Tìm kiếm ảnh theo nội dung dựa trên mạng nơron tích chập và phương pháp sinh mã nhị phân

Vietnam J. Agri. Sci. 2021, Vol. 19, No. 4: 497-506  
Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2021, 19(4): 497-506  
TÌM KIẾM ẢNH THEO NỘI DUNG DỰA TRÊN MẠNG NƠRON TÍCH CHẬP  
VÀ PHƯƠNG PHÁP SINH MÃ NHỊ PHÂN  
Nguyễn Thị Huyền*, Trần Thị Thu Huyền, Vũ Thị Lưu  
Khoa Công nghệ thông tin, Học viện Nông nghiệp Việt Nam  
*Tác giả liên hệ: [email protected].vn  
Ngày nhận bài: 20.07.2020  
Ngày chấp nhận đăng: 02.09.2020  
TÓM TẮT  
Tìm kiếm ảnh theo nội dung là hướng nghiên cứu đang được quan tâm trong những năm gần đây vì phương  
pháp tìm kiếm này có thể khắc phục nhược điểm của phương pháp tìm kiếm dựa trên văn bản mô tả là không bị ảnh  
hưởng bởi sự thiếu hoặc sai của văn bản kèm theo ảnh. Bên cạnh đó, các phương pháp học sâu như mạng nơron  
tích chập đã chứng minh được khả năng xử lý dữ liệu lớn đặc biệt trong lĩnh vực thị giác máy tính và xử lý ảnh. Mục  
tiêu của nghiên cứu này là giải bài toán tìm kiếm ảnh theo nội dung và phương pháp để giảm thời gian truy vấn ảnh  
sử dụng mạng nơtron tích chập. Đồng thời, chúng tôi kết hợp phương pháp này với phương pháp sinh mã nhị phân  
để cải thiện thời gian truy vấn ảnh. Kết quả thực nghiệm trên hai bộ dữ liệu cifar-10 và mnist cho thấy việc sử dụng  
mạng nơron tích chập kết hợp phương pháp sinh mã nhị phân trong tìm kiếm ảnh đạt độ chính xác xấp xỉ 89% và  
98% và cải thiện đáng kể thời gian truy vấn ảnh.  
Từ khóa: Tìm kiếm ảnh theo nội dung, mạng nơron tích chập, sinh mã nhị phân.  
Content-based Image Retrieval with Convolutional Neural Networks  
and Binary Hashing Method  
ABSTRACT  
Content-based image retrieval has received great attention in recent years because this method overcomes the  
disadvantages of the text-based image retrieval that is not affected by the lack of or wrong of the text attached to the  
image. In addition, deep learning methods such as convolutional neural networks have demonstrated their ability to  
process large-sized data, especially computer vision and image processing. The aims of this study was develop a  
content-based image retrieval program and method to reduce image query time using the convolutional neural  
network (CNN). Also, we combined CNN with a binary hashing method to improve image retrieval time. The  
experimental results on CIFAR-10 and MNIST data sets showed that combining CNN with the binary hashing method  
for content-based image retrieval achieved an accuracy of approximately 89% on CIFAR-10, 98% on MNIST and  
significantly improved retrieval time.  
Keywords: Content-based image retrieval, CBIR, convolutional neural networks, CNN, binary hashing.  
của Tập đoàn dữ liệu thế giới IDC năm 2016,  
thế giới đã tạo ra 1.138 nghìn tỷ hình ảnh, gấp  
hơn 700 lần so với năm 2015 (Photoindustrie-  
Verband e.V, 2016). Theo báo cáo về chia sẻ ảnh  
trên toàn cầu, Brandwatch đã tính toán rằng  
mỗi ngày có 350 triệu hình ảnh được chia sẻ qua  
Facebook, 95 triệu hình ảnh được chia sẻ qua  
Instagram, 400 triệu trên Snapchat và 1,6 tỷ  
hình ảnh trên WhatsApp (Văn Thế Thành & Lê  
Mạnh Thạnh, 2016).  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Ngày nay, với sự phát triển vượt trội của  
công nghệ kỹ thuật số và sự phổ biến rộng rãi  
các thiết bị quay phim, chụp ảnh dẫn đến kho  
dữ liệu hình ảnh về nhiều lĩnh vực khác nhau  
như: y khoa, hệ thống thông tin địa lý, thư viện  
số, giáo dục đào tạo, giải trí, mạng xã hội„ cũng  
tăng theo một cách nhanh chóng. Theo báo cáo  
497  
Tìm kiếm ảnh theo nội dung dựa trên mạng nơron tích chập và phương pháp sinh mã nhị phân  
Vì vậy, nhu cầu tìm kiếm ảnh hay truy xuất  
dữ liệu ảnh là một nhu cầu tất yếu, và là một  
trong những lĩnh vực nghiên cứu thu hút sự  
quan tâm nhất hiện nay. Tìm kiếm ảnh hiểu  
một cách cơ bản là tìm những ảnh trong cơ sở dữ  
liệu ảnh có liên quan đến một ảnh truy vấn  
(query) cụ thể. Hình 1 mô tả sơ lược quá trình  
tìm kiếm ảnh. Bài toán tìm kiếm ảnh được chia  
thành hai lớp chính (Văn Thế Thành, 2017):  
Thứ nhất là tìm kiếm ảnh dựa trên văn bản  
TBIR (Text-Based Image Retrieval). Phương  
pháp này mất nhiều thời gian để mô tả chỉ mục  
của hình ảnh dưới dạng văn bản, có nhiều hạn  
chế vì tính chủ quan của con người và kết quả  
tìm kiếm sẽ không chính xác khi các mô tả này  
bị sai sót hoặc không tồn tại. Ví dụ, Google  
Images Search là một trong các công cụ tìm  
kiếm ảnh được sử dụng phổ biến nhất hiện nay.  
Công cụ này cho phép người sử dụng nhập các  
từ khóa liên quan đến ảnh cần tìm và thực hiện  
việc tìm kiếm thông qua việc phân tích các  
meta-data và văn bản đi kèm với ảnh. Phương  
pháp này cho kết quả tương đối tốt, đáp ứng  
nhu cầu cơ bản của người sử dụng. Tuy nhiên,  
các kết quả trả về sẽ không đúng với yêu cầu  
đặt ra khi các meta-data đi kèm với ảnh bị  
thiếu hoặc sai sót và khi những từ khóa truy  
vấn mang ý nghĩa nhập nhằng (Lê Minh Phúc &  
Trần Công Án, 2017). Thứ hai là tìm kiếm ảnh  
dựa trên nội dung CBIR (Content-Based Image  
Retrieval), tức là tìm tập hình ảnh có nội dung  
tương tự với hình ảnh cho trước. Phương pháp  
CBIR thực hiện tìm kiếm dựa trên đặc trưng thị  
giác của hình ảnh, do đó vượt qua được hạn chế  
của phương pháp tìm kiếm TBIR. Với phương  
pháp CBIR, cả hai vấn đề trích xuất tự động các  
đặc trưng thị giác và phương pháp đánh giá độ  
tương tự giữa hai ảnh đều đóng vai trò quan  
trọng, quyết định hiệu quả tìm kiếm. Về vấn đề  
thứ nhất, phương pháp tìm kiếm ảnh theo nội  
dung “truyền thống” thường dựa vào các đặc  
trưng trực quan như màu sắc, kết cấu, hình  
dạng, đặc trưng cục bộ được rút trích từ ảnh; do  
đó rất nhiều hệ thống truy vấn ảnh dựa trên nội  
dung đã ra đời như: QBIC, VisualSeek,  
WebSeek và BlobWorld... (Văn Thế Thành,  
2017). Phương pháp này có hạn chế là khó xác  
định và chọn ra được những đặc trưng đại diện  
cho ảnh để việc tìm kiếm đạt kết quả tốt.  
Những năm gần đây, các phương pháp học  
sâu (Deep Learning) trong đó có mạng nơron  
tích chập (CNN) đã đạt được thành công to lớn  
trong xử lý dữ liệu kích thước lớn. Nó đã được  
chứng minh là rất hiệu quả trong lĩnh vực thị  
giác máy tính và xử lý ảnh như: phát hiện người  
đi bộ (Luo và cộng sự, 2014), phát hiện khuôn  
mặt (Li & cs., 2015), phân loại hình ảnh  
(Ciressan & cs., 2012), tự động tô màu hình ảnh  
(Cheng, 2015)„ và gần đây các phương pháp  
dựa trên Deep Learning như CNN đã được áp  
dụng vào bài toán tìm kiếm ảnh. Lecun & cs.  
(1998) đã đề xuất mạng nơron tích chập LeNet-  
5 sử dụng để nhận biết các chữ cái viết tay, và  
đã cho thấy đó là một thuật toán rất thành  
công. Sau đó, Krizhevsky & cs. (2012) đã cải  
thiện thuật toán mạng nơron tích chập, sử dụng  
đầu ra của lớp thứ 7 làm đặc trưng để truy vấn  
hình ảnh và đã đạt được kết quả tốt trên tập dữ  
liệu ImageNet. Babenko & cs. (2014) đã nghiên  
cứu phương pháp cải thiện hiệu suất truy vấn  
ảnh bằng cách sử dụng PCA để nén các đặc  
trưng được trích chọn nhờ CNN. Mặc dù các  
công trình của Krizhevsky & cs. (2012) và  
Babenko & cs. (2014) cho thấy khi sử dụng CNN  
vào việc truy vấn ảnh cho độ chính xác cao  
nhưng việc đối sánh các ảnh được thực hiện  
trong không gian Euclide dẫn đến chưa hiệu  
quả về thời gian tính toán, trong khi yêu cầu  
đặt ra với một hệ thống tìm kiếm ảnh là phải  
đưa ra kết quả nhanh chóng.  
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, trong  
bài báo này, chúng tôi sẽ giới thiệu về mạng  
nơron tích chập (CNN) và phương pháp dựa  
trên mạng nơron tích chập để trích chọn đặc  
trưng ảnh (gọi là đặc trưng CNN) sau đó tiếp  
tục thực hiện việc sinh mã nhị phân (binary  
hashing) để biến các đặc trưng này thành 1  
véctơ nhị phân có độ dài nhỏ, véctơ này được  
gọi là mã nhị phân (hash code). Sau khi có  
được mã nhị phân cho từng bức ảnh, việc tính  
toán sự tương đồng giữa các bức ảnh sẽ trở nên  
đơn giản hơn vì số chiều thấp hơn và chỉ phải  
làm việc với các toán tử nhị phân đơn giản, từ  
đó cải thiện được tốc độ tìm kiếm.  
498  
Nguyễn Thị Huyền, Trần Thị Thu Huyền, Vũ Thị Lưu  
Lấy các ảnh được tra  
cứu tương ứng từ  
CSDL ảnh  
CSDL ảnh  
Sắp xếp độ tương tự  
theo chiều giảm dần  
Trích chọn  
đặc trung  
Ảnh truy vấn  
Xác định độ tương tự  
giữa ảnh truy vấn và  
các ảnh trong CSDL  
dựa trên đặc trưng ảnh  
Trích chọn  
đặc trung  
CSDL  
đặc trưng ảnh  
Ghi chú: CSDL: Cơ sở dữ liệu.  
Hình 1. Quá trình tìm kiếm ảnh  
Hình 2. Hình ảnh minh họa bộ dữ liệu CIFAR-10  
còn lại được dùng cho kiểm tra (test). Đây là một  
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
bộ cơ sở dữ liệu tương đối khó vì ảnh nhỏ và đối  
tượng trong cùng một lớp cũng biến đổi rất nhiều  
về màu sắc, hình dáng, kích thước.  
2.1. Vật liệu  
2.1.1. Dữ liệu ảnh  
Bộ dữ liệu MNIST do Lecun & cs. (1998) xây  
dựng là cơ sở dữ liệu bao gồm các ảnh đa mức  
xám của 10 chữ số viết tay từ 0 đến 9 đã được  
chuẩn hóa về kích thước 28 × 28 pixel. Bộ ảnh  
gồm 60.000 ảnh dùng để huấn luyện (train), và  
10.000 ảnh còn lại được dùng cho kiểm tra (test).  
Bộ dữ liệu CIFAR-10 do Krizhevsky & cs.  
(2009) thu thập gồm 10 lớp đối tượng: plane, car,  
bird, cat, deer, dog, frog, horse, ship và truck,  
mỗi lớp gồm 6.000 ảnh màu có kích thước 32 × 32  
pixel. Tổng số có 60.000 ảnh trong đó 50.000 ảnh  
được sử dụng cho huấn luyện (train), 10.000 ảnh  
499  
Tìm kiếm ảnh theo nội dung dựa trên mạng nơron tích chập và phương pháp sinh mã nhị phân  
Hình 3. Hình ảnh minh họa bộ dữ liệu MNIST  
đủ (Fully connected). Sự sắp xếp về số lượng và  
thứ tự giữa các lớp này sẽ tạo ra những mô hình  
khác nhau phù hợp cho các bài toán khác nhau.  
2.1.2. Công cụ  
Chúng tôi sử dụng máy tính cài hệ điều  
hành Windows 64-bit, Intel, Core™ i5-5200U,  
[email protected], ngôn ngữ lập trình  
a. Lớp Convolution  
Matlab2016a, thư viện Caffe CNN (Jia, 2014).  
Lớp Convolution (Conv) là lớp quan trọng  
nhất trong cấu trúc của CNN. Hình 4 mô tả lý  
thuyết và cách thức Conv hoạt động trên một dữ  
liệu đầu vào được biểu diễn bằng một ma trận  
hai chiều. Phép tính này được thực hiện bằng  
cách dịch chuyển một cửa sổ mà ta gọi là bộ lọc  
(hay kernel) trên ma trận đầu vào, trong đó kết  
quả mỗi lần dịch chuyển được tính bằng tổng  
tích chập (tích của các giá trị giữa 2 ma trận tại  
vị trí tương ứng), trong hình 4 là giá trị đầu ra  
khi dịch chuyển bộ lọc có kích thước [3 × 3] trên  
toàn bộ ma trận đầu vào có kích thước [7 × 7].  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
2.2.1. Mạng nơron tích chập  
Với mạng nơron truyền thẳng (ANN) thông  
thường: nhận đầu vào là một véctơ và chuyển  
đổi nó thông qua một loạt các lớp ẩn. Mỗi lớp ẩn  
bao gồm một tập các nơ-ron, trong đó mỗi nơron  
được kết nối đầy đủ với tất cả các nơron trong  
lớp trước và các nơron trong một lớp không có  
bất kỳ kết nối nào với nhau. Lớp được kết nối  
đầy đủ cuối cùng được gọi là lớp đầu ra. Như  
vậy, với tập dữ liệu gồm các hình ảnh có kích  
thước [200 × 200 × 3], mỗi nơron trong lớp ẩn  
đầu tiên của mạng sẽ có 200 × 200 × 3 = 120.000  
trọng số kết nối. Điều này gây khó khăn cho việc  
huấn luyện ANN trên cả hai yếu tố: chi phí để  
xây dựng dữ liệu huấn luyện lớn và thời gian  
huấn luyện lâu.  
Trong trường hợp tổng quát, hình ảnh có  
kích thước [W1 × H1 × D1], sử dụng K bộ lọc có  
kích thước [F × F], trong quá trình xử lý sẽ dịch  
chuyển các bộ lọc trên toàn bộ ảnh với bước dịch  
chuyển (stride) S (S được tính bằng pixel).  
Trong một số trường hợp để cân bằng giữa số  
bước dịch chuyển và kích thước của ảnh người ta  
có thể chèn thêm P pixel với một giá trị cho  
trước (thường là 0) xung quanh viền của ảnh khi  
đó ta được ma trận đầu ra (feature map) là  
[W2 × H2 × D2] trong đó:  
Từ thực tế đó, mạng CNN ra đời với ý tưởng  
chính là mỗi nơron chỉ cần kết nối tới một vùng  
cục bộ của ảnh thay vì trên toàn bộ ảnh. Về cơ  
bản CNN là một kiểu mạng ANN truyền thẳng,  
trong đó kiến trúc chính gồm nhiều thành phần  
được ghép nối với nhau theo cấu trúc nhiều lớp  
đó là: Convolution, ReLU, Pooling và liên kết đầy  
W2 = (W1 – F + 2P)/S + 1  
H2 = (H1 – F + 2P)/S + 1  
D2 = K  
500  
Nguyễn Thị Huyền, Trần Thị Thu Huyền, Vũ Thị Lưu  
Hình 4. Minh hoa phép nhân chập  
Hình 5. Lớp nhân chập thực hiện nhân chập ảnh đầu vào có kích thước [227×227×3] với 96  
bộ lọc có kích thước [11×11×3], bước dịch chuyển S = 4 pixel và P = 0. Tương ứng với mỗi bộ  
lọc sẽ cho một feature map có kích thước là W2 = H2 = (227 – 11)/4 +1 = 55 ở kết quả đầu ra  
Lược đồ chia sẻ tham số được sử dụng trong  
các lớp tích chập để kiểm soát số lượng tham số.  
Ví dụ trong lớp tích chập ở hình 3, có 55 × 55 ×  
96 = 290.400 nơron, mỗi nơron có 11 × 11 × 3 =  
363 trọng số kết nối và 1 bias. Như vậy có  
290.400 × 364 = 105.705.600 tham số. Rõ ràng,  
con số này rất lớn. Chúng ta có thể giảm đáng  
kể số lượng tham số bằng cách sử dụng cùng bộ  
trọng số và bias cho các nơron trong cùng  
feature map. Với lược đồ chia sẻ tham số này,  
lớp Conv trong ví dụ của chúng ta bây giờ chỉ có  
96 bộ trọng số, với tổng số 96 × 11 × 11 × 3 =  
34,848 hoặc 34.944 tham số (96 bias).  
b. Lớp ReLU  
Lớp ReLU thường được cài đặt ngay sau lớp  
Conv. Lớp này sử dụng hàm kích hoạt f(x) =  
max(0,x). Nói một cách đơn giản, lớp này có  
nhiệm vụ chuyển toàn bộ giá trị âm trong kết  
quả lấy từ lớp Conv thành giá trị 0. Ý nghĩa của  
501  
Tìm kiếm ảnh theo nội dung dựa trên mạng nơron tích chập và phương pháp sinh mã nhị phân  
cách cài đặt này chính là tạo nên tính phi tuyến  
cho mô hình. Có rất nhiều cách để khiến mô  
hình trở nên phi tuyến như sử dụng các  
hàm kích hoạt sigmoid, tanh,„ nhưng hàm  
f(x) = max(0,x) dễ cài đặt, tính toán nhanh mà  
vẫn hiệu quả (Krizhevsky & cs., 2012).  
d. Lớp liên kết đầy đủ  
Liên kết đầy đủ là cách kết nối các nơron ở  
hai lớp với nhau trong đó lớp phía sau kết nối  
đầy đủ với các nơron ở lớp phía trước nó. Đây  
cũng là dạng kết nối thường thấy ở ANN, trong  
CNN lớp này thường được sử dụng ở các lớp  
phía cuối của kiến trúc mạng.  
c. Lớp Pooling  
Lớp này sử dụng một cửa sổ trượt quét qua  
toàn bộ ảnh, mỗi lần trượt theo một bước dịch  
chuyển cho trước. Khác với lớp Conv, lớp Pooling  
không tính tích chập mà thực hiện lấy mẫu. Khi  
cửa sổ trượt trên ảnh, chỉ có một giá trị được  
xem là giá trị đại diện cho thông tin ảnh tại  
vùng đó (giá trị mẫu) được giữ lại. Các phương  
thức lấy mẫu phổ biến trong lớp Pooling là  
MaxPooling (lấy giá trị lớn nhất), MinPooling  
(lấy giá trị nhỏ nhất) và AveragePooling (lấy giá  
trị trung bình).  
2.2.2. Ứng dụng mạng nơron tích chập vào  
bài toán tìm kiếm ảnh  
Như đã đề cập ở trên, phương pháp tìm  
kiếm ảnh theo nội dung “truyền thống” thường  
dựa vào các đặc trưng trực quan như màu sắc,  
kết cấu, hình dạng, đặc trưng cục bộ được rút  
trích từ ảnh và thường không hiệu quả trong  
một số trường hợp. Ví dụ, lược đồ màu có thể  
được dùng để miêu tả đặc trưng màu của một  
ảnh. Tuy nhiên, hạn chế chính của lược đồ màu  
là chưa tận dụng được thông tin không gian của  
các vùng ảnh. Điều này có thể dẫn đến các sai số  
không mong muốn như minh họa trong hình 7,  
hai ảnh có cấu trúc khác nhau nhưng có lược đồ  
màu giống nhau, hoặc trong trường hợp ảnh bị  
lệch như minh họa trong hình 8.  
Với ma trận đầu vào có kích thước [W1 × H1  
× D1], thực hiện toán tử pooling trên cửa sổ có  
kích thước [F×F] với bước dịch chuyển S pixel ta  
được ma trận đầu ra [W2 × H2 × D2] trong đó:  
W2 = (W1– F)/S + 1  
H2 = (H1 – F)/S + 1  
D2 = D1  
Trong khi đó sử dụng đặc trưng được trích  
chọn bởi CNN có thể khắc phục được những hạn  
chế nêu trên do sử dụng các bộ lọc với kích thước  
khác nhau trượt trên ảnh, do đó tạo ra được  
nhiều dữ liệu hơn.  
Hình 6 là ví dụ minh họa về sử dụng toán  
tử pooling. Trong đó, hình 6(a) phía bên trái là  
cách thức lớp pooling xử lý đối với một đầu vào  
có kích [224 × 224 × 64], cửa sổ có kích thước [2  
× 2], bước dịch chuyển S = 2 khi đó đầu ra thu  
được có kích thước [112 × 112 × 64]. Hình 6(b)  
phía bên phải mô tả chi tiết cách thức hoạt động  
của max-pooling với F = 2, S = 2.  
a. Kiến trúc mạng CNN  
Chúng tôi sử dụng mô hình CNN do  
Krizhevsky & cs. (2012) đề xuất, mô hình này  
được cung cấp sẵn trong thư viện Caffe CNN  
(Jia, 2014).  
Hình 6. Ví dụ về sử dụng toán tử pooling  
502  
Nguyễn Thị Huyền, Trần Thị Thu Huyền, Vũ Thị Lưu  
Nguồn: Văn Thế Thành, 2017.  
Hình 7. Hai ảnh khác nhau nhưng có cùng lược đồ màu  
Hình 8. Số 8 ở các vị trí khác nhau trong ảnh  
Hình 9. Mô hình mạng CNN do Krizhevsky và các cộng sự (2012) đề xuất  
Trong kiến trúc trên, lớp nhân chập thứ  
nhất thực hiện lọc ảnh đầu vào có kích thước  
[227 × 227 × 3] bởi 96 bộ lọc có kích thước [11 ×  
11 × 3] với bước dịch chuyển S = 4 pixel, P = 0  
kết quả thu được đầu ra có kích thước [55 × 55 ×  
96]. Lớp nhân chập thứ hai thực hiện lọc đầu  
vào có kích thước [55 × 55 × 96] bởi 256 bộ lọc có  
kích thước [5 × 5 × 96] với bước dịch chuyển  
S = 1 pixel, P = 2 và thu được đầu ra có kích  
thước [27 × 27 × 256]. Tương tự với các lớp nhân  
chập khác. Các lớp pooling sử dụng toán tử  
maxpooling với cửa sổ có kích thước [3 × 3] và  
bước dịch chuyển S = 2.  
là khoảng cách Euclidean giữa hai véctơ đặc  
trưng tương ứng của chúng.  
Si Vq ViP  
(1)  
Khoảng cách Euclidean càng nhỏ thì mức  
độ giống nhau của hai ảnh càng cao. Dựa vào  
khoảng cách này có thể xác định được top k hình  
ảnh giống với ảnh truy vấn nhất.  
b. Nâng cao hiệu quả tìm kiếm ảnh  
Việc sử dụng đầu ra của lớp FC7 làm véctơ  
đặc trưng cho thấy kết quả tìm kiếm ảnh tốt.  
Tuy nhiên, nó không hiệu quả trong hệ thống  
tìm kiếm ảnh với cơ sở dữ liệu lớn do việc tính  
khoảng cách Euclidean trên các véctơ chiều cao  
mất nhiều thời gian. Để cải thiện thời gian truy  
xuất hình ảnh, một cách đơn giản là chuyển đổi  
các vectơ đặc trưng của ảnh thành dạng nhị  
phân. Khi đó việc so sánh độ giống nhau của hai  
hình ảnh có thể được thực hiện nhanh chóng  
bằng cách sử dụng khoảng cách Hamming.  
Sau khi mạng được huấn luyện, đầu ra của  
lớp FC7 được sử dụng như véctơ đặc trưng của  
ảnh và được sử dụng cho bài toán tìm kiếm ảnh.  
Với ảnh truy vấn Iq và tập cơ sở dữ liệu ảnh P,  
gọi Vq và  
V
P tương ứng là các véctơ đặc trưng  
i
của ảnh truy vấn Iq và của ảnh Ii trong tập P.  
Chúng tôi xác định mức độ tương tự giữa Iq và Ii  
503  
Tìm kiếm ảnh theo nội dung dựa trên mạng nơron tích chập và phương pháp sinh mã nhị phân  
Hình 10. Mô hình mạng CNN sau khi chèn lớp ẩn H  
và từng ảnh trong tập train, sau đó lấy ra 1.000  
Để thực hiện ý tưởng này, chúng tôi chèn  
thêm một lớp ẩn H sau lớp FC7 và lớp ra FC8 là  
phân loại softmax ứng với 10 lớp dữ liệu để phù  
hợp với các bộ dữ liệu mà chúng tôi sử dụng để  
thực nghiệm. Các nơron trong lớp H được kết  
nối đầy đủ với các nơron ở lớp trước và lớp sau  
và được kích hoạt bởi hàm truyền sigmoid. Các  
trọng số liên kết từ lớp thứ nhất đến lớp FC7  
được lấy từ mạng CNN đã được huấn luyện  
trước đó, trọng số kết nối từ lớp FC7 tới lớp H và  
từ lớp H đến lớp FC8 ban đầu được khởi tạo  
ngẫu nhiên và được cập nhật trong quá trình  
huấn luyện mạng.  
ảnh có độ đo tương tự cao nhất để đánh giá độ  
chính xác của việc tìm kiếm bằng một độ đo  
Precision như sau:  
1.000 Rel i  
   
i1  
Precision  
(3)  
1.000  
Trong đó Rel(i) biểu thị sự liên quan giữa  
ảnh truy vấn q và ảnh được xếp thứ hạng i  
trong số 1.000 ảnh được lấy ra. Ở đây, chúng tôi  
sử dụng nhãn lớp của ảnh để đo mức độ liên  
quan. Rel(i) = 1 nếu ảnh truy vấn q và ảnh thứ i  
thuộc cùng một lớp và bằng 0 nếu ngược lại.  
Do các nơron trong lớp H sử dụng hàm  
truyền sigmoid nên đầu ra của lớp H ký hiệu là  
O(H) là các giá trị trong khoảng {0,1}, để đưa về  
dạng mã nhị phân chúng tôi thực hiện phân  
ngưỡng cho mỗi bit j = 1,„, h (với h là số nơron  
trong lớp H) như sau:  
Thời gian truy vấn là thời gian trung bình  
để tính độ đo tương tự giữa ảnh truy vấn và  
từng ảnh trong tập train.  
2.3.2. Kết quả thực nghiệm  
Chúng tôi thực nghiệm các trường hợp: (1)  
Sử dụng đầu ra của lớp FC7 làm đặc trưng ảnh,  
khi đó, mỗi ảnh sẽ được biểu diễn bằng véctơ có  
độ dài 4096 và sử dụng khoảng cách Euclidean  
để đo độ tương tự giữa hai ảnh; (2) sử dụng  
phương pháp sinh mã nhị phân với số nơron  
trong lớp ẩn H lần lượt là 16, 32, 48, 64 và 128  
chính là độ dài của vec-tơ đặc trưng (hash code),  
trong trường hợp này, chúng tôi sử dụng khoảng  
cách Hamming để đo độ tương tự giữa hai ảnh.  
Kết quả thực nghiệm được cho trong bảng 1.  
nếu Oj(H) 0,5  
nếu ngược lại  
1
0
Hj   
(2)  
Gọi P = {I1, I2,... , In} là tập cơ sở dữ liệu  
ảnh bao gồm n ảnh, mã nhị phân tương ứng  
của tập ảnh được ký hiệu là  
PH = {H1, H2,„,  
Hn} với Hi  
{0, 1}h. Cho một hình ảnh truy  
vấn Iq với mã nhị phân tương ứng là Hq.  
Chúng tôi xác định mức độ tương tự giữa Iq và Ij  
là khoảng cách Haming giữa Hq và Hj.  
Kết quả thực nghiệm cho thấy việc sử dụng  
mạng CNN vào bài toán tìm kiếm ảnh theo nội  
dung cho kết quả tìm kiếm với độ chính xác cao,  
tuy nhiên thời gian truy vấn khá lâu. Việc áp  
dụng mạng CNN kết hợp với phương pháp sinh  
mã nhị phân không những làm tăng hiệu suất  
tìm kiếm mà còn cải thiện rất nhiều về thời gian  
truy vấn ảnh.  
2.3. Kết quả thực nghiệm  
2.3.1. Phương pháp đánh giá  
Với mỗi bộ dữ liệu, chúng tôi sử dụng  
10.000 ảnh trong tập test làm ảnh truy vấn. Với  
một ảnh truy vấn q và một phép đo độ tương tự,  
chúng tôi tính độ đo tương tự giữa ảnh truy vấn  
504  
Nguyễn Thị Huyền, Trần Thị Thu Huyền, Vũ Thị Lưu  
Bảng 1. Kết quả thực nghiệm  
Bộ dữ liệu  
CIFAR-10  
Độ dài véctơ đặc trưng  
4096  
Độ đo  
Độ chính xác (%)  
87,48  
Thời gian truy vấn (giây)  
Euclidean  
Hamming  
Hamming  
Hamming  
Hamming  
Hamming  
Euclidean  
Hamming  
Hamming  
17,43  
0,02  
0,04  
0,06  
0,07  
0,13  
15,32  
0,05  
0,11  
16 (bit)  
89,77  
32 (bit)  
89,72  
48 (bit)  
89,74  
64 (bit)  
89,79  
128 (bit)  
4096  
89,79  
MNIST  
98,12  
48 (bit)  
98,31  
128 (bit)  
98,43  
Ảnh truy  
vấn  
Hình 11. Top 10 ảnh kết quả tìm kiếm ảnh trên bộ dữ liệu CIFAR-10  
Hình 12. Top 10 ảnh kết quả tìm kiếm ảnh trên bộ dữ liệu MNIST  
505  
Tìm kiếm ảnh theo nội dung dựa trên mạng nơron tích chập và phương pháp sinh mã nhị phân  
Krizhevsky A., Nair V., & Hinton G. (2009). CIFAR-  
10 and CIFAR-100 dataset. Retrieved from  
3. KẾT LUẬN  
Khi sử dụng mạng CNN trên tập hai tập dữ  
May 12, 2018.  
on  
liệu CIFAR-10 và MNIST cho kết quả tìm kiếm  
với độ chính xác cao (~ 87% trên bộ dữ liệu  
CIFAR-10 và (~ 98% trên bộ dữ liệu MNIST)  
nhưng thời gian truy vấn lâu (trên 10 giây).  
Thực hiện sinh mã nhị phân bằng cách chèn  
thêm một lớp ẩn vào mạng CNN cho thấy thời  
gian truy vấn đã giảm đáng kể còn chưa đến 1  
giây. Nghiên cứu này đã cho thấy việc áp dụng  
mạng CNN và phương pháp sinh mã nhị phân  
đáng được quan tâm để góp phần nâng cao hiệu  
quả cho các hệ thống tìm kiếm ảnh.  
Krizhevsky A., Sutskever I. & E. Hinton G. (2012).  
ImageNet Classification with Deep Convolutional  
Neural Networks. In Proc. NIPS.  
Lecun Y., Cortes C., Burges C. (1998). MNIST  
handwritten digit database. Retrieved from  
12, 2018.  
on  
May  
Lecun Y., Bottou L., Bengio Y. & Haffner P. (1998).  
Gradient-based learning applied to document  
recognition. Proceedings of the IEEE.  
Li H., Lin Z., Shen X., Brandt J. & Hua G. (2015). A  
Convolutional Neural Network Cascade for Face  
Detection. Proceedings of the IEEE Conference on  
Computer Vision and Pattern Recognition.  
pp. 5325-5334.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Babenko A., Slesarev A., Chigorin A. & Lempitsky V.  
(2014). Neural codes for image retrieval. Lecture  
Notes in Computer Science (Including Subseries  
Lecture Notes in Artificial Intelligence and Lecture  
Notes in Bioinformatics), 8689 LNCS(PART 1).  
pp. 584-599.  
Luo P., Tian, Y., Wang X. & Tang X. (2014).  
Switchable Deep Network for Pedestrian Detection  
Ping. Computer Vision Fundation.  
Lê Minh Phúc & Trần Công Án (2017). Tìm kiếm ảnh  
theo nội dung và ngữ nghĩa. Tạp chí Khoa  
học, Trường Đại học Cần Thơ. Số chuyên đề:  
Công nghệ thông tin. tr. 58-64.  
Cheng Z., Yang Q. & Sheng B. (2015). Deep  
Colorization.  
Proceedings  
of  
the  
IEEE  
International Conference on Computer Vision.  
pp. 415-423.  
Photoindustrie-Verband e.V. (2016). Photo and  
imaging market: Trend report. p. 63.  
Ciressan D., Meier U. & Schmidhuber J. (2012). Multi-  
column Deep Neural Networks for Image  
Classification. Proceedings of the IEEE  
Conference on Computer Vision and Pattern  
Recognition.  
Văn Thế Thành (2017). Tìm kiếm ảnh dựa trên đồ thị  
chữ ký nhị phân. Luận án tiến sĩ khoa học máy  
tính. Đại học Huế.  
Văn Thế Thành & Lê Mạnh Thạnh (2016). Một số cải  
tiến cho hệ truy vấn ảnh dựa trên cây S-Tree. Kỷ  
yếu hội nghị khoa học quốc gia lần thứ IX -  
Nghiên cứu cơ bản và ứng dụng công nghệ thông  
tin (FAIR’9).  
Jia Y., Shelhamer E., Donahue J., Karayev S., Long J.,  
Girshick R., Guadarame S. & Darrell T. (2014).  
Caffe: Convolutional Architecture for Fast Feature  
Embedding. UC Berkeley EECS, Berkeley,  
CA 94702  
506  
pdf 10 trang yennguyen 26560 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tìm kiếm ảnh theo nội dung dựa trên mạng nơron tích chập và phương pháp sinh mã nhị phân", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftim_kiem_anh_theo_noi_dung_dua_tren_mang_noron_tich_chap_va.pdf