Hernandez, and. S. A. Levin, ―Extinction thresholds and metapopulation  
persistence in dynamic landscapes‖, THE AMERICAN NATURALIST, 156(5), pp. 478-494, 2000.  
[12] R. E. Mickens, ―Nonstandard Finite Difference Models of Differential Equations‖, World Scientific, Singapore, 1994.  
[13] R. E. Mickens, ―Applications of Nonstandard Finite Difference Schemes‖, World Scientific, Singapore, 2000.  
[14] R. E. Mickens, ―Nonstandard Finite Difference Schemes for Differential Equations‖, Journal of Difference Equations and  
Applications, 8(9), pp. 823 – 847, 2005.  
[15] L. -I. W. Roeger, ―Periodic solutions preserved by nonstandard finite-difference schemes for Lotka-Volterra system: a  
different approach‖, Journal of Difference Equations and Applications, 14, pp. 481 – 493, 2008.  
Đặng Quang Á, Hoàng Mạnh Tuấn  
283  
[16] L. -I. W. Roeger, ―Nonstandard finite-difference schemes for the Lotka-Volterra systems: generalization of Mickens's  
method‖, Journal of Difference Equations and Applications , 12, pp. 937 – 948, 2006.  
[17] Alexander A. Samarskii, ―The theory of difference schemes‖, Marcel Dekker, Inc, 2001.  
[18] D. T. Wood, T. D. Dimitrov, H. V. Kojouharov, ―A nonstandard finite difference method for n-dimensional productive-  
destructive systems‖, Journal of Difference Equations and Applications, DOI: 10.1080/10236198.2014.997228, 2015.  
NONSTANDARD FINITE DIFFERENCE SCHEMES FOR NUMERICAL  
SIMULATION OF A METAPOPULATION MODEL: USING THE  
LYAPUNOV STABILITY THEOREM  
Dang Quang A, Hoang Manh Tuan  
ABSTRACT — In this paper nonstandard finite difference (NSFD) schemes for a metapopulation model are constructed. The  
stability properties of the discrete models are investigated by the use of a generalization of Lyapunov stability theorem. Due to this  
result we have proved that the NSFD schemes preserve all properties of the metapopulation model. Numerical examples confirm the  
obtained theoretical results of the properties of the constructed difference schemes. The method of Lyapunov functions proves to be  
much simpler than the standard method for studying stability of the discrete metapopulation model in our very recent paper.  
pdf 10 trang yennguyen 24720 Free
Bạn đang xem tài liệu "Lược đồ sai phân khác thường mô phỏng số mô hình siêu quần thể: Sử dụng định lý ổn định Lyapunov", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluoc_do_sai_phan_khac_thuong_mo_phong_so_mo_hinh_sieu_quan_t.pdf