Bài giảng Cấu trúc máy tính - Bài 5: Bộ nhớ ngoài

Bài 5: Bộ nhớ ngoài  
BÀI 5: BỘ NHỚ NGOÀI  
Nội dung  
Đĩa từ.  
Hệ thống tệp (file).  
Mục tiêu  
Thời lượng học  
8 tiết.  
Nắm được khái niệm, cấu trúc bộ nhớ  
ngoài và cấu trúc đĩa từ.  
Biết cách quản lý bộ nhớ ngoài, chức  
năng hệ thống file.  
IT101_Bai 5_v1.0010110225  
111  
Bài 5: Bộ nhớ ngoài  
TÌNH HUỐNG DẪN NHẬP  
Tình huống  
Bộ nhớ trong (bộ nhớ thực) là bộ nhớ ngắn hạn, dung lượng  
hạn chế. Trong khi nhu cầu lưu trữ các cơ sở dữ liệu đòi hỏi  
khả năng lưu trữ lâu dài, dung lượng lớn. Phục vụ cho nhu  
cầu này là bộ nhớ ngoài. Có nhiều công nghệ, thiết bị lưu trữ  
khác nhau phục vụ cho mục đích này: đĩa từ (đĩa mềm, đĩa  
cứng), flash, CD-ROM, DVD, … Trong đó, thiết bị được sử  
dụng phổ biến nhất là đĩa từ.  
Câu hỏi  
Cấu tạo của đĩa từ? Tại sao truy cập đĩa từ chậm hơn nhiều so với truy cập bộ nhớ thực? Dữ  
liệu lưu trên đĩa từ được tổ chức thế nào? Làm thế nào để truy cập?  
112  
IT101_Bai 5_v1.0010110225  
Bài 5: Bộ nhớ ngoài  
5.1.  
Đĩa từ  
Sự chậm chạp của các hệ thống đa nhiệm thường do việc sử dụng không đúng các  
thiết bị lưu trữ ngoại vi như đĩa từ, trống từ,.... Trong chương này chúng ta sẽ xem xét  
một số phương pháp trong việc điều khiển các thiết bị đó.  
Chúng ta sẽ phân tích sự làm việc của đĩa từ, xem xét các nguyên nhân dẫn đến làm  
việc không hiệu quả, phân tích các biện pháp nâng cao hiệu suất – so sánh sự giống  
nhau, khác nhau cũng như ưu, khuyết điểm của chúng – về phương diện tốc độ.  
5.1.1.  
Cấu tạo đĩa từ  
Trên hình 5.1.1a biểu diễn sơ đồ của ổ đĩa cứng với các đầu từ di động. Dữ liệu được  
ghi trên các mặt đĩa phủ từ, các đĩa này được gắn chặt vào một trục chung và quay với  
tốc độ rất cao (3600 vòng/ phút– 7200 vòng/ phút).  
Việc truy cập dữ liệu (đọc hay ghi) được  
thực hiện với sự giúp đỡ của các đầu từ  
đọc/ghi, mỗi mặt đĩa có một đầu từ. Đầu  
từ chỉ có thể truy cập dữ liệu trên mặt  
đĩa nằm trực tiếp ngay dưới (trên) nó.  
Do đó để có thể truy cập đến dữ liệu,  
vùng đĩa chứa dữ liệu phải dịch chuyển  
trong quá trình quay sao cho nó nằm  
Hình 5.1.1a  
trực tiếp dưới đầu từ. Thời gian cần thiết  
để dịch chuyển (quay) vùng bề mặt đĩa đến dưới đầu từ gọi là 'thời gian trễ' (Latency).  
Mỗi đầu từ, nếu như nó không dịch chuyển vẽ nên trên bề mặt đĩa (đang quay) đường  
tròn (Track) trên đó có thể lưu dữ liệu. Tất cả các đầu từ được gắn trên khối định vị.  
Khối định vị với các đầu từ có thể dịch chuyển theo bán kính các đĩa. Với việc dịch  
chuyển đầu từ đến vị trí mới, chúng ta có thể truy cập đến nhóm các rãnh (Track)  
khác nhau.  
Nhóm các Track nằm dưới tất cả các đầu từ đọc/ghi trong một vị trí nào đó của khối  
tạo thành Cylinder. Quá trình dịch chuyển đầu từ đến Cylinder mới gọi là thao tác tìm  
Cylinder (Seek).  
Như thế, để có thể truy cập đến dữ  
liệu trên đĩa với các đầu từ đọc/ghi  
nói chung cần thực hiện một vài thao  
tác (hình 5.1.1b). Trước tiên các đầu  
từ cần phải được định vị trên  
Cylinder cần thiết (Seek Cylinder).  
Sau đó cần phải chờ đến khi điểm bắt  
đầu của bản ghi đến đúng vị trí dưới  
đầu từ (tìm bản ghi–gắn với thời gian  
trễ), tiếp theo là bản thân bản ghi, về  
nguyên tắc có thể có kích thước tuỳ ý  
Hình 5.1.1b. Các thành phần thời gian khi truy cập  
(đến toàn bộ rãng–Track), cần phải  
đi qua dưới đầu từ (gọi là thời gian truyền– Transmission Time). Bởi vì tất cả các thao  
tác trên đều gắn với chuyển động cơ học, thời gian tổng cộng cần để truy cập đến  
IT101_Bai 5_v1.0010110225  
113  
Bài 5: Bộ nhớ ngoài  
thông tin chiếm tới 0,01–0,1 s. Ngày nay các ổ đĩa cứng có thời gian truy cập ngẫu  
nhiên trung bình 8–12ms. ta thấy khoảng thời gian đó là rất lớn nếu so sánh với tốc độ  
của bộ xử lý.  
Sự cần thiết phải Planning  
Trong các hệ đa nhiệm, cùng lúc có thể có nhiều Process hoạt động và chúng có thể có  
yêu cầu truy cập đĩa. Bởi các Process thường sinh các yêu cầu nhanh hơn nhiều khả  
năng phục vụ của các thiết bị ngoại vi, do đó với mỗi thiết bị có một hàng đợi các yêu  
cầu. Trong một số các hệ thống các yêu cầu này được phục vụ theo nguyên tắc FCFS  
(First Come – First Served). Nguyên tắc FCFS là cách phục vụ đúng, nhưng khi số  
yêu cầu lớn thì nó có thể dẫn tới thời gian trễ lớn.  
Phương pháp FCFS có đặc điểm là tìm kiếm ngẫu nhiên, trong đó các yêu cầu lần lượt  
có thể tạo ra các khoảng tìm kiếm Cylinder (Seek Cylinder) dài, từ các Track trong  
cùng đến các Track ngoài cùng (hình 5.1.1c). Để giảm tối thiểu thời gian tìm kiếm bản  
ghi, chúng ta cần sắp xếp các yêu cầu theo nguyên tắc nào đó khác với nguyên tắc  
FCFS. Quá trình đó gọi là Planning công việc với ổ đĩa.  
Quá trình Planning cần sự phân tích cẩn thận các  
yêu cầu để xác định thứ tự phục vụ có hiệu quả  
nhất. Người ta phải phân tích các liên hệ vị trí của  
các yêu cầu, sau đó sắp xếp chúng sao cho đảm bảo  
phục vụ chúng với sự dịch chuyển cơ học ít nhất.  
Có hai hướng Planning phổ biến, đó là tối ưu theo  
thời gian tìm kiếm Cylinder và tối ưu theo thời gian  
trễ (Latency). Vì thời gian tìm kiếm Cylinder lớn  
hơn thời gian trễ rất nhiều cho nên phần lớn các  
thuật toán Planning đạt mục đích giảm tối thiểu thời  
Hình 5.1.1c: Tìm kiếm cylinder  
gian tìm kiếm Cylinder đối với một nhóm yêu cầu  
nào đó. Giảm thời gian chờ ghi – Thời gian trễ  
ngẫu nhiên do nguyên tắc FCFS  
(Latency) thường không ảnh hưởng đáng kể đến đặc tính tốc độ của hệ thống, nếu  
không tính đến chế độ tải rất lớn.  
Với các trường hợp tải nhỏ thì nguyên tắc FCFS có thể chấp nhận, còn với các hệ  
thống có tải trung bình đến lớn (về số yêu cầu truy cập đĩa) thì Planning có thể đảm  
bảo đặc tính tốc độ tốt hơn nhiều so với phương pháp FCFS đơn giản.  
Các đặc tính đánh giá nguyên tắc Planning  
Chúng ta đã thấy rằng nguyên tắc FCFS chấp nhận được trong một số trường hợp. Để  
đánh giá các nguyên tắc Planning tồn tại một số tiêu chuẩn:  
1) Khả năng phục vụ (Throughput).  
2) Thời gian trả lời trung bình (Mean Response Time).  
3) Sự khác biệt thời gian trả lời (Variance In Response Time).  
Rõ ràng rằng các nguyên tắc Planning phải đảm bảo tăng khả năng phục vụ tức là số  
yêu cầu phục vụ được trong một đơn vị thời gian. Vì các chiến lược Planning cho  
phép giảm thời gian tìm kiếm nên chúng hoàn toàn có thể nâng cao khả năng phục vụ  
so với trường hợp dùng phương pháp FCFS. Ngoài ra các chiến lược Planning phải cố  
gắng làm giảm tối thiểu thời gian trả lời trung bình. Vả lại Planning giảm thời gian tìm  
kiếm Cylinder cho nên chúng cũng làm rút ngắn thời gian trả lời trung bình so với FCFS.  
114  
IT101_Bai 5_v1.0010110225  
Bài 5: Bộ nhớ ngoài  
Các tiêu chuẩn kể trên cố gắng theo hướng cải thiện các chỉ số tốc độ chung của cả hệ  
thống, và nói chung chúng thực sự làm bức tranh chung tốt hơn dù rằng có thể có một  
số yêu cầu sẽ bị phục vụ chậm đi đôi chút.  
Một trong những chỉ số đánh giá quan trọng nhất là sự khác biệt (Variance) về thời  
gian trả lời. Nó đánh giá việc một giá trị (ở đây là thời gian phục vụ) cụ thể đối với  
một phần tử nào đó có thể sai lệch (khác biệt/dao động) bao nhiêu so với giá trị trung  
bình. Với ý nghĩa đó chúng ta dùng Variance như một chỉ số dự đoán trước– độ khác  
biệt càng nhỏ thì độ dự đoán trước càng lớn. Chúng ta cần các chiến lược Planning  
cho phép giảm tối thiểu độ khác biệt variance. Trong trường hợp ngược lại, có thể xảy  
ra tình huống rằng thời gian phục vụ một số yêu cầu nào đó không thể ước lượng  
trước. Điều đó không cho phép, ví dụ với hệ thống đăng ký chỗ máy bay khi mà việc  
trả lời nhanh, chậm ảnh hưởng đến việc bán vé. Nếu như các chiến lược Planning chỉ  
cố theo hướng tăng khả năng phục vụ (Throughput) mà không đồng thời làm giảm tối  
thiểu độ dao động (Variance In Response Time), thì nó có thể xử lý chỉ các yêu cầu dễ  
phục vụ và bỏ qua một số yêu cầu khác.  
5.1.2.  
Tối ưu theo thời gian định vị Track  
Chúng ta sẽ phân tích các chiến lược tối ưu thời gian tìm kiếm Cylinder phổ biến nhất:  
1) FCFS – các yêu cầu được phục vụ theo thứ tự xuất hiện  
2) SSTF (Shortes Seek Time First) – khi đó yêu cần nào gắn với sự dịch chuyển đầu  
từ ít nhất (từ vị trí hiện thời) được phục vụ trước  
3) SCAN (Scan-quét) – đầu từ dịch chuyển đi, về trên bề mặt đĩa và phục vụ tất cả các  
yêu cầu gặp trên đường. Đầu từ chỉ đổi hướng trong trường hợp không còn yêu cầu  
nào nằm (ở phía trước) theo hướng hiện thời.  
4) C-SCAN (Cycled Scan) – đầu từ chỉ phục vụ theo một hướng dịch chuyển từ ngoài  
vào trong, khi không còn yêu cầu nào ở phía trước thì nó nhảy trở lại phục vụ yêu cầu  
nào nằm ngoài cùng và tiếp tục đi vào trong.  
5) N-step-SCAN – đầu từ dịch chuyển vào/ra như trong trường hợp SCAN, nhưng tất  
cả các yêu cầu xuất hiện trong quá trình đang phục vụ theo một hướng nào đó, được  
nhóm lại theo cách nào đó để chúng có thể được phục vụ hiệu quả nhất trong quá trình  
phục vụ theo hướng ngược lại.  
5) Sơ đồ Eschenbach (Eschenbach Scheme) – đầu từ dịch chuyển lặp lại như trong  
trường hợp C-SCAN nhưng chiến lược này khác ở một số điểm quan trọng. Khi phục  
vụ mỗi Cylinder thì chỉ thực hiện truy cập đến một Track mà không để ý đến việc có  
thể có yêu cầu khác cũng thuộc Cylinder đó. Cũng có phân tích sắp xếp các yêu cầu  
trên cùng một Cylinder với tham số góc phân bố bản ghi, tuy nhiên nếu hai yêu cầu  
nằm trên vị trí cắt nhau (có chồng lên nhau) theo phương thẳng đứng thì chỉ có một  
yêu cầu được phục vụ.  
Tối ưu theo FCFS (First Come– First Served)  
Theo chiến lược này yêu cầu nào đến trước sẽ được phục vụ trước. Nó đúng ở chỗ,  
sau khi xuất hiện yêu cầu nào đó – nó sẽ được có chỗ cố định trong hàng. Nó sẽ được  
phục vụ (không bị loại ra do có các yêu cầu khác được ưu tiên hơn). Nếu các yêu cầu  
phân bố đều theo bề mặt đĩa thì chiến lược FCFS dẫn tới tìm kiếm ngẫu nhiên. Trong  
đó bỏ qua các liên hệ vị trí của các yêu cầu đang chờ được phục vụ, và không có bất  
cứ sự tối ưu nào trong tìm kiếm.  
IT101_Bai 5_v1.0010110225  
115  
Bài 5: Bộ nhớ ngoài  
Chiến lược FCFS chấp nhận được nếu hệ thống làm việc với tải nhỏ. Nhưng khi tải  
tăng lên thì thời gian phục vụ nhanh chóng trở nên quá lâu. Chiến lược FCFS đảm bảo  
variance không lớn.  
Chiến lược SSTF  
Khi Planning theo chiến lược SSTF, đầu tiên sẽ  
phục vụ yêu cầu có khoảng cách nhỏ nhất (do đó  
có thời gian tìm Cylinder ít nhất) dù yêu cầu đó  
không phải xuất hiện đầu tiên.  
4
2
3 1  
Chiến lược SSTF có đặc điểm variance nhỏ đối với  
các yêu cầu xác định. Việc truy cập đĩa xuất hiện xu  
hướng tập trung, kết quả là yêu cầu truy cập các Track  
trong cùng và ngoài cùng có thể được phục vụ kém  
hơn nhiều so với các yêu cầu truy cập Track ở giữa.  
Chiến lược SSTF đảm bảo khả năng phục vụ lớn  
hơn FCFS và thời gian trả lời trung bình tốt hơn với  
tải lớn. Một trong những khuyết điểm của nó là sự  
Hình 5.1.2a: Tìm kiếm cylinder  
ngẫu nhiên do nguyên tắc FCFS  
tăng độ dao động thời gian trả lời (Variance In Response Time) với các Track trong  
cùng và ngoài cùng. Nhược điểm của nó có thể bỏ qua trong trường hợp yêu cầu quan  
trọng nhất là khả năng phục vụ và giảm thời gian trả lời trung bình, ví dụ trong các hệ  
thống xử lý theo gói.  
Chiến lược SCAN  
Để giảm variance đối với các Track biên, Denning đã xây dựng chiến lược Scan. Chiến  
lược này nói chung cũng tương tự như SSTF nếu không tính đến một vấn đề là nó phục  
vụ yêu cầu có khoảng cách tìm kiếm nhỏ nhất theo một xu hướng xác định (hình 5.1.2b)  
Nếu như tại thời điểm hiện tại hướng quét là từ  
trong ra thì chiến lược SCAN sẽ chọn yêu cầu với  
khoảng cách nhỏ nhất theo hướng ra ngoài. Trong  
chiến lược SCAN, đầu từ không đổi hướng chuyển  
động cho đến khi nó đạt đến Cylinder ngoài cùng  
hay khi không còn yêu cầu nào chờ theo hướng đó.  
Nguyên tắc SCAN là cơ bản trong phần lớn các hệ  
thống có Planning công việc với đĩa từ. Chiến lược  
SCAN rất giống với SSTF từ quan điểm tăng khả  
Hình 5.1.2b  
năng phục vụ và giảm thời gian trung bình, nhưng nó giảm đáng kể độ chênh lệch đối  
với các yêu cầu đến Track biên như của SSTF và đảm bảo variance nhỏ hơn nhiều.  
Trong chiến lược scan đầu từ, quét từ trong ra ngoài và ngược lại nên nó quét (nằm  
trên) các Track biên ít hơn (thưa hơn) so với các Track ở giữa, nhưng đó chỉ là nhược  
điểm nhỏ so với variance trong trường hợp SSTF.  
Nguyên lý N–step SCAN  
Trên nguyên tắc phương pháp SCAN ở trên có một biến thể gọi là N-step-SCAN.  
Trong đó đầu từ cũng dịch chuyển đi/về như trong phương pháp SCAN, nhưng trên mỗi  
chiều dịch chuyển chỉ phục vụ các yêu cầu đã xuất hiện đến lúc bắt đầu dịch chuyển.  
Các yêu cầu xuất hiện trong thời gian dịch chuyển được nhóm lại và sắp xếp thế nào để  
chúng có thể được phục vụ tốt nhất trong lần dịch chuyển ngược lại (hình 5.1.2c)  
116  
IT101_Bai 5_v1.0010110225  
Bài 5: Bộ nhớ ngoài  
Chiến lược N-step-SCAN đảm bảo chỉ số cao cả về  
khả năng phục vụ cũng như thời gian trung bình.  
Nhưng điểm quan trọng nhất của nó là độ chênh  
lệch (Variance) nhỏ so với khi sử dụng chiến lược  
SSTF hay SCAN thuần tuý. Chiến lược N-step  
SCAN loại trừ khả năng yêu cầu bị chờ quá lâu,  
tình huống thường xuất hiện khi có số lượng lớn  
yêu cầu đến Cylinder hiện thời. Chiến lược này sẽ  
lưu các yêu cầu đó để phục vụ vào lúc chuyển động ngược lại.  
Hình 5.1.2c  
Chiến lược C-SCAN  
Còn một biến thể của chiến lược scan gọi là C-SCAN. Chiến lược này loại trừ tính  
chất tăng variance đối với các Track biên.  
Theo chiến lược C-SCAN, đầu từ dịch chuyển từ  
các Cylinder phía ngoài vào trong, ngoài ra phục vụ  
các yêu cầu theo nguyên tắc thời gian tìm kiếm  
Cylinder nhỏ nhất. Khi đầu từ hoàn thành chuyển  
dịch theo chiều thuận, nó sẽ nhảy trở về phục vụ  
yêu cầu gần Cylinder ngoài cùng nhất và sau đó lại  
Hình 5.1.2d  
tiếp tục dần vào trong. Chiến lược C-SCAN có thể  
thực hiện để các yêu cầu xuất hiện trong thời gian đang phục vụ sẽ được phục vụ vào  
lần sau (hình 5.1.2d). Nhờ đó chiến lược C-SCAN loại bỏ được sự tăng variance với  
các yêu cầu truy cập Cylinder biên.  
Các nghiên cứu cho thấy rằng chiến lược Planning tốt nhất có thể có hai chế độ. Trong  
chế độ tải thấp, phương pháp tốt nhất là chiến lược SCAN, còn khi tải trung bình và  
lớn thì kết quả tốt nhất có được khi dùng C–SCAN. Chiến lược này kết hợp với tối ưu  
theo thời gian trễ (tìm bản ghi) đảm bảo kết quả tốt trong các điều kiện tải rất lớn.  
5.1.3.  
Tối ưu theo thời gian trễ  
Trong điều kiện tải lớn, xác suất có lớn hơn một yêu  
cầu đến cùng Cylinder nào đó tăng lên, do đó việc tối  
ưu theo thời gian trễ trở nên cần thiết. Tối ưu theo  
thời gian trễ đã được áp dụng nhiều năm trong các  
công việc với thiết bị có đầu từ cố định như trống từ.  
Tương tự chiến lược SSTF theo hướng tối ưu thời  
gian tìm Cylinder, trong hướng tối ưu theo thời gian  
trễ có chiến lược SLTF. Khi bộ định vị (với các đầu  
Hình 5.1.3a  
từ) nằm trên một Cylinder nào đó với nhiều yêu cầu  
truy cập các Track khác của Cylinder, chiến lược SLTF phân tích tất cả các yêu cầu và  
phục vụ yêu cầu với thời gian trễ nhỏ nhất trước tiên (hình 5.1.3a) không phụ thuộc thứ  
tự yêu cầu nào có trước.  
Các nghiên cứu cho thấy chiến lược này hoàn toàn gần với kết quả tối ưu theo lý thuyết,  
ngoài ra việc thực hiện nó không phải là phức tạp.  
Các đánh giá hệ thống  
Ổ đĩa-tài nguyên quan trọng:  
Khi xem xét thấy rằng đĩa cứng là tài nguyên tới hạn (chỗ yếu) của hệ thống, một số  
kỹ sư khuyên nên tăng dung lượng ổ cứng. Việc này không phải bao giờ cũng giải  
IT101_Bai 5_v1.0010110225  
117  
Bài 5: Bộ nhớ ngoài  
quyết vấn đề bởi vì tình trạng critical có thể sinh ra do tần số yêu cầu truy cập đến  
vùng đĩa nhỏ quá lớn. Nếu như phân tích thấy rằng tình trạng tới hạn (critical) là do  
vấn đề trên thì có thể áp dụng các chiến lược tối ưu để nâng cao chỉ số tốc độ và loại  
trừ chỗ yếu đó.  
Mức đa nhiệm:  
Tải trên đĩa và yêu cầu ngẫu nhiên, thường tăng lên với sự tăng mức độ đa nhiệm.  
Việc sử dụng các biện pháp tối ưu (Planning) công việc với đĩa có thể không hiệu quả  
trong các hệ thống với mức độ đa nhiệm thấp. Nhưng với các hệ thống có mức độ đa  
nhiệm trung bình thì Planning có hiệu quả và nó đạt hiệu quả rõ rệt với các hệ với  
mức độ đa nhiệm cao (có thể phải xử lý hàng nghìn yêu cầu).  
Multdisk subsystem:  
Từ cách nhìn kinh tế và module, các ổ đĩa thường được xây dựng sao cho một vài ổ  
đĩa vật lý làm việc dưới sự điều khiển của một Disk Controller.  
Đến lượt mình, Disk Controller lại được nối vào kênh vào/ra đảm bảo sự trang đổi  
thông tin giữa các ổ đĩa và bộ xử lý. Một kênh có thể phục vụ một vài Disk Controller  
và đến lượt mình một Disk Controller có thể phục vụ một số ổ đĩa.  
Các kênh vào/ra không nối trực tiếp với ổ đĩa. Điều này làm chúng ta phải phân tích  
cẩn thận chỗ yếu trước khi áp dụng các biện pháp giải quyết. Điểm yếu có thể là do  
controller không đủ mạnh hay giải thông của kênh không đủ. Việc xác định điểm yếu  
có thể dễ dàng hơn nhờ các chương trình và thiết bị Diagnostic đặc biệt, kiểm tra hoạt  
động (các thông số khác nhau) của kênh (Channel) cũng chư Controller. Nếu như  
điểm yếu là Controller thì chúng ta có thể theo hướng đặt lại cấu hình hệ thống, giảm  
số lượng ổ đĩa nối vào Controller. Nếu như kênh không đủ giải thông chúng ta có thể  
đổi một số Controller sang kênh khác hay thêm kênh vào/ra. Như thế, để khắc phục  
các điểm yếu chúng ta có thể phải thay đổi cấu hình hệ thống.  
Để giảm xác suất quá tải kênh vào/ra, trong nhiều hệ thống sử dụng các phương tiện  
chuyên dụng theo dõi vị trí góc quay của đĩa (RPS-Rotational Position Sensing). Các  
phương tiện này cho phép giảm thời gian kênh bị bận khi tìm bản ghi trên đĩa. Khi có  
yêu cầu truy cập đến bản ghi nào đó trên đĩa, RPS giải phóng kênh để kênh thực hiện  
các thao tác khác cho đến khi bản ghi cần thiết nằm đúng vị trí dưới đầu từ. RPS cho  
phép kênh có thể phục vụ đồng thời một số yêu cầu, do đó tăng hệ số sử dụng thiết bị.  
Phân bố các yêu cầu không đều:  
Các nghiên cứu lý thuyết liên quan đến hoạt động của ổ đĩa thường dựa trên một giả  
thiết là các yêu cầu truy cập đĩa phân bố đồng đều. Kết luận của các nghiên cứu đó có  
thể không chính xác đối với nhiều hệ thống có đặc điểm các yêu cầu truy cập đĩa  
phân bố không đều theo bề mặt đĩa. Việc phân bố không đều đó trong một số trường  
hợp hoàn toàn là bình thường.  
Một trong những nguyên nhân phổ biến dẫn tới sự phân bố các yêu cầu không đều là  
các file lớn liên tục. Khi hệ điều hành chọn chỗ trống để ghi chúng, nó thường ghi dữ  
liệu lên cùng một Track và khi Track đã đầy thì hệ điều hành chuyển sang ghi lên các  
Track khác trên cùng Cylinder, và khi Cylinder đầy thì chuyển sang các Cylinder bên  
cạnh. Như thế khi làm việc với các file liên tục hoàn toàn bình thường khi xuất hiện  
tình huống các yêu cầu truy cập liên tiếp nói chung sẽ không dẫn tới thao tác tìm kiếm  
theo Cylinder. Và ngay cả khi phải tìm theo Cylinder thì nó cũng rất ngắn vì đơn giản  
118  
IT101_Bai 5_v1.0010110225  
Bài 5: Bộ nhớ ngoài  
sẽ chuyển sang Cylinder ngay cạnh. Trong các tình huống này thì việc tối ưu -  
Planning nói chung không đem lại lợi ích gì. Ngoài ra các chi phí cho Planning hoàn  
toàn có thể dẫn đến giảm tốc độ của hệ thống.  
Một số hệ thống có kiểm soát tình trạng của bề mặt đĩa và có thể chuyển dữ liệu trên  
các Track hỏng sang Track tốt khác. Các Track có thể nằm ở các vị trí rất khác nhau  
và có thể gây ra các dịch chuyển đầu từ thêm (tìm kiếm) vào các thời điểm không ngờ.  
Các phương pháp tổ chức file:  
Các phương pháp tổ chức file, với tổ chức phức tạp ví dụ dãy chỉ số có thể tạo ra hiện  
tượng số lượng lớn yêu cầu với thời gian tìm kiếm lâu. Việc phục vụ các yêu cầu  
trong phương pháp truy cập chỉ số nối tiếp (Index Sequential Access Method–ISAM)  
có thể gắn với việc thực hiện nhiều lần truy cập đĩa.  
Trong một số trường hợp, truy cập bản ghi có thể đòi hỏi truy cập đến index chính,  
truy cập index của Cylinder và sau đó mới xác định được vị trí bản ghi. Quá trình này  
có thể dẫn tới nhiều lần tìm kiếm theo Cylinder bởi vì index chính và index của  
Cylinder thường nằm trên đĩa, nên thời gian trễ trong tìm kiếm có thể khá lớn. Tuy  
nhiên tổ chức truy cập ISAM thuận tiện cho những người viết phần mềm ứng dụng.  
5.2.  
Hệ thống file  
File – là tập hợp dữ liệu, thường được lưu trữ trong các thiết bị lưu trữ ngoại vi như  
đĩa từ, băng từ,... Với file, ta có thể thực hiện các thao tác như với một đơn vị:  
Open – chuẩn bị file cho truy cập.  
Close – kết thúc truy cập file.  
Create – tạo file mới.  
Copy – tạo bản sao.  
Destroy (Delete) – xoá file.  
Rename – đổi tên file.  
Đối với các đơn vị thông tin trong file, thường sử dụng các lệnh:  
Read – đọc dữ liệu từ file.  
Write – ghi các thông tin vào file.  
Insert – chèn thêm thông tin.  
Delete – xoá các đơn vị thông tin.  
File system (FS) là một cấu thành của hệ điều hành, có nhiệm vụ điều khiển thao tác  
với các file trên bộ nhớ ngoài. Nó còn đảm bảo khả năng chia sẻ và an toàn thông tin  
giữa nhiều người dùng.  
Chức năng của hệ thống file:  
Hệ thống file phải đảm bảo nhiều chức năng khác nhau liên quan đến điều khiển truy  
cập, trong đó có:  
Người dùng phải có khả năng tạo, thay đổi, xoá file.  
Cung cấp khả năng chia sẻ file dưới sự điều khiển chặt chẽ.  
Cơ chế chia sẻ file phải xem xét hình thức truy cập cần kiểm soát, ví dụ thao tác  
đọc, ghi, thay đổi,. ..  
Người dùng phải có khả năng thao tác dễ dàng với cấu trúc file, độc lập với  
phần cứng.  
IT101_Bai 5_v1.0010110225  
119  
Bài 5: Bộ nhớ ngoài  
Đảm bảo sự trao đổi thông tin giữa các file.  
Cần có các công cụ khắc phục, khôi phục lại thông tin khi có sự cố.  
Với các thông tin quan trọng, cần có các cơ chế kiểm soát truy cập chặt chẽ, tránh  
các truy cập bất hợp pháp, khả năng mã hoá dữ liệu.  
Hệ thống cần cung cấp giao diện thân thiện với người dùng, cho phép người dùng  
làm việc với các cấu trúc dữ liệu logic của mình, không cần quan tâm đến các chi  
tiết vật lý, cụ thể.  
5.2.1.  
Cấu trúc dữ liệu  
Tất cả các dữ liệu máy tính có thể xử lý đều tạo thành từ các bit có giá trị 0 hoặc 1.  
Khi kết hợp các bit thành tổ hợp, ta có thể lưu trữ, thể hiện mọi thông tin.  
Mức cao hơn, ta có đơn vị byte là tổ hợp 8 bit. Như thế có thể có 256 giá trị khác nhau  
của 1 byte, trong số đó có các ký tự (a–z, A–Z), chữ số (0–9), các ký tự đặc biệt,...  
Phân bố tổ hợp các bit theo ký tự được gọi là bảng mã. Hiện nay có một số bảng mã  
phổ biến: EBCDIC (Extend Bit Code Decimal For Interchange) thường được sử dụng  
để biểu diễn thông tin bên trong máy, hệ ASCII (Americal Standard Code For  
Interchange Information) thông dụng trong các hệ thống truyền thông, ngày nay trong  
xu thế toàn cầu hoá, mã unicode đang được chấp nhận ngày càng rộng rãi với ưu thế  
có thể lưu trữ và thể hiện hầu hết các ngôn ngữ trên thế giới.  
Ở mức cao hơn, nhóm các ký tự liên quan đến nhau gọi là trường – field, ví dụ trường  
họ tên sinh viên,... các trường liên quan tạo thành bản ghi, ví dụ bản ghi thông tin sinh  
viên có các trường họ tên, lớp…  
Nhóm các bản ghi tạo thành file và tập hợp thông tin cao nhất được gọi là cơ sở dữ liệu.  
Block và Record  
Bản ghi vật lý hay khối là đơn vị thông tin thực sự được trao đổi với thiết bị lưu trữ.  
Còn bản ghi logic là tập hợp thông tin được coi là đơn vị toàn vẹn nhìn từ phía người  
dùng, ví dụ bản ghi sinh viên.  
Với hai khái niệm trên, ta có các quan hệ sau về độ dài tương đối giữa chúng:  
Một khối = một bản ghi.  
Một khối = nhiều bản ghi.  
Một bản ghi = nhiều khối.  
Tổ chức file  
Tổ chức file là cách phân bố bản ghi của file trong bộ nhớ ngoài. Có thể chia thành  
các dạng tổ chức sau:  
Nối tiếp: các bản ghi phân bố theo thứ tự vật lý, bản ghi logic tiếp theo nằm nối  
tiếp về vật lý. Tổ chức file theo kiểu nối tiếp thường áp dụng trong băng từ.  
Dãy chỉ số: các bản ghi nối tiếp về logic không nhất thiết liên tiếp về vật lý. Trong  
hệ thống sử dụng các chỉ mục riêng trỏ đến vị trí vật lý của bản ghi. Tổ chức này  
thường áp dụng trong đĩa từ.  
Truy cập trực tiếp: truy cập bản ghi trực tiếp theo địa chỉ vật lý. Tổ chức hệ thống  
đơn giản nhưng gánh nặng chuyển sang người lập trình, họ phải biết rõ cấu trúc  
vật lý của thiết bị. Vì thế hình thức này ít áp dụng.  
Thư mục (Directory): là kiến trúc cao hơn file, bao gồm tập hợp các file. Về thực  
chất thì thư mục cũng là file, chỉ có điều dữ liệu trong đó là thông tin về các file  
nằm trong thư mục.  
120  
IT101_Bai 5_v1.0010110225  
Bài 5: Bộ nhớ ngoài  
Hệ thống file (File System)  
Ta có thể đưa ra các đặc điểm sau của file:  
Tần số thay đổi: Static và Dynamic.  
Kích thước file.  
File System là cấu thành quan trọng của hệ điều hành, hệ thống file thường cung cấp các  
công cụ:  
Các phương pháp truy cập: xác định, tổ chức truy cập dữ liệu.  
Các cơ chế điều khiển file: điều khiển truy cập, chia sẻ file cho nhiều người dùng,  
bảo vệ dữ liệu.  
Công cụ điều khiển bộ nhớ ngoài: quản lý việc phân bố, cấp phát bộ nhớ ngoài.  
Công cụ đảm bảo tính toàn vẹn dữ liệu.  
Chức năng quan trọng của hệ thống file là cấp phát bộ nhớ ngoài, điều khiển truy  
cập. Trong các hệ đa người dùng, đa nhiệm, cùng một lúc có thể có nhiều yêu cầu  
truy cập đồng thời. Hệ thống file phải đảm bảo phục vụ các yêu cầu nhanh nhất, vẫn  
đảm bảo an toàn dữ liệu.  
Cấp phát và giải phòng không gian đĩa  
Vấn đề cấp phát và giải phóng không gian đĩa, ở mức độ nào đó có nhiều điểm chung  
với phân bố bộ nhớ trong các hệ đa nhiệm. Nếu như ban đầu file được ghi trong một  
vùng nhớ liên tục thì theo thời gian, các file liên tục thay đổi và không gian đĩa trở nên  
bị chia nhỏ (Fragmentation).  
Một trong những biện pháp giải quyết tình trạng đó là theo chu kỳ thực hiện việc dồn  
đĩa. Các file được tổ chức lại để chúng chiếm vùng đĩa liên tục. Việc này thường được  
thực hiện vào thời gian rỗi của hệ thống. Một số hệ thống còn có thể dọn dẹp đĩa ngay  
cả khi đang phục vụ người dùng.  
Trong một số tình huống, khi mà số yêu cầu đọc/ghi dữ liệu rất nhiều thì việc dồn đĩa  
có thể không mang lại lợi ích. Ví dụ các yêu cầu có thể yêu cầu dữ liệu của các file  
trên vùng đĩa cách xa nhau ngay cả khi các file nằm trên vùng đĩa liên tục.  
Khái niệm locality trong bộ nhớ ảo cũng có mặt trong hệ thống file, theo đó thường  
khi truy cập thông tin thường scan các khối dữ liệu. Do đó việc sắp xếp để các file  
chiếm vùng đĩa liên tục thực sự có hiệu quả.  
Việc xác định thói quen của người dùng: các ứng dụng, các dữ liệu thường xuyên  
được dùng cũng có thể cần để ý trong thiết kế hệ thống file.  
Trong các hệ thống dùng tổ chức bộ nhớ theo trang, khối trao đổi bộ nhớ với bộ nhớ  
ngoài là bội của trang, khi đó việc tổ chức bộ nhớ ngoài theo các khối có kích thước  
tương đương cũng có ý nghĩa. Với tính locality, việc truy xuất các trang bộ nhớ liền  
nhau dẫn đến việc cần phân bố dữ liệu trong bộ nhớ ngoài cũng cần liền nhau.  
5.2.2.  
Phân bố liên tục, không liên tục  
Có hai hình thức phân bố: liên tục và không liên tục.  
Phân bố liên tục  
Trong hình thức này, mỗi file được cấp phát một vùng liên tục. Nếu không có được  
vùng trống liên tục đủ lưu file thì file sẽ không thể được lưu.  
IT101_Bai 5_v1.0010110225  
121  
Bài 5: Bộ nhớ ngoài  
Một trong các ưu điểm của phân bố liên tục là các bản ghi liên tiếp về logic cũng được  
lưu liên tục về mặt vật lý, điều đó cho phép cải thiện tốc độ truy cập.  
Việc tổ chức lưu trữ cũng tương đối đơn giản.  
Tuy nhiên phân bố liên tục có những hạn chế, khi các file bị xoá, thay đổi, tạo ra tình  
trạng phân mảnh. Hơn nữa, khi cần ghi thêm dữ liệu vào file không phải luôn có vùng  
trống ngay cuối file để lưu.  
Để tránh tình trạng phân mảnh có thể thực hiện dồn file, tuy nhiên việc đó không phải  
luôn mang lại hiệu quả.  
Phân bố không liên tục  
Bởi vì thường xuyên các file bị thay đổi, do đó hình thức phân bố liên tục đã nhanh  
chóng bị thay thế bởi hình thức phân bố không liên tục, mặc dù tổ chức phức tạp hơn  
nhưng nó cho phép xây dựng hệ thống mềm dẻo hơn. Có một số hình thức phân bố  
không liên tục.  
1) Sử dụng danh sách Sector  
Trong sơ đồ này, đĩa được xem như tập hợp các Sector riêng rẽ. File có thể bao gồm  
các Sector nằm trên các vị trí rải rác. Các Sector thuộc cùng một file có các con trỏ  
đến nhau, tạo thành chuỗi/danh sách các Sector. Không gian trống được chỉ ra trong  
một danh sách các Sector trống.  
Khi cần cấp phát thêm bộ nhớ, chỉ cần cấp Sector từ danh sách Sector trống. Còn khi  
file giảm kích thước thì Sector được đánh dấu trống và đưa vào danh sách. Việc dồn  
đĩa không phải đặt ra.  
Tuy nhiên nó cũng có những nhược điểm. Bởi vì các Sector có thể nằm rải rác trên đĩa,  
việc truy cập dữ liệu liên tiếp trong file có thể kéo theo thời gian tìm kiếm Sector khá  
lâu. Việc đọc dữ liệu kéo theo phải duyệt qua chuỗi các Sector, xử lý con trỏ kết nối.  
2) Phân bố theo khối  
Hình thức phân bố theo khối là kết hợp giữa hình thức phân bố liên tục và không liên  
tục, trong đó bộ nhớ ngoài được chia thành các khối/block gồm nhiều Sector liên tục.  
Khi cấp phát thêm, hệ thống file cố gắng cấp phát khối trống gần nhất. Khi truy cập  
dữ liệu, hệ thống file xác định số blokc và sau đó số Sector trong khối. Có 3 hình thức  
phân bố theo khối: chuỗi block/block chaining, chuỗi block chỉ số/index block và  
bảng ánh xạ block.  
5.2.3.  
Các sơ đồ tổ chức hệ thống file theo khối  
Chuỗi các block dữ liệu  
Trong sơ đồ này, bản ghi trong directory trỏ đến khối đầu tiên của file. Mỗi khối (có  
độ dài cố định) gồm hai phần: phần header chứa con trỏ đến khối tiếp theo (khối cuối  
cùng - con trỏ đặc biệt để báo hiệu) và phần dữ liệu. Đơn vị cấp phát nhỏ nhất là khối.  
Để đọc bản ghi, đầu tiên cần tìm đến khối sau đó đến Sector trong khối chứa bản ghi.  
Quá trình tìm kiếm phải bắt đầu duyệt từ khối đầu tiên, theo các con trỏ đến khối cần  
tìm. Như thế nếu khối phân bố rải rác thì thời gian truy cập lâu hơn đáng kể. Việc cấp  
phát thêm khối hay xoá bớt khá dễ dàng thông qua định hướng lại con trỏ. Trong một  
số hệ thống, tổ chức chuỗi khối liên kết 2 chiều, mỗi khối có 2 con trỏ, 1 trỏ tới khối  
tiếp theo và 1 trỏ tới khối trước.  
122  
IT101_Bai 5_v1.0010110225  
Bài 5: Bộ nhớ ngoài  
Directory  
File A  
Header  
Data  
Header  
Data  
Header  
Data  
Data Block 0  
Data Block 1  
Data Block n  
Hình 5.2.3-1: Chuỗi các block  
Sơ đồ chuỗi block chỉ mục  
Trong sơ đồ này, các chỉ mục (Index) được chứa trong các khối chỉ số. Mỗi khối chỉ  
số chứa số lượng cố định các phần tử, mỗi phần tử chứa con trỏ đến khối dữ liệu. Nếu  
một index block không đủ, hệ thống dùng chuỗi các chỉ số block để chứa thông tin của  
file, mỗi index block có con trỏ đến index block tiếp theo trong chuỗi.  
So với sơ đồ dùng chuỗi các block, sơ đồ này có một số ưu điểm. Khi tìm kiếm khối  
dữ liệu nào đó, chỉ cần tìm (duyệt) trong số lượng ít các index block thay vì duyệt qua  
số lượng lớn các khối dữ liệu. Để tăng tốc độ, có thể bố trí các chỉ số block nằm trên  
vùng liên tục trong bộ nhớ ngoài. Khi tìm thấy vị trí khối dữ liệu thì chỉ cần nạp khối  
dữ liệu đó vào bộ nhớ.  
Sơ đồ này có nhược điểm chủ yếu là khi có thay đổi dữ liệu, ví dụ khi cần thêm các  
bản ghi dữ liệu mới có thể dẫn đến phải cấu trúc lại nhiều index block. Trong một số  
hệ thống, để khắc phục người ta đánh sẵn các vùng trống dự trữ cho các index block  
có thể có trong tương lai. Tuy nhiên, khi vùng trống đó đầy thì cũng dẫn đến phải cấu  
trúc lại chỉ số.  
Directory  
Index Block 0  
Header  
Index Block n  
Header  
File A  
Pointer  
Pointer  
...  
Pointer  
...  
...  
Data  
Data  
Data  
Hình 5.2.3-2: Sơ đồ chuỗi index block  
Sơ đồ bảng ánh xạ block  
Trong sơ đồ này để xác định vị trí block, không cần phải có con trỏ mà dùng số của  
block, bởi vì từ số khối có thể dễ dàng tính toán được vị trí khối trên bộ nhớ ngoài. Sơ  
đồ này sử dụng bảng ánh xạ khối, mỗi dòng chứa thông tin ánh xạ cho 1 khối. Dòng  
trong bảng thư mục sẽ trỏ đến một dòng trong bảng ánh xạ – tương ứng với khối dữ  
IT101_Bai 5_v1.0010110225  
123  
Bài 5: Bộ nhớ ngoài  
liệu đầu tiên của file. Mỗi dòng của bảng ánh xạ chứa số của khối tiếp theo của file.  
Như thế từ bảng ánh xạ có thể đọc được tất cả thông tin vị trí các khối dữ liệu của file.  
Với dòng ánh xạ tương ứng với block cuối của file, thường chứa giá trị đặc biệt (ví dụ  
null) thể hiện rằng không còn khối nào tiếp theo – nó là khối cuối cùng.  
Các dòng ánh xạ của khối trống chứa giá trị đặc biệt khác thể hiện rằng đó là khối  
trống, có thể cấp phát. Hệ thống có thể tra cứu bảng ánh xạ để tìm các khối trống,  
hoặc lưu thông tin khối trống trong một danh sách riêng.  
Bảng ánh xạ có thể được thay đổi để lưu cả các thông tin khác, phục vụ cho mục đích  
tìm kiếm.  
Một trong các ưu điểm lớn nhất của sơ đồ này là chỉ cần tra cứu thông tin trong bảng  
ánh xạ file là có thể xác định các khối trống và vị trí tương đối của chúng so với các  
khối khác, từ đó khi cần cấp phát có thể chọn các khối gần với khối thuộc cùng 1 file  
một cách dễ dàng, nâng cao tốc độ truy cập.  
Hình 5.2.3-3: Bảng ánh xạ khối  
5.2.4.  
Điều khiển truy cập  
Tại sao cần quản lý quyền truy cập đến file. Trong hệ thống nhiều người dùng, mỗi  
người đều lưu thông tin riêng của mình trên các file và các người dùng khác nói chung  
không được truy cập đến chúng, do đó hệ thống cần có các thông tin về quyền truy  
cập để điều khiển truy cập.  
Có nhiều cơ chế khác nhau để quản lý quyền  
truy cập, một trong các sơ đồ đơn giản nhất  
là sử dụng ma trận điều khiển quyền truy cập  
(hình 5.2.4). Trong đó một chiều là các ID  
người dùng (hàng Ri), một chiều là ID file  
(cột Ci). Vị trí ô RiCj chứa giá trị quyền truy  
cập của người dùng Ui đối với file Fj. Nếu  
file  
f1  
f2  
...  
user  
u1  
R=0  
R=1  
R=1  
R=1  
u2  
...  
Hình 5.2.4  
kích thước ô là 1 bit, ta có thể xác định 2 quyền, ví dụ giá trị 0 là không được đọc, 1 là  
có quyền đọc,... Tất nhiên để quản lý nhiều quyền hơn thì ta cần lưu được tổ hợp  
nhiều quyền hơn.  
Mô tả file – File Descriptor  
File Descriptor là bản ghi lưu đầy đủ các thông tin về file mà hệ điều hành cần quan  
tâm, quản lý. Các thông tin lưu trong File Descriptor sẽ phụ thuộc vào từng hệ thống,  
nhưng nói chung chúng đều có các thông tin sau:  
124  
IT101_Bai 5_v1.0010110225  
Bài 5: Bộ nhớ ngoài  
Tên file.  
Kích thước file.  
Kiểu file.  
Ngày tháng tạo, cập nhật, ...  
Thông tin thuộc tính.  
File Descriptor nằm trên bộ nhớ ngoài và chúng được nạp vào bộ nhớ khi mở (Open)  
file. Nói chung thì File Descriptor được xử lý bởi File System, người dùng không có  
quyền truy cập trực tiếp.  
IT101_Bai 5_v1.0010110225  
125  
Bài 5: Bộ nhớ ngoài  
TÓM LƯỢC CUỐI BÀI  
Các bạn đã được học về Bộ nhớ ngoài.  
Chúng ta cần ghi nhớ các vấn đề sau:  
Hiểu được về đĩa từ:  
o Cấu tạo của đĩa từ.  
o Tối ưu theo thời gian định vị Track.  
o Tối ưu theo thời gian trễ.  
Hiểu được về hệ thống file:  
o Phân bố liên tục và không liên tục.  
o Các sơ đồ tổ chức hệ thống file.  
o Điều khiển truy cập.  
Làm được các bài tập về hệ thống file.  
126  
IT101_Bai 5_v1.0010110225  
Bài 5: Bộ nhớ ngoài  
CÂU HỎI TỰ LUẬN  
Câu 1. Giả sử một hệ thống có 3 loại thiết bị là Máy in, Ổ Đĩa cứng và Ổ CD–ROM. Có 1 yêu  
cầu in tập tin DanhSach.doc, 1 yêu cầu đọc F1.txt từ đĩa cứng, 1 yêu cầu ghi ra F2.txt trên đĩa  
cứng. Hãy thể hiện bằng hình vẽ Bảng trạng thái thiết bị với 3 yêu cầu Cập/Xuất kể trên.  
Câu 2. Trong hai loại bộ nhớ là Bộ nhớ chính và Đĩa từ, loại nào là bộ nhớ sơ cấp, loại nào là bộ  
nhớ thứ cấp? Phân loại như vậy để làm gì?  
Câu 3. Trình bày thuật giải điều phối FCFS.  
Câu 4. Giả sử một Partition trên đĩa cứng được cài hệ tập tin FAT. Hãy thể hiện cấu trúc của  
Partition đó bằng hình vẽ.  
Câu 5. Trong một hệ tập tin FAT16, tập tin Vanban.doc có nội dung trải trên các liên cung  
(Cluster) 5, 3, 2. Hãy minh hoạ cấu trúc Đầu mục (Directory Entry) của tập tin này cùng nội  
dung bảng FAT.  
BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM  
1. Máy tính PC sử dụng hệ thống cơ số nào để lưu trữ dữ liệu trên đĩa cứng?  
a) Hệ thập lục phân.  
c) Hệ bát phân.  
b) Hệ thập phân.  
d) Hệ nhị phân.  
2. Hệ điều hành thường được lưu trữ trong:  
a) ROM.  
b) RAM.  
c) Bộ nhớ ngoài.  
d) Bộ xử lí trung tâm (CPU).  
3. Khi khởi động máy tính, hệ điều hành được nạp vào:  
a) Bộ nhớ RAM.  
c) Bộ nhớ ngoài.  
b) Bộ nhớ ROM.  
d) Bộ xử lý trung tâm.  
4. Hệ điều hành đảm nhiệm việc nào trong những việc dưới đây?  
a) Soạn thảo văn bản.  
b) Giao tiếp với ổ đĩa cứng, quản lí bộ nhớ trong.  
c) Chơi trò chơi điện tử.  
d) Giải các bài toán trên máy tính.  
5. Tệp tin thường được lưu trữ tại:  
a) RAM.  
b) ROM.  
c) Bộ xử lí trung tâm.  
d) Bộ nhớ ngoài.  
IT101_Bai 5_v1.0010110225  
127  
Bài 5: Bộ nhớ ngoài  
6. Trong các câu sau câu nào không phải nhiệm vụ của hệ quản lý tệp?  
a) Tổ chức thông tin trên bộ nhớ ngoài.  
b) Cung cấp các dịch vụ để đọc/ ghi thông tin trên bộ nhớ ngoài dễ dàng.  
c) Đảm bảo cho các chương trình đang hoạt động trong hệ thống có thể đồng thời truy cập tới  
các tệp.  
d) Quản lí các thiết bị vật lý kết nối đến máy tính.  
7. Các tài nguyên điển hình thuộc phần cứng bao gồm:  
a) Thiết bị xử lý trung tâm (CPU).  
b) Bộ nhớ trong, hệ thống vào/ra (kênh, thiết bị điều khiển thiết bị vào/ra và thiết bị vào/ra).  
c) Bộ nhớ ngoài.  
d) Cả 3 đáp án trên đều đúng.  
128  
IT101_Bai 5_v1.0010110225  
pdf 18 trang yennguyen 22880 Free
Bạn đang xem tài liệu "Bài giảng Cấu trúc máy tính - Bài 5: Bộ nhớ ngoài", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbai_giang_cau_truc_may_tinh_bai_5_bo_nho_ngoai.pdf