Nâng cao khả năng phát hiện xâm nhập mạng sử dụng mạng CNN
Nguyễn Ngọc Điệp, Nguyễn Thị Thanh Thủy
NÂ NG CAO KHẢ NĂNG PHÁT HIỆN XÂ M
NHẬP MẠNG SỬ DỤNG MẠNG CNN
Nguyễn Ngọc Điệp, Nguyễn Thị Thanh Thủy
Học viện Cô ng nghệ Bưu chính Viễn thô ng
thống phát hiện xâm nhập, thông qua việc giám sát các sự
kiện xảy ra trong quá trình sử dụng hệ thống máy tính hay
mạng và phân tích xem có dấu hiệu của việc xâm nhập hay
không. Hệ thống phát hiện xâm nhập (IDS) có thể là hệ
thống phần cứng hay phần mềm cho phép tự động hóa quá
trình phát hiện hành vi xâm nhập và thông thường dựa trên
hai phương pháp chính: dựa trên chữ ký và dựa trên bất
thường. Phương pháp phát hiện xâm nhập dựa trên các dấu
hiệu/chữ ký [6] là kỹ thuật căn bản của hệ thống phát hiện
xâm nhập. Các dấu hiệu thường là các mô hình hay chuỗi
ký tự tương ứng với các vụ tấn công hay mối đe dọa đã
biết. Để phát hiện, IDS so sánh các mô hình với các sự kiện
thu được để nhận biết việc xâm nhập. Phương pháp này
còn được gọi là phương pháp dựa trên tri thức do sử dụng
cơ sở tri thức về các hành vi xâm nhập trước đó. Rõ ràng,
kỹ thuật này khó có thể phát hiện được các hành vi xâm
nhập mới chưa có trong cơ sở tri thức của hệ thống cho dù
có độ tin cậy và chính xác cao. Phương pháp phát hiện xâm
nhập dựa trên bất thường [6] là phương pháp quan trọng
trong hệ thống IDS. Sự bất thường được coi là sự khác biệt
với hành vi đã biết bằng các lập hồ sơ các hành vi thông
thường trên cơ sở việc theo dõi các hoạt động thường
xuyên, các kết nối mạng, máy trạm hay người dùng qua
một khoảng thời gian. Hệ thống phát hiện thực hiện việc
so sánh các hồ sơ với các sự kiện quan sát được để nhận
biết các vụ tấn công nghiêm trọng. Như vậy, phương pháp
phát hiện dựa trên bất thường trang bị công cụ hữu hiệu
cho người quản trị hệ thống để có thể chống chọi hiệu quả
với các hình thức xâm nhập mới chưa được biết.
Tóm tắt: Phát hiện xâm nhập mạng (NIDS) là vấn đề
thu hút được sự quan tâm của người làm quản trị hệ thống
mạng cũng như những người làm nghiên cứu an toàn hệ
thống. Bài toán phát hiện xâm nhập mạng có thể được giải
quyết thông qua việc phát hiện các hành vi truy nhập bất
thường bằng cách sử dụng kỹ thuật học máy thông qua việc
xây dựng mô hình dựa trên các thuật toán thống kê, học
máy hay mạng nơ-ron nhân tạo. Tuy nhiên, các cuộc tấn
công bảo mật ngày nay có xu hướng không thể đoán trước
được. Việc xây dựng một hệ thống phát hiện xâm nhập
mạng linh hoạt và hiệu quả có tỷ lệ báo động giả thấp và
độ chính xác phát hiện cao trước các cuộc tấn công không
xác định gặp rất nhiều thách thức. Bài báo này nghiên cứu
áp dụng mạng CNN (mạng nơ-ron tích chập) cho mô hình
phát hiện xâm nhập và so sánh hiệu năng với một số kỹ
thuật học máy cơ bản khác trên cơ sở bộ dữ liệu NSL-
KDD. Kết quả thực nghiệm cho thấy, với kết quả độ đo F1
là 98,2%, mô hình phát hiện xâm nhập dựa trên mạng CNN
có hiệu năng vượt trội so với các mô hình học máy khác.
Từ khóa: phát hiện xâm nhập mạng, NSL-KDD, học
sâu, CNN.1
I. GIỚI THIỆU
Việc phát triển của các thiết bị tính toán và sự phổ biến
của các ứng dụng mạng như thương mại điện tử, mạng xã
hội, tính toán đám mây đã làm cho các vấn đề về an toàn
thông tin càng trở nên phức tạp và cấp thiết. Hành vi xâm
nhập hệ thống có thể được coi là các hành động cố gắng
làm tổn hại các thuộc tính an toàn của hệ thống, bao gồm
bí mật, toàn vẹn và sẵn sàng, bằng cách vượt qua các cơ
chế hay biện pháp đảm bảo an toàn của hệ thống tính toán
hay mạng. Nói cách khác, người tấn công cố gắng thực
hiện các hành động để lấy được quyền truy nhập tới đối
tượng mong muốn của mình và các hành động này xâm
phạm đến các chính sách an ninh của hệ thống. Để ngăn
ngừa hiệu quả các hành động trái phép, rõ ràng hệ thống
cần nhận được sự hỗ trợ từ việc phát hiện và cảnh báo
chính xác về các hoạt động gây tổn hại đến an toàn thông
tin của hệ thống.
Bài toán phân biệt các hành vi truy nhập hay sử dụng
các tài nguyên của hệ thống là một trong những bài toán
tiêu biểu của kỹ thuật học máy [12]. Về cơ bản, các kỹ
thuật học máy giúp xây dựng mô hình cho phép tự động
phân loại các lớp hành vi sử dụng hệ thống dựa trên các
đặc trưng của các hành vi này. Có thể kể tên một số kỹ
thuật tiêu biểu như các kỹ thuật dựa trên cây quyết định
C4.5 [9], máy véc-tơ tựa SVM [7], mạng nơ-ron [10].
Trong thời gian gần đây, mô hình học sâu đã có tác động
sâu rộng đến ứng dụng mô hình học máy, đặc biệt trong
lĩnh vực như nhận dạng tiếng nói, xử lý ảnh và xử lý ngôn
ngữ tự nhiên [3, 4]. Đặc trưng nổi bật của mô hình học sâu
là việc sử dụng khối lượng lớn dữ liệu so với cách tiếp cận
Việc phát hiện xâm nhập là quá trình xác định và đối
phó với các hành vi xâm nhập nhằm vào các hệ thống tính
toán hay mạng. Quá trình này được tiến hành dựa vào hệ
Tác giả liên hệ: Nguyễn Ngọc Điệp
Email: diepnn80@gmail.com
Đến tòa soạn: 10/2020, chỉnh sửa:11/2020 , chấp nhận đăng: 12/2020
SOÁ 04B (CS.01) 2020
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG
61
NÂ NG CAO KHẢ NĂNG PHÁT HIỆN XÂ M NHẬP MẠNG SỬ DỤNG MẠNG CNN
B. Phát hiện xâm nhập mạng dựa trên học sâu
truyền thống. Các mô hình sử dụng nhiều tham số cho phép
khai thác các thông tin trong tập dữ liệu khổng lồ một cách
hiệu quả hơn. Hiện nay, có nhiều nghiên cứu về phát hiện
xâm nhập sử dụng kỹ thuật học sâu và phân tích các mô
hình xây dựng dựa trên bộ dữ liệu KDD 99 [13] hay NSL-
KDD [18] như [1, 5, 8, 11], tuy nhiên, rất ít trong số đó thể
hiện hiệu quả sức mạnh của các kỹ thuật học sâu. Trong số
các cách tiếp cận khác nhau trong học sâu, mạng nơ-ron
tích chập (CNN) thể hiện khả năng vượt trội trong xử lý
ảnh và nhiều lĩnh vực khác. Đây là một biến thể của mạng
nơ-ron tiêu chuẩn, trong đó sử dụng các lớp tích chập và
gộp thay thế cho các lớp ẩn được kết nối đầy đủ của một
mạng nơ-ron truyền thống. Tuy nhiên, mặc dù mạng CNN
thường cho thấy độ chính xác cao nhưng lại chưa được
khai thác nhiều trong các hệ thống IDS. Bài báo này đề
xuất một mô hình mạng CNN nhằm nâng cao độ chính xác
và giảm mức độ cảnh báo sai trong các hệ thống phát hiện
xâm nhập mạng. Ngoài ra, hiệu năng của mô hình CNN đề
xuất sẽ được so sánh với một số kỹ thuật học máy cơ bản
khác trên cơ sở bộ dữ liệu NSL-KDD.
Một mạng nơ-ron đơn giản thường gặp là perceptron,
thông thường chỉ có ba lớp (1 lớp đầu vào, 1 lớp ẩn, và 1
lớp đầu ra) phục vụ cho việc khai thác thông tin nhờ vào
việc huấn luyện lớp ẩn và lớp đầu ra theo dữ liệu huấn luyện
được cung cấp. Mỗi một nốt thuộc từng lớp trong mạng đều
có kết nối đầy đủ với các nốt khác thuộc lớp kề với nó.
Mạng này có thể được làm “sâu” thêm bằng cách bổ sung
các lớp ẩn làm cho các đặc trưng của tập dữ liệu được biến
đổi nhiều lần. Mỗi một lần biến đổi tương tự như một bước
suy diễn mà có thể được biểu diễn một cách đơn giản bằng
một chuỗi tính toán. Tương tự như các mạng nơ-ron khác,
mạng nơ-ron perceptron đa lớp (MLP) [3] có khả năng mô
hình hóa các mối quan hệ phi tuyến phức tạp. Các lớp ẩn
sâu bên trong mạng có khả năng tổng hợp các đặc trưng từ
các lớp trước đó, do đó cho phép mạng mô hình hóa được
dữ liệu phức tạp hơn với số lượng các nút ít hơn các loại
mạng nơ-ron khác.
Mạng perceptron nhiều lớp (MLP), mạng nơ-ron hồi quy
và mạng nơ-ron học sâu tích chập là cách tiếp cận phổ biến
hiện thời trong các mô hình học sâu. Nguyên nhân chủ yếu
cho việc dùng mô hình học sâu chính là tính hiệu quả thực
tế so với các cách tiếp cận khác. Hơn thế, mô hình học sâu
còn cung cấp các kỹ thuật mới và tiên tiến về mặt lý thuyết
như các biến thể của các thuật học. Sự thành công của mô
hình học sâu cần phải kể đến sự phổ biến của tính toán hiệu
năng cao sử dụng bộ xử lý đồ họa. Khi biểu diễn dưới dạng
các ma trận véc-tơ, việc tính toán được tăng tốc nhờ phần
cứng và thư viện đồ họa được tối ưu hóa. Kết quả huấn
luyện và kiểm chứng mô hình được tiến hành một cách
nhanh chóng và hiệu quả.
Phần còn lại của bài báo được trình bày như sau: Phần
2 trình bày một số nghiên cứu về phát hiện xâm nhập. Phần
3 mô tả phương pháp phát hiện xâm nhập đề xuất dựa trên
CNN. Phần 4 đưa ra các kết quả thực nghiệm, đánh giá mô
hình trên tập dữ liệu NSL-KDD, và so sánh với các phương
pháp khác. Cuối cùng là phần kết luận.
II. CÁ C NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
Phần này trình bày các nghiên cứu liên quan đến phát
hiện xâm nhập mạng và phát hiện xâm nhập mạng sử dụng
mạng nơ-ron học sâu.
A. Phát hiện xâm nhập mạng sử dụng học máy
Mô hình học sâu đã được sử dụng cho việc phân biệt và
phát hiện cách hành vi truy nhập trái phép. Các tác giả của
nghiên cứu [1] sử dụng mạng nơ-ron hồi quy để tự động
phân lớp dữ liệu truy nhập, chẳng hạn như các truy vấn http,
bằng kỹ thuật học hồi quy thời gian thực. Sau đó, việc phân
loại truy nhập tiếp theo sử dụng kỹ thuật SVM. Việc sử
dụng kỹ thuật học thời gian thực giúp cho phương pháp đề
xuất có khả năng áp dụng cho các hệ thống theo dõi thời
gian thực và có thể mở rộng từng bước.
IDS thường được phân loại thành hệ thống phát hiện dựa
trên máy chủ (HIDS) và dựa trên mạng (NIDS). HIDS giám
sát và phân tích thông tin máy chủ, ví dụ như các lệnh gọi
hệ thống, tệp hệ thống quan trọng và tệp nhật ký. Trong khi
đó, NIDS giám sát toàn bộ mạng bằng cách phân tích lưu
lượng mạng, như lưu lượng truy cập, địa chỉ IP, cổng dịch
vụ và việc sử dụng giao thức. Với sự phát triển của công
nghệ mạng cũng như nhiều kiểu tấn công mới khó xác định,
NIDS đối mặt với thách thức trong việc xử lý một lượng
lớn dữ liệu, có thể đến từ nhiều nguồn tài nguyên khác nhau
với môi trường mạng hay thay đổi. Đối với NIDS dựa trên
phát hiện bất thường, khi hệ thống không được cập nhật
thường xuyên, một số điểm bất thường có thể bị coi là lưu
lượng truy cập bất thường. Do đó, với các biến thể trong
các hành vi mạng, các IDS dựa trên bất thường phải được
cập nhật liên tục và thích ứng với các môi trường mạng
thường xuyên thay đổi. Nhiều phương pháp tiếp cận khác
nhau đã được đề xuất trong IDS, tiêu biểu như các kỹ thuật
học máy, giúp xây dựng mô hình cho phép tự động phân
loại các lớp hành vi bất thường [7, 9, 10]. Tuy nhiên, các
kỹ thuật này vẫn phải đối mặt với một số thách thức như số
cảnh báo giả cao, độ chính xác phát hiện thấp trước các
cuộc tấn công không xác định và không đủ khả năng phân
tích.
Các nghiên cứu [5, 11] sử dụng kiến trúc bộ nhớ dài-
ngắn hạn (LSTM) cho mạng nơ-ron hồi quy để xây dựng
mô hình phát hiện xâm nhập với tập dữ liệu thử nghiệm
KDD 99 [13]. Các tác giả của [11] mở rộng kiến trúc LSTM
bằng cách cho phép gán trọng số thích ứng giữa các phần
tử trong mạng, cho phép các phần tử mạng chống lại trạng
thái không mong muốn từ các đầu vào. Kết quả thu được
khá khả quan với mức độ phát hiện đạt trên 90%. Tuy
nhiên, nghiên cứu [5] chỉ sử dụng một phần của tập dữ liệu
KDD 99 để làm dữ liệu huấn luyện.
Nghiên cứu [8] sử dụng kỹ thuật tự học (self-taught
learning) của kỹ thuật học sâu để tiến hành phân loại xâm
nhập và thử nghiệm trên tập dữ liệu NSL-KDD [18]. Về
căn bản, quá trình phân loại trải qua hai giai đoạn. Giai đoạn
đầu các đặc trưng sẽ được tự động nhận biết nhờ vào kỹ
thuật tự động mã hóa (sparse auto-encoder), giai đoạn 2 sử
SOÁ 04B (CS.01) 2020
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG
62
Nguyễn Ngọc Điệp, Nguyễn Thị Thanh Thủy
dụng kết quả của giai đoạn 1 để tiến hành phân loại bằng
kỹ thuật hồi quy softmax.
cùng là hai lớp kết nối đầy đủ và một lớp softmax. Lớp kết
nối đầy đủ thực hiện suy diễn mức cao trong mạng nơ-ron
bằng cách sử dụng các đặc trưng được trích xuất từ các lớp
tích chập và lớp pooling để học các kết hợp phi tuyến của
các đặc trưng. Lớp cuối cùng sofmax được sử dụng để dự
đoán ra các lớp dựa trên tập huấn luyện. Mô hình CNN này
sử dụng hai khối gồm các lớp tích chập và pooling. Một lớp
dropout được sử dụng sau lớp kết nối đầy đủ thứ hai. Lớp
dropout này có thể giúp giảm được sự quá vừa dữ liệu bằng
cách tránh huấn luyện các nút trên tất cả dữ liệu huấn luyện,
nhờ đó mạng nơ-ron học được nhiều đặc trưng tốt hơn [3].
III. PHƯƠNG PHÁ P ĐỀ XUẤT
Phần này trình bày đề xuất phương pháp phát hiện xâm
nhập mạng sử dụng mạng nơ-ron tích chập CNN và tiền xử
lý dữ liệu.
A. Phát hiện xâm nhập mạng sử dụng CNN
CNN là một biến thể của mạng nơ-ron, với mục đích
chính là tự động học các biểu diễn đặc trưng phù hợp cho
dữ liệu đầu vào. CNN có hai điểm khác biệt chính so với
MLP, đó là chia sẻ trọng số và pooling. Mỗi lớp CNN có
thể bao gồm nhiều nhân tích chập được sử dụng để tạo bản
đồ đặc trưng (feature map) khác nhau. Mỗi vùng của các
nơ-ron lân cận được kết nối với một nơ-ron của bản đồ đặc
trưng của lớp tiếp theo. Hơn nữa, để tạo bản đồ đặc trưng,
tất cả các vị trí không gian của đầu vào đều chia sẻ nhân.
Sau một số lớp tích chập và pooling, một hoặc nhiều lớp
được kết nối đầy đủ được sử dụng để phân loại [20]. Mô
hình CNN có 2 tính chất quan trọng là tính bất biến
(Location Invariance) và tính kết hợp (Compositionality).
Lớp pooling sẽ đảm bảo tính bất biến đối với phép dịch
chuyển (translation), phép quay (rotation) và phép co giãn
(scaling). Tính kết hợp cục bộ cho ta các cấp độ biểu diễn
thông tin từ mức độ thấp đến mức độ cao và trừu tượng hơn
thông qua convolution từ các bộ lọc. Hai tính chất này cho
phép CNN tạo ra mô hình với độ chính xác rất cao, do giống
cách con người nhận biết các vật thể trong tự nhiên.
Đối với các lớp tích chập, các lớp cao hơn thường sử
dụng nhiều bộ lọc để xử lý các phần phức tạp hơn của dữ
liệu đầu vào. Do đó, mô hình đề xuất sử dụng 32 bộ lọc cho
lớp tích chập số 1 và 64 bộ lọc cho lớp tích chập số 2. Cả
hai lớp đều sử dụng các tích chập có cùng độ rộng là 5 và
độ trượt là 1. Các lớp max-pooling trong thử nghiệm cũng
sử dụng độ rộng là 5. Kích thước của hai lớp được kết nối
đầy đủ được thiết lập là 500. Và đối với lớp dropout, xác
suất lựa chọn nút được thiết lập là 0,5.
Mạng nơ-ron CNN đề xuất được huấn luyện sử dụng các
mini-batch với mỗi mini-batch có độ lớn là 32 và dữ liệu
được phân nhóm theo phân bố mẫu dữ liệu từng lớp trong
tập huấn luyện. Độ chính xác của mạng được tối ưu hóa sử
dụng bộ tối ưu phổ biến là Adam, được cung cấp trong bộ
thư viện Keras [14], với tham số learning rate là 0,001.
B. Tiền xử lý dữ liệu
Mạng nơ-ron học sâu nhận các giá trị đầu vào là các
thuộc tính/đặc trưng của mỗi hành vi truy nhập hệ thống,
các giá trị này bắt buộc là các giá trị kiểu số thực. Tuy
nhiên, giá trị thuộc tính của các hành vi truy nhập thực tế
có thể theo giá trị kiểu loại, dưới dạng chữ. Ví dụ như kiểu
truyền tin đối với mỗi truy nhập có thể là: “tcp” hay “udp”.
Khi đó, ta cần chuyển các giá trị dạng này sang kiểu số thực.
Việc này có thể được thực hiện bằng cách sử dụng véc-tơ
one-hot thường thấy trong xử lý ngôn ngữ tự nhiên. Một
véc-tơ one-hot là một ma trận 1xN sử dụng để phân biệt
mỗi từ trong bộ từ vựng với các từ khác. Véc-tơ chứa các
giá trị 0 tại toàn bộ vị trí trừ một vị trí chứa giá trị 1 để nhằm
xác định từ đó.
Hì nh 1. Kiến trúc mô hình CNN đề xuất
Mô hình CNN được đề xuất (Hình 1) là một chồng có
nhiều lớp bao gồm: các lớp tích chập, max-pooling,
dropout, lớp kết nối đầy đủ và softmax. Mỗi lớp tích chập
bao gồm một tập các bộ lọc độc lập và có khả năng học khi
phát hiện ra một số loại đặc trưng cụ thể ở một số vị trí
không gian trong dữ liệu đầu vào. Trong lớp này, các phụ
thuộc cục bộ về không gian được khai thác bằng cách đảm
bảo sự ràng buộc trong kết nối nội bộ giữa các nút và các
lớp liền kề. Mỗi nút chỉ được kết nối với một khu vực nhỏ
trong khung đầu vào. Hàm ReLU được sử dụng để làm hàm
kích hoạt cho bộ tích chập vì khả năng hoạt động tốt hơn
các hàm kích hoạt khác trong hầu hết các tình huống. Để
giảm kích thước không gian của bản đồ đặc trưng, mô hình
sử dụng lớp pooling. Lớp pooling này giúp giữ lại các thông
tin quan trọng nhất và đồng thời giúp làm giảm số lượng
tham số và tính toán của mạng nơ-ron, do đó kiểm soát
được vấn đề quá vừa dữ liệu khi huấn luyện. Các lớp cuối
IV. KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM VÀ ĐÁNH GIÁ
Phần này trình bày về tập dữ liệu cho các thử nghiệm
phát hiện xâm nhập dựa trên phát hiện bất thường, sử dụng
kỹ thuật mạng CNN đã đề xuất và các bộ phân lớp khác,
gồm: mạng nơ-ron perceptron đơn giản, máy véc-tơ tựa
SVM (sử dụng kỹ thuật SVC), cây quyết định (sử dụng
thuật toán CART), rừng ngẫu nhiên (Random Forest), phân
loại giảm gradient ngẫu nhiên (SGD) và mạng MLP. Một
phần nội dung khác trình bày các tham số cấu hình cho các
thử nghiệm và phần cuối cùng trình bày về kết quả thực
nghiệm cùng các phân tích đánh giá.
A. Tập dữ liệu đánh giá
Nghiên cứu này sử dụng tập dữ liệu NSL-KDD [4] trong
các thực nghiệm. Đây là tập dữ liệu được tinh chỉnh của tập
dữ liệu KDD 99 [13], trong đó các bản ghi trùng lặp được
SOÁ 04B (CS.01) 2020
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG
63
NÂ NG CAO KHẢ NĂNG PHÁT HIỆN XÂ M NHẬP MẠNG SỬ DỤNG MẠNG CNN
loại bỏ và số lượng các bản ghi đủ lớn với tập huấn luyện
và kiểm tra. Mỗi bản ghi bao gồm 41 thuộc tính thể hiện
các đặc trưng khác nhau của luồng thông tin và được gán
nhãn là tấn công hoặc bình thường. Các thuộc tính có thể
được chia thành các nhóm liên quan đến kết nối mạng và
lưu lượng mạng như dưới đây.
Bảng I. Phân loại các hành vi xâm nhập cơ bản
LOẠI
CHI TIẾT CÁC HÀNH VI XÂM NHẬP
dos
back, land, neptune, pod, smurf,
teardrop, mailbomb, processtable,
udpstorm, apache2, worm
Các thuộc tính tiêu biểu về kết nối mạng:
•
•
•
•
duration: thời gian kết nối
probe
satan, ipsweep, nmap, portsweep,
mscan, saint
protocol_type: kiểu giao thức, ví dụ tcp
service: dịch vụ mạng sử dụng, ví dụ ftp
guess_password,
guess_passwd,
ftp_write, imap, phf, multihop,
warezmaster, warezclient, xlock, spy,
xsnoop, snmpguess, snmpgetattack,
httptunnel, sendmail, named
flag: tình trạng kết nối bình thường hay lỗi, ví dụ
SF
r2l
Các thuộc tính tiêu biểu về lưu lượng của trạm:
•
•
•
dst_host_count: số kết nối có cùng địa chỉ trạm
đích
u2r
buffer_overflow, loadmodule, rootkit,
perl, sqlattack, xterm, ps
dst_host_srv_count: số kết nối có cùng địa chỉ
cổng đích
Hình 2 dưới đây thể hiện số lượng các bản ghi ứng với
từng loại hành vi truy nhập đã được phân loại trong toàn bộ
tập dữ liệu, bao gồm dữ liệu để huấn luyện và dữ liệu kiểm
tra. Phân chia giữa các hành vi bình thường (normal) và các
hành vi xâm nhập (trái phép) tương đối cân xứng.
dst_host_same_srv_rate: tỷ lệ kết nối có cùng dịch
vụ trong số các kết nối tới trạm đích
Ngoài các thuộc tính thể hiện thông tin trực tiếp về tình
trạng kết nối hay lưu lượng, còn có các thuộc tính thể hiện
thông tin chú giải mức cao như số lần đăng nhập không
thành công (num_failed_logins), yêu cầu đăng nhập
(is_host_login) hay thử chuyển chế độ đặc quyền
(su_attempted).
Với thuộc tính kiểu hành vi trái phép, các hành vi xâm
nhập được xếp vào 4 nhóm cơ bản như sau:
•
•
dos: Nhóm tấn công từ chối dịch vụ
probe: Giám sát hay thăm dò nhằm thu thập thông
tin như quét cổng
•
•
u2r: Truy nhập trái phép tới các tài khoản người
dùng có đặc quyền
Hì nh 2. Phân bố của cách hành vi xâm nhập cơ bản
và hành vi bình thường trên toàn tập dữ liệu
NSL-KDD
r2l: Truy nhập trái phép từ máy ở xa, kẻ tấn công
xâm nhập máy ở xa và lấy quyền truy nhập vào
máy tính nạn nhân
Phân bố chi tiết về các dạng tấn công theo từng kiểu tấn
công cụ thể và số lượng tương ứng trong tập dữ liệu huấn
luyện và tập dữ liệu kiểm tra được cung cấp trong Bảng 2
và Bảng 3. Mỗi bảng thể hiện số các trường hợp ứng với
hành vi xâm nhập cơ bản trong từng tập dữ liệu huấn luyện
và kiểm tra. Ngoài ra, bảng này cũng cho biết số lượng các
hành vi xâm nhập trái phép cụ thể được gán nhãn theo hành
vi xâm nhập cơ bản. Dữ liệu trong các bảng này cho thấy
có sự khác biệt lớn về số lượng giữa các dạng tấn công.
Việc phân lớp các dạng hành vi tấn công xâm nhập cơ
bản theo các hành vi trái phép được mô tả như trong Bảng
I.
Về tổng thể, tập huấn luyện chứa gần 126.000 mẫu dữ
liệu về 22 dạng tấn công/xâm nhập cụ thể. Trong khi đó tập
kiểm tra chứa hơn 22.500 mẫu dữ liệu nhưng có tới 37 kiểu
tấn công/xâm nhập. Sự khác biệt về kiểu tấn công giữa hai
tập dữ liệu là thách thức đối với các mô hình phát hiện, đặc
biệt là với các kiểu tấn công chưa được biết. Ngoài ra, sự
SOÁ 04B (CS.01) 2020
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG
64
Nguyễn Ngọc Điệp, Nguyễn Thị Thanh Thủy
Bảng III. Dạng tấn công probe và dos theo hành vi trá i
mất cân bằng giữa các dạng tấn công cũng là vấn đề khó
khăn cho các kỹ thuật phân loại.
phép trên hai tập dữ liệu.
Bảng II. Dạng tấn công u2r và r2l theo hành vi trá i phé p
probe
trên hai tập dữ liệu.
Huấn luyện 11656 Kiểm tra
2421
141
73
Ipsweep
Nmap
3599
1493
ipsweep
nmap
u2r
Huấn luyện
52
Kiểm tra
67
20
2
Portsweep
Satan
2931 portsweep
157
735
319
996
buffer_overflow 30 buffer_overflow
3633
satan
saint
loadmodule
Perl
9
3
loadmodule
perl
2
mscan
rootkit
10
rootkit
ps
13
15
2
dos
Huấn luyện 45927
Kiểm tra
Back
7460
359
7
sqlattack
xterm
Back
land
956
18
13
Land
r2l
neptune
pod
41214
201
Neptune
Pod
4657
41
Huấn luyện
ftp_write
guess_passwd
imap
995
8
Kiểm tra
2885
3
ftp_write
smurf
teardrop
2646
892
smurf
665
12
53
11
7
guess_passwd
imap
1231
1
teardrop
processtable
apache2
685
737
293
2
multihop
phf
multihop
phf
18
4
2
mailbomb
udpstorm
worm
spy
2
named
17
warezclient
warezmaster
890
20
warezmaster
sendmail
snmpgetattack
snmpguess
httptunnel
xlock
944
14
2
푇푃
178
331
133
9
푃푟푒푐푖푠푖표푛 =
푅푒푐푎푙푙 =
푇푃 + 퐹푃
푇푃
푇푃 + 퐹푁
và
xsnoop
4
2 × 푃푟푒푐푖푠푖표푛 × 푅푒푐푎푙푙
푃푟푒푐푖푠푖표푛 + 푅푒푐푎푙푙
퐹 =
1
B. Các thiết lập thử nghiệm
1) Độ đo đánh giá và các tham số của bộ phân lớp
với TP (true positives) là tỉ lệ đo xác định số lần hệ thống
phân loại vào đúng nhãn lớp và số lần thực tế nhãn lớp đó
xuất hiện, FP (false positives) là tỉ lệ số lần hệ thống phân
loại vào đúng nhãn lớp và số lần thực tế nhãn lớp đó không
xuất hiện, FN (false negatives) là tỉ lệ số lần hệ thống phân
loại vào nhãn lớp khác và số lần thực tế nhãn lớp đó xuất
hiện.
Để đánh giá độ hiệu năng, phương pháp kiểm tra chéo
10 lần được áp dụng trong các thử nghiệm. Theo phương
pháp này, dữ liệu được chia thành 10 phần, 9 phần được
sử dụng để huấn luyện các mô hình học và phần còn lại
được sử dụng để đánh giá. Quá trình được lặp lại cho tới
khi tất cả các phần đều được đánh giá và khi đó các kết quả
sẽ được lấy theo giá trị trung bình.
Độ chính xác tổng thể là một độ đo đơn giản thường
được sử dụng trong các đánh giá phân loại, được tính bằng
tỉ lệ giữa số phần tử được phân loại chính xác trên tổng số
các phần tử. Tuy nhiên, để đánh giá hiệu năng một hệ
thống phân loại xâm nhập với dữ liệu đầu vào không cân
bằng giữa các lớp thì độ chính xác tổng thể không phải là
một độ đo thực sự hiệu quả do ảnh hưởng của các lớp tới
kết quả phân loại là không cân bằng [15,16]. Trong trường
hợp này, độ đo đánh giá các mô hình phân loại được sử
dụng trong các thử nghiệm là độ chính xác (precision), độ
nhạy (recall), và F1 (trung bình điều hòa). Độ chính xác có
thể xác định được số các dự đoán cho một nhãn lớp là dự
đoán đúng thực sự, còn độ nhạy giúp xác định số nhãn lớp
trong thực tế đã được dự đoán đúng. F1 là trung bình điều
hòa của độ chính xác và độ nhạy. F1 giúp so sánh hiệu
năng các mô hình phân lớp được dễ dàng theo tỉ lệ trung
bình.
Mạng CNN đề xuất và mạng nơ-ron nhiều lớp sử dụng
trong thử nghiệm được xây dựng và huấn luyện sử dụng
bộ thư viện Keras [14], với các tham số đã mô tả trong
phần 3. Mạng MLP sử dụng 4 lớp ẩn, số lượng nơ-ron trên
các lớp đều là 60 phần tử. Hàm kích hoạt sử dụng cho lớp
Các độ đo này được xác định theo công thức như sau:
SOÁ 04B (CS.01) 2020
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG
65
NÂ NG CAO KHẢ NĂNG PHÁT HIỆN XÂ M NHẬP MẠNG SỬ DỤNG MẠNG CNN
ẩn là ReLU, và cho lớp đầu ra là hàm softmax. Bộ tối ưu
sử dụng cho mạng là Adam, với tham số learning rate cũng
là 0,001.
C. Kết quả thực nghiệm đối với các bộ phân lớp
Từ quan sát và tiến hành thử nghiệm, ta được các kết
quả với thứ tự được trình bày trong các bảng và hình dưới
đây lần lượt là: mô hình mạng CNN đề xuất, mạng MLP,
cây quyết định CART và rừng ngẫu nhiên (Random
Forest), máy véc-tơ tựa SVM và bộ phân lớp giảm gradient
ngẫu nhiên SGD.
Ngoài ra, do các dữ liệu huấn luyện cho mô hình phát
hiện xâm nhập mất cân bằng, để tăng độ chính xác, nghiên
cứu này sử dụng các tham số để quy định trọng số cho các
lớp trong các bộ phân lớp, tức là gán một giá trị phạt cho
các lớp có số mẫu lớn hơn nhiều các lớp khác một cách
hợp lý, giúp bộ phân lớp hoạt động hiệu quả hơn. Việc gán
giá trị phạt cho mạng nơ-ron học sâu được thực hiện với
tham số class_weight có trong các bộ thư viện Keras [14].
Bảng IV. Hiệu năng của các bộ phân lớp đo theo F1.
GIÁ TRỊ F1 TRUNG BÌNH
BỘ PHÂN LỚP
THEO CÁC LỚP (%)
CNN đề xuất
MLP
98,4
96,2
95,6
91,8
86,6
81,2
2) Cấu hình các bộ phân lớp khác
Để so sánh hiệu năng của mạng CNN đề xuất, nghiên
cứu này triển khai các mô hình phân loại áp dụng các kỹ
thuật: mạng nơ-ron sâu đa lớp, máy véc tơ tựa SVM
(Support Vector Machine), cây quyết định, rừng ngẫu
nhiên (Random Forest) và kỹ thuật phân loại giảm gradient
ngẫu nhiên SGD (Stochastic Gradient Descent). Các kỹ
thuật dựa trên cây quyết định hay rừng ngẫu nhiên là các
kỹ thuật cơ bản và truyền thống của học máy. Tuy nhiên,
hiệu năng của các kỹ thuật mới, nhất là SVM, khiến cho
việc sử dụng tham chiếu hiệu năng SVM được nhiều người
nghiên cứu quan tâm và thử nghiệm cho bài toán phân loại.
Khi xét về việc biểu diễn kết quả thì cây quyết định hay
rừng ngẫu nhiên dễ hiểu và dễ tiếp cận hơn đặc biệt với
người dùng thông thường. Các tham số của các bộ phân
lớp trên được xây dựng và huấn luyện tinh chỉnh tối ưu sử
dụng hàm grid_search trong bộ thư viện Scikit-learn [17].
Chú ý rằng, mục tiêu của việc xây dựng mô hình phát
hiện hành vi xâm nhập thường là tiến hành phân loại các
hành vi của người dùng thành các nhóm bình thường
(normal) và bất thường. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp,
các hành vi trong nhóm bất thường này cần được nhận biết
chi tiết theo các hành vi tấn công/xâm nhập dos, probe, u2r
và r2l (như phân loại trong tập dữ liệu NSL-KDD [18]).
Nói cách khác, mô hình phát hiện đề xuất cần phân biệt chi
tiết kiểu hành vi bất thường của người dùng chứ không chỉ
dừng ở việc phân loại hành vi bình thường hay không. Như
phân tích trong phần 4.1 về tập dữ liệu thử nghiệm, tập dữ
liệu NSL-KDD [18] thể hiện hành vi thông thường và tấn
công (bất thường) trên cả hai tập dữ liệu huấn luyện và
kiểm thử tương đối cân bằng xét về số lượng bản ghi. Tuy
nhiên, xem xét chi tiết các hành vi xâm nhập cơ bản (dos,
probe, r2l, u2r) cho thấy dữ liệu về các dạng tấn công mất
cân bằng nghiêm trọng, thể hiện ở số lượng các hành vi tấn
công và các biểu hiện của các dạng tấn công.
Random Forest
CART
SVM
SGD
Bảng IV cho phép đánh giá trực tiếp các mô hình quan
tâm bằng cách kết hợp cả hai yếu tố độ chính xác và độ
nhạy nhờ vào độ đo F1 trung bình. Theo trình bày trong
bảng, hiệu năng của các bộ phân lớp CNN đề xuất, MLP,
Random Forest và CART là cao nhất với giá trị F1 đều lớn
hơn 91%. Trong đó mạng CNN đề xuất có giá trị F1 cao
nhất với 98,4%, theo sau là mạng MLP là 96,2%, bộ phân
lớp Random Forest là 95,6% và cây quyết định CART là
91,8%. Các bộ phân lớp còn lại có giá trị F1 nhỏ hơn hẳn,
và kém nhất là SGD với F1 chỉ đạt 81,2%. Kết quả này cho
thấy, việc sử dụng số lượng các lớp ẩn phù hợp, mạng nơ-
ron học sâu có khả năng học được nhiều đặc trưng hữu ích
trong việc phát hiện chính xác các hành vi xâm nhập vào
hệ thống thông tin.
Đặc biệt, mạng CNN đề xuất có khả năng học nhiều đặc
trưng tốt hơn, học mô hình phân loại chính xác hơn hẳn
nhờ các đặc tính ưu việt so với các mạng nơ-ron thông
thường khác. Đó là các tính chất về tính bất biến và tính
kết hợp cục bộ, giúp cải thiện hiệu suất nhận dạng bất
thường. Tính cục bộ trong các lớp tích chập bảo vệ mô
hình khỏi sự ảnh hưởng của nhiễu đối với dữ liệu. Nhờ đó,
các đặc trưng được trích xuất trong các lớp tích chập có
khả năng chống nhiễu cao. Vì các đặc trưng mức thấp được
trích xuất từ dữ liệu bất thường và bất thường có thể tương
tự nhau, do đó các phương pháp học máy truyền thống khó
phân loại được một cách chính xác. Tuy nhiên, CNN có
thể xử lý những điểm tương đồng này bằng cách tạo ra các
đặc trưng mức cao và phân biệt nhau, kết hợp từ các đặc
trưng mức thấp đã có. Các lớp pooling gộp các giá trị đặc
trưng tương tự từ các vị trí khác nhau lại với nhau và gán
bằng một giá trị. Lớp pooling có thể kiểm soát việc phát
hiện sự bất thường với phân bố khác nhau.
Như phân tích về tập dữ liệu thử nghiệm NSL-KDD
[18], số lượng mẫu hành vi thông thường và bất thường
trên cả hai tập dữ liệu huấn luyện và kiểm thử tương đối
mất cân bằng. Tuy nhiên, xem xét chi tiết các hành vi xâm
nhập cơ bản (dos, probe, r2l, u2r) cho thấy dữ liệu về các
dạng tấn công mất cân bằng nghiêm trọng, thể hiện ở số
lượng các hành vi tấn công và các biểu hiện của các dạng
tấn công. Để giải quyết vấn đề này, kỹ thuật phạt với các
giá trị class_weight được áp dụng khi huấn luyện các mô
hình phân lớp. Đối với các tham số khác để xây dựng và
huấn luyện các bộ phân lớp, các giá trị mặc định được sử
dụng đối với bộ thư viện Scikit-learn [17].
Kết quả trong bảng IV chỉ mô tả đánh giá tổng quan
hiệu năng chung của các bộ phân lớp. Để xem xét cặn kẽ
hơn khả năng phát hiện xâm nhập của từng bộ phân lớp,
dưới đây sẽ trình bày phân tích chi tiết các giá trị về độ
chính xác, độ nhạy và F1 đối với từng loại hành vi.
SOÁ 04B (CS.01) 2020
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG
66
Nguyễn Ngọc Điệp, Nguyễn Thị Thanh Thủy
Random Forest. Hiệu năng tách biệt rõ rệt khi xác định
hành vi tấn công r2l và u2r. Kết quả của kỹ thuật nơ-ron
truyền thống và SVM chỉ xoay quanh giá trị 60%.
Hì nh 3. Độ chính xác của các mô hình phân lớp
Như trong Hình 3, khi phân biệt hành vi truy nhập thông
thường của người dùng thì tất cả các kỹ thuật phân loại đều
có hiệu năng tốt với tỷ lệ chênh lệch nhau khoảng 2% dao
động từ (98% đến 100%). Cụ thể, các kỹ thuật truyền
thống (không tính SGD) tốt hơn các kỹ thuật khác ngoại
trừ MLP. Kết quả này một phần do số lượng dữ liệu về
hành vi bình thường của người dùng chiếm phần lớn trong
tập dữ liệu sử dụng. Mạng CNN vẫn cho độ chính xác
thuộc nhóm đứng đầu trong từng loại tấn công.
Hì nh 5. Giá trị F1 của các mô hình
Hình 5 cho phép đánh giá tổng thể các mô hình quan
tâm theo độ đo F1. Mô hình CNN cho kết quả tốt nhất, sau
đó là MLP cho kết quả tốt ngang bằng với mô hình sử dụng
rừng ngẫu nhiên và cây quyết định khi xác định hành vi
bình thường của người dùng. Các mô hình còn lại đứng
sau với độ chênh lệch khoảng 2%. Khi xác định các hành
vi truy nhập bất thường, mô hình CNN vẫn đạt kết quả tốt
nhất, tuy nhiên mô hình dựa trên mạng học sâu là MLP
kém hơn mô hình Random Forest một chút nhưng tốt hơn
các kỹ thuật mạng nơ-ron truyền thống và SVM, vượt trội
các mô hình khác khi xác định hành vi u2r.
Các kết quả của mạng CNN và MLP thử nghiệm trong
nghiên cứu này không so sánh trực tiếp được với các
nghiên cứu sử dụng mạng nơ-ron hồi quy một phần do sự
khác biệt về cách đánh giá và chỉ số hiệu năng được công
bố. Chỉ có nghiên cứu [11] cung cấp kết quả phân loại chi
tiết về từng hành vi xâm nhập. Dù vậy, các kết quả của
nghiên cứu này cung cấp thêm góc độ khác về hiệu năng
của mạng nơ-ron học sâu cho bài toán phân loại hành vi
người dùng hay phát hiện xâm nhập.
V. KẾT LUẬN
Hì nh 4. Độ nhạy (Recall) của các mô hình phân lớp
Bài báo này nghiên cứu việc sử dụng mạng CNN cho
việc phát hiện hành vi xâm nhập mạng trái phép để đảm
bảo an toàn cho hệ thống thông tin. Ngoài ra, hiệu năng của
mô hình mạng CNN đề xuất được kiểm nghiệm với các mô
hình sử dụng các kỹ thuật tiêu biểu khác bao gồm rừng ngẫu
nhiên, cây quyết định, giảm gradient ngẫu nhiên, máy véc-
tơ tựa SVM, và mạng MLP bằng tập dữ liệu NSL-KDD.
Do đặc trưng của tập dữ liệu NSL-KDD, bài báo sử dụng
phương pháp đánh giá kiểm tra chéo 10 lần trên toàn bộ tập
dữ liệu nhằm đánh giá hiệu năng thuần túy của các kỹ thuật
phân loại hành vi truy nhập. Kết quả cho thấy hiệu năng
của kỹ thuật CNN thể hiện sự vượt trội so với các mô hình
còn lại. Khi xác định chi tiết các hành vi xâm nhập, mô hình
dựa trên CNN cũng vượt trội các kỹ thuật khác. Kết quả
này đạt được là do các đặc tính ưu việt trong quá trình học
đặc trưng của CNN, giúp mô hình có thể học được các đặc
trưng tốt nhất để phân loại các tấn công.
Vấn đề về hiệu năng xuất hiện khi xem xét kết quả phân
loại các hành vi xâm nhập từ các thao tác truy nhập của
người dùng. Các kỹ thuật truyền thống có độ chính xác rất
cao nhất với các hành vi tấn công dos và probe (gần như
100%). Mạng CNN và MLP có kết quả rất sát (99%) với
bộ phân loại Random Forest và ngang bằng với bộ phân
loại cây quyết định CART. Các kỹ thuật phân loại còn lại
dao động trong khoảng từ 93% đến 95%.
Điểm đáng chú ý nhất là độ chính xác khi phân loại hành
vi tấn công u2r. Hành vi này chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong
toàn bộ tập dữ liệu với gần 120 trường hợp. Mạng CNN và
MLP cho kết quả tốt nhất là 100% tương tự mô hình SVM
và SGD. Bộ phân loại Random Forest và cây quyết định
cũng có hiệu năng tương đối kém với độ chính xác lần lượt
là 83% và 67%.
Hình 4 thể hiện độ nhạy của 6 mô hình được khảo sát.
Mô hình sử dụng CNN là tốt nhất, sau đó là MLP cũng
nằm trong nhóm đứng đầu như các mô hình CART và
SOÁ 04B (CS.01) 2020
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG
67
NÂ NG CAO KHẢ NĂNG PHÁT HIỆN XÂ M NHẬP MẠNG SỬ DỤNG MẠNG CNN
variables in artificial neural network models. Ecol. Model.
LỜI CẢM ƠN
160, 249–264.
Nghiên cứu sinh được hỗ trợ bởi chương trình học bổng
đào tạo tiến sĩ trong nước của Quỹ Đổi mới sáng tạo
Vingroup, mã số VINIF.2020.TS.94.
[20] Sainath, T. N., Mohamed, A. R., Kingsbury, B., &
Ramabhadran, B. (2013, May). Deep convolutional neural
networks for LVCSR. In 2013 IEEE international
conference on acoustics, speech and signal processing (pp.
8614-8618). IEEE.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Anyanwu, L.O., Keengwe, J. and Arome, G.A., 2010, April.
Scalable intrusion detection with recurrent neural networks.
In Information Technology: New Generations (ITNG),
2010 Seventh International Conference on (pp. 919-923).
IEEE.
[2] Gao, N., Gao, L., Gao, Q. and Wang, H., 2014, November.
An intrusion detection model based on deep belief
networks. In Advanced Cloud and Big Data (CBD), 2014
Second International Conference on (pp. 247-252). IEEE.
ENHANCED NETWORK INTRUSION
DETECTION USING CNN
Abstract: Network intrusion detection (NIDS) is a very
attractive topic for both system administrators and security
researchers. The problem of intrusion detection can be
tackled by machine learning models, based on statistical
algorithms or artificial neural networks, to identify
abnormal behaviours from those of users accessing
systems. However, security attacks tend to be
unpredictable today. It is very difficult to build a flexible
and effective NIDS with low false alarms and high
detection accuracy against unknown attacks. This paper
introduces a deep learning model based on Convolutional
Neural Network (CNN) to detect intrusions and compare
its performance with other machine learning techniques on
NSL-KDD dataset. The experimental results of a 98.4% at
F1 score show that the proposed CNN-based intrusion
detection model could be a potential model for IDS
systems.
[3] Na, Seung-Hoon. "Advanced Deep Learning." (2020).
[4] Berman, Daniel S., et al. "A survey of deep learning
methods for cyber security." Information 10.4 (2019): 122.
[5] Kim, J., Kim, J., Thu, H.L.T. and Kim, H., 2016, February.
Long Short Term Memory Recurrent Neural Network
Classifier for Intrusion Detection. In Platform Technology
and Service (PlatCon), 2016 International Conference on
(pp. 1-5). IEEE.
[6] Liao, H.J., Lin, C.H.R., Lin, Y.C. and Tung, K.Y., 2013.
Intrusion detection system: A comprehensive review.
Journal of Network and Computer Applications, 36(1),
pp.16-24.
[7] Lippmann, Richard. "An introduction to computing with
neural nets." IEEE Assp magazine 4.2 (1987): 4-22.
[8] Niyaz, Q., Sun, W., Javaid, A.Y. and Alam, M., 2015. A
deep learning approach for network intrusion detection
system. In Proceedings of the 9th EAI International
Keywords: network intrusion detection, NSL-KDD,
deep learning, CNN.
Conference
on
Bio-inspired
Information
and
Communications Technologies (Formerly BIONETICS),
BICT-15 (Vol. 15, pp. 21-26).
[9] Salzberg, Steven L. C4. 5: Programs for machine learning
by J. Ross Quinlan. Morgan Kaufmann Publishers, Inc.,
1993. Machine Learning 16.3 (1994): 235-240.
[10] Schölkopf, B., and Smola A. J.. Learning with Kernels:
Support Vector Machines, Regularization, Optimization,
and Beyond. Cambridge, MA: MIT Press, 2002.
[11] Staudemeyer, R.C., 2015. Applying long short-term
memory recurrent neural networks to intrusion detection. 10
African Computer Journal, 56(1), pp.136-154.
Nguyễn Ngọc Điệp. Nhận học
vị Tiến sĩ năm 2017. Hiện đang
công tác tại Khoa Công nghệ
Thông tin 1 và Lab Học máy và ứng
dụng, Học viện Công nghệ Bưu
chính Viễn thông. Lĩnh vực nghiên
cứu: học máy, an toàn thông tin, xử
lý ngôn ngữ tự nhiên.
[12] Tsai, C.F., Hsu, Y.F., Lin, C.Y. and Lin, W.Y., 2009.
Intrusion detection by machine learning: A review. Expert
Systems with Applications, 36(10), pp.11994-12000.
[13] S. Hettich, S.D. Bay, The UCI KDD Archive. Irvine, CA:
University of California, Department of Information and
[14] Joshi, Deepa, Shahina Anwarul, and Vidyanand Mishra.
"Deep Leaning Using Keras." Machine Learning and Deep
Learning in Real-Time Applications. IGI Global, 2020. 33-
60.
Nguyễn Thị Thanh Thủy. Nhận
học vị Thạc sĩ năm 2009 tại Hàn
Quốc. Hiện đang công tác tại Khoa
Công nghệ Thông tin 1 và Lab Học
máy và ứng dụng, Học viện Cô ng
nghệ Bưu chính Viễn thông. Lĩnh vực
nghiên cứu: học máy, xử lý ngôn ngữ
tự nhiên.
[15] Tang, Y., Zhang, Y.-Q., Chawla, N. V, Krasser, S. (2009),
SVMs modeling for highly imbalanced classification, IEEE
Transactions on Systems, Man, and Cybernetics, Part B
(Cybernetics), IEEE. 39(1), p. 281–8.
[16] Veropoulos, K., Campbell, C., Cristianini, N., others.
(1999), Controlling the sensitivity of support vector
machines, Proceedings of the International Joint Conference
on AI, p. 55–60.
[17] Géron, Aurélien. Hands-on machine learning with Scikit-
Learn, Keras, and TensorFlow: Concepts, tools, and
techniques to build intelligent systems. O'Reilly Media,
2019.
ca/NSL-KDD (2012).
[19] Gevrey, M., Dimopoulos, I., Lek, S., 2003. Review and
comparison of methods to study the contribution of
SOÁ 04B (CS.01) 2020
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG
68
Bạn đang xem tài liệu "Nâng cao khả năng phát hiện xâm nhập mạng sử dụng mạng CNN", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
nang_cao_kha_nang_phat_hien_xam_nhap_mang_su_dung_mang_cnn.pdf

