Đề án Đào tạo nhân lực công nghệ thông tin trình độ đại học áp dụng cơ chế đặc thù trong giai đoạn 2017-2020

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM  
ĐỀ ÁN  
ĐÀO TẠO NHÂN LỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN  
TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC ÁP DỤNG CƠ CHẾ ĐẶC THÙ  
TRONG GIAI ĐOẠN 2017-2020  
(Kèm theo Tờ trình số: 660/TT-ĐHSP ngày 18 tháng 6 năm 2018  
của Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm – ĐHĐN)  
Đà Nẵng, 05/2018  
MỤC LỤC  
2
3
PHẦN 1. SỰ CẦN THIẾT ÁP DỤNG CƠ CHẾ ĐẶC THÙ ĐÀO TẠO NHÂN  
LỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC  
1.1. GIỚI THIỆU VỀ CƠ SỞ ĐÀO TẠO  
1.1.1. Khái quát về trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng  
Thực hiện Nghị định 32/CP ngày 4/4/1994 của Chính phủ về việc thành lập Đại học  
Đà Nẵng, trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng được tổ chức sắp xếp từ trường  
Cao đẳng Sư phạm Quảng Nam - Đà Nẵng; cơ sở Đại học Ngoại ngữ Đà Nẵng; các khoa  
cơ bản của trường Đại học Bách Khoa Đà Nẵng và các bộ môn văn hóa trường Công  
nhân kỹ thuật Nguyễn Văn Trỗi, Đà Nẵng. Trường chính thức có con dấu mới và đi vào  
hoạt động từ năm 1995 với quy mô là một trường thành viên thuộc Đại học vùng. Thực  
hiện Quyết định số 709/QDD-TTg ngày 26/8/2002 của Chính phủ về việc tách các khoa  
ngoại ngữ của trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng để thành lập trường Đại học  
Ngoại ngữ, trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng còn lại các khoa như Khoa Toán  
học, Khoa Tin học, Khoa Vật lý, Khoa Hóa học, Khoa Sinh - Môi trường, Khoa Lịch sử,  
Khoa Địa lý, Khoa Ngữ Văn, Khoa Tâm lý - Giáo dục, Khoa Giáo dục tiểu học, Khoa  
Giáo dục Mầm non và Khoa Giáo dục chính trị.  
Tổng số cán bộ, viên chức của trường hiện nay là 366 người, trong đó có 261 cán bộ  
giảng dạy với cơ cấu trình độ: 01 GS, 12 PGS, 61 tiến sĩ và TSKH, 192 thạc sĩ và 120  
Giảng viên chính.  
Trường Đại học Sư phạm là cơ sở giáo dục trực thuộc Đại học Đà nẵng có sứ mạng,  
chính sách chất lượng, tầm nhìn, chức năng và nhiệm vụ cụ thể như sau:  
1.1.2. Sứ mạng của trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng  
Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng là cơ sở đào tạo, bồi dưỡng giáo viên,  
cán bộ quản lý giáo dục và cán bộ khoa học chất lượng cao gắn với nhu cầu phát triển  
nguồn nhân lực của khu vực miền Trung, Tây Nguyên và cả nước, là cơ sở nghiên cứu  
khoa học, chuyển giao công nghệ và hợp tác quốc tế thuộc các lĩnh vực khoa học giáo  
dục, khoa học tự nhiên, khoa học xã hội – nhân văn phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa,  
hiện đại hóa đất nước và góp phần đưa nền giáo dục Việt Nam ngang tầm các nước tiên  
tiến trong khu vực và trên thế giới.  
1.1.3. Chính sách chất lượng của trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng  
Với phương châm chất lượng là nền tảng, đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững,  
tập thể cán bộ, viên chức và giảng viên Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng cam  
kết không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, mang đến cho người học những  
4
         
cơ hội, điều kiện tốt nhất để phát huy tiềm năng sáng tạo, tự giác, tích cực rèn đức luyện  
tài để lập thân, lập nghiệp, phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân:  
Mọi hoạt động trong Nhà trường đều hướng vào người học, xây dựng môi trường  
giáo dục dân chủ, công khai, minh bạch, thân thiện và chuyên nghiệp.  
Dạy tốt, học tốt, không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.  
Tích cực, chủ động, sáng tạo, không ngừng học hỏi và tích lũy kinh nghiệm giáo  
dục trong nước và quốc tế.  
Luôn đổi mới nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý, công tác đào tạo và  
nghiên cứu khoa học.  
Thường xuyên và kịp thời triển khai ứng dụng các thành tựu mới nhất của khoa  
học, công nghệ để phục vụ công tác quản lý, đào tạo và nghiên cứu khoa học trong Nhà  
trường.  
1.1.4. Tầm nhìn của trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng  
Nhà trường cung cấp cho người học một môi trường giáo dục dân chủ, công khai,  
minh bạch, thân thiện và có tính chuyên môn cao, đảm bảo cho người học sau khi tốt  
nghiệp có đủ năng lực làm việc, kỹ năng hợp tác, hội nhập đáp ứng yêu cầu ngày càng  
cao của xã hội hiện đại.  
Đến năm 2025, trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng trở thành một cơ sở đào  
tạo, nghiên cứu có chất lượng và uy tín cao trong nước và thế giới.  
1.1.5. Chức năng, nhiệm vụ của trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng  
- Đào tạo, bồi dưỡng giáo viên các cấp.  
- Đào tạo cử nhân khoa học và sau đại học.  
- Giảng dạy các môn khoa học cơ bản và khoa học xã hội - nhân văn cho các  
trường thành viên của Đại học Đà Nẵng.  
- Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ nhằm phục vụ nhu cầu phát triển  
KT-XH của các tỉnh, thành phố miền Trung và Tây Nguyên.  
1.2. NHU CẦU ÁP DỤNG CƠ CHẾ ĐẶC THÙ ĐÀO TẠO NHÂN LỰC CÔNG  
NGHỆ THÔNG TIN TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC  
Trong quá trình phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã  
hội, kỹ năng sử dụng Công nghệ thông tin (CNTT) và truyền thông đóng vai trò quan  
trọng. Do vậy, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm và đưa ra nhiều  
chủ trương về phát triển các chuẩn kỹ năng về sử dụng CNTT đối với nguồn nhân lực.  
Phát triển chuẩn kỹ năng sử dụng CNTT phù hợp với chiến lược phát triển CNTT -  
Truyền thông (TT) của Chính phủ (QĐ số 1755/QĐ-TTg phê duyệt đề án “Đưa Việt Nam  
sớm trở thành nước mạnh về công nghệ thông tin và truyền thông”); Quyết định số  
5
     
733/QĐ-UBND ngày 24/01/2011 của UBND thành phố Đà Nẵng: Kế hoạch phát triển  
nguồn nhân lực CNTT-TT thành phố Đà Nẵng đến năm 2020.  
Thực hiện Nghị quyết số 26/NQ-CP ngày 15/4/2015 của Chính phủ ban hành  
Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 01/7/2014 của Bộ  
Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về đẩy mạnh ứng dụng,  
phát triển công nghệ thông tin (CNTT) đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập  
quốc tế; thực hiện Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 04/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ về  
việc tăng cường năng lực tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4, Bộ Giáo dục  
và Đào tạo đã ra công văn số 5444/BGDĐT-GDĐH ngày 16/11/2017 hướng dẫn cơ chế  
đặc thù đào tạo các ngành thuộc lĩnh vực CNTT trình độ đại học giai đoạn 2017-2020 để  
đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động và hội nhập quốc tế.  
Phối hợp chặt chẽ giữa các cơ sở giáo dục đại học với doanh nghiệp hoạt động  
trong lĩnh vực CNTT để chia sẻ kinh nghiệm, nguồn lực trong quá trình đào tạo là điều  
kiện bắt buộc để được thực hiện cơ chế đặc thù này.  
Trong nhiều năm qua, công tác đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực CNTT còn  
nhiều hạn chế về cả số lượng và chất lượng, chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng lao  
động của các doanh nghiệp, các đơn vị nhà nước, hành chính sự nghiệp.  
Đà Nẵng nói riêng và khu vực miền Trung - Tây Nguyên nói chung có vị trí địa lý và  
vị trí chiến lược quan trọng cho quá trình phát triển của đất nước ở tất cả các lĩnh vực, ngành  
nghề. Để thực hiện chiến lược phát triển đến năm 2025 là trở thành vùng động lực thúc đẩy  
phát triển KT-XH cho Việt Nam, đầu mối trung chuyển và trung tâm giao thương, chế biến  
của vùng Mê Kông lớn và khu vực châu Á - Thái Bình Dương, khu vực miền Trung – Tây  
Nguyên cần phải tập trung nguồn nhân lực, vốn và công nghệ nhằm vượt qua những rào cản,  
khai thác tốt tiềm năng, phát huy thế mạnh, tận dụng tối đa lợi thế để phát triển nhanh và bền  
vững. Trong đó, việc đào tạo nguồn nhân lực CNTT là một trong những điều kiện tiên quyết  
phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế xã hội. Để đảm bảo đào tạo được nguồn nhân lực  
giỏi chuyên môn, vững nghiệp vụ thì việc mở rộng áp dụng cơ chế đặc thù đào tạo nguồn  
nhân lực CNTT là điều nhu cầu không thể thiếu.  
1.3. TỔNG QUAN HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM –  
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
1.3.1. Hoạt động đào tạo  
Về công tác đào tạo, trường Đại học Sư phạm – ĐHĐN đang đào tạo 12 chuyên  
ngành thuộc khối Cử nhân sư phạm, 17 chuyên ngành thuộc khối Cử nhân khoa học. Đối  
với đào tạo sau đại học, Trường đang đào 11 chuyên ngành cao học gồm: Hóa hữu cơ,  
Quản lý giáo dục, Phương pháp toán sơ cấp, Văn học Việt Nam, Ngôn ngữ học, Sinh thái  
học, Toán giải tích, Đại số và lý thuyết số, Hệ thống thông tin và Phương pháp giảng dạy  
bộ môn Vật lý; và 02 chuyên ngành Tiến sĩ: Hóa hữu cơ và Ngôn ngữ học.  
6
   
Trường Đại học Sư phạm thuộc Đại học Đà Nẵng có lịch sử hơn 40 năm đào tạo  
giáo viên các cấp học. Việc đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho các cấp là một trong những  
định hướng chiến lược của Nhà trường trong kế hoạch phát triển nhà trường. Trường đã  
được Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép bồi dưỡng và cấp chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm  
cho giảng viên các trường đại học, cao đẳng theo Quyết định số 3811 QĐ-BGD&ĐT  
ngày 01/09/2010; Nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên TCCN theo Quyết định số 4167/QĐ-  
BGDĐT ngày 01/10/2016; Nghiệp vụ sư phạm về Giáo dục hòa nhập theo Quyết định số  
5205/QĐ-BGDĐT ngày 04/11/2016. Bên cạnh đó, Trường Đại học Sư phạm - Đại học  
Đà Nẵng được Bộ Giáo dục và Đào tạo giao cho nhiệm vụ là 1 trong 7 trường sư phạm  
trọng điểm trong việc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục theo Nghị quyết số 29-  
NQ/TW ngày 4/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu  
cầu CNH-HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc  
tế.  
Đến thời điểm năm 2017, Trường Đại học Sư phạm - ĐHĐN đang đào tạo hơn 7000  
sinh viên bậc đại học hệ chính quy, 631 học viên sau đại học, 44 sinh viên Lào và 05 sinh  
viên các nước khác.  
1.3.2. Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực CNTT  
Khoa Tin học, Trường Đại học Sư phạm - ĐHĐN được thành lập ngày 19/02/2004, có  
tiền thân là khoa Toán – Tin. Khoa Toán – Tin được tách ra thành hai khoa, đó là khoa Toán  
và khoa Tin học.  
Từ khi thành lập đến nay, khoa Tin học đã phụ trách giảng dạy hơn 60 học phần cho  
bậc đào tạo đại học và hơn 20 học phần cho bậc đào tạo cao học của Đại học Đà Nẵng.  
Căn cứ vào nhu cầu nguồn nhân lực thuộc khối ngành khoa học Công nghệ thông  
tin và Sư phạm Tin học, từ năm học 2004, khoa Tin học được giao nhiệm vụ xây dựng  
khung chương trình và phụ trách đào tạo 02 chuyên ngành ở bậc đại học gồm Cử nhân  
Công nghệ thông tin và Sư phạm Tin học. Từ năm học 2014, khoa Tin học được giao  
nhiệm vụ xây dựng khung chương trình và phụ trách đào tạo Thạc sĩ Hệ thống thông  
tin. Đến năm 2017, khoa Tin học được giao nhiệm vụ phụ trách đào tạo Tiến sĩ Hệ  
thống thông tin.  
Ngoài ra, hàng năm khoa Tin học còn đảm nhận đào tạo và tổ chức thi sát hạch Tin  
học cơ sở cho hơn 700 sinh viên trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Đà Nẵng.  
a) Chuyên ngành Cử nhân Công nghệ thông tin  
Chuyên ngành Cử nhân Công nghệ thông tin được bắt đầu đào tạo từ năm 2004 tại  
Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng, do khoa Tin học phụ trách đào tạo. Đến  
nay, đã có 17 khoá tuyển sinh hệ chính quy dài hạn 4 năm và 4 khóa đào tạo chính quy  
liên thông từ bậc cao đẳng. Đã có trên 2.600 sinh viên chính quy dài hạn và hơn 500 sinh  
viên hệ liên thông đã tốt nghiệp. Số sinh viên ra trường công tác ở hầu hết các đơn vị  
kinh tế - xã hội ở miền Trung – Tây Nguyên.  
7
 
Mục tiêu trọng tâm của chuyên ngành Cử nhân Công nghệ thông tin là đào tạo các  
cử nhân có năng lực về mặt lý thuyết và kỹ năng thực hành trong các lĩnh vực: i) thực  
hiện, phác thảo và nâng cao hệ thống phần mềm dựa trên cơ sở máy tính; ii) đánh giá hệ  
thống máy tính theo các thuộc tính chất lượng nói chung và các khả năng ứng dụng để  
giải quyết vấn đề thực tế; iii) sử dụng các nguyên tắc quản lý có hiệu lực các thông tin, tổ  
chức thông tin và năng lực thu hồi thông tin cho các loại thông tin khác nhau, kể cả văn  
bản, hình ảnh, âm thanh và băng hình; iv) áp dụng các nguyên lý về sự giao tiếp người-  
máy để đánh giá và thiết kế một đối tượng lớn các sản phẩm dựa trên sử dụng giao diện  
chung, các trang web và hệ thống truyền thông; v) sử dụng các công cụ thiết kế và xây  
dựng các phần mềm cho máy tính để giải quyết các vấn đề thực tiễn; vi) thao tác các công  
cụ máy tính và sử dụng hệ thống phần mềm một cách hiệu quả.  
Sau khi tốt nghiệp, người học có thể làm những công việc có liên quan đến công  
nghệ thông tin tại các cơ sở, các trung tâm tin học và phát triển phần mềm trong cả nước;  
công tác giảng dạy tin học tại các trường phổ thông, các trường trung cấp chuyên nghiệp,  
các trường đại học và cao đẳng trong cả nước nếu đáp ứng đầy đủ những yêu cầu về trình  
độ, năng lực và được bổ sung thêm kiến thức về nghiệp vụ sư phạm; công tác nghiên cứu  
tại các trung tâm, viện nghiên cứu công nghệ thông tin; chuyên viên và quản lý tại các bộ  
phận ở các trường học, các cơ sở quản lý giáo dục, các cơ sở sản xuất, kinh doanh và các  
cơ sở khác trong xã hội.  
b) Chuyên ngành Sư phạm Tin học  
Chuyên ngành Sư phạm Tin học được bắt đầu đào tạo từ năm 2005 tại Trường Đại  
học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng, do khoa Tin học phụ trách đào tạo. Đến nay, đã có 16  
khoá tuyển sinh hệ chính quy dài hạn 4 năm và 4 khoá đào tạo chính quy liên thông từ  
bậc cao đẳng. Đã có trên 600 sinh viên chính quy dài hạn và hàng trăm sinh viên hệ liên  
thông đã tốt nghiệp. Số sinh viên ra trường công tác ở hầu hết các trường trung học phổ  
thông và một số lớn tại các đơn vị kinh tế - xã hội ở miền Trung – Tây Nguyên. Đây cũng  
là nguồn tuyển sinh cho ngành Thạc sĩ Phương pháp giảng dạy tin học.  
Với chương trình đào tạo được thiết kế bao gồm 135 tín chỉ, trong đó, khối kiến  
thức tin học chiếm 75 tín chỉ, được giảng dạy trong 25 học phần (tính theo số học phần tự  
chọn tối thiểu), người học hoàn toàn đủ khả năng chuyên môn để tiếp nhận các kiến thức  
chuyên ngành Hệ thống thông tin ở bậc cao học. Trong trường hợp cần thiết, họ chỉ cần  
học bổ sung khoảng 3-5 học phần để có thể được chấp nhận. Ngày nay, hệ thống thông  
tin trong giáo dục và đào tạo là lĩnh vực rất quan trọng, được quan tâm nghiên cứu rất  
mạnh và ứng dụng ở các nước có nền giáo dục phát triển, chẳng hạn như Nhật Bản, Mỹ  
và các nước Tây Âu, Bắc Âu.  
Sau khi tốt nghiệp chuyên ngành Sư phạm Tin học, người học có thể làm công tác  
giảng dạy các môn tin học ở trường trung học phổ thông, trung học chuyên nghiệp; công  
tác giảng dạy môn tin học ở trường cao đẳng, đại học; nghiên cứu viên trong các trường  
đại học hay viện nghiên cứu có liên quan đến công nghệ thông tin; các vị trí công tác cụ  
thể: lập trình viên, phân tích viên, thiết kế chương trình và dữ liệu, quản trị các hệ cơ sở  
8
dữ liệu (CSDL), kiểm thử viên phần mềm, nghiên cứu viên; sử dụng tin học để làm việc  
trong các tổ chức hành chính, kinh tế, các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, các cơ  
sở giáo dục và đào tạo.  
c) Thạc sĩ chuyên ngành Hệ thống thông tin  
Thạc sĩ chuyên ngành Hệ thống thông tin được bắt đầu đào tạo từ năm 2014 tại  
Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng, do khoa Tin học phụ trách đào tạo. Đến  
nay, đã có 04 khoá tuyển sinh với hơn 20 học viên đã tốt nghiệp. Số học viên hầu hết  
đang công tác tại các đơn vị kinh tế - xã hội ở miền Trung – Tây Nguyên.  
Mục tiêu của chuyên ngành Thạc sĩ Hệ thống thông tin là đào tạo nhân lực, nâng  
cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài; nghiên cứu khoa học, công nghệ tạo ra tri thức, sản phẩm  
mới, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hội  
nhập quốc tế.  
d) Tiến sĩ chuyên ngành Hệ thống thông tin  
Tiến sĩ chuyên ngành Hệ thống thông tin được bắt đầu đào tạo từ năm 2017 tại  
Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng, do khoa Tin học phụ trách đào tạo. Hiện tại  
đâng có 03 nghiên cứu sinh đang tham gia học tập và nghiên cứu tại khoa Tin học.  
1.4. LÝ DO ÁP DỤNG CƠ CHẾ ĐẶC THÙ ĐÀO TẠO NHÂN LỰC CÔNG NGHỆ  
THÔNG TIN TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC  
Tại khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, Chính phủ các nước đặc biệt quan tâm đến việc  
tổ chức đào tạo, sát hạch và đối chiếu kết quả giữa các quốc gia thông qua các chuẩn kiến  
thức, kỹ năng về CNTT. Đồng thời, các tổ chức chuyên trách kiểm định chất lượng nguồn  
nhân lực đã được thành lập ở các nước này. Cuối năm 2009, Hàn Quốc đã tổ chức một hội  
nghị quốc tế về đánh giá chất lượng nhân lực CNTT giữa các nước châu Á.  
Hiện nay, thị trường nhân lực CNTT Việt Nam đang đòi hỏi một nguồn cung rất lớn  
không chỉ từ phía các doanh nghiệp CNTT trong nước mà cả các doanh nghiệp CNTT nước  
ngoài, đặc biệt khi Việt Nam đã tham gia vào WTO. Phần lớn các doanh nghiệp, đơn vị sử  
dụng nhân lực CNTT hiện nay khi tuyển dụng chỉ có thể căn cứ vào hệ thống văn bằng,  
chứng chỉ do cơ sở đào tạo cấp. Tuy nhiên, có một thực tiễn ở nước ta hiện nay là: mặc dù có  
nhiều trường khác nhau đào tạo CNTT nhưng nhiều kỹ sư CNTT khi tốt nghiệp không thể  
làm việc theo chuyên ngành đã được đào tạo. Để tuyển dụng nhân lực theo đúng nhu cầu,  
hầu hết các cơ quan sử dụng nhân lực đều phải kiểm tra, đào tạo lại.  
Do sự khác nhau về hiện trạng và yêu cầu thị trường nhân lực CNTT nên không thể áp  
dụng một cách rập khuôn các chuẩn quốc tế vào toàn bộ hệ thống đào tạo và sử dụng nhân  
lực CNTT ở Việt Nam. Trên cơ sở tham khảo các chuẩn quốc tế, cần phải xây dựng một  
hệ thống chuẩn CNTT riêng, phù hợp với đặc thù Việt Nam để thống nhất áp dụng. Khi  
đánh giá chứng chỉ CNTT của tổ chức nước ngoài và chứng chỉ CNTT trong nước, chuẩn  
kỹ năng về CNTT sẽ đóng vai trò cầu nối, là cơ sở để đối chiếu, công nhận tương đương.  
Nhân lực Việt Nam đạt chuẩn được thừa nhận trên trường quốc tế, có thể tự tin tham gia  
vào thị trường lao động quốc tế. Các doanh nghiệp Việt Nam có tỷ lệ nhân lực đạt chuẩn  
9
 
cao dễ dàng hơn trong việc chiếm lĩnh thị trường trong nước và vươn ra mở rộng thị  
trường ở nước ngoài.  
Để đạt mục tiêu tạo ra 1 triệu lao động CNTT vào năm 2020 theo tinh thần của Đề án  
đưa Việt Nam sớm trở thành nước mạnh về CNTT và truyền thông, chắc chắn sẽ cần một  
khoản đầu tư lớn cho việc phát triển nguồn nhân lực CNTT trong thời gian tới. Xây dựng và  
ban hành chuẩn kỹ năng CNTT là cần thiết và cấp bách để các cơ sở đào tạo chủ động định  
hướng đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng đáp ứng yêu cầu của thị trường. Với việc áp  
dụng hệ thống chuẩn kỹ năng CNTT, các bên tham gia thị trường lao động CNTT đều chủ  
động kế hoạch phát triển của mình. Cơ quan quản lý nhà nước về CNTT sẽ nắm được bức  
tranh tổng thể chính xác để xây dựng và điều chỉnh chiến lược phát triển ngành nhằm đáp  
ứng được nhu cầu của thị trường nhân lực CNTT. Đồng thời, chuẩn kỹ năng CNTT nêu ra  
yêu cầu phẩm chất công việc đối với từng lĩnh vực nghề nghiệp đặc thù của CNTT, làm sở  
cứ trong tuyển dụng, sử dụng và đãi ngộ nhân lực CNTT phù hợp nhất.  
Đà Nẵng nói riêng và khu vực miền Trung - Tây Nguyên nói chung có vị trí địa lý  
và vị trí chiến lược quan trọng cho quá trình phát triển của đất nước ở tất cả các lĩnh vực,  
đặc biệt là lĩnh vực CNTT và truyền thông. Để thực hiện chiến lược phát triển đến năm  
2025 là trở thành vùng động lực thúc đẩy phát triển KT-XH cho Việt Nam, đầu mối trung  
chuyển và trung tâm giao thương, chế biến của vùng Mê Kông lớn và khu vực châu Á -  
Thái Bình Dương, khu vực miền Trung – Tây Nguyên cần phải tập trung nguồn nhân lực,  
vốn và công nghệ nhằm vượt qua những rào cản, khai thác tốt tiềm năng, phát huy thế  
mạnh, tận dụng tối đa lợi thế để phát triển nhanh và bền vững. Trong đó, việc đào tạo  
nguồn nhân lực đạt chuẩn kỹ năng sử dụng CNTT là một trong những điều kiện tiên  
quyết phục vụ cho quá trình phát triển.  
Trường Đại học Sư phạm thuộc Đại học Đà Nẵng có lịch sử 40 năm đào tạo giáo  
viên các cấp học. Việc đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho các cấp là một trong  
những định hướng chiến lược của Nhà trường trong kế hoạch phát triển nhà trường. Nhà  
trường hiện đang có khoa Tin học với nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực  
CNTT cho xã hội.  
Bên cạnh đó, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng được Bộ Giáo dục và  
Đào tạo giao cho nhiệm vụ là 1 trong 7 trường sư phạm trọng điểm trong việc đổi mới  
căn bản và toàn diện giáo dục sau năm 2015 theo Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày  
4/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu CNH-  
HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế.  
Căn cứ theo công văn số 5444/BGDĐT-GDĐH của Bộ Giáo dục và Đào tạo  
ngày 16/11/2017 về việc áp dụng cơ chế đặc thù đào tạo các ngành thuộc lĩnh vực  
CNTT trình độ đại học, việc Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép Trường Đại học Sư  
phạm – Đại học Đà Nẵng được đào tạo ngày CNTT trình độ đại học theo cơ chế đặc thù  
là nhu cầu cấp thiết ở khu vực miền Trung – Tây Nguyên.  
10  
PHẦN 2. NĂNG LỰC TỔ CHỨC ĐÀO TẠO CÔNG NGHỆ THÔNG TIN  
THEO CƠ CHẾ ĐẶC THÙ  
2.1. ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN THAM GIA ĐÀO TẠO  
Trường Đại học Sư phạm – ĐHĐN đã được Bộ GD-ĐT cho phép đào tạo và cấp  
bằng Cử nhân Công nghệ thông tin, Cử nhân Sư phạm Tin học, Thạc sĩ Hệ thống thông  
tin và Tiến sĩ Hệ thống thông tin. Trường tiếp tục lập đề án áp dụng cơ chế đặc thù đào  
tạo ngành CNTT trình độ đại học theo công văn số 5444/BGDĐT-GDĐH của Bộ Giáo  
dục và Đào tạo ngày 16/11/2017 nhằm đào tạo nguồn nhân lực CNTT đáp ứng nhu cầu  
phát triển kinh tế xã hội.  
Với đội ngũ tiến sĩ, thạc sĩ có chuyên môn cao, có kinh nghiệm về phương pháp  
giảng dạy, trường Đại học Sư phạm - ĐHĐN khẳng định có đủ năng lực đào tạo, đóng  
góp sức mình trong sự nghiệp đổi mới và phát triển nguồn nhân lực, đẩy mạnh công cuộc  
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.  
Bảng 1. Danh sách giảng viên tham gia đào tạo  
Chức  
Học vị,  
nước, năm  
tốt nghiệp  
Ngành,  
chuyên  
ngành  
Học phần dự  
kiến đảm  
nhiệm  
Họ và tên, năm sinh, chức vụ danh khoa  
Stt  
hiện tại  
học, năm  
phong  
Trần Quốc Chiến  
Tiến sĩ  
khoa học,  
1953, Trường Đại học Sư  
Phó giáo  
Khoa học  
máy tính  
1.  
2.  
phạm, ĐHĐN  
sư, 2001 Tiệp khắc,  
1991  
Lê Văn Sơn  
Phó giáo  
sư, 2000  
Tiến sĩ,  
Nga, 1978  
Khoa học  
máy tính  
1948, Trường Đại học Sư  
phạm, ĐHĐN  
Huỳnh Công Pháp  
Tiến sĩ,  
Phó giáo  
sư, 2016  
Khoa học  
máy tính  
3.  
4.  
5.  
1977, Trường Cao đẳng  
CNTT, ĐHĐN  
Pháp, 2010  
Võ Trung Hùng  
Tiến sĩ,  
Phó giáo  
sư, 2007  
Khoa học  
máy tính  
1968, Đại học Đà Nẵng  
Pháp, 2004  
Nguyễn Trần Quốc Vinh  
Tiến sĩ,  
Công nghệ  
thông tin  
1977, Trưởng khoa, Trường  
Đại học Sư phạm, ĐHĐN  
Ukraine,  
2006  
11  
   
Phạm Anh Phương  
Tiến sĩ,  
Việt Nam,  
2010  
Công nghệ  
thông tin  
1974, Phó Trưởng khoa,  
Trường Đại học Sư phạm,  
ĐHĐN  
6.  
Nguyễn Đình Lầu  
Tiến sĩ,  
Việt Nam,  
2015  
Công nghệ  
thông tin  
7.  
8.  
1978, Giảng viên,Trường  
Đại học Sư phạm, ĐHĐN  
Tiến Sĩ,  
Hàn Quốc,  
2015  
Nguyễn Thị Ngọc Anh  
Công nghệ  
thông tin  
1984, Giảng viên, Trường  
Đại học Sư phạm, ĐHĐN  
Nguyễn Hoàng Hải  
Tiến sĩ,  
Việt Nam,  
2013  
Công nghệ  
thông tin  
1986, Trưởng Bộ môn,  
Trường Đại học Sư phạm,  
ĐHĐN  
9.  
Vũ Thị Trà  
Tiến sĩ,  
Tiệp khắc,  
2006  
Công nghệ  
thông tin  
10.  
11.  
1977, giảng viên, Trường  
Đại học Sư phạm, ĐHĐN  
Nguyễn Thanh Tuấn  
Thạc Sĩ,  
Việt Nam,  
Công nghệ  
thông tin  
1981, giảng viên, Trường  
Đại học Sư phạm, ĐHĐN  
2008  
Phạm Dương Thu Hằng  
Thạc Sĩ,  
Công nghệ  
thông tin  
1981, giảng viên chính,  
Trường Đại học Sư phạm,  
ĐHĐN  
Việt Nam,  
12.  
13.  
2008  
Trần Uyên Trang  
Thạc Sĩ,  
Việt Nam,  
Công nghệ  
thông tin  
1979, giảng viên,  
Trường Đại học Sư phạm,  
ĐHĐN  
2008  
Hồ Ngọc Tú  
Thạc Sĩ,  
Công nghệ  
thông tin  
1989, giảng viên,  
Trường Đại học Sư phạm,  
ĐHĐN  
Việt Nam,  
14.  
15.  
2013  
Lê Thành Công  
Thạc Sĩ,  
Việt Nam,  
Công nghệ  
thông tin  
1983, giảng viên, Trường  
Đại học Sư phạm, ĐHĐN  
2005  
12  
Lê Viết Chung  
Thạc Sĩ,  
Công nghệ  
thông tin  
1964, giảng viên chính,  
Trường Đại học Sư phạm,  
ĐHĐN  
Việt Nam,  
16.  
1995  
Lê Văn Mỹ  
Thạc Sĩ,  
Việt Nam,  
Công nghệ  
thông tin  
17.  
18.  
19.  
20.  
21.  
22.  
1971, giảng viên, Trường  
Đại học Sư phạm, ĐHĐN  
2008  
Trần Văn Hưng  
Thạc Sĩ,  
Việt Nam,  
Công nghệ  
thông tin  
1980, giảng viên, Trường  
Đại học Sư phạm, ĐHĐN  
2008  
Đoàn Duy Bình  
Thạc Sĩ,  
Việt Nam,  
Công nghệ  
thông tin  
1975, giảng viên, Trường  
Đại học Sư phạm, ĐHĐN  
2009  
Ngô Đình Thưởng  
Thạc Sĩ,  
Việt Nam,  
Công nghệ  
thông tin  
1958, giảng viên, Trường  
Đại học Sư phạm, ĐHĐN  
2002  
Đặng Hùng Vĩ  
Tiến sĩ,  
Việt Nam,  
Công nghệ  
thông tin  
1980, Trường Đại học Sư  
phạm, ĐHĐN  
2018  
Nguyễn Đỗ Công Pháp  
Thạc Sĩ,  
Hàn Quốc,  
Công nghệ  
thông tin  
1989, giảng viên, Trường  
Đại học Sư phạm, ĐHĐN  
2017  
Bảng 2. Danh sách chuyên gia ở các doanh nghiệp tham gia đào tạo  
Học vị,  
nước, năm  
tốt nghiệp  
Họ và tên, năm sinh, đơn vị  
hiện tại  
Ngành,  
chuyên ngành  
Học phần dự kiến đảm  
nhiệm  
Stt  
1.  
Nguyễn Văn Vương  
Thạc sĩ,  
Việt Nam,  
2016  
- Hệ QT CSDL  
Hệ thống  
thông tin  
1991, Công ty Hương Việt  
- Lập trình di động  
- Quản trị dự án phần  
mềm  
Trần Xuân Vũ  
Cử nhân,  
Việt Nam,  
2000  
Công nghệ  
thông tin  
1978, Green Global  
Company  
2.  
- Phân tích thiết kế hệ  
thống  
13  
Hoàng Phương Dung  
Thạc sĩ,  
Việt Nam,  
2015  
- Lập trình di động  
Công nghệ  
thông tin  
- Phân tích thiết kế hệ  
thống  
3.  
4.  
5.  
1985, Green Global  
Company  
Lê Văn Diện  
Cử nhân,  
Việt Nam,  
2011  
- Java cơ bản  
Công nghệ  
thông tin  
1982, FPT Software  
- Java nâng cao  
Nguyễn Đức Tài  
Thạc sĩ,  
Việt Nam,  
2016  
Đồ họa máy tính  
Công nghệ  
thông tin  
1988, GameLoft  
Phạm Thị Hằng  
Cử nhân,  
Việt Nam,  
2016  
Lập trình di động  
6.  
1991, GameLoft  
Toán - tin  
Công Nghệ Phần Mềm  
Nguyễn Thanh Yên Tùng  
Kỹ sư,  
Việt Nam,  
2006  
Công nghệ  
thông tin  
7.  
8.  
9.  
1983, Axon Active  
Công Nghệ Phần Mềm  
Công Nghệ Phần Mềm  
Nguyễn Thái Hoàng  
Thạc sĩ,  
Việt Nam,  
2012  
Công nghệ  
thông tin  
1978, Axon Active  
Phạm Quang Phương  
Thạc sĩ,  
Singapore,  
2015  
Công nghệ  
thông tin  
1991, Axon Active  
Võ Đình Lưu  
Kỹ sư,  
Việt Nam,  
2007  
Công nghệ  
thông tin  
10.  
1984, Enclave  
Lê Phước Đạt  
Kỹ sư,  
Việt Nam,  
2003  
Công nghệ  
thông tin  
11.  
12.  
1977, Enclave  
Trần Anh Tú  
Thạc sĩ,  
Việt Nam,  
2018  
Khoa học  
máy tính  
1991, Enclave  
14  
2.2. DANH SÁCH CÁC DOANH NGHIỆP HỢP TÁC ĐÀO TẠO  
Bảng 3. Danh sách các doanh nghiệp hợp tác đào tạo  
STT  
Tên doanh nghiệp  
Địa chỉ  
Công ty Axon Active  
Tòa nhà PVcomBank, Tầng 13th, Đường 30/4, Q.  
Hải Châu, Tp. Đà Nẵng  
1.  
Tầng 7 - 8, tòa nhà VNPT số 346 đường 2.9, Q.  
Hải Châu, Tp.Đà Nẵng  
2.  
3.  
Công ty Logigear  
Công ty FPT Software Đà  
Nẵng  
Tòa nhà FPT, đường số 1 khu công nghiệp An  
Đồn - An Hải Bắc, Q. Sơn Trà, Tp. Đà Nẵng  
Công ty Agility  
604, Đường Núi Thành, Phường Hòa Cường Nam,  
Q. Hải Châu, Tp. Đà Nẵng  
4.  
5.  
6.  
453-455 Hoàng Diệu, Tp. Đà Nẵng  
Công ty Enclave  
Tầng 1&6, Tòa nhà Agribank, 228 đường 2/9, Đà  
Nẵng, Việt Nam  
Công ty Toàn cầu xanh  
Tầng 3A,10,11&12 Tòa nhà Indochina  
RivesideTowers,74 Bạch Đằng, Quận Hải Châu,  
Thành phố Đà Nẵng  
Tầng 6, Toà nhà VTN3, Đường Số 3 khu công  
nghiệp An Đồn - An Hải Bắc, Q. Sơn Trà, Tp. Đà  
Nẵng  
7.  
8.  
Công ty Gameloft  
Công ty Asiantech  
10th Floor, Da Nang Software Park,  
No.2 QuangTrung str.,Hai Chau District, Da Nang  
City  
Công ty Cosmo Medical  
Technology  
9.  
Công ty mgm  
10.  
11.  
12.  
7 Pasteur, Hải Châu 1, Hải Châu, Đà Nẵng  
6F, Vinh Trung Plaza, 255~257 Hung Vuong Str.,  
Vinh Trung ward, Thanh Khe district, Da Nang  
Công ty Framgia  
59A Lê Lợi, P.Thach Thang, Q.Hải Châu, Tp.Đà  
Nẵng  
Công ty Code Engine Studio  
Tầng 07 Công viên phần mềm Đà Nẵng - Số 02  
Quang Trung, TP Đà Nẵng  
13. Công ty Unitech  
Công ty  
14.  
5th floor, VNPT Building, 346 đường 2-9  
Global Cybersoft  
2.3. CƠ SỞ VẬT CHẤT PHỤC VỤ ĐÀO TẠO  
2.3.1. Phòng học, giảng đường, trang thiết bị hỗ trợ dạy học  
Tổng diện tích phòng học hiện nay của Trường là 19.526 m2, đạt tỷ lệ 3,0 m2/1 SV;  
bao gồm 107 phòng học, trong đó có 10 giảng đường lớn có từ 100 - 150 chỗ ngồi, 1  
giảng đường lớn 600 chỗ, được trang bị đủ hệ thống thiết bị âm thanh để phục vụ cho  
15  
     
việc giảng dạy của giảng viên và học tập của sinh viên. Đặc biệt, nhiều phòng học của  
trường được thiết kế và bố trí sử dụng dưới hình thức phòng đa chức năng phục vụ việc  
học tập, nghiên cứu và khai thác thông tin với các công nghệ nghe nhìn và thiết bị mạng  
hiện đại, giúp học viên cập nhật các thông tin mới nhất trong lĩnh vực khoa học giáo dục  
trong và ngoài nước thông qua việc khai thác các thư viện điện tử, cũng như xử lý các số  
liệu nghiên cứu bằng phần mềm ứng dụng thích hợp. Tổng số máy tính toàn Trường hiện  
có 860 máy gồm có 460 máy để bàn, 400 máy xách tay; trong đó có 177 máy phục vụ  
công tác quản lý và 683 máy được trang bị tại 13 phòng máy tính được nối mạng gồm: 3  
phòng máy tính chuyên ngành (1 phòng trang bị máy tính để bàn và 2 phòng trang bị máy  
xách tay) dành cho Khoa Tin học; 6 phòng máy tính dùng chung cho tất cả các ngành học  
trong đó 2 phòng máy tính dành cho Thư viện với 52 máy tính để bàn; 2 phòng máy xách  
tay được trang bị bằng máy tính xách tay năm 2012 với 120 máy Dell core i3 để phục vụ  
cho sinh viên học tập, hoạt động khảo thí và đổi mới PPGD; 4 phòng máy tính xách tay  
đầu tư năm 2014 đã nghiệm thu đưa vào sử dụng, 3 phòng máy tính để bàn và máy xách  
tay dùng chung cho các môn thực hành tin học.  
Bảng 3. Danh mục phòng học, giảng đường, trang thiết bị phục vụ giảng dạy  
Danh mục trang thiết bị chính hỗ trợ  
giảng dạy  
Loại phòng học  
(Phòng học, giảng  
đường, phòng học  
đa phương tiện,  
Số  
Số  
Diện tích  
Tên thiết bị  
Số  
Phục vụ học  
phần/môn  
học  
TT  
lượng  
(m2)  
lượng  
phòng máy tính…)  
04  
04  
04  
04  
04  
04  
04  
04  
Tất cả các  
học phần  
Tất cả các  
học phần  
Tất cả các  
học phần  
Tất cả các  
học phần  
Tất cả các  
học phần  
Tất cả các  
học phần  
Tất cả các  
học phần  
Tất cả các  
học phần  
Projector  
Wifi, Ampli  
Bảng tương tác  
Máy chiếu vật thể  
Phòng học tương  
1
4
45  
tác  
LCD 70” tương  
tác  
Bục có máy tính  
tương tác  
Camera tự dò tìm  
Ghế đơn  
16  
01  
01  
02  
01  
01  
02  
02  
01  
01  
04  
04  
Tất cả các  
học phần  
Tất cả các  
học phần  
Tất cả các  
học phần  
Tất cả các  
học phần  
Tất cả các  
học phần  
Tất cả các  
học phần  
Tất cả các  
học phần  
Tất cả các  
học phần  
Tất cả các  
học phần  
Tất cả các  
học phần  
Tất cả các  
học phần  
Projector  
Wifi, Ampli  
LCD 70”  
Phòng Hội thảo  
tầng 3 nhà A5  
2
1
90  
Projector  
Phòng chuyên đề  
3
4
1
1
40  
40  
A2  
Wifi, Ampli  
Projector  
Phòng chuyên đề  
A3  
Wifi, Ampli  
Projector  
Phòng chuyên đề  
5
6
1
1
45  
35  
A5  
Wifi, Ampli  
Projector  
Phòng chuyên đề  
B1  
Wifi, Ampli  
7
8
Phòng máy tính  
Toàn bộ máy tính  
kết nối internet  
Tất cả các  
học phần  
07  
01  
110  
90  
Projector  
Wifi, Ampli  
Projector  
Wifi, Ampli  
LCD’’  
01  
01  
01  
01  
02  
Phòng Hội thảo  
tầng 3 nhà A  
Tất cả các  
học phần  
Bục  
tương tác  
có  
máy  
01  
Ngoài ra, Trường cũng đã xây dựng xong khu giảng đường 5 tầng nhà A6 (2017)  
với rất nhiều trang thiết bị hiện đại, bao gồm:  
- 02 phòng 200 chỗ ngồi: bục giảng dạy điện tử, máy chiếu mạnh, máy tính học tập,  
phần mềm quản lý, Micro hội thảo…;  
17  
- 02 phòng 80 chỗ ngồi: hệ thống bảng trượt, bảng tương tác, bàn ghế linh hoạt;  
- 04 phòng phương pháp dạy học: hệ thống hệ thống bảng trượt, bảng tương tác,  
máy tính bảng, phần mềm quản lý, bàn ghế linh hoạt.  
2.3.2. Phòng thí nghiệm, Trường thực hành Sư phạm  
Trường có 21 phòng thí nghiệm và thực hành. Các phòng thí nghiệm chủ yếu được  
bố trí ở các tòa nhà cao tầng kiên cố, có đủ ánh sáng, điện, nước, quạt thông gió, điều hòa  
không khí đảm bảo an toàn cho thầy và trò làm việc và học tập. Trong đó có 3 phòng thí  
nghiệm của khoa Vật lý và khoa Hóa học được đầu tư thiết bị hiện đại với mức kinh phí  
hơn 6 tỷ đồng vào năm 2009 và 02 phòng thi nghiệm Khoa Sinh – Môi Trường được đầu  
tư thiết bị hiện đại với tổng kinh phí 7,5 tỷ năm 2012 . Trường có 6 phòng máy tính nối  
mạng với số lượng 500 máy để phục vụ cho sinh viên học tập. Trong mỗi phòng máy tính  
có đủ hệ thống đèn chiếu, máy tính xách tay, hệ thống điều hòa không khí và bố trí cán  
bộ quản lý thiết bị thực hành phù hợp với chuyên môn đào tạo. Có nhiều phòng  
Mulitimedia được trang bị máy tính thế hệ mới, màn hình phẳng được kết nối liên thông,  
interrnet để sinh viên học tập và thực hành.  
2.3.3. Thư viện, giáo trình, sách phục vụ bồi dưỡng  
Thư viện của Trường hiện đặt tại tòa nhà 2 tầng nằm trong khuôn viên của Trường.  
Thư viện có hệ thống phòng đọc, phòng mượn, phòng nghiệp vụ thông tin thư mục và  
kho lưu trữ sách, tài liệu riêng biệt. Thư viện của Trường đã có nhiều đóng góp tích cực  
có hiệu quả vào công tác đào tạo, NCKH của CBGV và SV Nhà trường.  
Hiện nay, Thư viện có 9.065 đầu sách, với số lượng là 89.711 bản (bao gồm sách  
tiếng Việt và sách tiếng nước ngoài) và có đủ các loại báo ngày, báo tuần cũng như các  
loại tạp chí chuyên ngành để phục vụ theo nhu cầu của bạn đọc. Với số lượng bản sách và  
đầu sách của Thư viện, số đầu sách theo ngành học của Trường đáp ứng được yêu cầu  
học tập và nghiên cứu khoa học của giảng viên và sinh viên.  
Thư viện của Trường đã kết nối với nhiều Thư viện của các trường Đại học trong  
nước, đặc biệt là với Trung tâm Thông tin Học liệu của ĐHĐN để khai thác, cập nhật các  
tài liệu và thông tin phục vụ cho việc nghiên cứu và học tập của sinh viên và cán bộ giảng  
dạy trong Trường. Thư viện đã có những cơ sở dữ liệu điện tử trong và ngoài nước nhằm  
nâng cao việc tìm kiếm thông tin cho bạn đọc hơn như: Cơ sở dữ liệu Wiley-Blackwell,  
trình điện tử của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tailieu.vn  
- Tổng số diện tích thư viện: 995 m2, trong đó diện tích phòng đọc: 800 m2  
- Số chỗ ngồi: 500  
- Số lượng máy tính phục vụ tra cứu: 40  
- Phần mềm quản lý thư viện (có/không): Có (Ilib ver 4.1 do CMC cung cấp).  
- Thư viện điện tử (có/không): Có (Tài liệu nội sinh, cơ sở dữ liệu ARDI và cơ sở  
dữ liệu Trung tâm học liệu. Số lượng sách, giáo trình điện tử: 9.143).  
18  
   
2.3.4. Tiềm lực CNTT phục vụ đào tạo  
Trong định hướng phát triển của mình, ngoài việc tổ chức đào tạo, nghiên cứu khoa  
học, Trường đã tập trung đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, đội ngũ theo hướng ứng  
dụng vào CNTT để đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá, trong đó e-  
Learning là một trong những định hướng phát triển chính. Trường đã nghiên cứu nhiều  
hình thức GD&ĐT phổ biến như Giáo dục từ xa (gồm cả giáo dục mở; dạy từ xa; học từ  
xa; đào tạo từ xa; hoặc giáo dục ở xa) với các biến thể Giáo dục từ xa tương tác  
(Interactive/Synchronous - người dạy và người học có tương tác qua lại, trao đổi thông  
tin, kiểm tra thông tin thông qua các phương tiện truyền thông tin) và Giáo dục từ xa  
không tương tác (Non- Interactive/synchronous - người dạy và người học không có mối  
tương tác trao đổi thông tin với nhau); Đào tạo trực tuyến (hay Học tập trực tuyến -  
Online Learning) với các biến thể như e-Learning; M-learning (Mobile Learning), U-  
Learning (Ubiquitous Learning).  
Trên cơ sở đó, Nhà trường đã xây dựng bị hệ thống quản lý học tập trực tuyến LMS  
(Learning Management System). Sau nhiều năm vận hành ổn định, hệ thống đã và đang  
phát huy tính tiện ích của nó. Tất cả các khoa trong Trường đều quản lý học tập thông  
qua hệ thống e-Learning: http://ued.edu.vn…  
Trong 10 năm qua, Trường Đại học Sư phạm – ĐHĐN đã xây dựng lộ trình để đầu  
tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, đội ngũ cán bộ giảng viên để đáp ứng tốt việc sử dụng  
e-Learning phục vụ đào tạo và bồi dưỡng GV&CBQLCSGD với số lượng lớn, cụ thể các  
thiết bị Trường hiện có như sau:  
2.3.4.1. Về cơ sở vật chất  
- Video conference (2011) - Hệ thống truyền hình trực tiếp các đầu cầu:  
Trong năm 2011, Trường Đại học Sư phạm - ĐHĐN được Bộ trang bị hệ thống dạy học  
qua mạng trong gói dự án phát triển Trung học phổ thông và Trung cấp chuyên nghiệp,  
tiền thân của gói dự án này có tên “Phòng học e-Learning”. Đây là hệ thống hội nghị  
truyền hình của Sony, được xem là hiện đại nhất trong giai đoạn hiện nay. Giảng viên chỉ  
cần giảng dạy tại phòng học bất kỳ, hình ảnh và bài giảng có thể được truyền đến 5 đầu  
cầu, cùng một lúc giảng viên có thể giảng dạy cho hơn 2000 sinh viên. Việc trao đổi thắc  
mắc giữa sinh viên tại các đầu cầu với giảng viên diễn ra trôi chảy như chung một lớp.  
Hệ thống truyền hình trực tiếp này không chỉ sử dụng được trong nước mà có thể truyền  
hình, kết nối với nước ngoài. Đầu năm 2014, Nhà trường đã tiến hành dạy học trực tuyến  
từ Mỹ, Nhật Bản… bởi các giáo sư có uy tín về chuyên môn và đã nhận được nhiều phản  
hồi tích cực từ các đối tượng tham gia trên hệ thống.  
- Phòng Studio (2012) – ghi hình, ghi âm bài giảng: Tại phòng Studio có các  
trang thiết bị chuyên dùng: bộ trộn video, bộ trộn mix (audio, video…), hệ thống cách  
âm, đèn chiếu sáng, 02 máy quay chuyên dụng, 10 máy quay tạo tư liệu, 04 mic chuyên  
thu âm, hệ thống máy tính đủ mạnh dùng xử lý phim ảnh... Phòng Studio này vừa là nơi  
thực hành của sinh viên ngành báo chí, đồng thời là nơi thu âm, thu hình bài giảng, xuất  
bản các bài giảng e-Learning.  
- Phòng tương tác, video tự dò tìm (2012) - truyền hình trực tiếp hình ảnh qua  
mạng: Phòng tương tác bao gồm: LCD tương tác 70”, hệ thống màn hình lớn, camera có  
thể dò tìm và ghi hình giảng viên để truyền trực tiếp hình ảnh người dạy đến người học  
qua mạng. Trong nhiều năm qua, Trường đã sử dụng hệ thống này rất hiệu quả trong việc  
triển khai tổ chức cho các lớp sinh viên năm thứ hai, năm thứ ba kiến tập sư phạm ở các  
trường phổ thông vệ tinh trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.  
19  
 
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 308 trang yennguyen 18960 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Đề án Đào tạo nhân lực công nghệ thông tin trình độ đại học áp dụng cơ chế đặc thù trong giai đoạn 2017-2020", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfde_an_dao_tao_nhan_luc_cong_nghe_thong_tin_trinh_do_dai_hoc.pdf