Phân tích hiệu năng phát hiện phương tiện bay không người lái bất hợp pháp

32  
Võ Nhân Văn, Đặng Ngọc Cường / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 04(41) (2020) 32-36  
04(41) (2020) 32-36  
Phân tích hiệu năng phát hiện phương tiện bay không người lái  
bất hợp pháp  
Detection Performance Analysis of Illegitimate UAV  
Võ Nhân Văna,b*, Đặng Ngọc Cườnga,b  
Nhan Van Voa,b*, Ngoc Cuong Danga,b  
aViện Nghiên cứu và Phát triển Công nghệ Cao, Trường Đại học Duy Tân, Đà Nẵng, Việt Nam  
bKhoa Công nghệ thông tin, Trường Đại học Duy Tân, Đà Nẵng, Việt Nam  
aInstitute of Research and Development, Duy Tan University, Da Nang, 550000, Vietnam  
bFaculty of Information Technology, Duy Tan University, Da Nang, 550000, Vietnam  
(Ngày nhận bài: 01/6/2020, ngày phản biện xong: 18/6/2020, ngày chấp nhận đăng: 27/8/2020)  
Tóm tắt  
Trong bài báo này, vấn đề hiệu năng phát hiện phương tiện bay không người lái (UAV) không hợp pháp (UI) trong kiến  
trúc Internet vạn vật được khảo sát. Cụ thể, phương pháp phát hiện xâm nhập được chia thành 2 bước như sau:  
1) 2 UAV hợp pháp được hợp tác tạo thành một dạng của hệ thống phát hiện xâm nhập (IDS) để phát hiện sự có mặt  
của UI bằng cách sử dụng Fast Fourier Transform Analysis (FFT) và 2) Những UAV hợp pháp này sau đó dò các góc  
để xác định UI bằng cách sử dụng giải pháp angle-side-angle. Theo đó, công thức dạng tường minh của xác suất phát  
hiện UI được tìm ra để phân tích hiệu năng phát hiện. Mô phỏng Monte Carlo được triển khai để kiểm tra phương pháp  
của chúng tôi.  
Từ khóa: Phương tiện bay không người lái; Xác suất phát hiện; Kênh truyền Nakagami-m.  
Abstract  
In this paper, the detection performance of illegitimate unmanned aerial vehicle (UAV) (UI) in Internet of Things (IoT)  
architecture is investigated. In particular, the detection approach is devided into 2 steps: 1) two ligimate UAVs are  
cooperatived as a form of intrusion detection system (IDS) to detect the present of UI by using Fast Fourier Transform  
Analysis (FFT) and 2) these UAVs then scan the angles to identify the UI by using angle-side-angle solution.  
Accordingly, the closed-form of detection probability of UI is derived to analyze the detection performance. The Monte  
Carlo simulation is employed to verify our approach.  
Keywords: UAV; detection probability; Nakagami-m.  
1. Giới thiệu  
với nhau nhằm nhiều mục đích và ứng dụng  
khác nhau như thành phố thông minh, nông  
nghiệp thông minh, và sản xuất thông minh [3].  
Bên cạnh đó, thiết bị không người lái (UAV)  
được xem xét như là một giải pháp hứa hẹn cho  
Hiện nay, Internet vạn vật (IoT) là một trong  
những công nghệ mới nổi, thu hút được nhiều  
nhà khoa học nghiên cứu [1]-[3]. IoT kết nối số  
lượng lớn thiết bị nhằm thu thập và gửi dữ liệu  
*Corresponding Author: Institute of Research and Development, Duy Tan University, Da Nang, 550000, Vietnam;  
Faculty of Information Technology, Duy Tan University, Da Nang, 550000, Vietnam.  
Võ Nhân Văn, Đặng Ngọc Cường / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 04(41) (2020) 32-36  
33  
các ứng dụng như giám sát trên không, kiểm  
soát giao thông, viễn thông, và đặc biệt là tìm  
kiếm cứu hộ [4].  
2. Hiệu năng phát hiện UI  
2.1. Mô hình  
Chúng tôi xem xét mô hình kiến trúc phát  
hiện xâm nhập như hình 1. Trong đó, một UAV  
không xác định (UI) E muốn tham gia vào hệ  
thống hợp pháp nhằm lấy cắp thông tin. Do đó,  
2 UAVs hợp pháp (UD) D1 và D2 được sử dụng  
để hợp tác tạo thành một dạng của hệ thống  
IDS nhằm xác định UI. Mỗi UAV hợp pháp  
được trang bị hai antennas: một antenna đa  
hướng dùng để phát hiện sự có mặt của tín hiệu  
từ UAV và một antenna định hướng cơ học  
(mechanically-agile directional) dùng để xác  
Do đó, UAV có thể góp phần khắc phục  
những hạn chế của cơ sở hạ tầng trên mặt đất  
của hệ thống IoT, tức là IoT có thể hưởng lợi từ  
UAV trong các tình huống trở ngại (ví dụ: giao  
tiếp bị chặn bởi rừng, núi và nhà cao tầng) vì  
đặc tính di động của nó [5]. Ví dụ, các tác giả  
trong [6] đã đề xuất trường hợp sử dụng UAV  
như là base station có khả năng bay vào những  
nơi nguy hiểm để thu thập cũng như truyền  
thông tin.  
định hướng của UAV [9]. Trong đó,  
và  
dED  
1
Tuy nhiên, do đặc tính truyền thông tin  
quảng bá của mạng không dây, giả sử như  
UAV là một kẻ nghe lén có thể thu thập thông  
tin thì ranh giới hệ thống IoT sẽ bị vi phạm và  
tài nguyên dữ liệu sẽ bị xâm phạm [7]. Ví dụ,  
mô hình truyền thông tin trong mạng không dây  
với sự hiện diện của các UAV nghe lén đã được  
trình bày trong [8]. Các tác giả đã phân tích xác  
suất kết nối an toàn của các trạm mặt đất hợp  
pháp để đánh giá hiệu năng bảo mật của mạng.  
lần lượt là khoảng cách từ E tới D1 và E tới  
dED  
2
gED  
g
ED2  
D2; và  
và  
lần lượt là hệ số kênh truyền  
1
từ E tới D1 và E tới D2. Không mất tính tổng  
quát, giả sử các kênh truyền là độc lập với nhau  
và được phân bổ theo mô hình Nakagami-m  
[10]. Do đó, hàm phân phối tích lũy (CDF) của  
kênh truyền gXY 2 được biểu diễn như sau:  
1  
j  
mXY  
mXY x  
mXY x  
1
(1)  
F
x 1  
   
exp   
,
2
gXY  
XY  
j!  
XY  
j0  
2   
trong đó  
và mXY là tham số  
XY E gXY  
Tuy nhiên, bài báo này đã không đề cập tới  
vấn đề phát hiện các UAV nghe lén bằng giả  
thuyết các vị trí này đã được xác định. Điều này  
là khó thuyết phục bởi vì các kẻ tấn công thông  
thường không báo trước vị trí của chúng. Do  
đó, hệ thống IoT cần phải có cách thức phát  
hiện để chống lại sự tấn công từ bên ngoài của  
UAV bất hợp pháp. Các tác giả trong [9] đã  
giới thiệu phương pháp để xác định vị trí của  
UAV không xác định bằng cách sử dụng hai  
máy trạm mặt đất như là một dạng của hệ thống  
phát hiện xâm nhập (IDS). Tuy nhiên, bài báo  
này không đề cập đến việc khảo sát hiệu năng  
phát hiện UAV cũng như sử dụng trạm mặt đất  
cố định. Do đó, bài báo này đề xuất một mô  
hình IDS sử dụng hai UAVs hợp pháp hợp tác  
tạo thành một dạng của hệ thống IDS để phát  
hiện sự có mặt của UAV bất hợp pháp.  
2
Nakagami của kênh truyền gXY  
.
Hình 1. Mô hình 2 UAVs phát hiện xâm nhập  
Theo [8], độ suy hao đường truyền của kênh  
truyền trên không (air-to-air) được biểu diễn  
như sau:  
La ada2 ,  
(2)  
2
trong  
đó  
4f / c  
,
a{ED , ED2}  
,
a
1
da {dED ,dED  
}
, c là tốc độ ánh sáng và f là tần  
1
2
số sóng mang.  
34  
Võ Nhân Văn, Đặng Ngọc Cường / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 04(41) (2020) 32-36  
2.2. Giao thức  
Chúng tôi giả sử UI sẽ trao đổi thông tin với  
một số thiết bị khác, ví dụ như UI phản hồi  
thông tin với bộ điều khiển hoặc gửi các thông  
tin đánh cắp ra thiết bị bên ngoài. Do đó, chúng  
tôi đề xuất giao thức phát hiện UI gồm 2 bước  
như sau:  
1) Hai UDs đều trang bị một Radio  
Frequency (RF) receiver kết nối với antenna đa  
hướng và được bật trạng thái lắng nghe. Khi tín  
hiệu RF được thu thập, Fast Fourier Transform  
Analysis (FFT) được sử dụng để xác định tín  
hiệu UI có hay là không [9]. Chúng tôi giả sử  
trường hợp UI được phát hiện, điều này có  
nghĩa là D1 và D2 nhận được tín hiệu từ UI là  
Hình 2. Xác định UI  
dED  
d
d
D D2  
1
ED2  
1
sin   
E   
sin   
sin   
(5)  
D2  
D
1
D D E 180o ,  
1
2
trong đó  
và  
đã được xác định từ quá  
D  
D2  
1
trình trước; và  
2
dD D  
x
xD 2 y yD 2 z zD  
.
D
D
D
1
1
2
1
2
1
2
2
PE  
yD  
xE gED nD ,  
(3)  
(4)  
1
1
1
Giải công thức trên, chúng ta sẽ tìm ra được  
khoảng cách từ D1 và D2 đến E. Ngoài ra, tỷ số  
tín hiệu sóng trên nhiễu (SNR) để giải mã tín  
hiệu đặc biệt từ E tại D1 và D2 được biểu diễn  
như sau [11]:  
LED  
1
PE  
yD  
xE gED nD ,  
2
2
2
L
ED2  
trong đó nD ,nD CN 0, N . Ở đây, do UI chưa  
0   
1
2
2
P gE*D  
E
được xác định, nên trạng thái kênh truyền thông  
1
ED  
,
(6)  
1
LED P   N  
0   
tin không hoàn hảo (imperfect CSI) được xem  
E
E
1
*
ED2  
gED gE*D eED  
g
g e  
xét, tức là  
và  
;
2
ED2  
ED2  
*
1
1
1
P g  
E
ED2  
*
*
g
g
trong đó  
và  
lần lượt là hệ số kênh  
ED  
.
(7)  
ED1  
ED2  
2
LED P   N  
0   
E
E
2
được ước tính bằng minimum mean square  
gED  
g
error (MMSE) cho  
và  
;
và  
2.3. Xác suất phát hiện UI  
ED2  
1
eED ,eED CN 0,với e là tính chính xác  
của ước tính kênh truyền.  
e   
1
2
Xác suất phát hiện UAV được định nghĩa là  
xác suất giải mã thành công tín hiệu của UI tại  
D1 hoặc D2, tức là  
2) Hai UAVs hợp pháp bật sang trạng thái  
dò tìm ở antenna định hướng cơ học để xác  
định UI bằng hai quá trình như sau: đầu tiên,  
góc tới của E từ D1 và D2 được xác định một  
khi tín hiệu FFT được so khớp mạnh nhất. Sau  
đó, giải pháp angle-side-angle được áp dụng để  
tính vị trí của UI (hình 2) như sau: Giả sử tọa  
độ 3-D của hai UAVs hợp pháp được biết là  
(8)  
O Pr max CED ,CED   
,
th
  
1
2
trong đó  
hàm xác suất; th là ngưỡng phát hiện thành  
công; và và được định nghĩa là  
O
là xác suất phát hiện UI; Pr{.} là  
CED  
CED  
2
1
(9)  
CED Blog2  
1 ,  
ED  
1
1
(10)  
CED Blog2  
1 ,  
ED2  
và  
. Lưu ý, D1,  
2
D x , y , z  
1
  
D2 x , y , z  
D2 D2 D2  
D
D
D
1
1
1
D2, và điểm E vừa xác định dựa trên góc tới từ  
D1 và D2 sẽ tạo thành một mặt phẳng duy nhất.  
Do đó, UI được xác định bởi khoảng cách từ D1  
và D2 theo công thức sau [9]:  
trong đó B là băng thông đường truyền. Dựa  
theo lý thuyết xác suất, công thức (7) được biến  
đổi như sau:  
(11)  
O 1Pr max CED ,CED   
.
th
  
1
2
Võ Nhân Văn, Đặng Ngọc Cường / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 04(41) (2020) 32-36  
35  
Hơn nữa, bởi vì các biến ngẫu nhiên là độc  
lập nên xác suất phát hiện UI được biểu diễn là  
(12)  
O 1Pr   th Pr   
 th ,  
ED  
ED2  
1
th /B  
th 21  
trong đó  
. Tiếp theo, thay (6) và (7)  
vào (12) ta có  
th LED 1  
2
2
E
O 1Pr g*  
1
ED  
1
E  
(13)  
th LED 1  
E
Pr g*  
,
2
ED2  
Hình 3. Sự ảnh hưởng của SNR tại E và tính chính xác  
E  
ước tính kênh truyền lên xác suất phát hiện UI  
trong đó E P / N0 . Cuối cùng, dựa trên định  
E
nghĩa CDF ở công thức (1) và qua một số bước  
tính toán, xác suất phát hiện UI của hệ thống  
xem xét được biểu diễn ở dạng tường minh là:  
1  
j  
mED  
1
mED th LED 1  
E
1
1
1  
ED E  
j0  
1
O 1  
mED th LED 1  
1
E
1
1
exp   
j!  
ED E  
1
(14)  
1  
j  
mED  
2
mED th LED 1  
E
2
1
1  
E  
j0  
Hình 4. Sự ảnh hưởng của chiều cao UAV D2 và SNR  
tại E lên xác suất phát hiện UI  
ED2  
.
mED th LED 1  
1
E
2
1
exp   
Quan sát hình 3, chúng ta có các kết quả như  
sau:  
j!  
ED E  
2
3. Kết quả và thảo luận  
- Khi tăng SNR tại E thì xác suất phát hiện  
UI càng tăng. Điều này được giải thích là vì khi  
công suất phát tại UI càng lớn thì khả năng giải  
mã thông tin tại các UAVs hợp pháp càng dễ  
dàng. Điều này đồng nghĩa với việc hiệu năng  
phát hiện UI tăng lên.  
Không mất tính tổng quát, chúng tôi lựa  
chọn các thông số sau đây để cài đặt cho phần  
mô phỏng và phân tích [9], [10]:  
,
  0,20  
th 106  
E
,
B 106 Hz,  
bps,  
  5,6,7  
e
,
D 30o  
,
D 50o . Dựa trên các  
mED mED 2  
1
2
1
2
- Xác suất phát hiện UI giảm khi tăng e  
.
thông số này, chúng tôi khảo sát xác suất phát  
hiện UI qua hai hình 3 và 4. Qua quan sát, các  
đường mô phỏng và phân tích trùng khớp nhau,  
điều này có nghĩa phương pháp phân tích của  
chúng tôi là hoàn toàn chính xác.  
Lý do là khi tăng e tức là tính chính xác ước  
tính kênh truyền không hoàn hảo giảm. Điều  
này dẫn tới việc giải mã thành công các tính  
hiệu đặc biệt của các UAVs hợp pháp sẽ giảm  
xuống. Kết quả là hiệu năng UI sẽ giảm.  
Dựa trên hình 4, chúng ta quan sát được một  
số kết quả như sau:  
- Khi tăng chiều cao của một UAV hợp pháp  
(không mất tính tổng quát chúng tôi tăng chiều  
cao của UAV D2), xác suất phát hiện UI sẽ  
36  
Võ Nhân Văn, Đặng Ngọc Cường / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 04(41) (2020) 32-36  
harvesting,” IEEE Access, vol. 7, pp. 38 738–38  
tăng. Tuy nhiên khi chiều cao quá lớn thì xác  
suất phát hiện UI lại giảm. Điều này có nghĩa là  
tồn tại một điểm tối ưu của chiều cao UAV làm  
cho hiệu năng phát hiện UI là tốt nhất. Lý do là  
bởi vì khi chiều cao của UAV hợp pháp quá  
thấp hoặc quá cao thì khoảng cách tới UI càng  
xa, do đó khả năng giải mã thành công trong  
hai trường hợp này là khó khăn. Do đó, hiệu  
năng sẽ giảm khi chiều cao của UAV là quá  
thấp hoặc quá cao.  
747, 2019.  
[3] J. M. Williams, R. Khanna, J. P. Ruiz-Rosero, G.  
Pisharody, Y. Qian, C. R. Carlson, H. Liu, and G.  
Rmirez-Gonzalez, “Weaving the wireless web:  
Toward a low-power, dense wireless sensor network  
for the industrial IoT,” IEEE Microwave Mag., vol.  
18, no. 7, pp. 40–63, Oct. 2017.  
[4] Y. Zeng, Q. Wu, and R. Zhang, “Accessing from the  
sky: A tutorial on UAV communications for 5G and  
beyond,” Proc. of the IEEE., vol. 107, no. 12, pp.  
2327–2375, 2019.  
[5] M. Mozaffari, W. Saad, “Unmanned aerial vehicle  
with underlaid device-to-device communications:  
Performance and tradeoffs,” IEEE Trans. Wireless  
Commun., vol. 15, no. 6, pp. 3949–3963, Jun. 2016.  
- Một lần nữa chúng ta thấy khi tăng SNR tại  
E từ 0 đến 15 dB thì hiệu năng phát hiện UI sẽ  
tăng. Điều này đã được giải thích ở hình 3.  
[6] M. Mozaffari, W. Saad, M. Bennis, Y.-H. Nam, and  
M. Debbah, “A tutorial on UAV for wireless  
network: Application, challenges, and open  
problems,” IEEE Commun. surveys & tutorials, vol.  
21, no. 3, pp. 2334–2360, Mar. 2019.  
4. Kết luận  
Trong bài báo này, hiệu năng phát hiện  
UAV không xác định được khảo sát. Một dạng  
của hệ thống IDS sử dụng hai UAVs hợp pháp  
đã được đề xuất nhằm xác định UAV bất hợp  
pháp. Theo đó, dựa trên SNR của việc giải mã  
thành công tín hiệu từ UI tại hai UAVs hợp  
pháp, công thức dạng tường minh của xác suất  
phát hiện UAV không hợp pháp được trình bày.  
Ngoài ra, sự ảnh hưởng của SNR tại UI, tính  
chính xác của ước tính kênh truyền và chiều  
cao của UAV hợp pháp lên hiệu năng phát hiện  
UI đã được khảo sát. Kết luận chỉ ra rằng tồn  
tại chiều cao tối ưu của UAV nhằm tăng hiệu  
năng phát hiện UI.  
[7] X. Sun, D. W. K. Ng, Z. Ding, Y. Xu, and Z. Zhong,  
“Physical layer security in UAV systems:  
Challenges and opportunities,” IEEE Wireless  
Commun., vol. 26, no. 5, pp. 40–47, Oct. 2019.  
[8] J. Tang, G. Chen, and J. Coon, “Secrecy performance  
analysis of wireless communications in the presence  
of UAV jammer and randomly located UAV  
eavesdroppers,” IEEE Trans. Inf. Forensics Secur.,  
vol. 14, no. 11, pp. 3026–3041, Apr. 2019.  
[9] P. Nguyen, T. Kim, D. H. L. Miao, E. Kenneally, D.  
Massey, E. Frew, R. Han, and T. Vu, “Towards RF-  
based localization of a drone and its controller,” in  
Proc. Micro Aerial Veh. Networks, Sys., and  
Applicat., Seoul, Korea, Jun. 2019, pp. 21–26.  
[10] D.-D. Tran, D.-B. Ha, V. N. Vo, C. So-In, H. Tran,  
T. G. Nguyen, Z. Baig, and S. Sanguanpong,  
“Performance analysis of DF/AF cooperative MISO  
wireless sensor networks with NOMA and SWIPT  
over Nakagami-m fading,” IEEE Access, vol. 6, pp.  
56 142–56 161, Oct. 2018.  
Tài liệu tham khảo  
[1] Z. Sheng, C. Mahapatra, C. Zhu, and V. C. M. Leung,  
“Recent advances in industrial wireless sensor  
networks toward efficient management in IoT,”  
IEEE Access, vol. 3, pp. 622–637, May 2015.  
[11] Y. Chen, N. Zhao, and Z. D. M.-S. Alouini,  
“Multiple UAVs as relays: Multi-hop single link  
versus multiple dual-hop links,” IEEE Trans.  
Wireless Commun., vol. 17, no. 9, pp. 6348–6359,  
Aug. 2018.  
[2] B. Ji, Y. Li, B. Zhou, C. Li, K. Song, and H. Wen,  
“Performance analysis of UAV relay assisted IoT  
communication network enhanced with energy  
pdf 5 trang yennguyen 15440 Free
Bạn đang xem tài liệu "Phân tích hiệu năng phát hiện phương tiện bay không người lái bất hợp pháp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphan_tich_hieu_nang_phat_hien_phuong_tien_bay_khong_nguoi_la.pdf