Giải pháp kết hợp giám sát và đánh giá an toàn cổng thông tin điện tử theo chuẩn
Hoàng Đăng Hải, Phạm Thiếu Nga
GIẢI PHÁP KẾT HỢP GIÁM SÁT VÀ
ĐÁNH GIÁ AN TOÀN CỔNG THÔNG TIN
ĐIỆN TỬ THEO CHUẨN
Hoàng Đăng Hải1, Phạm Thiếu Nga2
1Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông
2Đại học Xây dựng Hà Nội
Email: haihd@ptit.edu.vn
phát hiện và cảnh báo. Đánh giá an toàn cổng TTĐT là
xác định mức độ bảo đảm an toàn của cổng, bao gồm việc
kiểm tra các lỗ hổng bảo mật tiềm ẩn gây ra nguy cơ tấn
công, xác định mức độ phù hợp của các biện pháp bảo vệ.
Đánh giá an toàn gồm các thành phần tối thiểu là: thu
thập dữ liệu, xử lý phân tích và đánh giá mức độ bảo đảm
an toàn. Như vậy, cả hai nhiệm vụ giám sát và đánh giá
an toàn đều có chung một số thành phần và đều nhằm
theo dõi, kiểm tra, xác định mức độ bảo đảm an toàn cho
cổng TTĐT.
Tóm tắt: Giám sát và đánh giá an toàn là hai nhiệm vụ
tuy có vẻ tách biệt song lại có mối quan hệ mật thiết với
nhau. Hầu hết các giải pháp đã biết tới nay thường chỉ
tập trung vào một trong hai nhiệm vụ trên. Mặt khác,
chưa có giải pháp nào theo một tiêu chuẩn đã công bố.
Bài báo này đề xuất một giải pháp kết hợp giám sát tập
trung và đánh giá an toàn cho cổng thông tin điện tử theo
chuẩn, cụ thể là chuẩn ISO 15408. Ý tưởng của giải pháp
là đưa ra một kiến trúc hệ thống xuyên suốt quá trình
giám sát, thu thập dữ liệu, đánh giá mức độ an toàn cho
mạng giám sát cỡ lớn theo phương thức tập trung. Giải
pháp sử dụng dữ liệu thu thập cho cả nhiệm vụ phát hiện
nguy cơ tấn công và đánh giá an toàn. Phương pháp thứ
bậc phân tích được áp dụng để tính trọng số cho các lớp
chức năng an toàn theo ISO 15408 và đưa ra kết quả
đánh giá định lượng mức độ an toàn cho cổng thông tin
điện tử. Thử nghiệm đã được thực hiện với gần 200 cổng
TTĐT.
Tuy nhiên, hầu hết các giải pháp đã biết tới nay
thường chỉ tập trung vào một trong hai nhiệm vụ trên.
Các giải pháp giám sát an toàn đã trải qua các giai đoạn
phát triển từ các hệ thống giám sát mạng đơn lẻ [1], cho
tới các hệ thống giám sát diện rộng [2], các hệ thống
giám sát phân tán trên đám mây [3, 4, 5], nhằm giải quyết
những vấn đề tồn tại của các hệ thống giám sát truyền
thống, ví dụ đối với các tài sản thông tin trên đám mây.
Những giải pháp mới, ví dụ [5, 6, 7], chủ yếu đề xuất
khắc phục hạn chế về số lượng điểm giám sát (tính mở
rộng) [5], không sử dụng agent [6], hay vấn đề xử lý thời
gian thực [7]. Một số giải pháp giám sát an toàn đặc thù
cho các ứng dụng Web cũng đã được đề xuất, điển hình
như [8, 9, 10, 11]. Tuy nhiên có thể thấy, vẫn chưa có giải
pháp giám sát an toàn nào tận dụng nguồn dữ liệu thu
thập được để kết hợp với nhiệm vụ đánh giá mức độ an
toàn cổng TTĐT.
Từ khóa: Giám sát an toàn, an toàn ứng dụng Web,
đánh giá an toàn ứng dụng Web.
I. MỞ ĐẦU
Cổng thông tin điện tử (TTĐT) là một trang Web đặc
biệt tập hợp nội dung thông tin và dịch vụ Web vào một
bộ khung thống nhất để cung cấp cho người dùng dưới
một tên miền chung. Cho tới nay, cổng TTĐT đã trở
thành một thành phần không thể thiếu trong hoạt động
của mọi cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp. Do chứa một
lượng thông tin lớn và đa dạng, cổng TTĐT luôn là một
mục tiêu tấn công hấp dẫn của tin tặc. Vì vậy, giám sát và
đánh giá an toàn cho cổng TTĐT luôn là một chủ đề được
quan tâm nhiều và có nhiều thách thức kỹ thuật được đặt
ra.
Mặt khác, đã có nhiều giải pháp riêng cho đánh giá
mức độ an toàn, cụ thể là cho các ứng dụng Web. Song
vẫn chưa có giải pháp đánh giá an toàn nào kết hợp với
một hệ thống giám sát an toàn. Điển hình cho các giải
pháp đánh giá an toàn ứng dụng Web là phương pháp
tính điểm an toàn ứng dụng Web theo tiêu chí chung
(CCWAPSS- Common Criteria Web Application
Security Scoring) [12], mô hình đánh giá theo chuẩn ISO
15408 [13]. Một số giải pháp đề xuất phương pháp đánh
giá cho từng thành phần ứng dụng Web không theo chuẩn
như [14, 15, 16, 17, 18].Theo khảo sát của các tác giả,
vẫn chưa có mô hình đánh giá định lượng phù hợp chuẩn
cho mức độ an toàn cho ứng dụng Web nói chung và
cổng TTĐT nói riêng.
Giám sát và đánh giá an toàn là hai nhiệm vụ tuy có
vẻ tách biệt song lại có mối quan hệ mật thiết với nhau.
Giám sát an toàn cho cổng TTĐT là một phạm trù của
lĩnh vực giám sát an toàn thông tin, là việc theo dõi hoạt
động của cổng TTĐT nhằm phát hiện và đưa ra cảnh báo
về các nguy cơ tấn công. Giám sát an toàn bao gồm các
thành phần tối thiểu là: thu thập dữ liệu, xử lý phân tích,
Việc kết hợp hai nhiệm vụ giám sát và đánh giá an
toàn là cần thiết đối với cổng TTĐT, vì cả hai nhiệm vụ
đều có mục tiêu chung là xác định mức độ an toàn, phát
hiện các nguy cơ sự cố và mức độ phù hợp của các biện
pháp bảo vệ. Sự kết hợp này mang lại hiệu quả và lợi ích
do tận dụng được nguồn dữ liệu thu thập được, cho phép
Tác giả liên hệ: Hoàng Đăng Hải
Email: [email protected]
Đến tòa soạn: 02/2020, chỉnh sửa: 04/2020, chấp nhận đăng:
04/2020
SỐ 01 (CS.01) 2020
TẠP CHÍ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG
10
GIẢI PHÁP KẾT HỢP GIÁM SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ AN TOÀN CỔNG THÔNG TIN …
sử dụng kết quả giám sát và đánh giá để so sánh mức độ
an toàn giữa các cổng TTĐT. Ngoài ra, giải pháp đưa ra
kết quả đánh giá định lượng theo chuẩn ISO 15408 và kết
hợp với phương pháp thứ bậc phân tích để tính trọng số
cho các lớp chức năng an toàn theo chuẩn. Đó là những
đóng góp chính của bài báo này. Ý tưởng xuyên suốt của
giải pháp đề xuất trong bài là một mô hình kết hợp giám
sát, thu thập dữ liệu, phân tích, đánh giá an toàn cho một
phạm vi cỡ lớn các cổng TTĐT theo phương thức tập
trung.
phẩm thương mại đóng kín, điển hình như: Complete
Website Security (CWS) của Symantec, Web Security
Appliance (WSA) của Cisco, QRadar của IBM, PRTG
Network Monitor của Paessler, SecureSphere của
Impeva. Ngoài ra, còn có các giải pháp phần mềm nguồn
observium.org),
Nagios
mềm giám sát đơn lẻ khác như: N-Stalker Web
Application Security Scanner (WASS) của N-Stalker
Phần tiếp theo của bài báo như sau:Phần II trình bày
các nghiên cứu liên quan giám sát và đánh giá an toàn
cổng TTĐT, phần III đề xuất giải pháp kết hợp giám sát
tập trung và đánh giá an toàn cổng TTĐT theo chuẩn,
phần IV là kết luận của bài.
Mặc dù có nhiều giải pháp và sản phẩm hệ thống
giám sát khá đa dạng, vẫn chưa có giải pháp hay hệ thống
nào đề cập đến khả năng kết hợp giám sát và đánh giá an
toàn cho cổng TTĐT.
II. CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
A. Khái quát các giải pháp giám sát an toàn
B. Khái quát các giải pháp đánh giá an toàn
Qua khảo sát, có thể khái quát các nhóm giải pháp
giám sát an toàn theo các giai đoạn phát triển như sau.
Đánh giá an toàn được quan tâm từ năm 1993 với việc
đề xuất các tiêu chí đánh giá chung (Common Criteria)
[12, 25]. Một mô hình đánh giá chung và bộ tiêu chí
chung cho đánh giá an toàn đã được đưa ra trong tiêu
chuẩn ISO 15408 [13]. Tuy nhiên, mô hình và bộ tiêu chí
này không dành riêng cho ứng dụng Web, không có kết
quả định lượng trong đánh giá. Biểu diễn kết quả đánh
giá chỉ là định tính đạt hoặc không đạt tiêu chuẩn.
Nhóm giải pháp cho các hệ thống đơn lẻ
Đây là nhóm giải pháp truyền thống phát triển từ các
hệ thống quản trị mạng nhằm giám sát truy nhập, theo dõi
hoạt động, cảnh báo sự cố [2, 19]. Hệ thống giám sát sử
dụng một số công cụ phần mềm đơn lẻ nhằm phát hiện
tấn công, nguy cơ sự cố. Điển hình là các công cụ Nmap,
Nagios… Nhóm giải pháp này không phục vụ riêng cho
cổng TTĐT cũng như các ứng dụng Web, mà chủ yếu
giám sát dịch vụ mạng và hệ thống mạng.
Đã có một số công trình nghiên cứu theo hướng định
lượng hóa kết quả đánh giá theo tiêu chuẩn, điển hình
như [26, 27, 28]. Các giải pháp này sắp xếp các yêu cầu
an toàn vào 11 lớp chức năng an toàn theo chuẩn ISO
15408. Mỗi yêu cầu được biểu diễn bằng ba thành phần
cơ bản là tính bí mật (C- Confidenciality), tính toàn vẹn (I
- Integrity), tính sẵn sàng (A- Availability). Có tổng số 33
phần tử cho 11 lớp được gán giá trị là “0” hoặc “1” thể
hiện mức độ an toàn. Tuy nhiên, các tác giả chưa đưa ra
cách tính các giá trị “0” và “1” như thế nào. Các mô hình
còn có độ phức tạp cao, không khả thi, không áp dụng
được cho cổng TTĐT.
Nhóm giải pháp tích hợp hệ thống
Đặc trưng của nhóm giải pháp này là có sự tích hợp
các công cụ, hệ thống con vào chung một hệ thống giám
sát. Các hệ thống con điển hình được tích hợp như tường
lửa, phát hiện xâm nhập (IDS- Intrusion Detection
System), ngăn chặn xâm nhập (IPS- Intrusion Prevention
System), các bẫy nhử Honeypots, Honeynet [1, 3]. Việc
kết hợp nhiều hệ thống con thường gặp nhiều khó khăn
do tính phức tạp cao, khả năng tương thích kém, hạn chế
về khả năng linh hoạt, mềm dẻo và khả năng mở rộng.
Dự án nghiên cứu OWASP [29] đưa ra một mô hình
đánh giá các ứng dụng Web sử dụng một bộ tiêu chí
chung gọi là CCWAPSS (Common Criteria Web
Application Security Scoring) [12]. Mô hình đánh giá
đơn giản hóa việc triển khai thông qua việc sắp xếp các
yêu cầu an toàn vào các nhóm. Kết quả đánh giá theo hệ
thống điểm số từ 1 đến 10 (10 là tốt nhất).Mỗi tiêu chí
đánh giá tương ứng với một nhóm lỗ hổng bảo mật ứng
dụng Web. Việc đánh giá chủ yếu dựa trên quan sát các
điểm yếu điển hình của các ứng dụng Web. Mặc dù mô
hình này cho kết quả định lượng tương đối qua điểm số,
cách triển khai đơn giản, song kết quả đánh giá vẫn mang
tính chủ quan, phụ thuộc vào chuyên gia đánh giá.
Nhóm giải pháp quản lý tập trung diện rộng
Nhóm giải pháp này có ưu điểm so với các nhóm giải
pháp đã nêu trên là có sự tích hợp các công nghệ mới
trong giám sát, phát hiện tấn công [1, 20, 21]. Kiến trúc
tập trung khắc phục được nhiều hạn chế trong các giải
pháp trước đó, cho phép tích hợp nhiều loại công nghệ
vào một hệ thống chung, thích ứng với việc mở rộng
phạm vi giám sát, cập nhật công nghệ kịp thời. Tuy
nhiên, các hệ thống giám sát lớn thường khó kiểm soát,
khó tạo được sự liên kết giữa các hệ thống con khi mở
rộng, chi phí thường rất cao.
Một số công trình nghiên cứu khác không theo hướng
áp dụng tiêu chuẩn, đề xuất mô hình đánh giá cho từng
thành phần cụ thể của ứng dụng Web, ví dụ trong [14, 16,
17, 30-33] được nêu cụ thể dưới đây.
Nhóm giải pháp giám sát đặc thù
Nhóm giải pháp này được phát triển nhằm đáp ứng sự
bùng nổ của dữ liệu lớn, điện toán đám mây, tính toán
phân tán, sự phát triển của các thiết bị di động và thiết bị
thông minh [3, 4, 23, 24]. Một số nghiên cứu mới về các
giải pháp giám sát đặc thù điển hình như [8, 11, 5, 6, 7].
Các giải pháp giám sát đặc thù đã trở thành xu hướng khá
phổ biến.
Các tác giả trong [14] phát triển một công cụ tự động
tạo ra các tấn công vào lỗ hổng bảo mật Web và kiểm tra
khả năng bảo vệ. Nghiên cứu trong [16] đề xuất một
phương pháp sử dụng các tập hồ sơ dựng sẵn tương tự
chuẩn ISO 15408 để phân tích mức độ an toàn của máy
chủ Web. Các tác giả trong [17] xây dựng một mô hình
kiểm thử thụ động cho các dịch vụ Web.Nghiên cứu
Song song với các nghiên cứu đã công bố là các hệ
thống giám sát an toàn được phát triển dưới dạng sản
SỐ 01 (CS.01) 2020
TẠP CHÍ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG
11
Hoàng Đăng Hải, Phạm Thiếu Nga
trong [30, 31] tập trung vào kiểm tra việc nhập dữ liệu lỗi
bằng cách kết hợp phân tích động với kiểm thử truyền
thống. Trong [32], một công cụ kiểm thử tấn công mã
xuyên trang trực tuyến (online XSS- Cross Site Scripting)
được phát triển, thực hiện các bước giả lập một tấn công
XSS và kiểm tra khả năng bảo vệ ứng dụng Web. Phương
pháp kiểm thử đăng nhập một lần (SSO- Single Sign On)
vào ứng dụng Web được nghiên cứu trong [33] với việc
sử dụng một công cụ quét SSO để kiểm tra thành phần
xác thực.
-
-
Khối tổng hợp dữ liệu: làm sạch dữ liệu, chuẩn hóa
dữ liệu, gán nhãn và chia tách các tập hợp dữ liệu
phục vụ tìm kiếm, truy xuất dữ liệu để xử lý tiếp.
Khối theo dõi, giám sát: có nhiệm vụ phân tích dữ
liệu, so khớp mẫu dấu hiệu theo các tập luật định sẵn
để phát hiện nguy cơ tấn công. Kết quả theo dõi, giám
sát được hiển thị với các cảnh báo nguy cơ tấn công.
-
Khối đánh giá mức độ an toàn: thực hiện phân tích dữ
liệu, tính toán định lượng giá trị thể hiện mức độ an
toàn theo chuẩn ISO 15408 và hiển thị kết quả đánh
giá mức độ an toàn.
Một số giải pháp đánh giá an toàn đã được phát triển
dưới dạng sản phẩm thương mại đóng kín hoặc sản phẩm
nguồn mở. Các sản phẩm thương mại điển hình như:
com/software/products/en/appscan), Metasploit của
phẩm mã nguồn mở điển hình như: Grabber
sizing.appspot.com) cho thấy, số sự kiện thu thập từmỗi
trang thông tin điện tử có thể đạt trung bình từ 3 đến 20
sự kiện/giây (EPS - Events per Second). Nếu số cổng
TTĐT cần giám sát là 500, thì tổng số sự kiện Ecần xử lý
tại trung tâm giám sát sẽ có thể lên tới:
E = 20 EPS* 500 = 10.000 EPS
(1)
Wapiti
Nếu thiết kế khối thu thập dữ liệu nhận mỗi bản tin sự
kiện gồm tối đa 300 Bytes, thì lượng dữ liệu Dthu thập
được từ 500 cổng TTĐT trong 1 giây sẽ là:
Một kết quả khảo sát thực hiện trong [18] cho thấy,
chưa có một mô hình phù hợp cho đánh giá an toàn ứng
dụng Web khả thi trong thực tiễn. Mặc dù đã có nhiều
giải pháp theo hướng chuẩn hoặc không áp dụng tiêu
chuẩn, vẫn chưa có giải pháp hay hệ thống nào có sự
quan tâm đầy đủ đến khả năng đánh giá định lượng khách
quan. Kết quả khảo sát của chúng tôi cũng cho thấy, chưa
có giải pháp hay hệ thống nào đề cập đến khả năng kết
hợp đánh giá an toàn với giám sát an toàn cho cổng
TTĐT. Ngoài ra, xu hướng chuẩn hóa cũng là cần thiết,
song chưa được đề cập trong nhiều giải pháp hiện có.
D = 300Bytes * 10000 = 3 Mbytes/s(2)
Từ đó, có thể tính được dung lượng đĩa cứng Scần
dùng để lưu trữ các sự kiện tại trung tâm giám sát trong
một ngày (24 giờ * 60 phút * 60 giây) là:
S = D * 24 * 60 * 60 = 86.4 GBytes
(3)
Nếu dùng Backup dữ liệu, ta sẽ cần dung lượng lưu
trữ khoảng 172.8 GBytes. Nếu lưu trữ nhiều ngày, ví dụ
theo tháng, ta có thể tính ra tổng dung lượng đĩa cứng cần
lưu trữ cho hệ thống.
III. GIẢI PHÁP KẾT HỢP GIÁM SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ
AN TOÀN CỔNG TTĐT THEO CHUẨN
Những con số nêu trên mới chỉ là tính toán tương đối,
song có thể cho ta ước tính sơ bộ năng lực xử lý của hệ
thống trung tâm giám sát. Cũng theo Splunk
biến cho một hệ thống giám sát nêu trên chỉ cần 01 máy
chủ Intel Xeon chuẩn, Dual Core, tốc độ CPU từ 2.5 GHz
trở lên, RAM tối thiểu 128 GB, ổ đĩa cứng có dung lượng
A. Mô hình kiến trúc hệ thống
Hình 1 là mô hình kiến trúc hệ thống kết hợp giám sát
tập trung và đánh giá an toàn cổng TTĐT.
Bên trái Hình 1 là các cổng TTĐT cần giám sát và
Hiển thị cảnh báo
Theo dõi, giám sát
nguy cơ tấn công
Cổng
TTĐT
Khối thu thập
dữ liệu
Khối tổng hợp
dữ liệu
.
.
.
Hiển thị mức độ
đánh giá an toàn
Đánh giá mức độ an toàn
Hình 1. Mô hình kết hợp giám sát tập trung và đánh giá an toàn cổng TTĐT
đánh giá an toàn. Bên phải là các khối chức năng chính
trong hệ thống kết hợp giám sát và đánh giá an toàn, cụ
thể gồm:
tối thiểu 200 GBytes. Đây cũng là cấu hình máy chủ
thông dụng, không yêu cầu quá cao về cấu hình. Nếu số
điểm cần giám sát nhiều hơn 500, ta có thể sử dụng máy
chủ mạnh hơn, hoặc dùng cấu trúc phân cụm máy chủ.
Trong khuôn khổ bài báo, chúng tôi không đi sâu thêm
vào nội dung này.
-
Khối thu thập dữ liệu: thực hiện thu thập dữ liệu từ
các cổng TTĐT phục vụ cho nhiệm vụ giám sát tập
trung và đánh giá an toàn theo chuẩn.
B. Nguồn dữ liệu từ cổng TTĐT
SỐ 01 (CS.01) 2020
TẠP CHÍ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG
12
GIẢI PHÁP KẾT HỢP GIÁM SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ AN TOÀN CỔNG THÔNG TIN …
Nguồn dữ liệu thu thập từ các cổng TTĐT có thể rất
đa dạng, tùy thuộc vào mục tiêu và phạm vi của mỗi hệ
thống giám sát và phương pháp thu thập thông tin. Về
nguyên tắc, nguồn dữ liệu chính có thể là: nhật ký hoạt
động ghi được tại máy chủ Web cài cổng TTĐT,dữ liệu
trạng thái hoạt động của cổng TTĐT và dữ liệu lưu lượng
Web.
Nguy cơ sử dụng các thành phần có lỗ hổng tiềm ản
(Using Known Vulnerable Components): Các thư
viện, các tệp tin có chứa lỗ hổng bảo mật tìm thấy
trong phản hồi truy vấn Web. Đây là nguy cơ tấn
công khai thác lỗ hổng tiềm ẩn.
Không ghi được nhật ký và giám sát (Insufficient
Logging & Monitoring): Hệ thống thiếu cơ chế giám
sát và ghi lại sự kiện hoạt động khi có lỗi xảy ra, thiếu
biện pháp bảo vệ, cảnh báo cần thiết.
Theo [34], cổng TTĐT có thể đối mặt với 10 nhóm
nguy cơ tấn công chính. Trong phạm vi giải pháp đề xuất
của bài báo và theo hướng chuẩn hóa, ta quan tâm đến 10
nhóm dữ liệu về nguy cơ tấn công đối với cổng TTĐT
như đã nêu trong [34] như sau:
C. Khối thu thập dữ liệu
Có hai khả năng thu thập dữ liệu từ các cổng TTĐT
là: sử dụng Agent vàkhông dùng Agent.
Nguy cơ tấn công chèn mã (Injection): Nguy cơ khi
nhập dữ liệu, ví dụ các tấn công SQL injection, OS
injection, LDAP injection... Dữ liệu nhập sai lệch có
thể bị kẻ tấn công đưa vào cùng với các biến dữ liệu
đầu vào như một phần của lệnh hay câu truy vấn
Web. Nguy cơ tấn công kiểu này có thể tạo khả năng
truy cập các dữ liệu cổng TTĐT một cách bất hợp
pháp.
1) Phương án sử dụng Agent
Agent là một phần mềm cài đặt tại máy chủ chứa
cổng TTĐT, làm nhiệm vụ thu thập dữ liệu về hoạt động
và nguy cơ sự cố của cổng TTĐT. Agent có thể thu thập
nhiều loại dữ liệu khác nhau, bao gồm các tệp nhật ký
quan trọng của máy chủ Web như nhật ký truy nhập
(Access Logs), nhật ký lỗi (Error Logs), nhật ký hệ thống
(System Logs). Agent cũng có thể thu thập dữ liệu lưu
lượng Web (request, response), trạng thái hoạt động của
cổng TTĐT. Những dữ liệu thu thập sẽ được so khớp với
các tập mẫu dấu hiệu để phát hiện các nguy cơ tấn
côngvào cổng TTĐT.
Nguy cơ tấn côngvào phần xác thực (Broken
Authentication): Xác thực hay quản lý phiên bị lỗi.
Nguy cơ kẻ tấn công có thể chiếm đoạt mật khẩu,
phiên làm việc, định danh người dùng.
Nguy cơ tấn công khi lộ dữ liệu nhạy cảm (Sensitive
Data Exposure): Nguy cơ lộ dữ liệu nhạy cảm như
thông tin định danh, tài khoản người dùng… do
không được bảo vệ, lưu trữ an toàn. Ví dụ, dữ liệu
nhạy cảm thiếu mã hóa.
2) Phương án không dùng Agent
Phương án này có ưu điểm là không cần cài đặt phần
mềm tại máy chủ chứa cổng TTĐT để thu thập dữ liệu.
Dữ liệu về nguy cơ tấn công cổng TTĐT được thu thập
theo hình thức gửi các câu truy vấn từ hệ thống giám sát
để rà quét, kiểm tra và nhận phản hồi từ cổng TTĐT về
các yêu cầu trên. Các câu truy vấn được thiết kế để thu
thập dữ liệu theo 10 nhóm nguy cơ tấn công như đã nêu ở
mục B. Lượng dữ liệu thu thập có thể không đầy đủ về
hoạt động của máy chủ và cổng TTĐT, song vẫn có thể
dùng cho theo dõi hoạt động, phân tích và phát hiện các
nguy cơ tấn công điển hình nhất đối với cổng TTĐT theo
10 nhóm nêu trên.
Nguy cơ tham chiếu đến đối tượng bên ngoài XML
(XML External Entities): Web có thể chấp nhận một
yêu cầu truy vân không an toàn trong XML, tham
chiếu không an toàn đến các đối tượng bên trong máy
chủ ví dụ như các tệp tin, thư mục, cơ sở dữ liệu. Ví
dụ, nguy cơ thực thi mã lệnh từ xa, nguy cơ tạo tấn
công từ chối dịch vụ.
Nguy cơ thiếu kiểm soát truy nhập (Broken Access
Control): Nguy cơ không có kiểm soát, hạn chế phân
quyền truy nhập. Kẻ tấn công có thể chiếm quyền,
thay đổi dữ liệu người dùng, thay đổi quyền truy
nhập…
Do ưu điểm trên, phương án không sử dụng Agent
được đề xuất trong giải pháp kết hợp giám sát và đánh giá
an toàn. Một công cụ phần mềm có tên là EpScan được
phát triển nhằm mục đích thu thập dữ liệu theo 10 nhóm
nguy cơ, phục vụ giám sát tập trung và đánh giá an toàn
cổng TTĐT. Lưu đồ khối của phần mềm EpScan biểu thị
trên Hình 2. Phần mềm EpScan gồm các bước chính như
sau:
Nguy cơ cấu hình bảo mật không an toàn (Security
Misconfiguration): Sự cố xảy ra với cấu hình sai, tiêu
đề HTTP sai, bộ nhớ vùng làm việc không được bảo
vệ…
Nguy cơ tấn công xuyên trang (Cross-Site Scripting):
Sự cố do thiếu kiểm soát dữ liệu nhập vào câu truy
vấn Web. Dữ liệu bất hợp pháp được gửi đến Web mà
không được xác thực. Điều này cho phép kẻ tấn công
thực thi các đoạn mã Script làm thay đổi nội dung
phản hồi từ máy chủ Web, làm chuyển hướng tới
trang khác do tin tặc thiết lập, có thể có chứa mã độc.
-
Bước 1: Lập cấu trúc danh mục cần quét kiểm tra cho
cổng TTĐT, lập danh mục nút dữ liệu, đặt thời gian
quét.
-
Bước 2: Thực hiện các câu truy vấn đọc nội dung
phản hồi, trạng thái và các đoạn mã Script có thể bị
cài trên cổng TTĐT. Chuẩn hóa định dạng dữ liệu
theo các trường tin: Id, địa chỉ URL, nội dung bản tin
trả về và mã lỗi xảy ra. Sử dụng các biểu thức chính
tắc RegEx (Regular Expression) để kiểm tra phân tách
trường tin và phát hiện nguy cơ tấn công.
Nguy cơ giải tuần tự không an toàn (Insecure
Desialization): Nguy cơ này tương tự chuyển hướng,
chuyển tiếp không hợp lệ trong phiên bản OWASP
Top 10 cũ. Nguy cơ xảy ra khi máy chủ Web cho
phép thực thi đoạn mã Script từ xa, cho phép trao đổi
các tham số HTML Forms hoặc trao đổi giữa các tiến
trình nội bộ không được xác thực.
-
-
Bước 3: Tạo lập bản ghi nguy cơ tấn công theo các
trường tin đã chuẩn hóa.
Bước 4: Kết thúc rà quét kiểm tra khi đã quét hết cấu
trúc cổng TTĐT theo danh mục đã lập ở bước 1 hoặc
SỐ 01 (CS.01) 2020
TẠP CHÍ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG
13
Hoàng Đăng Hải, Phạm Thiếu Nga
khi hết thời gian quét đã lập (nhánh y) hoặc lặp lại
bước 2 nếu chưa kết thúc (nhánh n).
từ
các nguồn
có sẵn,
điển hình như:
hay
những tập luật nguồn mở, có cập nhật thường xuyên cho
các nguy cơ tấn công mới.
-
Bước 5: Chuyển tiếp dữ liệu về khối tổng hợp dữ liệu
cho việc xử lý tiếp theo.
Lập cấu hình
rà quét kiểm tra
1
Tập mẫu dấu hiệu có sẵn được dùng để so khớp có thể
phát hiện các lỗi tương ứng với 10 nhóm nguy cơ tấn
công đã nêu ở mục B, cụ thể như các nguy cơ tấn công
điển hình sau:
2
3
Rà quét kiểm tra cổng TTĐT
-
Injection: SQL Injection, XML Injection, PHP
Injection, LDAP Injection,…
-
-
-
-
-
-
-
-
XSS attack.
Lập bản ghi nguy cơ
Data leakage
Config file access
4
5
n
Remote code execution
Kết thúc kiểm tra
Directory traversal
y
Web scan
Chuyển dữ liệu về khối tổng
hợp
Web shell
…
Hình 2. Lưu đồ phần mềm EpScan
Ví dụ về một cấu trúc RegEx dùng để kiểm tra phát
hiện nguy cơ tấn công được biểu thị trên Hình 3.
D. Khối tổng hợp dữ liệu
Dữ liệu chuyển về khối này được chia tách vào các
nút cơ sở dữ liệu tại trung tâm. Mỗi nút cơ sở dữ liệu có
thể đặt kích thước là 1 GBytes. Quá trình tổng hợp dữ
liệu có thêm bước làm sạch dữ liệu nhằm loại bỏ những
dữ liệu có lỗi và dữ liệu không cần thiết cho quá trình
phân tích, phát hiện và đánh giá an toàn. Ví dụ, có thể
loại bỏ các bản ghi dữ liệu phản hồi từ cổng TTĐT với
mã trạng thái là 200 OK có đồng thời ký hiệu “-” trong
trường tin uri-query-node. Các thử nghiệm cho thấy xác
suất có chứa hành vi tấn công trong các bản ghi kiểu này
hầu như bằng không, nên có thể loại bỏ bớt các bản ghi
này.
Dữ liệu tổng hợp được chuẩn hóavà gán nhãn với tiêu
đề định danh để dánh chỉ số và phần thân dữ liệu bao
gồm 300 bytes. Một đoạn mã Script được dùng để chuyển
các bản tin sự kiện có đánh nhãn vào các nút cơ sở dữ
liệu. Giải pháp có thể dùng ở đây là phần mềm nguồn mở
đơn thuần là các nút cơ sở dữ liệu tạo lập với MongoDB
nguồn mở cho phép kết hợp và thao tác nhiều kiểu tìm
kiếm dữ liệu theo các tiêu chí mong muốn với tốc độ xử
lý nhanh theo thời gian thực (xem ví dụ [35]).
Elasticsearch là một cỗ máy tìm kiếm phân tán kiểu
RESTful, cho phép tìm kiếm phân tán với tốc độ cao qua
các giao diện API. Logstash là một phần mềm nguồn mở
cho phép xử lý các bản tin sự kiện qua UNIX pipeline,
tập hợp dữ liệu đồng thời từ nhiều nguồn, chuyển đổi dữ
liệu và cho phép tìm kiếm dữ liệu với tốc độ cao. Lưu trữ
với các nút cơ sở dữ liệu MongoDB cũng là một giải
pháp đơn giản, khả thi.
Hình 3. Ví dụ về cấu trúc RegEx trong HTTP request
Ví dụ cho hai bản ghi dữ liệu phản hồi từ cổng TTĐT
có nguy cơ tấn công XSS như sau:
203.162.165.173 • • [12/Mar/2019:22:31:12
•0500]"GET /foo.jsp?<SCRIPT>foo</SCRIPT>.jsp
HTTP/1.1" 200 578 "•" "Mozilla/4.75 [en] (X11, U;
Nessus)"
203.162.165.173 • • [12/Mar/2019:23:37:17 •0500]
"GET /cgi• bin/cvslog.cgi?file=<SCRIPT>window. alert
</SCRIPT > HTTP/1.1" 403 302 "•" "Mozilla/4.75 [en]
(X11, U; Nessus)"
Hình 4. Ví dụ về hai bản ghi nguy cơ tấn công
Cả hai bản ghi đều có yêu cầu truy nhập chéo sang
trang Nessus. Ở bản ghi thứ nhất, mã trạng thái phản hồi
của cổng TTĐT là 200 OK. Điều đó nghĩa là đoạn mã
Script foo.jsp đã thực hiện. Ở bản ghi thứ 2, ta thấy cổng
TTĐT từ chối với phản hồi 403 Forbidden, nghĩa là cổng
E. Khối theo dõi, giám sát
Khối này có nhiệm vụ so khớp các dữ liệu tổng hợp
đã thu được với các mẫu dữ liệu dấu hiệu sẵn có để phát
hiện nguy cơ tấn công. Các tập mẫu dấu hiệu và cơ chế
phát hiện đều sử dụng chuẩn biểu thức chính tắc RegEx
(Regular Expression). Các tập mẫu dấu hiệu có thể tải về
SỐ 01 (CS.01) 2020
TẠP CHÍ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG
14
GIẢI PHÁP KẾT HỢP GIÁM SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ AN TOÀN CỔNG THÔNG TIN …
TTĐT đã ngăn chặn được nguy cơ tấn công chuyển sang
trang mã độc.
có thể gồm nhiều nguy cơ. Hình 6 là một ví dụ về một tập
hợp nguy cơ tấn công XSS thu thập được với 2 nguy cơ.
Hình 5 là ví dụ về hai bản ghi dữ liệu có nguy cơ tấn
công chèn nội dung mã độc. Bản ghi thứ nhất là nhóm
nguy cơ thứ 6 (xem mục B) về cấu hình bảo mật không
an toàn với mức độ nguy cơ cao (Severity=3). Bản ghi
thứ 2 là nhóm nguy cơ thứ 4 (xem mục B) về tham chiếu
đến đối tượng bên ngoài không an toàn gồm 3 nguy cơ
với mức độ cao (Severity = 3).
Hình 5. Ví dụ về hai bản ghi dữ liệu nguy cơ tấn công
chèn nội dung mã độc
Hình 6. Ví dụ về một tập hợp nguy cơ tấn công XSS với
hai nguy cơ
F. Khối đánh giá mức độ an toàn
Theo mô hình trong chuẩn ISO 15408 [13],đích đánh
giá (TOE - Target Of Evaluation) là cổng TTĐT cần đánh
giá. TOE được mô tả bằng các yêu cầu an toàn. Tập các
yêu cầu an toàn được xây dựng thành một hồ sơ bảo vệ
(PP - Protection Profile) chứa các yêu cầu an toàn cho các
loại cổng TTĐT nói chung. Đích an toàn (ST - Security
Target) được xây dựng cho một TOE cụ thể dựa theo các
yêu cầu an toàn liệt kê trong tập PP và trong môi trường
hoạt động cụ thể. Đặc trưng của mô hình là có 11 lớp
chứa các yêu cầu chức năng an toàn (SFR- Security
Function Requirement). Mỗi lớp đặc trưng cho một nhóm
yêu cầu an toàn cho một chức năng cụ thể, điển hình như
lớp bảo vệ dữ liệu người dùng, lớp mã hóa dữ liệu, lớp
xác thực định danh, v.v. Tập các yêu cầu chức năng an
toàn được coi là các tiêu chí chung (Common Criteria).
Các cột của ma trận hồ sơ bảo vệ biểu thị các thành
phần của 11 lớp chức năng an toàn theo ISO 15408 [13],
cụ thể như sau (con số trong dấu ngoặc là số thành phần
của mỗi họ trong một lớp):
- Lớp kiểm toán (FAU- Function Audit) có 6 họ là
ARP(1), GEN(2), SAA(2), SAR(3), SEL(1), STG(1).
- Lớp truyền thông (FCO-Function Communi-cation)
có 2 họ là NRO(3), NRR(3).
- Lớp hỗ trợ mật mã (FCS-Function Cryptogprahy
Support) có 2 họ là CKM(2), COP(1).
- Lớp bảo vệ dữ liệu (FDP-Function Data Protection)
có 11 họ là ACC(1), ACF(3), DAU(2), ETC(2), IFC(2),
IFF(4), ITC(2), ITT(1), SDI(1), UCT(1), UIT(1).
Để đánh giá mức độ an toàn cho cổng TTĐT, khối
đánh giá mức độ an toàn thực hiện truy xuất dữ liệu đã
lưu trong khối tổng hợp dữ liệu, ánh xạ vào một tập đích
an toàn (Security Target) được tạo theo mẫu của hồ sơ
bảo vệ (Protection Profile).Tiếp đó, hệ thống sẽ tính điểm
cho từng lớp chức năng an toàn dựa theo tập mẫu của hồ
sơ bảo vệ. Mức độ an toàn của cổng TTĐT được tính
bằng tổng điểm có trọng số của các lớp chức năng an
toàn. Sau đây là mô tả cách tạo hồ sơ bảo vệ theo chuẩn,
cách xác định trọng số cho các lớp và cách đánh giáđịnh
lượng mức độ an toàn.
- Lớp xác thực định danh (FIA-Function
Identification Authentication) có 4 họ là AFL(1),
ATD(1), UAU(2), UID(1).
- Lớp quản lý an toàn (FMT-Function Security
Management) có 6 họ là MOF(1), MSA(2), MTD(1),
SAE(1), SMF(1), SMR(1).
- Lớp riêng tư (FPR-Function Privacy) có 3 họ là
ANO(1), UNL(1), UNO(1).
- Lớp bảo vệ chức năng an toàn TOE (FPT-Function
TSF protection) có 7 họ là FLS(1), ITA(1), ITC(1),
ITI(1), ITT(1), PHP(1), RCV(1).
1) Tạo hồ sơ bảo vệ theo chuẩn
Cổng TTĐT được đánh giá định lượng mức độ an
toàn dựa theo dữ liệu về 10 nhóm nguy cơ đã thu thập
được tương ứng với CCWAPSS [12] và bộ tiêu chí chung
trong ISO 15408 [13].
- Lớp sử dụng tài nguyên (FRU- Function Resource
Utilisation) có 2 họ là FLT(1), RSA(1).
- Lớp truy nhập TOE (FTA- Function TOE Access)
có 4 họ là LSA(1), MCS(1), SSL(1), TSE(1).
Để thực hiện đánh giá theo chuẩn, bước đầu tiên cần
tạo một hồ sơ bảo vệ (PP) cho cổng TTĐT. Căn cứ vào
10 nhóm nguy cơ đã mô tả ở mục B và 11 lớp chức năng
an toàn của chuẩn, ta lập được hồ sơ bảo vệ là một ma
trận gồm 82 hàng và 73 cột. Các hàng tương ứng với 82
tập hợp các nguy cơ có thể kiểm tra được với công cụ
phần mềm EpScan đã nêu ở mục C, trong đó, mỗi tập hợp
- Lớp tuyến tin cậy (FTP- Function Trusted Path) có 2
họ là ITC(3), TRP(3).
Hồ sơ bảo vệ tạo thành một tập mẫu dùng cho đánh
giá an toàn, mỗi ô được gán giá trị “0” hoặc “1” tùy theo
tác động của nguy cơ tới các thành phần của lớp. Giá trị
“0” thể hiện nguy cơ không ảnh hưởng đến thành phần
SỐ 01 (CS.01) 2020
TẠP CHÍ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG
15
Hoàng Đăng Hải, Phạm Thiếu Nga
푎14 푎15 푎16
푎12 푎13
tương ứng của lớp. Ngược lại, giá trị “1” thể hiện nguy cơ
có tác động đến thành phần của lớp tương ứng.
1
푎21
⋮
푎24 푎25 푎26
1
⋮
푎23
⋮
{
}
(4)
=
⋮
⋮
⋮
Các tập hợp nguy cơ được sắp xếp vào 5 nhóm: cụ thể
là: rất nghiêm trọng (highcritical), nghiêm trọng
(critical), trung bình (medium), cảnh báo (warning) và
cần lưu ý (alert). Mỗi nhóm được gán một hệ số khác
nhau thể hiện mức độ nghiêm trọng của từng nhóm nguy
cơ. Các hệ số cụ thể là h1, h2, h2, h4, h5, với h1> h2> h3>
h4> h5. Trong đó, h1 ứng với nhóm rất nghiêm trọng, h5
ứng với nhóm ít nghiêm trọng nhất. Kết quả dữ liệu thu
thập từ cổng TTĐT cho mỗi lớp yêu cầu chức năng an
toàn có thể bao gồm một vài hoặc cả 5 nhóm nêu trên.
Trong hệ thống kết hợp giám sát và đánh giá đã đề xuất,
ta đặt các hệ số như sau: h1=1.5, h2=1.4, h2=1.3, h4=1.2,
h5=1.1dựa vào kết quả thử nghiệm với gần 200 cổng
TTĐT.
푎64 푎65
1
푎61 푎62 푎63
Mỗi phần tử aij thể hiện mức độ quan trọng của tiêu
chí hàng i so với tiêu chí cột j. Mức độ quan trọng tương
đối của tiêu chí i so với j được tính với k (k =1, 3, 5, 7,
9), ngược lại của tiêu chí j so với i được tính với 1/k
(nghĩa là 1, 1/3, 1/5, 1/7, 1/9).
Như vậy, ma trận so sánh gồm các phần tử: aij> 0, aji
= 1 / aij và aii = ajj= 1.
Thang điểm so sánh mức độ quan trọng của các tiêu
chí theo phương pháp AHP như sau.
1/7
1/9
1
5
9
1/5
1/3
3
7
2) Xác định trọng số cho các lớp chức năng an toàn
Các lớp chức năng an toàn có thể có mức độ quan
trọng khác nhau. Do đó, có thể đặt các trọng số để phản
ánh các mức độ đó trong kết quả đánh giá chung cho
cổng TTĐT. Ví dụ, đối với cổng TTĐT, lớp FDP được
coi quan trọng hơn lớp FCO, lớp FAU quan trọng hơn
lớp FTP, v.v. Ta có thể sử dụng các trọng số wi để gán
cho mỗi lớp i của 11 lớp chức năng an toàn.
ít quan
trọng
hơn
ít quan
trọng
nhiều hơn
Quan
trọng
hơn nhiều hơn
Quan
trọng
Hết sức Rất ít
Rất
quan
trọng
Hết sức
quan
trọng
Như
nhau
ít quan
quan
trọng
trọng
Hình 8. Thang điểm mức độ quan trọng
Từ thang điểm trên, ta lập được ma trận so sánh AHP
theo 6 tiêu chí X1,X2, X3,X4,X5,X6như sau.
Các trọng số là cần thiết, song việc xác định trọng số
phù hợp có ảnh hưởng đáng kể đến kết quả đánh giá. Vì
vậy, ta chọn phương pháp tiến trình thứ bậc phân tích
(AHP- Analytic Hierarchy Process) [36] để tính toán các
trọng số wi. Tiến trình AHP bao gồm 4 bước chính như
sau:
Bảng 1. Ma trận so sánh
X1
1
X2
3
X3
5
X4
7
X5
7
X6
9
X1
X2
X3
X4
X5
X6
1- Xây dựng cây phân cấp AHP và ma trận so sánh
1/3
1/5
1/7
1/7
1/9
1
3
5
5
7
tiêu chí
1/3
1/5
1/5
1/7
1
3
5
7
2- Tính toán các trọng số
3- Kiểm tra tính nhất quán
4- Tổng hợp kết quả trọng số
Sau đây là chi tiết các bước.
1/3
1/5
1/7
1
3
5
1/3
1/5
1
3
Bước 1. Xây dựng cây phân cấp AHP và ma trận so sánh
tiêu chí
1/3
1
Từ kết quả khảo sát với gần 200 cổng TTĐT và để
giảm độ phức tạp tính toán, ta chọn ra 6 tiêu chí X1,X2,
X3,X4,X5,X6cho phân cấp AHP ứng với các lớp chức năng
an toàn đã nêu ở mục F.1) như sau.
Bước 2. Tính toán các trọng số
Thực hiện các bước tính toán theo phương pháp AHP,
cụ thể là:
Tiêu chí X1 cho lớp FDP
-
Tính tổng các cột của ma trận so sánh: Sumj, với jlà
chỉ số cột, j = 1…6.
Tiêu chí X2 cho các lớp FAU, FMT, FPT
Tiêu chí X3 cho lớp FTA
-
Chuẩn hóa trọng số theo công thức:
Tiêu chí X4 cho các lớp FCO, FTP, FIA
Tiêu chí X5 cho các lớp FRU, FPR
Tiêu chí X6 cho lớp FCS
ci j = ai j / Sumj
(5)
-
Tính trọng số trung bình theo công thức:
6
∑
푗=1 푐푖 푗
푤푖 =
(6)
Hình 7. Lựa chọn 6 tiêu chí cho AHP
6
Ma trận so sánh cho 6 tiêu chí được xây dựng như
Thực hiện các bước trên, ta tính được kết quả cho các
sau:
trọng số như sau:
w1 = 0.3984
w2 = 0.2151
w5 = 0.0450
w3 = 0.1371
w6 = 0.0248
(
)
6푥6
퐴 = 푎푖푗
w4 = 0.0762
Bước 3. Kiểm tra tính nhất quán
SỐ 01 (CS.01) 2020
TẠP CHÍ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG
16
GIẢI PHÁP KẾT HỢP GIÁM SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ AN TOÀN CỔNG THÔNG TIN …
Theo [36], tính nhất quán của các trọng số được kiểm
tra với các giá trị Lambda max (max), chỉ số nhất quán CI
(Consistency Index), tỷ số nhất quán CR (Consistency
Ratio). Giá trị max được tính như sau.
-
Bước 1: Truy xuất tập dữ liệu đã thu thập lưu trong cơ
sở dữ liệu (khối tổng hợp dữ liệu), ánh xạ dữ liệu vào
một tập đích an toàn (ST- Security Target) được tạo
theo mẫu của hồ sơ bảo vệ (Protection Profile). Mỗi
tập dữ liệu tương ứng với một lần quét kiểm tra cổng
TTĐT do khối thu thập dữ liệu cung cấp.
6
푗=1
∑
푤
푆푢푚
푗 .
푚푎푥
=
푗(7)
6
-
Bước 2: Từ bảng dữ liệu của tập đích an toàn ST, thực
hiện tính điểm đánh giá cho từng lớp chức năng an
toànFktheo công thức (12), cụ thể như sau.
Từ giá trị Sumj và wj, ta tính được: max = 6.1574
Theo AHP [36], chỉ số nhất quán CI (Consistency
Index) được tính theo công thức:
푁
푛=1
푀
푘
1
∑
∑
푖=1
퐹푘 = ℎ1
푃 (12)
푖,푘
−푛
푚푎푥
푁
2
푀
푘
퐶퐼 =
(8)
푛−1
∑
∑
∑
∑
∑
∑
∑
∑
+ℎ2
푃
푖,푘
푛=1
푖=1
Trong đó n là số tiêu chí.
푁
3
푀
푘
−6
6.1574 −6
푚푎푥
퐶퐼 =
=
= 0.0315 (9)
+ℎ3
+ℎ4
+ℎ5
푃
푖,푘
푖=1
6−1
5
푛=1
Tỷ số nhất quán CR (Consistency Ratio) được tính
theo công thức [36]:
푁
4
푀
푘
푃
푖,푘
푛=1
푖=1
CR = CI / RI
(10)
푁
5
푀
푘
Trong đó RI là chỉ số ngẫu nhiên (Random Index).
푃
푖,푘
푛=1
푖=1
Với 6 tiêu chí, ta có thể sử dụng bảng tham số trong
[36] để chọn RI = 1.24
Trong đó:
Fk là điểm đánh giá cho lớp k
Tỷ số CR sẽ là:
Pi,k là giá trị điểm của mỗi thành phần i thuộc lớp k
đã gán trong hồ sơ bảo vệ, với k = 1…11
CR = 0.0315 / 1.24 = 0.0254
(11)
Kết quả CR = 0.0254 nhỏ hơn 0.1.Do vậy, theo
phương pháp AHP [36] ta có thể kết luận là các trọng số
đã tính được là phù hợp, chấp nhận được.
Mk là số thành phần có trong mỗi lớp k
nlà từng nguy cơ tấn côngđã kiểm tra được và ghi
trong tập đích an toàn ST.
Bước 4. Tổng hợp kết quả trọng số
Nk là tổng số nguy cơ tấn côngtrong mỗi tập hợp
nhóm nguy cơ.
Trọng số cho các lớp chức năng an toàn được tổng
hợp trong Bảng 2 như sau.
Các giá trịh1, h2, h2, h4, h5, là hệ số của các tập hợp
nhóm nguy cơ tương ứng.
Bảng 2. Trọng số cho các lớp
-
Bước 3: Với các trọng số cho các lớp chức năng an
toàn đã thiết lập (xem phần F.2 ở trên), ta tính được
tổng điểm đánh giá cho cổng TTĐT như sau.
Lớp chức năng an toàn
Trọng số
w2 = 0.2151
w4 = 0.0762
w6 = 0.0248
w1 = 0.3984
w4 = 0.0762
w2 = 0.2151
w5 = 0.0450
w2 = 0.2151
w5 = 0.0450
w3 = 0.1371
w4 = 0.0762
FAU
FCO
FCS
FDP
FIA
11
∑
퐹 = 푘=1 푤푘퐹푘 (13)
Trong đó,F là điểm đánh giá (mức độ an toàn) của
cổng TTĐT,wk là trọng số của lớp Fk với k = 1…11.
Từ các trọng số trong Bảng 2, ta có:
퐹 = 푤1퐹퐹퐷푃 + 푤2(퐹퐹퐴푈 + 퐹퐹푀푇 + 퐹퐹푀푇
)
FMT
FPR
FPT
FRU
FTA
FTP
+ 푤3퐹퐹푇퐴
+ 푤4(퐹퐹퐶푂 + 퐹퐹푇푃 + 퐹퐹퐼퐴
)
+ 푤5(퐹퐹푅푈 + 퐹퐹푃푅
)
+ 푤6퐹퐹퐶푆
Trong đó, các giá trị FFDP, FFAU, FFMT, FFPT, FFTA
,
FFCO, FFTP, FFIA, FFRU, FFPR, FFCS là điểm đánh giá của
từng lớpnhư liệt kê trong Bảng 2.
3) Xác định mức độ an toàn cho cổng TTĐT
Các tác giả bài báo đã thực hiện thử nghiệm giải pháp
cho gần 200 cổng TTĐT. Kết quả thử nghiệm cho thấy
giải pháp kết hợp giám sát và đánh giá là khả thi, cho
phép xác định mức độ an toàn cho từng cổng TTĐT, đặc
biệt là cho phép so sánh mức độ an toàn giữa các cổng
TTĐT.
Như đã nêu ở phần đầu mục F, các bước tạo hồ sơ
bảo vệ theo chuẩn và xác định trọng số cho các lớp chỉ
cần thực hiện một lần ban đầu khi thiết lập hệ thống đánh
giá.
Quá trình đánh giá mức độ an toàn cho cổng TTĐT
bao gồm các bước chính như sau.
SỐ 01 (CS.01) 2020
TẠP CHÍ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG
17
Hoàng Đăng Hải, Phạm Thiếu Nga
Để minh họa kết quả đánh giá, chúng tôi chọn ra hai
cổng TTĐT (ký hiệu là cổng TTĐT A và cổng TTĐT B).
Từ tập dữ liệu thu thập được từ các cổng TTĐT đã lưu
trong khối tổng hợp dữ liệu cho lần quét kiểm tra, hệ
thống tính được các điểm đánh giá cho các lớp chức năng
an toàn của hai cổng TTĐT A và cổng TTĐT B như biểu
thị trong Bảng 3.Với các trọng số cho các lớp đã xác định
ở phần trên, ta tính được điểm đánh giá cho các cổng
TTĐT A và cổng TTĐT B là:
62.36.
Bảng 3. Kết quả điểm đánh giá cho hai cổng TTĐT A và
cổng TTĐT B
Lớp chức năng
Điểm cho
cổng TTĐT A
Điểm cho
cổng TTĐT B
an toàn
38.30
32.50
44.80
18.20
72.30
25.30
32.80
14.30
34.80
32.70
18.20
22.50
FDP
FCO
FCS
FDP
FIA
7.00
FA = 69.84, FB = 62.36
12.00
89.50
7.20
Hình 9 và Hình 10 là kết quả thử nghiệm đánh giá
mức độ an toàn cho hai cổng TTĐT đã chọn. Giá trị FA
và FB được biểu thị bằng cột màu đậm ngoài cùng bên
trái các hình (biểu thị bằng F). Các cột còn lại là điểm
đánh giá cho từng lớp của mỗicổng TTĐT.
45.40
11.00
54.00
8.10
FMT
FPR
FPT
FRU
FTA
FTP
Đồ thị được biểu diễn trên thang điểm 100. Giá trị
100% là tốt nhất. Với cổng TTĐT A, giá trị FDP là an
toàn nhất (89.50%), giá trị FCO là kém an toàn nhất
(7.00%). Đối với cổng TTĐT B, giá trị FDP là an toàn
nhất (72.30%), giá trị FPR là kém an toàn nhất (14.30%).
11.00
11.00
Như đã nêu, bên cạnh khả năng đánh giá mức độ an
toàn cho từng lớp chức năng và cho toàn bộ cổng TTĐT,
Hình 9. Điểm đánh giá các lớp chức năng an toàn của cổng TTĐT A
Hình 10. Điểm đánh giá các lớp chức năng an toàn của cổng TTĐT B
ta còn có thể so sánh mức độ an toàn giữa các cổng
TTĐT. Như trong ví dụ đã nêu, cổng TTĐT A được đánh
IV. KẾT LUẬN
giá là an toàn hơn cổng TTĐT B, do FA = 69.84 > FB =
SỐ 01 (CS.01) 2020
TẠP CHÍ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG
18
GIẢI PHÁP KẾT HỢP GIÁM SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ AN TOÀN CỔNG THÔNG TIN …
[6] I. Sharafa, A.H. Lashkari, A.A. Ghorbani. An Evaluation
Giám sát và đánh giá an toàn cho cổng TTĐT là hai
nhiệm vụ thường không tách rời khi xem xét mức độ an
toàn của cổng TTĐT, song tới nay vẫn chưa có giải pháp
nào quan tâm đồng thời đến điều này. Bài báo đề xuất
một giải pháp kết hợp giám sát tập trung và đánh giá an
toàn cho cổng TTĐT. Nguồn dữ liệu thu thập cho giám
sát và đánh giá được thiết kế phù hợp với 10 nhóm nguy
cơ đã được công bố trong chuẩn OWASP Top 10, đồng
thời tương thích với 11 lớp chức năng an toàn của chuẩn
ISO 15408. Việc kết hợp này mang lại hiệu quả và lợi
ích vì tận dụng được nguồn dữ liệu giám sát thu thập
được, cho phép sử dụng dữ liệu thu thập được để đánh
giá mức độ an toàn và so sánh mức độ an toàn giữa các
cổng TTĐT.
Framework for Network Security Visualizations.
Computers & Security, Vol. 84, July 2019, pp. 70-92.
[7] Y. Suna, H. Wang. Intelligent Computer Security
Monitoring Information Network Analysis. Proc. of IEEE
Conference on Communications and Network Security
(CNS) 2019, 10-12 June 2019.
[8] H. Haywood. Web portal for managing premise security.
US Patent No. 14,154,096 A1. US Patents May. 2014.
[9] M.J. Ranum, R.Gula. System and Method for Strategic
Anti-malware Monitoring. US Patent No. 9,088,606 B2.
US Patents Jul. 2015.
[10] N.M.Daswani,
A.Ranadive,
S.Rizvi.
Monitoring
forProblems and Detecting Malware. US Patent No.
9,154,364 B2. US Patents Apr. 2015.
[11] J.Ngoc Ki Pang, N.Yadav, et.al. Application Monitoring
Prioritization. US Patent No. 15,173,477 A1. US Patents
Dec. 2016.
Mặt khác, hầu hết các giải pháp đánh giá hiện có vẫn
chủ yếu là định tính, chưa theo tiêu chuẩn, còn phụ thuộc
vào chủ quan của chuyên gia đánh giá. Do đó, bài báo đã
đề xuất giải pháp đánh giá định lượng theo chuẩn ISO
15408. Phương thức AHP đã được áp dụng để xác định
các trọng số phù hợp cho các lớp chức năng an toàn theo
chuẩn. Sử dụng nguồn dữ liệu thu thập được từ cổng
TTĐT, hệ thống thực hiện ánh xạ vào tệp đích an toàn
theo chuẩn dựa theo một tập mẫu hồ sơ bảo vệ thiết lập
ban đầu. Trên cơ sở đó, hệ thống tính điểm đánh giá cho
từng lớp, tính điểm tổng các lớp theo trọng số đã xác
định để đưa ra mức đánh giá an toàn cho cổng TTĐT.
Kết quả đánh giá cho thấy tính khả thi của giải pháp, đưa
ra mức độ an toàn định lượng, khách quan và đáp ứng
nhu cầu so sánh mức độ bảo đảm an toàn giữa các cổng
TTĐT.
[12] F. Charpentier. Common Criteria Web Application
Security
Scoring(CCWAPSS).Technical
Report.
2007,
November
[13] ISO/IEC 15408. Information technology - Security
Techniques-Evaluation criteria for IT security; Part 1:
Introduction and General Model; Part 2:Security
Functional Components; Part 3: Security Assurance
[14] J. Fonseca, M.Vieira, H.Madeira. Evaluation of Web
Security Mechanisms Using Vulnerability & Attack
Injection. IEEE Transactions on Dependable and Secure
Computing, Vol 11, Issue 5, Sept.-Oct. 2014, pp.440-453.
[15] Y. Zhou, D. Evans. Understanding and Monitoring
Embedded Web Scripts. IEEE Symposium on Security
and Privacy, 2015, pp. 850-865.
[16] J.Pandey, M.Jain. An Analytical study and synthesis on
Web server security. COMPUSOFFT, Intl. Jourrnal of
advanced computer technology 4(4), April 2015, pp.1690-
1694.
[17] A.R. Cavalli, A.Benameur, W.Mallouli, K. Li. A Passive
Testing Approach for Security Checking and its Practical
Usage for Web Services Monitoring.Proc. of Conférence
Internationale sur Les NOuvelles TEchnologies de la
REpartition, June 2016.
[18] Y.L. Ruan , X.Q. Yan. Research on Key Technology of
Web Application Security Test Platform. Proc. of Intl.
Conference onEducation, Management and Social Science
(EMSS) 2018, pp.218–223.
LỜI CẢM ƠN
Bài báo được thực hiện trong khuôn khổ đề tài cấp
Nhà nước mã số KC.01.08/16-20 của Bộ Khoa học và
Công nghệ. Một phần tài trợ từ đề tài ASEAN IVO “A
Hybrid Security Framework for IoT Networks” của Viện
NICT (Nhật Bản).Các tác giả xin trân trọng cảm ơn các
nguồn tài trợ cho nhóm thực hiện nghiên cứu.
[19] L. Heberlein, K. Levitt, B. Mukherjee. Internetwork
Security Monitor: An Intrusion-Detection System for
Large-Scale Networks. Proc. of the 15th National
Information Systems Security Conference, Oct. 1992, pp.
262–271.
[20] M. Trecka, et.al. Network Security and Surveillance
system. US Patent No. 6,453,345. US Patents 2002.
[21] T.Drees, L.Rachitsky, D.Taylor. Systems and Methods for
Isolating Local Performance Variation in Website
Monitoring. US Patent No. 7,546,368 B2. US Patents Jun.
2009
[22] R. Simon, L. Ahuja. Website monitoring: Contemporary
Way to Test and Verify. Global Journal of Enterprise
Information System, January-June 2012, Volume-4 Issue-
I.
[23] U.Erlingsson, Y.Xie, B.Livshits, C.Fournet. Enhanced
Security and Performance of Web Applications, US Patent
No. 8,677,141 B2. US Patents Mar. 2014.
[24] L.V.Goldspink, M.Ducket. Website Monitoring and
Cookie Setting. US Patent No. 8,880,710 B2. US Patents
Nov. 2014.
[25] D.H. Hoang, T.N. Pham. Evaluating the Security Levels
of the Web-Portals Based on the Standard ISO/ IEC
15408. Proc. of Intl. Symposium on Information and
Communication Technology (SoICT) 2018, Dec. 2018,
pp. 463-469.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] R. Bejtlich, The Tao of Network Security Monitoring
Beyond Intrusion Detection, Addison Wesley, 2004.
[2] L. Heberlein, G. Dias, K. Levitt, B. Mukherjee, J. Wood,
and D. Wolber, "A Network Security Monitor,"
Proceedings of the 1990 IEEE Symposium on Research in
Security and Privacy, pp. 296–304 (May 1990).
[3] K.Alhamazani, et.al., An Overview of the Commercial Cloud
Monitoring Tools: Research Dimensions, Design Issues and
State-Of-The-Art. Journal Computing, Vol 97, Issue 4, Apr.2015,
pp.357-377.
[4] M. Kolomeec, A. Chechulin, A. Pronoza, I.
Kotenkom.Technique of Data Visualization: Example of
Network Topology Display for Security Monitoring.
Journal of Wireless Mobile Networks, Ubiquitous
Computing, and Dependable Applications, 7:1 (Mar.
2016), pp. 58-78.
[5] A. Ghaleb, I. Tracre, K. Ganame. A Framework
Architecture for Agentless Cloud Endpoint Security
Monitoring.
Proc.
of
IEEE
Conference
on
Communications and Network Security (CNS) 2019, 10-
12 June 2019.
SỐ 01 (CS.01) 2020
TẠP CHÍ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG
19
Hoàng Đăng Hải, Phạm Thiếu Nga
[26] A. Richard. Evaluation of the Security of Components in
Distributed Information Systems. TR. LITH-ISY-EX-
3430-2003, LinköpingUniversity, Sweden (2003).
Hoàng Đăng Hải, TS (1999),
TSKH (2002) tại CHLB Đức, PGS
(2009). Hiện đang đang công tác
tại Học viện Công nghệ Bưu chính
Viễn thông. Lĩnh vực nghiên cứu:
Mạng và hệ thống thông tin, các
giao thức truyền thông, chất
lượng dịch vụ, mạng IoT, an toàn
thông tin, an toàn mạng.
[27] M. Peterson. CAESAR-
A Proposed Method for
Evaluating Security inComponent-based Distributed
Information Systems.TR. LITH-ISYEX-3581-2004, Lin-
köping University, Sweden. 2004.
[28] J. Hallberg, A. Hunstad, M. Peterson. A Framework for
System Security Assessment. Proc. of the Sixth Annual
IEEE Information Assurance Workshop (IAW’05), 2005,
pp.224–231.
[29] J. Williams. OWASP Testing Guide 3.0, OWASP
sting_Guide. 2008.
[30] A. Petukhov, D. Kozlov. Detecting Security
Vulnerabilities in Web Applications Using Dynamic
Phạm Thiếu Nga. TS. (2000) tại
CHLB Đức.
Hiện đang là giảng viên chính tại
Khoa Công nghệ thông tin, Đại
học Xây dựng, Hà Nội. Lĩnh vực
nghiên cứu: logic mờ, điều khiển
mờ, mạng và hệ thống thông tin,
mạng WSN, mạng IoT, hệ trợ giúp
quyết định, hệ chuyên gia, đánh
giá an toàn thông tin.
Analysis
with Penetration Testing.
Proc.
of
OWASPApplication Security, Europe 2008 Conference,
June 2008, pp.1–16.
[31] M. Pistoia, O. Segal, O. Tripp. Detecting Security
Vulnerabilitiesin Web Applications. US Patent
US13174628. US Patents 2011.
[32] W.Pei, N. Chen, D.Litong. Online XSS Testing Tool
Based onPHP. Journal of Modern Electronics Techniques
20 (2015), pp.41–43.
[33] Y. Zhou, D.Evans. SSOScan: Automated Testing of Web
Applications for Single Sign-On Vulnerabilities. IEEE
Proceedings of the 23rdUSENIX Security Symposium,
San Diego, CA, 2014, pp.495–510.
ten/OWASP_Top_Ten_2017/
[35] C. Vega, P. Roquero, et.al. Loginson: A Transform and
Load System for Very Large Scale Log Analysis in Large
IT Infrastructures. Journal of Supercomputing.
Springer.No.7, Mar. 2017.
[36] L.T. Saaty. The Analytic Hierarchy Process, McGraw-Hill
International, New York, 1980.
COMBINED SOLUTION FOR SECURITY
MONITORING AND EVALUATION OF WEB-
PORTALS USING STANDARDIZATION
Abstract: Security monitoring and security evaluation
are two tasks that seam to be separate, but have a close
relationship with each other. Most of the known
solutions often focus on either one of these two tasks. On
the other hand, there is still no solution to this problem
using a published standard. This paper proposes a
combined solution for security monitoring and security
evaluation of Web-Portals using starndardization,
namely the standard ISO 15408. The idea of this solution
is to provide a seamless system architecture across
various processes such as monitoring, collecting data,
security evaluating in
a
centralized large scale
monitoring network. Our system uses collected data for
both attack threats detection and security evaluation. The
Analytic Hierarchy Process (AHP) is applied to calculate
the weights for security function classes according to the
standard ISO 15408 and to provide a quantitative
evaluation of the security level for Web-Portals. Tests
were conducted with nearly 200 Web-Portals to show the
feasibility of our solution.
Keywords: Security Monitoring, Web application
security, Web application security evaluation.
SỐ 01 (CS.01) 2020
TẠP CHÍ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG
20
Bạn đang xem tài liệu "Giải pháp kết hợp giám sát và đánh giá an toàn cổng thông tin điện tử theo chuẩn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
giai_phap_ket_hop_giam_sat_va_danh_gia_an_toan_cong_thong_ti.pdf

