Giải pháp kết hợp giám sát và đánh giá an toàn cổng thông tin điện tử theo chuẩn

Hoàng Đăng Hải, Phạm Thiếu Nga  
GIẢI PHÁP KẾT HỢP GIÁM SÁT VÀ  
ĐÁNH GIÁ AN TOÀN CỔNG THÔNG TIN  
ĐIỆN TỬ THEO CHUẨN  
Hoàng Đăng Hải1, Phạm Thiếu Nga2  
1Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông  
2Đại học Xây dựng Hà Nội  
Email: haihd@ptit.edu.vn  
phát hiện và cảnh báo. Đánh giá an toàn cổng TTĐT là  
xác định mức độ bảo đảm an toàn của cổng, bao gồm việc  
kiểm tra các lỗ hổng bảo mật tiềm ẩn gây ra nguy cơ tấn  
công, xác định mức độ phù hợp của các biện pháp bảo vệ.  
Đánh giá an toàn gồm các thành phần tối thiểu là: thu  
thập dữ liệu, xử lý phân tích và đánh giá mức độ bảo đảm  
an toàn. Như vậy, cả hai nhiệm vụ giám sát và đánh giá  
an toàn đều có chung một số thành phần và đều nhằm  
theo dõi, kiểm tra, xác định mức độ bảo đảm an toàn cho  
cổng TTĐT.  
Tóm tắt: Giám sát và đánh giá an toàn là hai nhiệm vụ  
tuy có vẻ tách biệt song lại có mối quan hệ mật thiết với  
nhau. Hầu hết các giải pháp đã biết tới nay thường chỉ  
tập trung vào một trong hai nhiệm vụ trên. Mặt khác,  
chưa có giải pháp nào theo một tiêu chuẩn đã công bố.  
Bài báo này đề xuất một giải pháp kết hợp giám sát tập  
trung và đánh giá an toàn cho cổng thông tin điện tử theo  
chuẩn, cụ thể là chuẩn ISO 15408. Ý tưởng của giải pháp  
là đưa ra một kiến trúc hệ thống xuyên suốt quá trình  
giám sát, thu thập dữ liệu, đánh giá mức độ an toàn cho  
mạng giám sát cỡ lớn theo phương thức tập trung. Giải  
pháp sử dụng dữ liệu thu thập cho cả nhiệm vụ phát hiện  
nguy cơ tấn công và đánh giá an toàn. Phương pháp thứ  
bậc phân tích được áp dụng để tính trọng số cho các lớp  
chức năng an toàn theo ISO 15408 và đưa ra kết quả  
đánh giá định lượng mức độ an toàn cho cổng thông tin  
điện tử. Thử nghiệm đã được thực hiện với gần 200 cổng  
TTĐT.  
Tuy nhiên, hầu hết các giải pháp đã biết tới nay  
thường chỉ tập trung vào một trong hai nhiệm vụ trên.  
Các giải pháp giám sát an toàn đã trải qua các giai đoạn  
phát triển từ các hệ thống giám sát mạng đơn lẻ [1], cho  
tới các hệ thống giám sát diện rộng [2], các hệ thống  
giám sát phân tán trên đám mây [3, 4, 5], nhằm giải quyết  
những vấn đề tồn tại của các hệ thống giám sát truyền  
thống, ví dụ đối với các tài sản thông tin trên đám mây.  
Những giải pháp mới, ví dụ [5, 6, 7], chủ yếu đề xuất  
khắc phục hạn chế về số lượng điểm giám sát (tính mở  
rộng) [5], không sử dụng agent [6], hay vấn đề xử lý thời  
gian thực [7]. Một số giải pháp giám sát an toàn đặc thù  
cho các ứng dụng Web cũng đã được đề xuất, điển hình  
như [8, 9, 10, 11]. Tuy nhiên có thể thấy, vẫn chưa có giải  
pháp giám sát an toàn nào tận dụng nguồn dữ liệu thu  
thập được để kết hợp với nhiệm vụ đánh giá mức độ an  
toàn cổng TTĐT.  
Từ khóa: Giám sát an toàn, an toàn ứng dụng Web,  
đánh giá an toàn ứng dụng Web.  
I. MỞ ĐẦU  
Cổng thông tin điện tử (TTĐT) là một trang Web đặc  
biệt tập hợp nội dung thông tin và dịch vụ Web vào một  
bộ khung thống nhất để cung cấp cho người dùng dưới  
một tên miền chung. Cho tới nay, cổng TTĐT đã trở  
thành một thành phần không thể thiếu trong hoạt động  
của mọi cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp. Do chứa một  
lượng thông tin lớn và đa dạng, cổng TTĐT luôn là một  
mục tiêu tấn công hấp dẫn của tin tặc. Vì vậy, giám sát và  
đánh giá an toàn cho cổng TTĐT luôn là một chủ đề được  
quan tâm nhiều và có nhiều thách thức kỹ thuật được đặt  
ra.  
Mặt khác, đã có nhiều giải pháp riêng cho đánh giá  
mức độ an toàn, cụ thể là cho các ứng dụng Web. Song  
vẫn chưa có giải pháp đánh giá an toàn nào kết hợp với  
một hệ thống giám sát an toàn. Điển hình cho các giải  
pháp đánh giá an toàn ứng dụng Web là phương pháp  
tính điểm an toàn ứng dụng Web theo tiêu chí chung  
(CCWAPSS- Common Criteria Web Application  
Security Scoring) [12], mô hình đánh giá theo chuẩn ISO  
15408 [13]. Một số giải pháp đề xuất phương pháp đánh  
giá cho từng thành phần ứng dụng Web không theo chuẩn  
như [14, 15, 16, 17, 18].Theo khảo sát của các tác giả,  
vẫn chưa có mô hình đánh giá định lượng phù hợp chuẩn  
cho mức độ an toàn cho ứng dụng Web nói chung và  
cổng TTĐT nói riêng.  
Giám sát và đánh giá an toàn là hai nhiệm vụ tuy có  
vẻ tách biệt song lại có mối quan hệ mật thiết với nhau.  
Giám sát an toàn cho cổng TTĐT là một phạm trù của  
lĩnh vực giám sát an toàn thông tin, là việc theo dõi hoạt  
động của cổng TTĐT nhằm phát hiện và đưa ra cảnh báo  
về các nguy cơ tấn công. Giám sát an toàn bao gồm các  
thành phần tối thiểu là: thu thập dữ liệu, xử lý phân tích,  
Việc kết hợp hai nhiệm vụ giám sát và đánh giá an  
toàn là cần thiết đối với cổng TTĐT, vì cả hai nhiệm vụ  
đều có mục tiêu chung là xác định mức độ an toàn, phát  
hiện các nguy cơ sự cố và mức độ phù hợp của các biện  
pháp bảo vệ. Sự kết hợp này mang lại hiệu quả và lợi ích  
do tận dụng được nguồn dữ liệu thu thập được, cho phép  
Tác giả liên hệ: Hoàng Đăng Hải  
Đến tòa soạn: 02/2020, chỉnh sửa: 04/2020, chấp nhận đăng:  
04/2020  
SỐ 01 (CS.01) 2020  
TẠP CHÍ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG  
10  
GIẢI PHÁP KẾT HỢP GIÁM SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ AN TOÀN CỔNG THÔNG TIN …  
sử dụng kết quả giám sát và đánh giá để so sánh mức độ  
an toàn giữa các cổng TTĐT. Ngoài ra, giải pháp đưa ra  
kết quả đánh giá định lượng theo chuẩn ISO 15408 và kết  
hợp với phương pháp thứ bậc phân tích để tính trọng số  
cho các lớp chức năng an toàn theo chuẩn. Đó là những  
đóng góp chính của bài báo này. Ý tưởng xuyên suốt của  
giải pháp đề xuất trong bài là một mô hình kết hợp giám  
sát, thu thập dữ liệu, phân tích, đánh giá an toàn cho một  
phạm vi cỡ lớn các cổng TTĐT theo phương thức tập  
trung.  
phẩm thương mại đóng kín, điển hình như: Complete  
Website Security (CWS) của Symantec, Web Security  
Appliance (WSA) của Cisco, QRadar của IBM, PRTG  
Network Monitor của Paessler, SecureSphere của  
Impeva. Ngoài ra, còn có các giải pháp phần mềm nguồn  
mở, điển hình như Observium (http://www.  
observium.org),  
Nagios  
OpenNMS (https://www.opennms.org) và khá nhiều phần  
mềm giám sát đơn lẻ khác như: N-Stalker Web  
Application Security Scanner (WASS) của N-Stalker  
site24x7.com/), ParosPro (www.milescan.com), hay  
Phần tiếp theo của bài báo như sau:Phần II trình bày  
các nghiên cứu liên quan giám sát và đánh giá an toàn  
cổng TTĐT, phần III đề xuất giải pháp kết hợp giám sát  
tập trung và đánh giá an toàn cổng TTĐT theo chuẩn,  
phần IV là kết luận của bài.  
Mặc dù có nhiều giải pháp và sản phẩm hệ thống  
giám sát khá đa dạng, vẫn chưa có giải pháp hay hệ thống  
nào đề cập đến khả năng kết hợp giám sát và đánh giá an  
toàn cho cổng TTĐT.  
II. CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN  
A. Khái quát các giải pháp giám sát an toàn  
B. Khái quát các giải pháp đánh giá an toàn  
Qua khảo sát, có thể khái quát các nhóm giải pháp  
giám sát an toàn theo các giai đoạn phát triển như sau.  
Đánh giá an toàn được quan tâm từ năm 1993 với việc  
đề xuất các tiêu chí đánh giá chung (Common Criteria)  
[12, 25]. Một mô hình đánh giá chung và bộ tiêu chí  
chung cho đánh giá an toàn đã được đưa ra trong tiêu  
chuẩn ISO 15408 [13]. Tuy nhiên, mô hình và bộ tiêu chí  
này không dành riêng cho ứng dụng Web, không có kết  
quả định lượng trong đánh giá. Biểu diễn kết quả đánh  
giá chỉ là định tính đạt hoặc không đạt tiêu chuẩn.  
Nhóm giải pháp cho các hệ thống đơn lẻ  
Đây là nhóm giải pháp truyền thống phát triển từ các  
hệ thống quản trị mạng nhằm giám sát truy nhập, theo dõi  
hoạt động, cảnh báo sự cố [2, 19]. Hệ thống giám sát sử  
dụng một số công cụ phần mềm đơn lẻ nhằm phát hiện  
tấn công, nguy cơ sự cố. Điển hình là các công cụ Nmap,  
Nagios… Nhóm giải pháp này không phục vụ riêng cho  
cổng TTĐT cũng như các ứng dụng Web, mà chủ yếu  
giám sát dịch vụ mạng và hệ thống mạng.  
Đã có một số công trình nghiên cứu theo hướng định  
lượng hóa kết quả đánh giá theo tiêu chuẩn, điển hình  
như [26, 27, 28]. Các giải pháp này sắp xếp các yêu cầu  
an toàn vào 11 lớp chức năng an toàn theo chuẩn ISO  
15408. Mỗi yêu cầu được biểu diễn bằng ba thành phần  
cơ bản là tính bí mật (C- Confidenciality), tính toàn vẹn (I  
- Integrity), tính sẵn sàng (A- Availability). Có tổng số 33  
phần tử cho 11 lớp được gán giá trị là “0” hoặc “1” thể  
hiện mức độ an toàn. Tuy nhiên, các tác giả chưa đưa ra  
cách tính các giá trị “0” và “1” như thế nào. Các mô hình  
còn có độ phức tạp cao, không khả thi, không áp dụng  
được cho cổng TTĐT.  
Nhóm giải pháp tích hợp hệ thống  
Đặc trưng của nhóm giải pháp này là có sự tích hợp  
các công cụ, hệ thống con vào chung một hệ thống giám  
sát. Các hệ thống con điển hình được tích hợp như tường  
lửa, phát hiện xâm nhập (IDS- Intrusion Detection  
System), ngăn chặn xâm nhập (IPS- Intrusion Prevention  
System), các bẫy nhử Honeypots, Honeynet [1, 3]. Việc  
kết hợp nhiều hệ thống con thường gặp nhiều khó khăn  
do tính phức tạp cao, khả năng tương thích kém, hạn chế  
về khả năng linh hoạt, mềm dẻo và khả năng mở rộng.  
Dự án nghiên cứu OWASP [29] đưa ra một mô hình  
đánh giá các ứng dụng Web sử dụng một bộ tiêu chí  
chung gọi là CCWAPSS (Common Criteria Web  
Application Security Scoring) [12]. Mô hình đánh giá  
đơn giản hóa việc triển khai thông qua việc sắp xếp các  
yêu cầu an toàn vào các nhóm. Kết quả đánh giá theo hệ  
thống điểm số từ 1 đến 10 (10 là tốt nhất).Mỗi tiêu chí  
đánh giá tương ứng với một nhóm lỗ hổng bảo mật ứng  
dụng Web. Việc đánh giá chủ yếu dựa trên quan sát các  
điểm yếu điển hình của các ứng dụng Web. Mặc dù mô  
hình này cho kết quả định lượng tương đối qua điểm số,  
cách triển khai đơn giản, song kết quả đánh giá vẫn mang  
tính chủ quan, phụ thuộc vào chuyên gia đánh giá.  
Nhóm giải pháp quản lý tập trung diện rộng  
Nhóm giải pháp này có ưu điểm so với các nhóm giải  
pháp đã nêu trên là có sự tích hợp các công nghệ mới  
trong giám sát, phát hiện tấn công [1, 20, 21]. Kiến trúc  
tập trung khắc phục được nhiều hạn chế trong các giải  
pháp trước đó, cho phép tích hợp nhiều loại công nghệ  
vào một hệ thống chung, thích ứng với việc mở rộng  
phạm vi giám sát, cập nhật công nghệ kịp thời. Tuy  
nhiên, các hệ thống giám sát lớn thường khó kiểm soát,  
khó tạo được sự liên kết giữa các hệ thống con khi mở  
rộng, chi phí thường rất cao.  
Một số công trình nghiên cứu khác không theo hướng  
áp dụng tiêu chuẩn, đề xuất mô hình đánh giá cho từng  
thành phần cụ thể của ứng dụng Web, ví dụ trong [14, 16,  
17, 30-33] được nêu cụ thể dưới đây.  
Nhóm giải pháp giám sát đặc thù  
Nhóm giải pháp này được phát triển nhằm đáp ứng sự  
bùng nổ của dữ liệu lớn, điện toán đám mây, tính toán  
phân tán, sự phát triển của các thiết bị di động và thiết bị  
thông minh [3, 4, 23, 24]. Một số nghiên cứu mới về các  
giải pháp giám sát đặc thù điển hình như [8, 11, 5, 6, 7].  
Các giải pháp giám sát đặc thù đã trở thành xu hướng khá  
phổ biến.  
Các tác giả trong [14] phát triển một công cụ tự động  
tạo ra các tấn công vào lỗ hổng bảo mật Web và kiểm tra  
khả năng bảo vệ. Nghiên cứu trong [16] đề xuất một  
phương pháp sử dụng các tập hồ sơ dựng sẵn tương tự  
chuẩn ISO 15408 để phân tích mức độ an toàn của máy  
chủ Web. Các tác giả trong [17] xây dựng một mô hình  
kiểm thử thụ động cho các dịch vụ Web.Nghiên cứu  
Song song với các nghiên cứu đã công bố là các hệ  
thống giám sát an toàn được phát triển dưới dạng sản  
SỐ 01 (CS.01) 2020  
TẠP CHÍ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG  
11  
Hoàng Đăng Hải, Phạm Thiếu Nga  
trong [30, 31] tập trung vào kiểm tra việc nhập dữ liệu lỗi  
bằng cách kết hợp phân tích động với kiểm thử truyền  
thống. Trong [32], một công cụ kiểm thử tấn công mã  
xuyên trang trực tuyến (online XSS- Cross Site Scripting)  
được phát triển, thực hiện các bước giả lập một tấn công  
XSS và kiểm tra khả năng bảo vệ ứng dụng Web. Phương  
pháp kiểm thử đăng nhập một lần (SSO- Single Sign On)  
vào ứng dụng Web được nghiên cứu trong [33] với việc  
sử dụng một công cụ quét SSO để kiểm tra thành phần  
xác thực.  
-
-
Khối tổng hợp dữ liệu: làm sạch dữ liệu, chuẩn hóa  
dữ liệu, gán nhãn và chia tách các tập hợp dữ liệu  
phục vụ tìm kiếm, truy xuất dữ liệu để xử lý tiếp.  
Khối theo dõi, giám sát: có nhiệm vụ phân tích dữ  
liệu, so khớp mẫu dấu hiệu theo các tập luật định sẵn  
để phát hiện nguy cơ tấn công. Kết quả theo dõi, giám  
sát được hiển thị với các cảnh báo nguy cơ tấn công.  
-
Khối đánh giá mức độ an toàn: thực hiện phân tích dữ  
liệu, tính toán định lượng giá trị thể hiện mức độ an  
toàn theo chuẩn ISO 15408 và hiển thị kết quả đánh  
giá mức độ an toàn.  
Một số giải pháp đánh giá an toàn đã được phát triển  
dưới dạng sản phẩm thương mại đóng kín hoặc sản phẩm  
nguồn mở. Các sản phẩm thương mại điển hình như:  
phần mềm Acunetix (https://www.acunetix.com),  
Security AppScan của IBM (https://www.ibm.  
com/software/products/en/appscan), Metasploit của  
Rapid7 (https://www.metasploit.com/), Burp Suite của  
Portswigger (https://portswigger.net/ burp). Một số sản  
phẩm mã nguồn mở điển hình như: Grabber  
Thống kê khảo sát của Splunk (http://splunk-  
sizing.appspot.com) cho thấy, số sự kiện thu thập từmỗi  
trang thông tin điện tử có thể đạt trung bình từ 3 đến 20  
sự kiện/giây (EPS - Events per Second). Nếu số cổng  
TTĐT cần giám sát là 500, thì tổng số sự kiện Ecần xử lý  
tại trung tâm giám sát sẽ có thể lên tới:  
E = 20 EPS* 500 = 10.000 EPS  
(1)  
Wapiti  
hay OpenVas (www.openvas.org).  
Nếu thiết kế khối thu thập dữ liệu nhận mỗi bản tin sự  
kiện gồm tối đa 300 Bytes, thì lượng dữ liệu Dthu thập  
được từ 500 cổng TTĐT trong 1 giây sẽ là:  
Một kết quả khảo sát thực hiện trong [18] cho thấy,  
chưa có một mô hình phù hợp cho đánh giá an toàn ứng  
dụng Web khả thi trong thực tiễn. Mặc dù đã có nhiều  
giải pháp theo hướng chuẩn hoặc không áp dụng tiêu  
chuẩn, vẫn chưa có giải pháp hay hệ thống nào có sự  
quan tâm đầy đủ đến khả năng đánh giá định lượng khách  
quan. Kết quả khảo sát của chúng tôi cũng cho thấy, chưa  
có giải pháp hay hệ thống nào đề cập đến khả năng kết  
hợp đánh giá an toàn với giám sát an toàn cho cổng  
TTĐT. Ngoài ra, xu hướng chuẩn hóa cũng là cần thiết,  
song chưa được đề cập trong nhiều giải pháp hiện có.  
D = 300Bytes * 10000 = 3 Mbytes/s(2)  
Từ đó, có thể tính được dung lượng đĩa cứng Scần  
dùng để lưu trữ các sự kiện tại trung tâm giám sát trong  
một ngày (24 giờ * 60 phút * 60 giây) là:  
S = D * 24 * 60 * 60 = 86.4 GBytes  
(3)  
Nếu dùng Backup dữ liệu, ta sẽ cần dung lượng lưu  
trữ khoảng 172.8 GBytes. Nếu lưu trữ nhiều ngày, ví dụ  
theo tháng, ta có thể tính ra tổng dung lượng đĩa cứng cần  
lưu trữ cho hệ thống.  
III. GIẢI PHÁP KẾT HỢP GIÁM SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ  
AN TOÀN CỔNG TTĐT THEO CHUẨN  
Những con số nêu trên mới chỉ là tính toán tương đối,  
song có thể cho ta ước tính sơ bộ năng lực xử lý của hệ  
thống trung tâm giám sát. Cũng theo Splunk  
(http://splunk-sizing.appspot.com), thiết bị phần cứng phổ  
biến cho một hệ thống giám sát nêu trên chỉ cần 01 máy  
chủ Intel Xeon chuẩn, Dual Core, tốc độ CPU từ 2.5 GHz  
trở lên, RAM tối thiểu 128 GB, ổ đĩa cứng có dung lượng  
A. Mô hình kiến trúc hệ thống  
Hình 1 là mô hình kiến trúc hệ thống kết hợp giám sát  
tập trung và đánh giá an toàn cổng TTĐT.  
Bên trái Hình 1 là các cổng TTĐT cần giám sát và  
Hiển thị cảnh báo  
Theo dõi, giám sát  
nguy cơ tấn công  
Cổng  
TTĐT  
Khối thu thập  
dữ liệu  
Khối tổng hợp  
dữ liệu  
.
.
.
Hiển thị mức độ  
đánh giá an toàn  
Đánh giá mức độ an toàn  
Hình 1. Mô hình kết hợp giám sát tập trung và đánh giá an toàn cổng TTĐT  
đánh giá an toàn. Bên phải là các khối chức năng chính  
trong hệ thống kết hợp giám sát và đánh giá an toàn, cụ  
thể gồm:  
tối thiểu 200 GBytes. Đây cũng là cấu hình máy chủ  
thông dụng, không yêu cầu quá cao về cấu hình. Nếu số  
điểm cần giám sát nhiều hơn 500, ta có thể sử dụng máy  
chủ mạnh hơn, hoặc dùng cấu trúc phân cụm máy chủ.  
Trong khuôn khổ bài báo, chúng tôi không đi sâu thêm  
vào nội dung này.  
-
Khối thu thập dữ liệu: thực hiện thu thập dữ liệu từ  
các cổng TTĐT phục vụ cho nhiệm vụ giám sát tập  
trung và đánh giá an toàn theo chuẩn.  
B. Nguồn dữ liệu từ cổng TTĐT  
SỐ 01 (CS.01) 2020  
TẠP CHÍ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG  
12  
GIẢI PHÁP KẾT HỢP GIÁM SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ AN TOÀN CỔNG THÔNG TIN …  
Nguồn dữ liệu thu thập từ các cổng TTĐT có thể rất  
đa dạng, tùy thuộc vào mục tiêu và phạm vi của mỗi hệ  
thống giám sát và phương pháp thu thập thông tin. Về  
nguyên tắc, nguồn dữ liệu chính có thể là: nhật ký hoạt  
động ghi được tại máy chủ Web cài cổng TTĐT,dữ liệu  
trạng thái hoạt động của cổng TTĐT và dữ liệu lưu lượng  
Web.  
Nguy cơ sử dụng các thành phần có lỗ hổng tiềm ản  
(Using Known Vulnerable Components): Các thư  
viện, các tệp tin có chứa lỗ hổng bảo mật tìm thấy  
trong phản hồi truy vấn Web. Đây là nguy cơ tấn  
công khai thác lỗ hổng tiềm ẩn.  
Không ghi được nhật ký và giám sát (Insufficient  
Logging & Monitoring): Hệ thống thiếu cơ chế giám  
sát và ghi lại sự kiện hoạt động khi có lỗi xảy ra, thiếu  
biện pháp bảo vệ, cảnh báo cần thiết.  
Theo [34], cổng TTĐT có thể đối mặt với 10 nhóm  
nguy cơ tấn công chính. Trong phạm vi giải pháp đề xuất  
của bài báo và theo hướng chuẩn hóa, ta quan tâm đến 10  
nhóm dữ liệu về nguy cơ tấn công đối với cổng TTĐT  
như đã nêu trong [34] như sau:  
C. Khối thu thập dữ liệu  
Có hai khả năng thu thập dữ liệu từ các cổng TTĐT  
là: sử dụng Agent vàkhông dùng Agent.  
Nguy cơ tấn công chèn mã (Injection): Nguy cơ khi  
nhập dữ liệu, ví dụ các tấn công SQL injection, OS  
injection, LDAP injection... Dữ liệu nhập sai lệch có  
thể bị kẻ tấn công đưa vào cùng với các biến dữ liệu  
đầu vào như một phần của lệnh hay câu truy vấn  
Web. Nguy cơ tấn công kiểu này có thể tạo khả năng  
truy cập các dữ liệu cổng TTĐT một cách bất hợp  
pháp.  
1) Phương án sử dụng Agent  
Agent là một phần mềm cài đặt tại máy chủ chứa  
cổng TTĐT, làm nhiệm vụ thu thập dữ liệu về hoạt động  
và nguy cơ sự cố của cổng TTĐT. Agent có thể thu thập  
nhiều loại dữ liệu khác nhau, bao gồm các tệp nhật ký  
quan trọng của máy chủ Web như nhật ký truy nhập  
(Access Logs), nhật ký lỗi (Error Logs), nhật ký hệ thống  
(System Logs). Agent cũng có thể thu thập dữ liệu lưu  
lượng Web (request, response), trạng thái hoạt động của  
cổng TTĐT. Những dữ liệu thu thập sẽ được so khớp với  
các tập mẫu dấu hiệu để phát hiện các nguy cơ tấn  
côngvào cổng TTĐT.  
Nguy cơ tấn côngvào phần xác thực (Broken  
Authentication): Xác thực hay quản lý phiên bị lỗi.  
Nguy cơ kẻ tấn công có thể chiếm đoạt mật khẩu,  
phiên làm việc, định danh người dùng.  
Nguy cơ tấn công khi lộ dữ liệu nhạy cảm (Sensitive  
Data Exposure): Nguy cơ lộ dữ liệu nhạy cảm như  
thông tin định danh, tài khoản người dùng… do  
không được bảo vệ, lưu trữ an toàn. Ví dụ, dữ liệu  
nhạy cảm thiếu mã hóa.  
2) Phương án không dùng Agent  
Phương án này có ưu điểm là không cần cài đặt phần  
mềm tại máy chủ chứa cổng TTĐT để thu thập dữ liệu.  
Dữ liệu về nguy cơ tấn công cổng TTĐT được thu thập  
theo hình thức gửi các câu truy vấn từ hệ thống giám sát  
để rà quét, kiểm tra và nhận phản hồi từ cổng TTĐT về  
các yêu cầu trên. Các câu truy vấn được thiết kế để thu  
thập dữ liệu theo 10 nhóm nguy cơ tấn công như đã nêu ở  
mục B. Lượng dữ liệu thu thập có thể không đầy đủ về  
hoạt động của máy chủ và cổng TTĐT, song vẫn có thể  
dùng cho theo dõi hoạt động, phân tích và phát hiện các  
nguy cơ tấn công điển hình nhất đối với cổng TTĐT theo  
10 nhóm nêu trên.  
Nguy cơ tham chiếu đến đối tượng bên ngoài XML  
(XML External Entities): Web có thể chấp nhận một  
yêu cầu truy vân không an toàn trong XML, tham  
chiếu không an toàn đến các đối tượng bên trong máy  
chủ ví dụ như các tệp tin, thư mục, cơ sở dữ liệu. Ví  
dụ, nguy cơ thực thi mã lệnh từ xa, nguy cơ tạo tấn  
công từ chối dịch vụ.  
Nguy cơ thiếu kiểm soát truy nhập (Broken Access  
Control): Nguy cơ không có kiểm soát, hạn chế phân  
quyền truy nhập. Kẻ tấn công có thể chiếm quyền,  
thay đổi dữ liệu người dùng, thay đổi quyền truy  
nhập…  
Do ưu điểm trên, phương án không sử dụng Agent  
được đề xuất trong giải pháp kết hợp giám sát và đánh giá  
an toàn. Một công cụ phần mềm có tên là EpScan được  
phát triển nhằm mục đích thu thập dữ liệu theo 10 nhóm  
nguy cơ, phục vụ giám sát tập trung và đánh giá an toàn  
cổng TTĐT. Lưu đồ khối của phần mềm EpScan biểu thị  
trên Hình 2. Phần mềm EpScan gồm các bước chính như  
sau:  
Nguy cơ cấu hình bảo mật không an toàn (Security  
Misconfiguration): Sự cố xảy ra với cấu hình sai, tiêu  
đề HTTP sai, bộ nhớ vùng làm việc không được bảo  
vệ…  
Nguy cơ tấn công xuyên trang (Cross-Site Scripting):  
Sự cố do thiếu kiểm soát dữ liệu nhập vào câu truy  
vấn Web. Dữ liệu bất hợp pháp được gửi đến Web mà  
không được xác thực. Điều này cho phép kẻ tấn công  
thực thi các đoạn mã Script làm thay đổi nội dung  
phản hồi từ máy chủ Web, làm chuyển hướng tới  
trang khác do tin tặc thiết lập, có thể có chứa mã độc.  
-
Bước 1: Lập cấu trúc danh mục cần quét kiểm tra cho  
cổng TTĐT, lập danh mục nút dữ liệu, đặt thời gian  
quét.  
-
Bước 2: Thực hiện các câu truy vấn đọc nội dung  
phản hồi, trạng thái và các đoạn mã Script có thể bị  
cài trên cổng TTĐT. Chuẩn hóa định dạng dữ liệu  
theo các trường tin: Id, địa chỉ URL, nội dung bản tin  
trả về và mã lỗi xảy ra. Sử dụng các biểu thức chính  
tắc RegEx (Regular Expression) để kiểm tra phân tách  
trường tin và phát hiện nguy cơ tấn công.  
Nguy cơ giải tuần tự không an toàn (Insecure  
Desialization): Nguy cơ này tương tự chuyển hướng,  
chuyển tiếp không hợp lệ trong phiên bản OWASP  
Top 10 cũ. Nguy cơ xảy ra khi máy chủ Web cho  
phép thực thi đoạn mã Script từ xa, cho phép trao đổi  
các tham số HTML Forms hoặc trao đổi giữa các tiến  
trình nội bộ không được xác thực.  
-
-
Bước 3: Tạo lập bản ghi nguy cơ tấn công theo các  
trường tin đã chuẩn hóa.  
Bước 4: Kết thúc rà quét kiểm tra khi đã quét hết cấu  
trúc cổng TTĐT theo danh mục đã lập ở bước 1 hoặc  
SỐ 01 (CS.01) 2020  
TẠP CHÍ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG  
13  
Hoàng Đăng Hải, Phạm Thiếu Nga  
khi hết thời gian quét đã lập (nhánh y) hoặc lặp lại  
bước 2 nếu chưa kết thúc (nhánh n).  
từ  
các nguồn  
có sẵn,  
điển hình như:  
hay  
những tập luật nguồn mở, có cập nhật thường xuyên cho  
các nguy cơ tấn công mới.  
-
Bước 5: Chuyển tiếp dữ liệu về khối tổng hợp dữ liệu  
cho việc xử lý tiếp theo.  
Lập cấu hình  
rà quét kiểm tra  
1
Tập mẫu dấu hiệu có sẵn được dùng để so khớp có thể  
phát hiện các lỗi tương ứng với 10 nhóm nguy cơ tấn  
công đã nêu ở mục B, cụ thể như các nguy cơ tấn công  
điển hình sau:  
2
3
Rà quét kiểm tra cổng TTĐT  
-
Injection: SQL Injection, XML Injection, PHP  
Injection, LDAP Injection,…  
-
-
-
-
-
-
-
-
XSS attack.  
Lập bản ghi nguy cơ  
Data leakage  
Config file access  
4
5
n
Remote code execution  
Kết thúc kiểm tra  
Directory traversal  
y
Web scan  
Chuyển dữ liệu về khối tổng  
hợp  
Web shell  
…
Hình 2. Lưu đồ phần mềm EpScan  
Ví dụ về một cấu trúc RegEx dùng để kiểm tra phát  
hiện nguy cơ tấn công được biểu thị trên Hình 3.  
D. Khối tổng hợp dữ liệu  
Dữ liệu chuyển về khối này được chia tách vào các  
nút cơ sở dữ liệu tại trung tâm. Mỗi nút cơ sở dữ liệu có  
thể đặt kích thước là 1 GBytes. Quá trình tổng hợp dữ  
liệu có thêm bước làm sạch dữ liệu nhằm loại bỏ những  
dữ liệu có lỗi và dữ liệu không cần thiết cho quá trình  
phân tích, phát hiện và đánh giá an toàn. Ví dụ, có thể  
loại bỏ các bản ghi dữ liệu phản hồi từ cổng TTĐT với  
mã trạng thái là 200 OK có đồng thời ký hiệu “-” trong  
trường tin uri-query-node. Các thử nghiệm cho thấy xác  
suất có chứa hành vi tấn công trong các bản ghi kiểu này  
hầu như bằng không, nên có thể loại bỏ bớt các bản ghi  
này.  
Dữ liệu tổng hợp được chuẩn hóavà gán nhãn với tiêu  
đề định danh để dánh chỉ số và phần thân dữ liệu bao  
gồm 300 bytes. Một đoạn mã Script được dùng để chuyển  
các bản tin sự kiện có đánh nhãn vào các nút cơ sở dữ  
liệu. Giải pháp có thể dùng ở đây là phần mềm nguồn mở  
hoặc Logstash (https://www.elastic.co/logs-tash) hoặc  
đơn thuần là các nút cơ sở dữ liệu tạo lập với MongoDB  
(https://www.mongodb.com/).Đây là các phần mềm  
nguồn mở cho phép kết hợp và thao tác nhiều kiểu tìm  
kiếm dữ liệu theo các tiêu chí mong muốn với tốc độ xử  
lý nhanh theo thời gian thực (xem ví dụ [35]).  
Elasticsearch là một cỗ máy tìm kiếm phân tán kiểu  
RESTful, cho phép tìm kiếm phân tán với tốc độ cao qua  
các giao diện API. Logstash là một phần mềm nguồn mở  
cho phép xử lý các bản tin sự kiện qua UNIX pipeline,  
tập hợp dữ liệu đồng thời từ nhiều nguồn, chuyển đổi dữ  
liệu và cho phép tìm kiếm dữ liệu với tốc độ cao. Lưu trữ  
với các nút cơ sở dữ liệu MongoDB cũng là một giải  
pháp đơn giản, khả thi.  
Hình 3. Ví dụ về cấu trúc RegEx trong HTTP request  
Ví dụ cho hai bản ghi dữ liệu phản hồi từ cổng TTĐT  
có nguy cơ tấn công XSS như sau:  
203.162.165.173 • • [12/Mar/2019:22:31:12  
•0500]"GET /foo.jsp?<SCRIPT>foo</SCRIPT>.jsp  
HTTP/1.1" 200 578 "•" "Mozilla/4.75 [en] (X11, U;  
Nessus)"  
203.162.165.173 • • [12/Mar/2019:23:37:17 •0500]  
"GET /cgi• bin/cvslog.cgi?file=<SCRIPT>window. alert  
</SCRIPT > HTTP/1.1" 403 302 "•" "Mozilla/4.75 [en]  
(X11, U; Nessus)"  
Hình 4. Ví dụ về hai bản ghi nguy cơ tấn công  
Cả hai bản ghi đều có yêu cầu truy nhập chéo sang  
trang Nessus. Ở bản ghi thứ nhất, mã trạng thái phản hồi  
của cổng TTĐT là 200 OK. Điều đó nghĩa là đoạn mã  
Script foo.jsp đã thực hiện. Ở bản ghi thứ 2, ta thấy cổng  
TTĐT từ chối với phản hồi 403 Forbidden, nghĩa là cổng  
E. Khối theo dõi, giám sát  
Khối này có nhiệm vụ so khớp các dữ liệu tổng hợp  
đã thu được với các mẫu dữ liệu dấu hiệu sẵn có để phát  
hiện nguy cơ tấn công. Các tập mẫu dấu hiệu và cơ chế  
phát hiện đều sử dụng chuẩn biểu thức chính tắc RegEx  
(Regular Expression). Các tập mẫu dấu hiệu có thể tải về  
SỐ 01 (CS.01) 2020  
TẠP CHÍ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG  
14  
GIẢI PHÁP KẾT HỢP GIÁM SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ AN TOÀN CỔNG THÔNG TIN …  
TTĐT đã ngăn chặn được nguy cơ tấn công chuyển sang  
trang mã độc.  
có thể gồm nhiều nguy cơ. Hình 6 là một ví dụ về một tập  
hợp nguy cơ tấn công XSS thu thập được với 2 nguy cơ.  
Hình 5 là ví dụ về hai bản ghi dữ liệu có nguy cơ tấn  
công chèn nội dung mã độc. Bản ghi thứ nhất là nhóm  
nguy cơ thứ 6 (xem mục B) về cấu hình bảo mật không  
an toàn với mức độ nguy cơ cao (Severity=3). Bản ghi  
thứ 2 là nhóm nguy cơ thứ 4 (xem mục B) về tham chiếu  
đến đối tượng bên ngoài không an toàn gồm 3 nguy cơ  
với mức độ cao (Severity = 3).  
Hình 5. Ví dụ về hai bản ghi dữ liệu nguy cơ tấn công  
chèn nội dung mã độc  
Hình 6. Ví dụ về một tập hợp nguy cơ tấn công XSS với  
hai nguy cơ  
F. Khối đánh giá mức độ an toàn  
Theo mô hình trong chuẩn ISO 15408 [13],đích đánh  
giá (TOE - Target Of Evaluation) là cổng TTĐT cần đánh  
giá. TOE được mô tả bằng các yêu cầu an toàn. Tập các  
yêu cầu an toàn được xây dựng thành một hồ sơ bảo vệ  
(PP - Protection Profile) chứa các yêu cầu an toàn cho các  
loại cổng TTĐT nói chung. Đích an toàn (ST - Security  
Target) được xây dựng cho một TOE cụ thể dựa theo các  
yêu cầu an toàn liệt kê trong tập PP và trong môi trường  
hoạt động cụ thể. Đặc trưng của mô hình là có 11 lớp  
chứa các yêu cầu chức năng an toàn (SFR- Security  
Function Requirement). Mỗi lớp đặc trưng cho một nhóm  
yêu cầu an toàn cho một chức năng cụ thể, điển hình như  
lớp bảo vệ dữ liệu người dùng, lớp mã hóa dữ liệu, lớp  
xác thực định danh, v.v. Tập các yêu cầu chức năng an  
toàn được coi là các tiêu chí chung (Common Criteria).  
Các cột của ma trận hồ sơ bảo vệ biểu thị các thành  
phần của 11 lớp chức năng an toàn theo ISO 15408 [13],  
cụ thể như sau (con số trong dấu ngoặc là số thành phần  
của mỗi họ trong một lớp):  
- Lớp kiểm toán (FAU- Function Audit) có 6 họ là  
ARP(1), GEN(2), SAA(2), SAR(3), SEL(1), STG(1).  
- Lớp truyền thông (FCO-Function Communi-cation)  
có 2 họ là NRO(3), NRR(3).  
- Lớp hỗ trợ mật mã (FCS-Function Cryptogprahy  
Support) có 2 họ là CKM(2), COP(1).  
- Lớp bảo vệ dữ liệu (FDP-Function Data Protection)  
có 11 họ là ACC(1), ACF(3), DAU(2), ETC(2), IFC(2),  
IFF(4), ITC(2), ITT(1), SDI(1), UCT(1), UIT(1).  
Để đánh giá mức độ an toàn cho cổng TTĐT, khối  
đánh giá mức độ an toàn thực hiện truy xuất dữ liệu đã  
lưu trong khối tổng hợp dữ liệu, ánh xạ vào một tập đích  
an toàn (Security Target) được tạo theo mẫu của hồ sơ  
bảo vệ (Protection Profile).Tiếp đó, hệ thống sẽ tính điểm  
cho từng lớp chức năng an toàn dựa theo tập mẫu của hồ  
sơ bảo vệ. Mức độ an toàn của cổng TTĐT được tính  
bằng tổng điểm có trọng số của các lớp chức năng an  
toàn. Sau đây là mô tả cách tạo hồ sơ bảo vệ theo chuẩn,  
cách xác định trọng số cho các lớp và cách đánh giáđịnh  
lượng mức độ an toàn.  
- Lớp xác thực định danh (FIA-Function  
Identification Authentication) có 4 họ là AFL(1),  
ATD(1), UAU(2), UID(1).  
- Lớp quản lý an toàn (FMT-Function Security  
Management) có 6 họ là MOF(1), MSA(2), MTD(1),  
SAE(1), SMF(1), SMR(1).  
- Lớp riêng tư (FPR-Function Privacy) có 3 họ là  
ANO(1), UNL(1), UNO(1).  
- Lớp bảo vệ chức năng an toàn TOE (FPT-Function  
TSF protection) có 7 họ là FLS(1), ITA(1), ITC(1),  
ITI(1), ITT(1), PHP(1), RCV(1).  
1) Tạo hồ sơ bảo vệ theo chuẩn  
Cổng TTĐT được đánh giá định lượng mức độ an  
toàn dựa theo dữ liệu về 10 nhóm nguy cơ đã thu thập  
được tương ứng với CCWAPSS [12] và bộ tiêu chí chung  
trong ISO 15408 [13].  
- Lớp sử dụng tài nguyên (FRU- Function Resource  
Utilisation) có 2 họ là FLT(1), RSA(1).  
- Lớp truy nhập TOE (FTA- Function TOE Access)  
có 4 họ là LSA(1), MCS(1), SSL(1), TSE(1).  
Để thực hiện đánh giá theo chuẩn, bước đầu tiên cần  
tạo một hồ sơ bảo vệ (PP) cho cổng TTĐT. Căn cứ vào  
10 nhóm nguy cơ đã mô tả ở mục B và 11 lớp chức năng  
an toàn của chuẩn, ta lập được hồ sơ bảo vệ là một ma  
trận gồm 82 hàng và 73 cột. Các hàng tương ứng với 82  
tập hợp các nguy cơ có thể kiểm tra được với công cụ  
phần mềm EpScan đã nêu ở mục C, trong đó, mỗi tập hợp  
- Lớp tuyến tin cậy (FTP- Function Trusted Path) có 2  
họ là ITC(3), TRP(3).  
Hồ sơ bảo vệ tạo thành một tập mẫu dùng cho đánh  
giá an toàn, mỗi ô được gán giá trị “0” hoặc “1” tùy theo  
tác động của nguy cơ tới các thành phần của lớp. Giá trị  
“0” thể hiện nguy cơ không ảnh hưởng đến thành phần  
SỐ 01 (CS.01) 2020  
TẠP CHÍ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG  
15  
Hoàng Đăng Hải, Phạm Thiếu Nga  
푎14 푎15 푎16  
푎12 푎13  
tương ứng của lớp. Ngược lại, giá trị “1” thể hiện nguy cơ  
có tác động đến thành phần của lớp tương ứng.  
1
푎21  
⋮
푎24 푎25 푎26  
1
⋮
푎23  
⋮
{
}
(4)  
=
⋮
⋮
⋮
Các tập hợp nguy cơ được sắp xếp vào 5 nhóm: cụ thể  
là: rất nghiêm trọng (highcritical), nghiêm trọng  
(critical), trung bình (medium), cảnh báo (warning) và  
cần lưu ý (alert). Mỗi nhóm được gán một hệ số khác  
nhau thể hiện mức độ nghiêm trọng của từng nhóm nguy  
cơ. Các hệ số cụ thể là h1, h2, h2, h4, h5, với h1> h2> h3>  
h4> h5. Trong đó, h1 ứng với nhóm rất nghiêm trọng, h5  
ứng với nhóm ít nghiêm trọng nhất. Kết quả dữ liệu thu  
thập từ cổng TTĐT cho mỗi lớp yêu cầu chức năng an  
toàn có thể bao gồm một vài hoặc cả 5 nhóm nêu trên.  
Trong hệ thống kết hợp giám sát và đánh giá đã đề xuất,  
ta đặt các hệ số như sau: h1=1.5, h2=1.4, h2=1.3, h4=1.2,  
h5=1.1dựa vào kết quả thử nghiệm với gần 200 cổng  
TTĐT.  
푎64 푎65  
1
푎61 푎62 푎63  
Mỗi phần tử aij thể hiện mức độ quan trọng của tiêu  
chí hàng i so với tiêu chí cột j. Mức độ quan trọng tương  
đối của tiêu chí i so với j được tính với k (k =1, 3, 5, 7,  
9), ngược lại của tiêu chí j so với i được tính với 1/k  
(nghĩa là 1, 1/3, 1/5, 1/7, 1/9).  
Như vậy, ma trận so sánh gồm các phần tử: aij> 0, aji  
= 1 / aij và aii = ajj= 1.  
Thang điểm so sánh mức độ quan trọng của các tiêu  
chí theo phương pháp AHP như sau.  
1/7  
1/9  
1
5
9
1/5  
1/3  
3
7
2) Xác định trọng số cho các lớp chức năng an toàn  
Các lớp chức năng an toàn có thể có mức độ quan  
trọng khác nhau. Do đó, có thể đặt các trọng số để phản  
ánh các mức độ đó trong kết quả đánh giá chung cho  
cổng TTĐT. Ví dụ, đối với cổng TTĐT, lớp FDP được  
coi quan trọng hơn lớp FCO, lớp FAU quan trọng hơn  
lớp FTP, v.v. Ta có thể sử dụng các trọng số wi để gán  
cho mỗi lớp i của 11 lớp chức năng an toàn.  
ít quan  
trọng  
hơn  
ít quan  
trọng  
nhiều hơn  
Quan  
trọng  
hơn nhiều hơn  
Quan  
trọng  
Hết sức Rất ít  
Rất  
quan  
trọng  
Hết sức  
quan  
trọng  
Như  
nhau  
ít quan  
quan  
trọng  
trọng  
Hình 8. Thang điểm mức độ quan trọng  
Từ thang điểm trên, ta lập được ma trận so sánh AHP  
theo 6 tiêu chí X1,X2, X3,X4,X5,X6như sau.  
Các trọng số là cần thiết, song việc xác định trọng số  
phù hợp có ảnh hưởng đáng kể đến kết quả đánh giá. Vì  
vậy, ta chọn phương pháp tiến trình thứ bậc phân tích  
(AHP- Analytic Hierarchy Process) [36] để tính toán các  
trọng số wi. Tiến trình AHP bao gồm 4 bước chính như  
sau:  
Bảng 1. Ma trận so sánh  
X1  
1
X2  
3
X3  
5
X4  
7
X5  
7
X6  
9
X1  
X2  
X3  
X4  
X5  
X6  
1- Xây dựng cây phân cấp AHP và ma trận so sánh  
1/3  
1/5  
1/7  
1/7  
1/9  
1
3
5
5
7
tiêu chí  
1/3  
1/5  
1/5  
1/7  
1
3
5
7
2- Tính toán các trọng số  
3- Kiểm tra tính nhất quán  
4- Tổng hợp kết quả trọng số  
Sau đây là chi tiết các bước.  
1/3  
1/5  
1/7  
1
3
5
1/3  
1/5  
1
3
Bước 1. Xây dựng cây phân cấp AHP và ma trận so sánh  
tiêu chí  
1/3  
1
Từ kết quả khảo sát với gần 200 cổng TTĐT và để  
giảm độ phức tạp tính toán, ta chọn ra 6 tiêu chí X1,X2,  
X3,X4,X5,X6cho phân cấp AHP ứng với các lớp chức năng  
an toàn đã nêu ở mục F.1) như sau.  
Bước 2. Tính toán các trọng số  
Thực hiện các bước tính toán theo phương pháp AHP,  
cụ thể là:  
Tiêu chí X1 cho lớp FDP  
-
Tính tổng các cột của ma trận so sánh: Sumj, với jlà  
chỉ số cột, j = 1…6.  
Tiêu chí X2 cho các lớp FAU, FMT, FPT  
Tiêu chí X3 cho lớp FTA  
-
Chuẩn hóa trọng số theo công thức:  
Tiêu chí X4 cho các lớp FCO, FTP, FIA  
Tiêu chí X5 cho các lớp FRU, FPR  
Tiêu chí X6 cho lớp FCS  
ci j = ai j / Sumj  
(5)  
-
Tính trọng số trung bình theo công thức:  
6
∑
푗=1 푐푖 푗  
푤푖 =  
(6)  
Hình 7. Lựa chọn 6 tiêu chí cho AHP  
6
Ma trận so sánh cho 6 tiêu chí được xây dựng như  
Thực hiện các bước trên, ta tính được kết quả cho các  
sau:  
trọng số như sau:  
w1 = 0.3984  
w2 = 0.2151  
w5 = 0.0450  
w3 = 0.1371  
w6 = 0.0248  
(
)
6푥6  
퐴 = 푎푖푗  
w4 = 0.0762  
Bước 3. Kiểm tra tính nhất quán  
SỐ 01 (CS.01) 2020  
TẠP CHÍ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG  
16  
GIẢI PHÁP KẾT HỢP GIÁM SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ AN TOÀN CỔNG THÔNG TIN …  
Theo [36], tính nhất quán của các trọng số được kiểm  
tra với các giá trị Lambda max (max), chỉ số nhất quán CI  
(Consistency Index), tỷ số nhất quán CR (Consistency  
Ratio). Giá trị max được tính như sau.  
-
Bước 1: Truy xuất tập dữ liệu đã thu thập lưu trong cơ  
sở dữ liệu (khối tổng hợp dữ liệu), ánh xạ dữ liệu vào  
một tập đích an toàn (ST- Security Target) được tạo  
theo mẫu của hồ sơ bảo vệ (Protection Profile). Mỗi  
tập dữ liệu tương ứng với một lần quét kiểm tra cổng  
TTĐT do khối thu thập dữ liệu cung cấp.  
6
푗=1  
∑
푤
푆푢푚  
푗 .  
푚푎푥  
=
푗(7)  
6
-
Bước 2: Từ bảng dữ liệu của tập đích an toàn ST, thực  
hiện tính điểm đánh giá cho từng lớp chức năng an  
toànFktheo công thức (12), cụ thể như sau.  
Từ giá trị Sumj và wj, ta tính được: max = 6.1574  
Theo AHP [36], chỉ số nhất quán CI (Consistency  
Index) được tính theo công thức:  
푁
푛=1  
푀
푘
1
∑
∑
푖=1  
퐹푘 = ℎ1  
푃 (12)  
푖,푘  
−푛  
푚푎푥  
푁
2
푀
푘
퐶퐼 =  
(8)  
푛−1  
∑
∑
∑
∑
∑
∑
∑
∑
+ℎ2  
푃
푖,푘  
푛=1  
푖=1  
Trong đó n là số tiêu chí.  
푁
3
푀
푘
−6  
6.1574 −6  
푚푎푥  
퐶퐼 =  
=
= 0.0315 (9)  
+ℎ3  
+ℎ4  
+ℎ5  
푃
푖,푘  
푖=1  
6−1  
5
푛=1  
Tỷ số nhất quán CR (Consistency Ratio) được tính  
theo công thức [36]:  
푁
4
푀
푘
푃
푖,푘  
푛=1  
푖=1  
CR = CI / RI  
(10)  
푁
5
푀
푘
Trong đó RI là chỉ số ngẫu nhiên (Random Index).  
푃
푖,푘  
푛=1  
푖=1  
Với 6 tiêu chí, ta có thể sử dụng bảng tham số trong  
[36] để chọn RI = 1.24  
Trong đó:  
Fk là điểm đánh giá cho lớp k  
Tỷ số CR sẽ là:  
Pi,k là giá trị điểm của mỗi thành phần i thuộc lớp k  
đã gán trong hồ sơ bảo vệ, với k = 1…11  
CR = 0.0315 / 1.24 = 0.0254  
(11)  
Kết quả CR = 0.0254 nhỏ hơn 0.1.Do vậy, theo  
phương pháp AHP [36] ta có thể kết luận là các trọng số  
đã tính được là phù hợp, chấp nhận được.  
Mk là số thành phần có trong mỗi lớp k  
nlà từng nguy cơ tấn côngđã kiểm tra được và ghi  
trong tập đích an toàn ST.  
Bước 4. Tổng hợp kết quả trọng số  
Nk là tổng số nguy cơ tấn côngtrong mỗi tập hợp  
nhóm nguy cơ.  
Trọng số cho các lớp chức năng an toàn được tổng  
hợp trong Bảng 2 như sau.  
Các giá trịh1, h2, h2, h4, h5, là hệ số của các tập hợp  
nhóm nguy cơ tương ứng.  
Bảng 2. Trọng số cho các lớp  
-
Bước 3: Với các trọng số cho các lớp chức năng an  
toàn đã thiết lập (xem phần F.2 ở trên), ta tính được  
tổng điểm đánh giá cho cổng TTĐT như sau.  
Lớp chức năng an toàn  
Trọng số  
w2 = 0.2151  
w4 = 0.0762  
w6 = 0.0248  
w1 = 0.3984  
w4 = 0.0762  
w2 = 0.2151  
w5 = 0.0450  
w2 = 0.2151  
w5 = 0.0450  
w3 = 0.1371  
w4 = 0.0762  
FAU  
FCO  
FCS  
FDP  
FIA  
11  
∑
퐹 = 푘=1 푤푘퐹푘 (13)  
Trong đó,F là điểm đánh giá (mức độ an toàn) của  
cổng TTĐT,wk là trọng số của lớp Fk với k = 1…11.  
Từ các trọng số trong Bảng 2, ta có:  
퐹 = 푤1퐹퐹퐷푃 + 푤2(퐹퐹퐴푈 + 퐹퐹푀푇 + 퐹퐹푀푇  
)
FMT  
FPR  
FPT  
FRU  
FTA  
FTP  
+ 푤3퐹퐹푇퐴  
+ 푤4(퐹퐹퐶푂 + 퐹퐹푇푃 + 퐹퐹퐼퐴  
)
+ 푤5(퐹퐹푅푈 + 퐹퐹푃푅  
)
+ 푤6퐹퐹퐶푆  
Trong đó, các giá trị FFDP, FFAU, FFMT, FFPT, FFTA  
,
FFCO, FFTP, FFIA, FFRU, FFPR, FFCS là điểm đánh giá của  
từng lớpnhư liệt kê trong Bảng 2.  
3) Xác định mức độ an toàn cho cổng TTĐT  
Các tác giả bài báo đã thực hiện thử nghiệm giải pháp  
cho gần 200 cổng TTĐT. Kết quả thử nghiệm cho thấy  
giải pháp kết hợp giám sát và đánh giá là khả thi, cho  
phép xác định mức độ an toàn cho từng cổng TTĐT, đặc  
biệt là cho phép so sánh mức độ an toàn giữa các cổng  
TTĐT.  
Như đã nêu ở phần đầu mục F, các bước tạo hồ sơ  
bảo vệ theo chuẩn và xác định trọng số cho các lớp chỉ  
cần thực hiện một lần ban đầu khi thiết lập hệ thống đánh  
giá.  
Quá trình đánh giá mức độ an toàn cho cổng TTĐT  
bao gồm các bước chính như sau.  
SỐ 01 (CS.01) 2020  
TẠP CHÍ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG  
17  
Hoàng Đăng Hải, Phạm Thiếu Nga  
Để minh họa kết quả đánh giá, chúng tôi chọn ra hai  
cổng TTĐT (ký hiệu là cổng TTĐT A và cổng TTĐT B).  
Từ tập dữ liệu thu thập được từ các cổng TTĐT đã lưu  
trong khối tổng hợp dữ liệu cho lần quét kiểm tra, hệ  
thống tính được các điểm đánh giá cho các lớp chức năng  
an toàn của hai cổng TTĐT A và cổng TTĐT B như biểu  
thị trong Bảng 3.Với các trọng số cho các lớp đã xác định  
ở phần trên, ta tính được điểm đánh giá cho các cổng  
TTĐT A và cổng TTĐT B là:  
62.36.  
Bảng 3. Kết quả điểm đánh giá cho hai cổng TTĐT A và  
cổng TTĐT B  
Lớp chức năng  
Điểm cho  
cổng TTĐT A  
Điểm cho  
cổng TTĐT B  
an toàn  
38.30  
32.50  
44.80  
18.20  
72.30  
25.30  
32.80  
14.30  
34.80  
32.70  
18.20  
22.50  
FDP  
FCO  
FCS  
FDP  
FIA  
7.00  
FA = 69.84, FB = 62.36  
12.00  
89.50  
7.20  
Hình 9 và Hình 10 là kết quả thử nghiệm đánh giá  
mức độ an toàn cho hai cổng TTĐT đã chọn. Giá trị FA  
và FB được biểu thị bằng cột màu đậm ngoài cùng bên  
trái các hình (biểu thị bằng F). Các cột còn lại là điểm  
đánh giá cho từng lớp của mỗicổng TTĐT.  
45.40  
11.00  
54.00  
8.10  
FMT  
FPR  
FPT  
FRU  
FTA  
FTP  
Đồ thị được biểu diễn trên thang điểm 100. Giá trị  
100% là tốt nhất. Với cổng TTĐT A, giá trị FDP là an  
toàn nhất (89.50%), giá trị FCO là kém an toàn nhất  
(7.00%). Đối với cổng TTĐT B, giá trị FDP là an toàn  
nhất (72.30%), giá trị FPR là kém an toàn nhất (14.30%).  
11.00  
11.00  
Như đã nêu, bên cạnh khả năng đánh giá mức độ an  
toàn cho từng lớp chức năng và cho toàn bộ cổng TTĐT,  
Hình 9. Điểm đánh giá các lớp chức năng an toàn của cổng TTĐT A  
Hình 10. Điểm đánh giá các lớp chức năng an toàn của cổng TTĐT B  
ta còn có thể so sánh mức độ an toàn giữa các cổng  
TTĐT. Như trong ví dụ đã nêu, cổng TTĐT A được đánh  
IV. KẾT LUẬN  
giá là an toàn hơn cổng TTĐT B, do FA = 69.84 > FB =  
SỐ 01 (CS.01) 2020  
TẠP CHÍ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG  
18  
GIẢI PHÁP KẾT HỢP GIÁM SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ AN TOÀN CỔNG THÔNG TIN …  
[6] I. Sharafa, A.H. Lashkari, A.A. Ghorbani. An Evaluation  
Giám sát và đánh giá an toàn cho cổng TTĐT là hai  
nhiệm vụ thường không tách rời khi xem xét mức độ an  
toàn của cổng TTĐT, song tới nay vẫn chưa có giải pháp  
nào quan tâm đồng thời đến điều này. Bài báo đề xuất  
một giải pháp kết hợp giám sát tập trung và đánh giá an  
toàn cho cổng TTĐT. Nguồn dữ liệu thu thập cho giám  
sát và đánh giá được thiết kế phù hợp với 10 nhóm nguy  
cơ đã được công bố trong chuẩn OWASP Top 10, đồng  
thời tương thích với 11 lớp chức năng an toàn của chuẩn  
ISO 15408. Việc kết hợp này mang lại hiệu quả và lợi  
ích vì tận dụng được nguồn dữ liệu giám sát thu thập  
được, cho phép sử dụng dữ liệu thu thập được để đánh  
giá mức độ an toàn và so sánh mức độ an toàn giữa các  
cổng TTĐT.  
Framework for Network Security Visualizations.  
Computers & Security, Vol. 84, July 2019, pp. 70-92.  
[7] Y. Suna, H. Wang. Intelligent Computer Security  
Monitoring Information Network Analysis. Proc. of IEEE  
Conference on Communications and Network Security  
(CNS) 2019, 10-12 June 2019.  
[8] H. Haywood. Web portal for managing premise security.  
US Patent No. 14,154,096 A1. US Patents May. 2014.  
[9] M.J. Ranum, R.Gula. System and Method for Strategic  
Anti-malware Monitoring. US Patent No. 9,088,606 B2.  
US Patents Jul. 2015.  
[10] N.M.Daswani,  
A.Ranadive,  
S.Rizvi.  
Monitoring  
forProblems and Detecting Malware. US Patent No.  
9,154,364 B2. US Patents Apr. 2015.  
[11] J.Ngoc Ki Pang, N.Yadav, et.al. Application Monitoring  
Prioritization. US Patent No. 15,173,477 A1. US Patents  
Dec. 2016.  
Mặt khác, hầu hết các giải pháp đánh giá hiện có vẫn  
chủ yếu là định tính, chưa theo tiêu chuẩn, còn phụ thuộc  
vào chủ quan của chuyên gia đánh giá. Do đó, bài báo đã  
đề xuất giải pháp đánh giá định lượng theo chuẩn ISO  
15408. Phương thức AHP đã được áp dụng để xác định  
các trọng số phù hợp cho các lớp chức năng an toàn theo  
chuẩn. Sử dụng nguồn dữ liệu thu thập được từ cổng  
TTĐT, hệ thống thực hiện ánh xạ vào tệp đích an toàn  
theo chuẩn dựa theo một tập mẫu hồ sơ bảo vệ thiết lập  
ban đầu. Trên cơ sở đó, hệ thống tính điểm đánh giá cho  
từng lớp, tính điểm tổng các lớp theo trọng số đã xác  
định để đưa ra mức đánh giá an toàn cho cổng TTĐT.  
Kết quả đánh giá cho thấy tính khả thi của giải pháp, đưa  
ra mức độ an toàn định lượng, khách quan và đáp ứng  
nhu cầu so sánh mức độ bảo đảm an toàn giữa các cổng  
TTĐT.  
[12] F. Charpentier. Common Criteria Web Application  
Security  
Scoring(CCWAPSS).Technical  
Report.  
2007,  
November  
[13] ISO/IEC 15408. Information technology - Security  
Techniques-Evaluation criteria for IT security; Part 1:  
Introduction and General Model; Part 2:Security  
Functional Components; Part 3: Security Assurance  
[14] J. Fonseca, M.Vieira, H.Madeira. Evaluation of Web  
Security Mechanisms Using Vulnerability & Attack  
Injection. IEEE Transactions on Dependable and Secure  
Computing, Vol 11, Issue 5, Sept.-Oct. 2014, pp.440-453.  
[15] Y. Zhou, D. Evans. Understanding and Monitoring  
Embedded Web Scripts. IEEE Symposium on Security  
and Privacy, 2015, pp. 850-865.  
[16] J.Pandey, M.Jain. An Analytical study and synthesis on  
Web server security. COMPUSOFFT, Intl. Jourrnal of  
advanced computer technology 4(4), April 2015, pp.1690-  
1694.  
[17] A.R. Cavalli, A.Benameur, W.Mallouli, K. Li. A Passive  
Testing Approach for Security Checking and its Practical  
Usage for Web Services Monitoring.Proc. of Conférence  
Internationale sur Les NOuvelles TEchnologies de la  
REpartition, June 2016.  
[18] Y.L. Ruan , X.Q. Yan. Research on Key Technology of  
Web Application Security Test Platform. Proc. of Intl.  
Conference onEducation, Management and Social Science  
(EMSS) 2018, pp.218–223.  
LỜI CẢM ƠN  
Bài báo được thực hiện trong khuôn khổ đề tài cấp  
Nhà nước mã số KC.01.08/16-20 của Bộ Khoa học và  
Công nghệ. Một phần tài trợ từ đề tài ASEAN IVO “A  
Hybrid Security Framework for IoT Networks” của Viện  
NICT (Nhật Bản).Các tác giả xin trân trọng cảm ơn các  
nguồn tài trợ cho nhóm thực hiện nghiên cứu.  
[19] L. Heberlein, K. Levitt, B. Mukherjee. Internetwork  
Security Monitor: An Intrusion-Detection System for  
Large-Scale Networks. Proc. of the 15th National  
Information Systems Security Conference, Oct. 1992, pp.  
262–271.  
[20] M. Trecka, et.al. Network Security and Surveillance  
system. US Patent No. 6,453,345. US Patents 2002.  
[21] T.Drees, L.Rachitsky, D.Taylor. Systems and Methods for  
Isolating Local Performance Variation in Website  
Monitoring. US Patent No. 7,546,368 B2. US Patents Jun.  
2009  
[22] R. Simon, L. Ahuja. Website monitoring: Contemporary  
Way to Test and Verify. Global Journal of Enterprise  
Information System, January-June 2012, Volume-4 Issue-  
I.  
[23] U.Erlingsson, Y.Xie, B.Livshits, C.Fournet. Enhanced  
Security and Performance of Web Applications, US Patent  
No. 8,677,141 B2. US Patents Mar. 2014.  
[24] L.V.Goldspink, M.Ducket. Website Monitoring and  
Cookie Setting. US Patent No. 8,880,710 B2. US Patents  
Nov. 2014.  
[25] D.H. Hoang, T.N. Pham. Evaluating the Security Levels  
of the Web-Portals Based on the Standard ISO/ IEC  
15408. Proc. of Intl. Symposium on Information and  
Communication Technology (SoICT) 2018, Dec. 2018,  
pp. 463-469.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] R. Bejtlich, The Tao of Network Security Monitoring  
Beyond Intrusion Detection, Addison Wesley, 2004.  
[2] L. Heberlein, G. Dias, K. Levitt, B. Mukherjee, J. Wood,  
and D. Wolber, "A Network Security Monitor,"  
Proceedings of the 1990 IEEE Symposium on Research in  
Security and Privacy, pp. 296–304 (May 1990).  
[3] K.Alhamazani, et.al., An Overview of the Commercial Cloud  
Monitoring Tools: Research Dimensions, Design Issues and  
State-Of-The-Art. Journal Computing, Vol 97, Issue 4, Apr.2015,  
pp.357-377.  
[4] M. Kolomeec, A. Chechulin, A. Pronoza, I.  
Kotenkom.Technique of Data Visualization: Example of  
Network Topology Display for Security Monitoring.  
Journal of Wireless Mobile Networks, Ubiquitous  
Computing, and Dependable Applications, 7:1 (Mar.  
2016), pp. 58-78.  
[5] A. Ghaleb, I. Tracre, K. Ganame. A Framework  
Architecture for Agentless Cloud Endpoint Security  
Monitoring.  
Proc.  
of  
IEEE  
Conference  
on  
Communications and Network Security (CNS) 2019, 10-  
12 June 2019.  
SỐ 01 (CS.01) 2020  
TẠP CHÍ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG  
19  
Hoàng Đăng Hải, Phạm Thiếu Nga  
[26] A. Richard. Evaluation of the Security of Components in  
Distributed Information Systems. TR. LITH-ISY-EX-  
3430-2003, LinköpingUniversity, Sweden (2003).  
Hoàng Đăng Hải, TS (1999),  
TSKH (2002) tại CHLB Đức, PGS  
(2009). Hiện đang đang công tác  
tại Học viện Công nghệ Bưu chính  
Viễn thông. Lĩnh vực nghiên cứu:  
Mạng và hệ thống thông tin, các  
giao thức truyền thông, chất  
lượng dịch vụ, mạng IoT, an toàn  
thông tin, an toàn mạng.  
[27] M. Peterson. CAESAR-  
A Proposed Method for  
Evaluating Security inComponent-based Distributed  
Information Systems.TR. LITH-ISYEX-3581-2004, Lin-  
köping University, Sweden. 2004.  
[28] J. Hallberg, A. Hunstad, M. Peterson. A Framework for  
System Security Assessment. Proc. of the Sixth Annual  
IEEE Information Assurance Workshop (IAW’05), 2005,  
pp.224–231.  
[29] J. Williams. OWASP Testing Guide 3.0, OWASP  
sting_Guide. 2008.  
[30] A. Petukhov, D. Kozlov. Detecting Security  
Vulnerabilities in Web Applications Using Dynamic  
Phạm Thiếu Nga. TS. (2000) tại  
CHLB Đức.  
Hiện đang là giảng viên chính tại  
Khoa Công nghệ thông tin, Đại  
học Xây dựng, Hà Nội. Lĩnh vực  
nghiên cứu: logic mờ, điều khiển  
mờ, mạng và hệ thống thông tin,  
mạng WSN, mạng IoT, hệ trợ giúp  
quyết định, hệ chuyên gia, đánh  
giá an toàn thông tin.  
Analysis  
with Penetration Testing.  
Proc.  
of  
OWASPApplication Security, Europe 2008 Conference,  
June 2008, pp.1–16.  
[31] M. Pistoia, O. Segal, O. Tripp. Detecting Security  
Vulnerabilitiesin Web Applications. US Patent  
US13174628. US Patents 2011.  
[32] W.Pei, N. Chen, D.Litong. Online XSS Testing Tool  
Based onPHP. Journal of Modern Electronics Techniques  
20 (2015), pp.41–43.  
[33] Y. Zhou, D.Evans. SSOScan: Automated Testing of Web  
Applications for Single Sign-On Vulnerabilities. IEEE  
Proceedings of the 23rdUSENIX Security Symposium,  
San Diego, CA, 2014, pp.495–510.  
ten/OWASP_Top_Ten_2017/  
[35] C. Vega, P. Roquero, et.al. Loginson: A Transform and  
Load System for Very Large Scale Log Analysis in Large  
IT Infrastructures. Journal of Supercomputing.  
Springer.No.7, Mar. 2017.  
[36] L.T. Saaty. The Analytic Hierarchy Process, McGraw-Hill  
International, New York, 1980.  
COMBINED SOLUTION FOR SECURITY  
MONITORING AND EVALUATION OF WEB-  
PORTALS USING STANDARDIZATION  
Abstract: Security monitoring and security evaluation  
are two tasks that seam to be separate, but have a close  
relationship with each other. Most of the known  
solutions often focus on either one of these two tasks. On  
the other hand, there is still no solution to this problem  
using a published standard. This paper proposes a  
combined solution for security monitoring and security  
evaluation of Web-Portals using starndardization,  
namely the standard ISO 15408. The idea of this solution  
is to provide a seamless system architecture across  
various processes such as monitoring, collecting data,  
security evaluating in  
a
centralized large scale  
monitoring network. Our system uses collected data for  
both attack threats detection and security evaluation. The  
Analytic Hierarchy Process (AHP) is applied to calculate  
the weights for security function classes according to the  
standard ISO 15408 and to provide a quantitative  
evaluation of the security level for Web-Portals. Tests  
were conducted with nearly 200 Web-Portals to show the  
feasibility of our solution.  
Keywords: Security Monitoring, Web application  
security, Web application security evaluation.  
SỐ 01 (CS.01) 2020  
TẠP CHÍ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG  
20  
pdf 11 trang yennguyen 21620 Free
Bạn đang xem tài liệu "Giải pháp kết hợp giám sát và đánh giá an toàn cổng thông tin điện tử theo chuẩn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiai_phap_ket_hop_giam_sat_va_danh_gia_an_toan_cong_thong_ti.pdf