Đồ án Xây dựng ứng dụng Android nghe nhạc trên internet

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DÂN LẬP HẢI PHÒNG  
-------------------------------  
ISO 9001:2015  
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP  
NGÀNH: CÔNG NGHỆ THÔNG TIN  
Sinh viên  
: Ngô Văn Việt  
Giảng viên hướng dẫn: ThS. Phùng Anh Tuấn  
HẢI PHÒNG - 2018  
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DÂN LẬP HẢI PHÒNG  
-----------------------------------  
XÂY DỰNG ỨNG DỤNG ANDROID  
NGHE NHẠC TRÊN INTERNET  
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC HỆ CHÍNH QUY  
NGÀNH: CÔNG NGHỆ THÔNG TIN  
Sinh viên  
: Ngô Văn Việt  
Giảng viên hướng dẫn: ThS. Phùng Anh Tuấn  
HẢI PHÒNG - 2018  
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DÂN LẬP HẢI PHÒNG  
--------------------------------------  
NHIỆM VỤ ĐỀ TÀI TỐT NGHIỆP  
Sinh viên: Ngô Văn Việt  
Mã SV: 1412101031  
Lớp: CT1801  
Ngành: Công nghệ thông tin  
Tên đꢀ tài: Xây dựng ứng dụng Android nghe nhạc trên internet  
3
Mục lục  
5
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU HỆ ĐIỀU HÀNH ANDROID  
1.1. Giới thiệu hệ điều hành Android  
Android là một hệ điꢀu hành dựa trên nꢀn tảng Linux được thiết kế dành cho các thiết  
bị di động có màn hình cảm ứng như điện thoại thông minh và máy tính bảng. Ban đầu,  
Android được phát triển bởi Tổng công ty Android, với sự hỗ trợ tài chính từ Google và  
sau này được chính Google mua lại vào năm 2005. Android ra mắt vào năm 2007 cùng  
với tuyên bố thành lập Liên minh thiết bị cầm tay mở: một hiệp hội gồm các công ty phần  
cứng, phần mꢀm, và viễn thông với mục tiêu đẩy mạnh các tiêu chuẩn mở cho các thiết bị  
di động. Chiếc điện thoại đầu tiên chạy Android được bán vào tháng 10 năm 2008.  
Android có mã nguồn mở và Google phát hành mã nguồn theo Giấy phép Apache.  
Chính mã nguồn mở cùng với một giấy phép không có nhiꢀu ràng buộc đã cho phép các  
nhà phát triển thiết bị, mạng di động và các lập trình viên nhiệt huyết được điꢀu chỉnh và  
phân phối Android một cách tự do. Ngoài ra, Android còn có một cộng đồng lập trình  
viên đông đảo chuyên viết các ứng dụng để mở rộng chức năng của thiết bị, bằng một loại  
ngôn ngữ lập trình Java có sửa đổi. Vào tháng 10 năm 2012, có khoảng 700.000 ứng dụng  
trên Android, và số lượt tải ứng dụng từ Google Play, cửa hàng ứng dụng chính của  
Android, ước tính khoảng 25 tỷ lượt.  
Những yếu tố này đã giúp Android trở thành nꢀn tảng điện thoại thông minh phổ biến  
nhất thế giới, vượt qua Symbian vào quý 4 năm 2010, và được các công ty công nghệ lựa  
chọn khi họ cần một hệ điꢀu hành không nặng nꢀ, có khả năng tinh chỉnh, và giá rẻ chạy  
trên các thiết bị công nghệ cao thay vì tạo dựng từ đầu. Kết quả là mặc dù được thiết kế  
để chạy trên điện thoại và máy tính bảng, Android đã xuất hiện trên TV, máy chơi game  
và các thiết bị điện tử khác. Bản chất mở của Android cũng khích lệ một đội ngũ đông  
đảo lập trình viên và những người đam mê sử dụng mã nguồn mở để tạo ra những dự án  
do cộng đồng quản lý. Những dự án này bổ sung các tính năng cao cấp cho những người  
dùng thích tìm tòi hoặc đưa Android vào các thiết bị ban đầu chạy hệ điꢀu hành khác.  
Android chiếm 75% thị phần điện thoại thông minh trên toàn thế giới vào thời điểm  
quý 3 năm 2012, với tổng cộng 500 triệu thiết bị đã được kích hoạt và 1,3 triệu lượt kích  
hoạt mỗi ngày. Sự thành công của hệ điꢀu hành cũng khiến nó trở thành mục tiêu trong  
các vụ kiện liên quan đến bằng phát minh, góp mặt trong cái gọi là "cuộc chiến điện thoại  
thông minh" giữa các công ty công nghệ.[1]  
6
   
1.2. Lịch sử phát triển  
Tổng công ty Android (Android, Inc.) được thành lập tại Palo Alto, California vào  
tháng 10 năm 2003 bởi Andy Rubin (đồng sáng lập công ty Danger), Rich Miner (đồng  
sáng lập Tổng công ty Viễn thông Wildfire),Nick Sears (từng là Phó giám đốc  
T-Mobile), và Chris White (trưởng thiết kế và giao diện tại WebTV) để phát triển, theo  
lời của Rubin, "các thiết bị di động thông minh hơn có thể biết được vị trí và sở thích của  
người dùng". Dù những người thành lập và nhân viên đꢀu là những người có tiếng tăm,  
Tổng công ty Android hoạt động một cách âm thầm, chỉ tiết lộ rằng họ đang làm phần  
mꢀm dành cho điện thoại di động. Trong năm đó, Rubin hết kinh phí. Steve Perlman, một  
người bạn thân của Rubin, mang cho ông 10.000 USD tiꢀn mặt nhưng từ chối tham gia  
vào công ty.  
Google mua lại Tổng công ty Android vào ngày 17 tháng 8 năm 2005, biến nó thành  
một bộ phận trực thuộc Google. Những nhân viên của chủ chốt của Tổng công ty  
Android, gồm Rubin, Miner và White, vẫn tiếp tục ở lại công ty làm việc sau thương vụ  
này. Vào thời điểm đó không có nhiꢀu thông tin vꢀ Tổng công ty, nhưng nhiꢀu người đồn  
đoán rằng Google dự tính tham gia thị trường điện thoại di động sau bước đi này. Tại  
Google, nhóm do Rubin đứng đầu đã phát triển một nꢀn tảng thiết bị di động phát triển  
trên nꢀn nhân Linux. Google quảng bá nꢀn tảng này cho các nhà sản xuất điện thoại và  
các nhà mạng với lời hứa sẽ cung cấp một hệ thống uyển chuyển và có khả năng nâng  
cấp. Google đã liên hệ với hàng loạt hãng phần cứng cũng như đối tác phần mꢀm, bắn tin  
cho các nhà mạng rằng họ sẵn sàng hợp tác với các cấp độ khác nhau.  
Ngày càng nhiꢀu suy đoán rằng Google sẽ tham gia thị trường điện thoại di động xuất  
hiện trong tháng 12 năm 2006. Tin tức của BBC và Nhật báo phố Wall chú thích rằng  
Google muốn đưa công nghệ tìm kiếm và các ứng dụng của họ vào điện thoại di động và  
họ đang nỗ lực làm việc để thực hiện điꢀu này. Các phương tiện truyꢀn thông truyꢀn  
thống lẫn online cũng viết vꢀ tin đồn rằng Google đang phát triển một thiết bị cầm tay  
mang thương hiệu Google. Một vài tờ báo còn nói rằng trong khi Google vẫn đang thực  
hiện những bản mô tả kỹ thuật chi tiết, họ đã trình diễn sản phẩm mẫu cho các nhà sản  
xuất điện thoại di động và nhà mạng. Tháng 9 năm 2007, InformationWeek đăng tải một  
nghiên cứu của Evalueserve cho biết Google đã nộp một số đơn xin cấp bằng sáng chế  
trong lĩnh vực điện thoại di động.  
Ngày 5 tháng 11 năm 2007, Liên minh thiết bị cầm tay mở (Open Handset Alliance),  
một hiệp hội bao gồm nhiꢀu công ty trong đó có Texas Instruments, Tập đoàn Broadcom,  
7
 
Google, HTC, Intel, LG, Tập đoàn Marvell Technology, Motorola, Nvidia, Qualcomm,  
Samsung Electronics, Sprint Nextel và T-Mobile được thành lập với mục đích phát triển  
các tiêu chuẩn mở cho thiết bị di động. Cùng ngày, Android cũng được ra mắt với vai trò  
là sản phẩm đầu tiên của Liên minh, một nꢀn tảng thiết bị di động được xây dựng trên  
nhân Linux phiên bản 2.6. Chiếc điện thoại chạy Android đầu tiên được bán ra là HTC  
Dream, phát hành ngày 22 tháng 10 năm 2008. Biểu trưng của hệ điꢀu hành Android mới  
là một con rôbốt màu xanh lá cây do hãng thiết kế Irina Blok tại California vẽ.  
Từ năm 2008, Android đã trải qua nhiꢀu lần cập nhật để dần dần cải tiến hệ điꢀu hành,  
bổ sung các tính năng mới và sửa các lỗi trong những lần phát hành trước. Mỗi bản nâng  
cấp được đặt tên lần lượt theo thứ tự bảng chữ cái, theo tên của một món ăn tráng miệng;  
ví dụ như phiên bản 1.5 Cupcake (bánh bông lan nhỏ có kem) tiếp nối bằng phiên bản 1.6  
Donut (bánh vòng). Phiên bản mới nhất hiện nay là 9.0 với tên gọi là Android Pie.  
Vào năm 2010, Google ra mắt loạt thiết bị Nexus-một dòng sản phẩm bao gồm điện  
thoại thông minh và máy tính bảng chạy hệ điꢀu hành Android, do các đối tác phần cứng  
sản xuất. HTC đã hợp tác với Google trong chiếc điện thoại thông minh Nexus đầu tiên,  
Nexus One. Kể từ đó nhiꢀu thiết bị mới hơn đã gia nhập vào dòng sản phẩm này, như điện  
thoại Nexus 4 và máy tính bảng Nexus 10, lần lượt do LG và Samsung sản xuất. Google  
xem điện thoại và máy tính bảng Nexus là những thiết bị Android chủ lực của mình, với  
những tính năng phần cứng và phần mꢀm mới nhất của Android.  
1.3. Ứng dụng Android  
Android có lượng ứng dụng của bên thứ ba ngày càng nhiꢀu, được chọn lọc và đặt  
trên một cửa hàng ứng dụng như Google Play hay Amazon Appstore để người dùng lấy  
vꢀ, hoặc bằng cách tải xuống rồi cài đặt tập tin APK từ trang web khác. Các ứng dụng  
trên Cửa hàng Play cho phép người dùng duyệt, tải vꢀ và cập nhật các ứng dụng do  
Google và các nhà phát triển thứ ba phát hành. Cửa hàng Play được cài đặt sẵn trên các  
thiết bị thỏa mãn điꢀu kiện tương thích của Google. Ứng dụng sẽ tự động lọc ra một danh  
sách các ứng dụng tương thích với thiết bị của người dùng, và nhà phát triển có thể giới  
hạn ứng dụng của họ chỉ dành cho những nhà mạng cố định hoặc những quốc gia cố định  
vì lý do kinh doanh. Nếu người dùng mua một ứng dụng mà họ cảm thấy không thích, họ  
được hoàn trả tiꢀn sau 15 phút kể từ lúc tải vꢀ, và một vài nhà mạng còn có khả năng mua  
giúp các ứng dụng trên Google Play, sau đó tính tiꢀn vào trong hóa đơn sử dụng hàng  
tháng của người dùng. Đến tháng 9 năm 2012, có hơn 675.000 ứng dụng dành cho  
Android, và số lượng ứng dụng tải vꢀ từ Cửa hàng Play ước tính đạt 25 tỷ.  
8
 
Các ứng dụng cho Android được phát triển bằng ngôn ngữ Java sử dụng Bộ phát triển  
phần mꢀm Android (SDK). SDK bao gồm một bộ đầy đủ các công cụ dùng để phát triển,  
gồm có công cụ gỡ lỗi, thư viện phần mꢀm, bộ giả lập điện thoại dựa trên QEMU, tài liệu  
hướng dẫn, mã nguồn mẫu, và hướng dẫn từng bước. Môi trường phát triển tích hợp  
(IDE) được hỗ trợ chính thức là Eclipse sử dụng phần bổ sung Android Development  
Tools (ADT). Các công cụ phát triển khác cũng có sẵn, gồm có Bộ phát triển gốc dành  
cho các ứng dụng hoặc phần mở rộng viết bằng C hoặc C++, Google App Inventor, một  
môi trường đồ họa cho những nhà lập trình mới bắt đầu, và nhiꢀu nꢀn tảng ứng dụng web  
di động đa nꢀn tảng phong phú.  
1.4. Quản lý bộ nhớ Android  
Vì Hệ điꢀu hành Android được thiết kế để quản lý bộ nhớ (RAM) để giảm tối đa  
mức tiêu thụ điện năng, trái với hệ điꢀu hành máy tính để bàn luôn cho rằng máy tính sẽ  
có nguồn điện không giới hạn. Khi một ứng dụng Android không còn được sử dụng, hệ  
thống sẽ tự động ngưng nó trong bộ nhớ - trong khi ứng dụng vꢀ mặt kỹ thuật vẫn "mở",  
những ứng dụng này sẽ không tiêu thụ bất cứ tài nguyên nào (như năng lượng pin hay  
năng lượng xử lý) và nằm đó cho đến khi nó được cần đến. Cách làm như vậy có lợi kép  
là vừa làm tăng khả năng phản hồi nói chung của thiết bị Android, vì ứng dụng không  
nhất phải đóng rồi mở lại từ đầu, vừa đảm bảo các ứng dụng nꢀn không làm tiêu hao năng  
lượng một cách không cần thiết.  
Hệ điꢀu hành Android quản lý các ứng dụng trong bộ nhớ một cách tự động: khi  
bộ nhớ thấp, hệ thống sẽ bắt đầu diệt ứng dụng và tiến trình không hoạt động được một  
thời gian, sắp theo thời điểm cuối mà chúng được sử dụng (tức là cũ nhất sẽ bị tắt trước).  
Tiến trình này được thiết kế ẩn đi với người dùng, để người dùng không cần phải quản lý  
bộ nhớ hoặc tự tay tắt các ứng dụng. Tuy nhiên, sự che giấu này của hệ thống quản lý bộ  
nhớ Android đã dẫn đến sự thịnh hành của các ứng dụng tắt chương trình của bên thứ ba  
trên cửa hàng Google Play; những ứng dụng kiểu như vậy được cho là có hại nhiꢀu hơn  
có lợi.  
1.5. Lịch nâng cấp  
Google đưa ra các bản nâng cấp lớn Cho Android theo chu kỳ từ 6 đến 9 tháng, mà  
phần lớn thiết bị đꢀu có thể nhận được qua sóng không dây. Bản nâng cấp lớn mới nhất là  
Android 6.0 Marshmallow. So với các hệ điꢀu hành cạnh tranh khác, như iOS, các bản  
nâng cấp Android thường mất thời gian lâu hơn để đến với các thiết bị. Với những thiết bị  
không thuộc dòng Nexus, các bản nâng cấp thường đến sau vài tháng kể từ khi phiên bản  
9
   
được chính thức phát hành. Nguyên nhân của việc này một phần là do sự phong phú vꢀ  
phần cứng của các thiết bị Android, nên người ta phải mất thời gian điꢀu chỉnh bản nâng  
cấp Cho phù hợp, vì mã nguồn chính thức của Google chỉ chạy được trên những thiết bị  
Nexus chủ lực của họ. Chuyển Android sang những phần cứng cụ thể là một quy trình tốn  
thời gian và công sức của các nhà sản xuất thiết bị, những người luôn ưu tiên các thiết bị  
mới nhất và thường bỏ rơi các thiết bị cũ hơn. Do đó, những chiếc điện thoại thông minh  
thế hệ cũ thường không được nâng cấp nếu nhà sản xuất quyết định rằng nó không đáng  
để bỏ thời gian, bất kể chiếc điện thoại đó có khả năng chạy bản nâng cấp hay không. Vấn  
đꢀ này còn trầm trọng hơn khi những nhà sản xuất điꢀu chỉnh Android để đưa giao diện  
và ứng dụng của họ vào, những thứ này cũng sẽ phải làm lại Cho mỗi bản nâng cấp. Sự  
chậm trễ còn được đóng góp bởi nhà mạng, sau khi nhận được bản nâng cấp từ nhà sản  
xuất, họ còn điꢀu chỉnh thêm Cho phù hợp với nhu cầu rồi thử nghiệm kỹ lưỡng trên hệ  
thống mạng của họ trước khi chuyển nó đến người dùng. Việc thiếu các hỗ trợ hậu mãi  
của nhà sản xuất và nhà mạng đã bị những nhóm nguời dùng và các trang tin công nghệ  
chỉ trích rất nhiꢀu. Một số người viết còn nói rằng giới công nghiệp do cái lợi vꢀ tài chính  
đã cố tình không nâng cấp thiết bị, vì nếu thiết bị hiện tại không cập nhật sẽ thúc đẩy việc  
mua thiết bị mới, một thái độ được coi là “xúc phạm”. The Guardian đã than phiꢀn rằng  
phương cách phân phối bản nâng cấp trở nên phức tạp chính vì những nhà sản xuất và nhà  
mạng đã cố tình làm nó như thế. Vào năm 2011, Google đã hợp tác cùng một số hãng  
công nghiệp và ra mắt “Liên minh nâng cấp Android”, với lời hứa sẽ nâng cấp thường  
xuyên Cho các thiết bị trong vòng 18 tháng sau khi ra mắt. Tính đến năm 2012, người ta  
không còn nghe nhắc đến liên minh này nữa.  
1.6. Những đặc trưng của hệ điều hành Android  
Application framework: cho phép sử dụng lại và thay thế các thành phần trong  
lập trình ứng dụng.  
Dalvik virtual machine: tối ưu hóa cho thiết bị di động.  
Intergrated browser: trình duyệt tích hợp, dựa trên cơ chế WebKit mã nguồn mở.  
SQLite: cơ sở dữ liệu trong môi trường di động.  
Media support: hỗ trợ các định dạng audio, video và hình ảnh thông dụng.  
GSM Telephony: mạng điện thoại di động (phụ thuộc vào phần cứng).  
Bluetooth, EDGE, 3G, 4G và WiFi : các chuẩn kết nối dữ liệu (phụ thuộc vào  
phần cứng).  
Camera, GPS, la bàn, và gia tốc kế: (phụ thuộc vào phần cứng).  
10  
 
Môi trường phát triển phong phú: bao gồm thiết bị mô phỏng, công cụ cho việc  
dò tìm lỗi, bộ nhớ và định hình hiệu năng và một plugin cho Android Studio.[4]  
1.7. Kiến trúc trong hệ điều hành Android  
Hệ điꢀu hành Android có thể coi như một ngăn xếp chứa các thành phần của phần  
mꢀm, được chia làm các phần như sau:  
Hình 1.1: Kiến trúc của Android  
1.7.1. Nhân Linux Kernel  
Ở dưới cùng của các lớp là Linux-Linux 2.6. Nhân Linux cung cấp chức năng cơ  
bản như hệ thống quản lý tiến trình, quản lý bộ nhớ, quản lý thiết bị như máy ảnh, bàn  
phím, màn hình hiển thị, vv…  
1.7.2. Thư viện  
Phần đầu của nhân Linux có một tập hợp các thư viện bao gồm cả mã nguồn mở  
trình duyệt web WebKit, các thư viện phổ biến, cơ sở dữ liệu SQLite có thể được coi như  
một kho lưu trữ hữu ích cho việc lưu trữ và chia sẻ dữ liệu ứng dụng, thư viện để chạy các  
ứng dụng như ghi âm và video, SSL thư viện chịu trách nhiệm vꢀ an ninh Internet, vv...  
11  
       
1.7.3. Thực thi ứng dụng Android  
Đây là phần thứ ba của kiến trúc và có sẵn trên lớp thứ hai từ dưới lên. Phần này  
cung cấp một thành phần quan trọng được gọi là Dalvik (có thể đã thay đổi theo phiên  
bản) còn được gọi là máy ảo. Máy ảo là một loại máy Java được thiết kế đặc biệt và tối ưu  
hóa cho Android.  
Máy ảo Dalvik sử dụng các tính năng cốt lõi Linux như quản lý bộ nhớ và đa  
luồng, nội tại trong ngôn ngữ Java. Máy ảo Dalvik cho phép tất cả các ứng dụng Android  
chạy trong tiến trình riêng của nó, với trường hợp riêng của các máy ảo Dalvik.  
Thực thi Android cũng cung cấp một tập hợp các thư viện lõi cho phép các nhà  
phát triển ứng dụng Android sử dụng ngôn ngữ lập trình Java để viết các ứng dụng của  
mình.  
1.7.4. Khung ứng dụng  
Khung ứng dụng cung cấp nhiꢀu dịch vụ cấp cao hơn cho các ứng dụng dưới dạng  
các lớp Java. Nhà phát triển ứng dụng được phép sử dụng các dịch vụ này trong các ứng  
dụng của họ.  
1.7.5. Tầng Ứng dụng  
Người dùng sẽ tìm thấy tất cả các ứng dụng Android ở lớp trên cùng. Người dùng  
sẽ viết ứng dụng và các ứng dụng đó phải được cài đặt trên lớp này.  
12  
     
CHƯƠNG 2: MÔI TRƯỜNG LẬP TRÌNH ANDROID STUDIO  
2.1. Sơ lược về Android Studio  
Google cung cấp một công cụ phát triển ứng dụng Android trên Website chính  
thức dựa trên nꢀn tảng IntelliJ IDEA gọi là Android Studio. Android studio dựa vào  
IntelliJ IDEA, là một IDE tốt cho nhất Java hiện nay. Do đó Android Studio sẽ là môi  
trường phát triển ứng dụng tốt nhất cho ứng dụng Android.[5]  
2.2. Thiết lập môi trường  
Hai thành phần cơ bản nhất mà chúng ta cần phải có để lập trình Android là Bộ  
phát triển Java(Java Development Kit) và Bộ phát triển phần mꢀm(Software Development  
Kit).Bộ phát triển Java dùng để tạo ra môi trường thực thi máy ảo cho hệ điꢀu hành mà  
chúng ta đang sử dụng. Bộ phát triển phần mꢀm chứa các phiên bản Android, các hàm  
API cần thiết, mã nguồn minh họa cũng như các công cụ hỗ trợ lập trình khác. Mỗi khi  
Google ra phiên bản Android mới thì Bộ phát triển phần mꢀm cũng được cập nhật tương  
ứng.  
- Cài đặt Java  
Để cài đặt Bộ phát triển Java(JDK), ta cần truy cập vào trang Oracle JDK và tải  
phiên bản mới nhất để tang tính ổn định và tận dụng được nhiꢀu tính năng hỗ trợ  
tốt nhất.  
13  
     
Hình 2.1 Cài đặt JDK  
2.2.1 Cài đặt Andoid Studio  
a) Yêu cầu phần cứng máy tính  
- Microsoft® Windows® 10/8/7 (32 or 64-bit)  
- 4 GB RAM trở lên.  
- 400 MB hard disk space + ít nhất 1GB cho Android SDK, emulator system images  
và caches  
- Độ phân giải tối thiếu 1280 x 800  
- Java Development Kit  
b) Phần mềm android studio  
- Vào đường dẫn: "http://developer.android.com/sdk/index.html"  
- Để download bản mới nhất và tiến hành cài đặt click như hình:  
14  
 
Hình 2.2: Download android studio  
- Khi cài đặt chú ý chọn cả SDK và trình giả lập thiết bị android ảo như hình:  
Hình 2.3: Cài đặt SDK  
- Tiếp tục chọn Next và Agree cho đến khi hoàn tất.  
15  
Hình 2.4: Kết thúc cài đặt  
- Màn hình khởi động Android Studio  
Hình 2.5: Màn hình khởi động android studio  
- Chúng ta có thể sử dụng trực tiếp máy ảo trên android studio hoặc kết nối trức tiếp  
máy điện thoại có hệ điꢀu hành Android để chạy chương trình thực nghiệm.  
16  
2.3. Cấu trúc dự án Android Studio  
2.3.1. Tạo mới một project  
Hình 2.6: Tạo mới project  
- Application Name: Tên ứng dụng muốn đặt  
- Company Domain: Tên domain công ty, thường được dùng để kết hợp với tên  
Application để tạo thành Package (chú ý viết thường hết và có ít nhất 1 dấu chấm).  
- Package name: Nó sẽ tự động nối ngược Company Domain với Application name.  
- Project location: Là nơi lưu trữ ứng dụng.  
Sau đó nhấp Next để tiếp tục.  
17  
   
2.3.2 Tạo một project.  
Hình 2.7: Lựa chọn thiết bị android và phiên bản SDK tối thiểu  
Ở hộp thoại trên cho phép ta lựa chọn là ứng dụng sẽ được viết cho những thiết bị  
nào (Phone and Tablet, TV, Wear).  
Ở mục Minium SDK, quy định phiên bản android tối thiếu để chạy ứng dụng.  
Màn hình này hiển thị cho phép chọn loại Activity mặc định.  
18  
 
Hình 2.8: Màn hình hiển thị Activity mặc định  
Chọn Blank Activity rồi bấm Next:  
19  
Hình 2.9: Blank Activity  
- Activity Name: Tên class Activity (java) để ta viết mã lệnh  
- Layout Name: Tên file XML làm giao diện cho Activity Name.  
- Title: Tiêu đꢀ hiển thị khi kích hoạt Activity trên thiết bị.  
- Menu Resource Name: Tên file xml để tạo menu cho phần mꢀm.  
Sau khi cấu hình xong, bấm Finish, Màn hình Build Gradle project hiển thị:  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 65 trang yennguyen 21320 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Đồ án Xây dựng ứng dụng Android nghe nhạc trên internet", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdo_an_xay_dung_ung_dung_android_nghe_nhac_tren_internet.pdf