Khóa luận Ứng dụng GIS và Google Sketchup xây dựng mô hình 3D trường Đại học Nông Lâm, thành phố Hồ Chí Minh

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP  
ỨNG DỤNG GIS VÀ GOOGLE SKETCHUP  
XÂY DỰNG MÔ HÌNH 3D  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HỒ CHÍ MINH  
Họ và tên sinh viên: NGUYỄN LÊ TẤN ĐẠT  
Ngành: Hệ thống Thông tin Môi trường  
Niên khóa: 2010 – 2014  
Tp. Hồ Chí Minh, tháng 06/2014  
ỨNG DỤNG GIS VÀ GOOGLE SKETCHUP XÂY DỰNG MÔ HÌNH  
3D TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HỒ CHÍ MINH  
Tác giả  
NGUYỄN LÊ TẤN ĐẠT  
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu  
cấp bằng Kĩ sư ngành Hệ thống Thông tin Môi trường  
Giáo viên hướng dẫn:  
ThS. Trần Đắc Phi Hùng  
Tháng 6 năm 2014  
i
LỜI CẢM ƠN  
Với tất cả lòng kính trọng và yêu thương, lời đầu tiên tôi xin tỏ lòng biết ơn  
sâu sắc nhất đến Ba Mẹ, là những người đã sinh thành, nuôi dưỡng, dạy dỗ và yêu  
thương để tôi được khôn lớn và đi đến thành công ngày hôm nay.  
Xin chân thành cảm ơn thầy ThS. Trần Đắc Phi Hùng đã tận tình chỉ bảo,  
hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài này.  
Xin chân thành cảm ơn đến các thầy cô và anh chị khóa trên thuộc khoa  
Môi Trường & Tài Nguyên nói chung và Bộ Môn Tài nguyên & GIS trường Đại  
Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh nói riêng đã tận tình giúp đỡ, giảng dạy  
và truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong suốt quá trình học tập tại  
trường.  
Xin chân thành cám ơn thầy KS. Nguyễn Duy Liêm và thầy KS. Lê Hoàng  
Tú thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu Biến Đổi Khí Hậu đã giúp đỡ tôi trong việc xây  
dựng ý tưởng và truyền đạt những kiến thức chuyên ngành trong suốt thời gian học  
tập tại trường.  
Xin chân thành cám ơn cô ThS. Bùi Thị Phương Thảo bộ môn Cảnh Quan  
và Kỹ Thuật Hoa Viên đã giúp đỡ tôi tìm kiếm nguồn dữ liệu về mô hình 3D một  
số giảng đường trong khuôn viên trường.  
Cám ơn nhé các bạn của tôi, những người đã cùng tôi vượt qua biết bao  
thăng trầm của cuộc đời sinh viên.  
Xin chân thành cảm ơn tất cả mọi người!  
Nguyễn Lê Tấn Đạt  
Bộ môn Tài nguyên và GIS  
Khoa Môi trường & Tài nguyên  
Trường Đại học Nông Lâm Tp.Hồ Chí Minh  
ii  
 
TÓM TẮT  
Trường Đại học Nông Lâm Tp.Hồ Chí Minh là một trường đại học công  
lập, đa ngành có quy mô và diện tích lớn lên đến 118 hecta. Ứng với định hướng  
phát triển là một trường đại học đa ngành, một trung tâm giáo dục có chất lượng,  
trong nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ thì việc đẩy mạnh cải tiến  
hiện trạng cơ sở vật chất là một việc cấp thiết. Hiện nay, trên thế giới việc xây  
dựng một mô hình 3D thay thế cho bản đồ 2D là việc một bước tiến ứng dụng các  
công nghệ hiện đại để phục vụ cho công tác xây dựng và quản lý. Xuất phát từ  
những vấn đề trên đề tài “Ứng dụng GIS và Google Sketchup xây dựng mô hình  
3D trường Đại học Nông Lâm Tp.Hồ Chí Minh” được thực hiện.  
Nguồn dữ liệu ảnh Raster từ Google Earth, các lớp shapefile nền về giảng  
đường, cư xá, giao thông; các mô hình tòa nhà, giảng đường Sketchup 3D; nguồn  
dữ liệu cây xanh được thu thập từ quá trình khảo sát thực địa sẽ phục vụ cho công  
tác xây dựng mô hình 3D. Quá trình thành lập cơ sở dữ liệu, chuyển đổi mô hình  
3D giữa các phần mềm, biên tập và thiết kế mô hình sẽ dựa trên các phần mềm của  
ArcGIS bao gồm ArcCatalog, ArcMap, ArcScene và phần mềm Google Sketchup.  
Kết quả của nghiên cứu đã xây dựng thành công mô hình 3D đối với các lớp  
đối tượng giảng đường, giao thông, cây xanh trên ArcScene giúp nhà trường tốt  
hơn trong việc quản lý hiện trạng các cơ sở vật chất và có cái nhìn hiện thực hơn  
trong kiến trúc cũng như cảnh quan không gian của trường từ đó đưa ra các định  
hướng về quy hoạch trong không gian và quản lý trong tương lai.  
iii  
 
MỤC LỤC  
iv  
 
v
DANH MỤC VIẾT TẮT  
3D: 3-Dimension (3 chiều).  
ESRI: Economic and Social Research Institute (Viện nghiên cứu hệ thống môi  
trường).  
GML3: Geography Markup Language ( chuẩn mã hóa cơ bản XML dùng cho  
thông tin địa lý).  
GPS: Global Positioning System (Hệ thống định vị toàn cầu).  
GIS: Geographic Information System (Hệ thống thông tin địa lý).  
VRML: Virtual Reality Markup Language (Mô hình hóa thực tế ảo).  
WEB: World Wide Web.  
XML: Extensible Markup Language (Ngôn ngữ đánh dấu mở rộng).  
vii  
 
DANH MỤC HÌNH ẢNH  
viii  
 
ix  
DANH MỤC BẢNG BIỂU  
x
 
CHƯƠNG 1  
MỞ ĐẦU  
1.1. Tính cấp thiết của đề tài  
Ngày nay với sự phát triển của nền khoa học công nghệ hiện đại cùng với  
nhu cầu về việc quản lý cơ sở hạ tầng ngày càng cao như quy hoạch, du lịch, đánh  
giá, biến động, giao thông, hiện trạng, giải tỏa, quản lý đất đai... Thì việc ứng dụng  
GIS và bản đồ trong các ngành nghề, lĩnh vực là rất cần thiết. Bởi vì GIS là một  
công nghệ mạnh mẽ hỗ trợ rất tốt trong việc quản lý và tương tác tốt đối với cả hai  
loại dữ liệu thuộc tính và dữ liệu không gian cùng với sự thay đổi về thời gian.  
Tuy nhiên hiện nay thì các công nghệ bản đồ hiện tại chỉ được thể hiện dưới  
dạng 2D trên một mặt phẳng nên vẫn chưa thể hiện được góc nhìn, chưa cụ thể và  
trực quan hóa về không gian…  
Trường Đại học Nông Lâm Tp.Hồ Chí Minh là một trường đại học công  
lập, đa ngành có quy mô và diện tích lớn lên đến 118 hecta. Với quy mô rộng lớn  
như hiện tại thì nhà trường vẫn còn nhiều khó khăn trong việc quản lý về các cơ sở  
vật chất, giảng đường, ký túc xá cũng như vấn đề an ninh trong khuôn viên trường.  
Ứng với định hướng phát triển là một trường đại học đa ngành, một trung  
tâm giáo dục có chất lượng, trong nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ  
thì việc đẩy mạnh cải tiến hiện trạng cơ sở vật chất là một việc cấp thiết. Vì vậy  
việc xây dựng một mô hình 3D sẽ giúp nhà trường tốt hơn trong việc quản lý hiện  
trạng các cơ sở vật chất, giảng đường, các đối tượng và có cái nhìn thực hiện thực  
hơn trong kiến trúc cũng như cảnh quan không gian của trường từ đó đưa ra các  
định hướng về quy hoạch trong không gian và quản lý trong tương lai.  
1
   
Các phần mềm xây dựng mô hình 3D hiện nay rất chuyên nghiệp và xuất  
sắc ở việc thể hiện chi tiết ý tưởng với hiệu quả chuyên sâu về kích thước, vật liệu  
và ánh sáng. Nhưng ở giai đoạn sơ phác ý tưởng, trình diễn sơ bộ với khách hàng  
hoặc thảo luận nội bộ nhóm thiết kế và khi liên kết với các phần mềm khác chúng  
trở nên nặng nề không cần thiết và kém tương thích. Google SketchUp là phần  
mềm 3D dễ học, tốn ít thời gian tìm hiểu, đơn giản và hiệu quả, SketchUp trực  
quan hóa mọi hoạt động tương tự như khi vẽ tay các mô hình 3D. các hoạt động  
này đều trực quan trong môi trường 3D. Mọi tính năng chỉ được xây dựng vừa đủ  
dùng nhưng khả năng thể hiện đối tượng sơ phác khá hiệu quả.  
Xuất phát từ những vấn đề trên đề tài “Ứng dụng GIS và Google Sketchup  
xây dựng mô hình 3D trường Đại học Nông Lâm Tp.Hồ Chí Minh” được thực hiện  
với công nghệ GIS và công nghệ của Google Sketchup mô phỏng đối tượng 3D vì  
đây là những công nghệ giúp đơn giản hóa việc mô phỏng các mô hình 3D và sẽ  
được phát triển trong tương lai.  
1.2. Mục tiêu nghiên cứu  
1.2.1. Mục tiêu chung  
Mục tiêu chung của nghiên cứu là xây dựng mô hình 3D trường Đại học  
Nông Lâm Tp.Hồ Chí Minh dựa trên sự liên kết về không gian của ArcGIS và  
phần mềm Google Sketchup để thể hiện cái nhìn khái quát về hiện trạng cơ sở vật  
chất, giảng đường, ký túc xá, cây xanh, các trụ atm, chốt bảo vệ dưới dạng 3D để  
phục vụ cho công tác quản lý và định hướng phát triển về sau.  
1.2.2. Mục tiêu cụ thể  
Ứng với mục tiêu chung nghiên cứu đặt ra các mục tiêu cụ thể như sau:  
-
Tạo cơ sở dữ liệu hoàn chỉnh, thể hiện đầy đủ các thông tin về hiện  
trạng cơ sở vật chất của các tòa nhà giảng đường, văn phòng khoa các bộ môn,  
giao thông, thực vật…  
2
     
-
Tạo mô hình 3D các đối tượng giảng đường, ký túc xá, chốt bảo vệ,  
trạm atm… trên Google Sketchup ứng với từng độ cao của đối tượng trong thuộc  
tính bằng cách chuyển đổi các đối tượng dạng Vector thành các dạng hình khối.  
-
Xây dựng hoàn chỉnh mô hình 3D trường Đại học Nông Lâm Tp.Hồ  
Chí Minh bằng cách chồng các lớp đối tượng và biên tập theo một hệ thống trong  
cơ sở dữ liệu.  
1.3. Phạm vi nghiên cứu  
1.3.1. Phạm vi nghiên cứu về không gian:  
Phạm vi nghiên cứu về không gian được giới hạn trong khuôn viên trường  
Đại học Nông Lâm Tp.Hồ Chí Minh trên khu đất rộng 118 ha, thuộc khu phố 6,  
phường Linh Trung, Quận Thủ Đức, TP HCM và huyện Dĩ An (Tỉnh Bình  
Dương).  
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu về thời gian:  
Phạm vi nghiên cứu về thời gian được giới hạn trong thời gian thực hiện  
khóa luận trong vòng 4 tháng từ 02/2014 đến 06/2014.  
3
     
CHƯƠNG 2  
TỔNG QUAN  
2.1. Tổng quan về GIS (Geographic Information System)  
2.1.1. Định nghĩa GIS  
Hệ thống thông tin địa lý (GIS) là một nhánh của công nghệ thông tin, đã  
hình thành từ những năm 60 của thế kỷ trước và phát triển rất mạnh trong những  
năm gần đây. GIS là một hệ thống máy tính và các thiết bị ngoại vi dùng để nhập,  
lưu trữ, truy vấn, xử lý, phân tích và hiển thị hoặc xuất dữ liệu. Cơ sở dữ liệu của  
GIS chứa dữ liệu của đối tượng, các hoạt động, các sự kiện phân bố theo không  
gian và thời gian. GIS là một công cụ rất quan trọng cho việc ra các quyết định  
trong việc phát triển bền vững bởi vì GIS có thể cung cấp đầy đủ thông tin nhằm  
phân tích và đánh giá của cơ sở dữ liệu đầu ra.  
Ngày nay, ở nhiều quốc gia trên thế giới, GIS đã trở thành công cụ trợ giúp  
quyết định trong hầu hết các hoạt động kinh tế-xã hội, an ninh, quốc phòng, đối  
phó với thảm hoạ thiên tai v.v...  
GIS có khả năng trợ giúp các cơ quan chính phủ, các nhà quản lý, các doanh  
nghiệp, các cá nhân v.v... đánh giá được hiện trạng của các quá trình, các thực thể  
tự nhiên, kinh tế - xã hội thông qua các chức năng thu thập, quản lý, truy vấn, phân  
tích và tích hợp các thông tin được gắn với một nền bản đồ số nhất quán trên cơ sở  
toạ độ của các dữ liệu bản đồ đầu vào.  
Tóm lại, Hệ thống thông tin địa lý được định nghĩa như là một hệ thống  
thông tin mà nó sử dụng dữ liệu đầu vào, các thao tác phân tích, cơ sở dữ liệu đầu  
ra liên quan về mặt địa lí không gian, nhằm trợ giúp việc thu nhận, lưu trữ, quản lí,  
xử lí, phân tích và hiển thị các thông tin không gian từ thế giới thực để giải quyết  
các vấn đề tổng hợp thông tin cho các mục đích của con người đặt ra, như là: hỗ  
4
     
trợ việc ra quyết định cho vấn đề quy hoạch, quản lý, sử dụng đất, tài nguyên thiên  
nhiên, môi trường, giao thông, dễ dàng trong việc quy hoạch phát triển đô thị và  
những việc lưu trữ dữ liệu hành chính.  
2.1.2. Thành phần của GIS  
GIS được cấu thành bởi 5 thành phần chính: Phần cứng, phần mềm, dữ liệu,  
con người, chính sách và quản lý.  
Hình 2.1. Các thành phần của GIS  
-
Phần cứng là phần trong thấy của hệ thống, đó có thể là hệ thống dựa  
trên máy vi tính độc lập hay một siêu máy tính. Ngoài ra còn có các đầu vào như  
bàn số hóa, máy quét, thiết bị lưu trữ, hiển thị… Các bộ xử lý của phần cứng yêu  
cầu phải có bộ xử lý đủ mạnh để chạy phần mềm và dung lượng đủ lớn để lưu trữ  
dữ liệu.  
-
Phần mềm cung cấp cho GIS hiện nay rất đa dạng và phổ biến, mỗi  
phần mềm đều có thế mạnh riêng của mình. Một số phần mềm phổ biến hiện nay  
là Arc/Info, MapInfo, ArcView, ArcGIS, Microstation, ENVI, IDRSI, ILWIS,…  
Càng ngày thì các phần mềm càng hỗ trợ thêm nhiều chức năng và có giao diện  
gần gũi hơn với người sử dụng.  
5
   
-
Nguồn thông tin hay còn gợi là cơ sở dữ liệu bao gồm dữ liệu thuộc  
tính và dữ liệu không gian.Các loại bản đồ như địa hình, hiện trạng sử dụng đất...  
thuộc dạng dữ liệu không gian. Dữ liệu thuộc tính là các dữ liệu điều tra, thu thập  
từ quan trắc hay được cung cấp được thể hiện dưới dạng bảng. Các thông tin dù là  
thuộc tính hay không gian đều phải cung cấp được các yếu tố mà hệ thống yêu cầu  
như hệ tọa độ địa lý, quy mô, thuộc tính các mối quan hệ giữa các đối tượng…  
-
Con người được coi là thành phần quan trọng nhất trong các thành  
phần. Hệ thống sẽ không phát huy được tác dụng nếu không có sự tác động của  
những chuyên gia thực hiện các công việc như quản lý cơ sở dữ liệu, số hóa, kết  
xuất…. Những người này cần phải có khả năng nhận định về tính chính xác, phạm  
vị suy diễn thông tin và có một kiến thức nền vững chắc.  
-
Chính sách và quản lý là một phần rất quan trọng để đảm bảo khả  
năng hoạt động của hệ thống, là yếu tố quyết định sự thành công của việc phát  
triển công nghệ GIS. Hệ thống GIS cần được điều hành bởi một bộ phận quản lý,  
bộ phận này phải được bổ nhiệm để tổ chức hoạt động hệ thống GIS một cách có  
hiệu quả để phục vụ người sử dụng thông tin.  
Như vậy, trong 5 thành phần của GIS, hợp phần chính sách và quản lý đóng  
vai trò rất quan trọng để đảm bảo khả năng hoạt động của hệ thống, đây là yếu tố  
quyết định sự thành công của việc phát triển công nghệ GIS.  
Trong phối hợp và vận hành các hợp phần của hệ thống GIS nhằm đưa vào  
hoạt động có hiệu quả kỹ thuật GIS, 2 yếu tố huấn luyện và chính sách – quản lý là  
cơ sở của thành công. Việc huấn luyện các phương pháp sử dụng hệ thống GIS sẽ  
cho phép kết hợp các thành phần: (1) Thiết bị (2) Phần mềm (3) Chuyên viên và  
(4) Số liệu với nhau để đưa vào vận hành. Tuy nhiên, yếu tố chính sách và quản lý  
sẽ có tác động đến toàn bộ các hợp phần nói trên, đồng thời quyết định đến sự  
thành công của hoạt động GIS.  
6
2.1.3. Mô hình dữ liệu của GIS  
Hệ thống thông tin địa lý bao gồm: Dữ liệu không gian và phi không gian.  
a. Dữ liệu không gian  
Dữ liệu không gian (trả lời cho câu hỏi về vị trí – ở đâu?) được thể hiện trên  
bản đồ và hệ thống thông tin địa lí dưới dạng điểm (point), đường (line) hoặc vùng  
(polygon). Dữ liệu không gian là dữ liệu về đối tượng mà vị trí của nó được xác  
định trên bề mặt Trái Đất. Hệ thống thông tin địa lí làm việc với hai dạng mô hình  
dữ liệu địa lý khác nhau - mô hình Vector và mô hình Raster.  
Hình 2.2. Chồng lớp các mô hình Vector và Raster  
b. Dữ liệu phi không gian  
Dữ liệu phi không gian hay còn gọi là dữ liệu thuộc tính (Non - Spatial Data  
hay Attribute) (trả lời cho câu hỏi nó là cái gì?) là những mô tả về đặc tính, đặc  
điểm và các hiện tượng xảy ra tại các vị trí địa lý xác định. Một trong các chức  
năng đặc biệt của công nghệ GIS là khả năng của nó trong việc liên kết và xử lý  
đồng thời giữa dữ liệu bản đồ và dữ liệu thuộc tính. Thông thường hệ thống thông  
tin địa lý có 4 loại số liệu thuộc tính:  
-
Đặc tính của đối tượng: liên kết chặt chẽ với các thông tin không  
gian có thể thực hiện SQL (Structure Query Language) và phân tích.  
7
   
-
Số liệu hiện tượng, tham khảo địa lý: miêu tả những thông tin, các  
hoạt động thuộc vị trí xác định.  
-
Chỉ số địa lý: tên, địa chỉ, khối, phương hướng định vị, …liên quan  
đến các đối tượng địa lý.  
-
Quan hệ giữa các đối tượng trong không gian, có thể đơn giản hoặc  
phức tạp (sự liên kết, khoảng tương thích, mối quan hệ đồ hình giữa các đối  
tượng).  
Để mô tả một cách đầy đủ các đối tượng địa lý, trong bản đồ số chỉ dùng  
thêm các loại đối tượng khác: điểm điều khiển, toạ độ giới hạn và các thông tin  
mang tính chất mô tả (annotation).  
2.1.4. Chức năng của GIS  
Một hệ thống GIS phải đảm bảo được 6 chức năng cơ bản sau:  
-
Capture: thu thập dữ liệu. Dữ liệu có thể lấy từ rất nhiều nguồn, có  
thể là bản đồ giấy, ảnh chụp, bản đồ số…  
-
-
Store: lưu trữ. Dữ liệu có thể được lưu dưới dạng Vector hay Raster.  
Query: truy vấn (tìm kiếm). Người dùng có thể truy vấn thông tin đồ  
hoạ hiển thị trên bản đồ.  
-
Analyze: phân tích. Đây là chức năng hỗ trợ việc ra quyết định của  
người dùng. Xác định những tình huống có thể xảy ra khi bản đồ có sự thay đổi.  
-
-
Display: hiển thị. Hiển thị bản đồ.  
Output: xuất dữ liệu. Hỗ trợ việc kết xuất dữ liệu bản đồ dưới nhiều  
định dạng: giấy in, website, ảnh, file…  
(Nguồn: Trần Thị Thương, 2011. Ứng dụng GIS và AHP xây dựng bản đồ  
phân vùng nguy cơ lũ lụt lưu vực sông Kon tỉnh Bình Định. Khóa luận tốt nghiệp,  
Trường đại học Nông Lâm Tp. Hồ Chí Minh).  
8
 
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 91 trang yennguyen 22160 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Ứng dụng GIS và Google Sketchup xây dựng mô hình 3D trường Đại học Nông Lâm, thành phố Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhoa_luan_ung_dung_gis_va_google_sketchup_xay_dung_mo_hinh_3.pdf