Một số phương pháp xác định chủ đề của câu văn bản trong hệ tư vấn

TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 18, Số 1 (2021)  
MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH CHỦ ĐỀ CỦA CÂU VĂN BẢN  
TRONG HỆ TƯ VẤN  
Đoàn Thị Hồng Phước, Nguyễn Văn Trung, Lê Văn Tường Lân  
Khoa Công nghệ thông tin, Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế  
Ngày nhận bài: 4/01/2021; ngày hoàn thành phản biện: 15/01/2021; ngày duyệt đăng: 02/6/2021  
TÓM TẮT  
Các hệ thống tư vấn hay hệ trợ lý ảo (chatbots) đã và đang được nghiên cứu và phát triển  
trong vài thập niên gần đây bởi những sự thuận lợi của chúng trong việc tương tác giữa  
người và máy. Ngày nay, các hệ trợ lý ảo này đã được áp dụng trong nhiều lĩnh vực trên  
thực tế như thương mại điện tử, chăm sóc sức khỏe, y tế, du lịch và giáo dục. Một trong  
những giai đoạn đầu tiên, quan trọng nhất mà ảnh hưởng đến chất lượng kết quả đầu ra  
của các hệ thống này là làm sao hiểu được chủ đề từ thông điệp/câu văn bản mà người sử  
dụng đưa vào. Do đó, trong bài báo này, chúng tôi tìm hiểu một số phương pháp xác định  
chủ đề từ một câu văn bản cho trước và đưa ra đánh giá về tính hiệu quả của các phương  
pháp này.  
Từ khóa: Xác định chủ đề, trợ lý ảo, thông điệp văn bản.  
1. MỞ ĐẦU  
Trợ lý ảo là một chương trình máy tính mô phỏng và xử lý cuộc hội thoại con  
người (giọng nói hoặc văn bản). Nó cho phép con người tương tác với các thiết bị kỹ  
thuật số như thể họ đang giao tiếp với một người thực. Các trợ lý ảo hỗ trợ các công ty,  
doanh nghiệp bằng cách thay thế các nhân viên trả lời câu hỏi người dùng mọi lúc mọi  
nơi, giúp giảm chi phí cho công ty trong công tác nhân sự. Ngoài ra, các thông tin chi  
tiết về người dùng như hoạt động, sở thích, vấn đề người dùng quan tâm, ... sẽ được thu  
thập thông qua tương tác với người dùng một cách thường xuyên. Dựa vào các thông  
tin này, công ty có thể cải thiện tình hình thực tế cũng như đưa ra các quảng bá, khuyến  
nghị phù hợp với người dùng. Vì vậy, trong những năm gần đây, các hệ trợ lý ảo đang  
được nghiên cứu và ứng dụng vào nhiều lĩnh vực trên thực tế như chăm sóc sức khỏe,  
y tế [1, 2], du lịch [3, 4], giáo dục [5–7] và đặc biệt trong thương mại điện tử [8, 9], trợ lý  
ảo giúp việc giao tiếp với khách hàng tốt hơn chẳng hạn như trong việc đặt hàng cũng  
như đưa ra khuyến nghị về sản phẩm.  
47  
Một số phương pháp xác định chủ đề của câu văn bản trong hệ tư vấn  
Hiện nay, có nhiều trợ lý ảo phục vụ cho các mục đích khác nhau từ những trợ  
lý ảo với sự hỗ trợ đơn giản như trả lời các câu hỏi người sử dụng theo một kịch bản có  
sẵn cho đến các hệ trợ lý ảo thông minh có thể đưa ra các khuyến nghị (tư vấn) cho người  
sử dụng. Nhìn chung, cấu trúc của một hệ trợ lý ảo gồm 2 thành phần chính: (1) Phân  
tích thông điệp người dùng; (2) Tạo ra câu trả lời tương ứng với thông điệp đầu vào.  
Phân tích thông điệp  
người dùng  
Thông điệp  
người dùng  
(User message)  
Chủ đề  
Tạo ra câu  
trả lời  
Hệ thống  
trả lời  
Xác định chủ đề  
Ngữ cảnh  
Trích xuất ngữ cảnh  
Hình 1. Cấu trúc chung của một trợ lý ảo [6]  
(1) Phân tích thông điệp người dùng (User message analysis): Giúp hệ thống hiểu rõ  
những gì mà người dùng (user) đang yêu cầu. Thành phần này có hai chức năng chính  
sau:  
- Xác định chủ đề của người dùng (Identifying user intent): Mục đích của chức  
năng này là xác định (nhận ra) chủ đề (intent) của người dùng thông qua thông điệp  
(message) mà họ đưa vào.  
- Trích xuất ngữ cảnh người dùng (Extracting user context): Chức năng này có  
nhiệm vụ trích xuất các thông tin ngữ cảnh thông qua thông điệp của người dùng. Chẳng  
hạn như địa điểm, thời gian, thông tin người dùng, …. Những thông tin này sẽ giúp hệ  
thống đưa ra câu trả lời phù hợp với tình huống của người dùng.  
Ví dụ: “Môn học tiên quyết của học phần Trí tuệ nhân tạo là gì?”. Dựa vào thông  
điệp trên, hệ thống xác định được chủ đề người dùng muốn hỏi liên quan đến thông tin  
học phần. Để có thể đưa ra phản hồi phù hợp, hệ thống cần hiểu hơn về thông điệp này.  
Hệ thống đòi hỏi thêm về thông tin ngữ cảnh như: “Trí tuệ nhân tạo”, “môn học tiên  
quyết”. Trong trường hợp không trích xuất được thêm thông tin ngữ cảnh, hệ thống yêu  
cầu người dùng nhập thêm vào.  
(2) Tạo ra câu trả lời (Response generation): Thành phần này sẽ tạo ra câu trả lời phù  
hợp dựa vào chủ đề và ngữ cảnh từ thông điệp của người dùng đưa vào.  
Tóm lại, một trong các bước quan trọng đầu tiên cần giải quyết trong hệ trợ lý ảo  
để có thể đưa ra kết quả tốt (đưa ra câu trả lời phù hợp mà người dùng mong muốn) đó  
là xác định được chủ đề người dùng muốn nói gì từ thông điệp dưới dạng câu văn bản  
mà họ đưa vào. Trong bài báo này, chúng tôi trình bày một số cách tiếp cận từ trước đến  
nay trong việc giải quyết bài toán xác định chủ đề người dùng ở Mục 2 và đưa ra so sánh  
48  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 18, Số 1 (2021)  
và đánh giá giữa các cách tiếp cận trong Mục 3. Phần kết luận cũng sẽ được trình bày  
trong Mục 4.  
2. MỘT SỐ CÁCH TIẾP CẬN ĐỐI VỚI BÀI TOÁN XÁC ĐỊNH CHỦ ĐỀ TỪ THÔNG  
ĐIỆP NGƯỜI DÙNG  
Trong phần này, chúng tôi sẽ trình bày một số cách tiếp cận đã và đang được sử  
dụng để giải quyết bài toán xác định chủ đề từ thông điệp của người dùng.  
2.1.Đối sánh chuỗi (String matching)  
Đây là phương pháp đơn giản và trực quan nhất được sử dụng để xác định chủ  
đề. Kỹ thuật này thường được sử dụng trong các hệ trợ lý ảo dựa vào luật (rule-based  
chatbot). Cụ thể, đầu tiên một tập các mẫu câu văn bản tương ứng cho mỗi chủ đề được  
thu thập. Sau đó, ứng với mỗi thông điệp dưới dạng câu văn bản đưa vào, hệ thống sẽ  
so sánh với mỗi chuỗi trong tập mẫu văn bản và gán vào vào chủ đề tương ứng nếu có  
sự trùng khớp. Chẳng hạn, chúng ta có tập các mẫu câu: {“Chào bạn”, “Xin chào”, “Hi”}  
tương ứng với chủ đề “Chào hỏi”. Khi người sử dụng đưa vào câu “Xin chào”, hệ thống  
sẽ gán chủ đề của thông điệp đó là “Chào hỏi”.  
2.2.Dựa trên luật (Rule-based approach)  
Các phương pháp trong cách tiếp cận này định nghĩa tập các luật bao gồm các  
mẫu (patterns) và câu trả lời (response) tương ứng với các chủ để. Cụ thể:  
ELIZA [10] là một trong những trợ lý ảo đầu tiên sử dụng đối sánh mẫu đơn  
giản. ELIZA định ra các từ khóa từ các thông điệp người dùng, sau đó chuyển đổi thông  
điệp người dùng thành một luật thích hợp và đưa ra câu trả lời.  
Những năm 1995-2000, ngôn ngữ đánh dấu trí tuệ nhân tạo (Artificial  
Intelligence Markup Language -AIML) được phát triển bởi cộng đồng Alicebot [11]. Tập  
tin AIML bao gồm các thẻ phân loại (category tags) biểu diễn các luật, mỗi catergory tag  
chứa một cặp thẻ pattern tag và template tag. Hệ thống tìm kiếm các mẫu (pattern) tương  
ứng thông điệp người dùng đưa vào và đưa ra câu trả thích hợp trong template.  
ALICE[12] là trợ lý ảo đầu tiên sử dụng ngôn ngữ và bộ thông dịch AIML. Trong đó, cơ  
sở tri thức (Knowlegde Base-KB) của ALICE bao gồm các tập mẫu và câu trả lời tương  
ứng.  
49  
Một số phương pháp xác định chủ đề của câu văn bản trong hệ tư vấn  
Hình 2. Một ví dụ về pattern trong AIML [11]  
Với ví dụ trên, giả sử thông điệp người dùng đưa vào “Hi”. Hệ thống sẽ chọn  
ngẫu nhiên một trong các mẫu câu trong chủ đề này (chẳng hạn: “Hi! Nice to meet You”)  
để đưa ra câu trả lời.  
K. O’Shea và cộng sự [13] đưa ra khung ngữ nghĩa (semantic-based framework)  
và được tổ chức thành các ngữ cảnh (chủ đề) gồm các luật liên quan. Hệ thống tính toán  
độ tương tự giữa các mẫu trong kịch bản với thông điệp người dùng và đưa ra câu trả  
lời tương ứng với mẫu có độ tương tự cao nhất. Các nghiên cứu khác như [14, 15] sử  
dụng LSA (Latent Semantic Analysis) để tính độ tương tự trong quá trình đối sánh mẫu  
kịch bản và thông điệp người dùng.  
Các tác giả trong nghiên cứu [5] đã sử dụng ngôn ngữ khung kịch bản  
FrameScript [16] để xác định ngữ cảnh ứng với thông điệp người dùng dưới dạng văn  
bản tiếng việt mà trong đó các ngữ cảnh (chủ đề) được xây dựng bởi các kịch bản phân  
cấp chứa các luật được biểu diễn trong ngôn ngữ FrameScript. Thật vậy, ngôn ngữ  
FrameScript cung cấp giao diện tạo mẫu nhanh và đơn giản hóa việc viết kịch bản. Mỗi  
ngữ cảnh được biểu diễn như là một kịch bản (script). Mỗi kịch bản trong FrameScript  
gồm danh sách các luật được dùng để đối sánh với thông điệp đầu vào và đưa ra chủ đề  
tương ứng. Các luật được nhóm thành các ngữ cảnh cụ thể và có dạng  
context_name::rule_set. Các luật kịch bản (scripting rules) trong ngôn ngữ FrameScript  
bao gồm các mẫu (patterns) và các câu trả lời (responses) có dạng: pattern ==> response.  
Mỗi kịch bản có một trigger để xác định liệu có hay không thông điệp đầu vào kích hoạt  
chủ đề tương ứng. Nếu trigger không tồn tại thì bất kỳ thông điệp đầu vào nào cũng sẽ  
kích hoạt chủ đề. Nếu thông điệp đầu vào khớp với trigger của một chủ đề thì chủ đề  
đó sẽ trở thành chủ đề hiện hành.  
50  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 18, Số 1 (2021)  
Hình 3. Script về “môn học tiên quyết” [5]  
Ví dụ ở Hình 3 mô tả chủ đề “mon_hoc_tien_quyet” gồm có 3 luật tương ứng. Giả  
sử thông điệp đầu vào của người sử dụng là: “Môn học tiên quyết là gì?”, trigger của script  
“mon_hoc_tien_quyet” sẽ xử lý thông tin đầu vào này và chủ đề “môn học tiên quyết” sẽ là  
chủ đề hiện hành và đưa ra câu trả lời tương ứng. Nếu người sử dụng trả lời “Có” với  
câu hỏi “Bạn có muốn biết thêm thông tin về môn học điều kiện?” thì câu trả lời trong luật  
chuyển đổi sẽ thực hiện thay đổi chủ đề hiện hành sang chủ đề “môn học có điều kiện”.  
2.3.Xử lý ngôn ngữ tự nhiên kết hợp học máy  
Với cách tiệp cận này, bài toán xác định chủ đề của câu văn bản cho trước được  
xem như là bài toán phân loại văn bản, trong đó mỗi văn bản được phân vào lớp chủ đề  
tương ứng.  
Các phương pháp học truyền thống thường được sử dụng cho bài toán xác định  
chủ đề từ thông điệp người dùng dưới dạng câu văn bản như Naïve Bayes[17], Support  
Vector Machine (SVM)[18], logistic regression[19], max entropy (MaxEnt) [20]. Trong đó,  
một mô hình được huấn luyện từ tập ngữ liệu (corpus) chứa các câu văn bản đã được  
gán vào các lớp chủ đề. Chẳng hạn, một tập ngữ liệu về lĩnh vực đào tạo chứa một số  
câu văn bản như: “Môn học tiên quyết của học phần Trí tuệ nhân tạo là gì?” thuộc lớp chủ  
đề “học phần”; “Điểm tích lũy hiện tại bao nhiêu?” thuộc lớp chủ đề “Điểm số”; “Chào bạn”  
thuộc lớp chủ đề “Chào hỏi”. Dựa vào mô hình đã học, thông điệp người dùng dưới dạng  
câu văn bản sẽ được xác định chủ đề. Thông thường, quá trình học được thực hiện như  
sau: Trước tiên, một số phương pháp xử lý ngôn ngữ tự nhiên như tách từ, loại bỏ  
stopwords, gán nhãn từ (POS- tagging), stemming, lemmatization,… được sử dụng để  
biểu diễn các câu văn bản trong tập ngữ liệu huấn luyện dưới dạng các véc tơ đặc trưng  
(véc tơ đặc trưng bag-of-word, tf-idf,…). Sau đó, xây dựng các mô hình học từ tập ngữ  
liệu huấn luyện thông qua các đặc trưng này.  
51  
Một số phương pháp xác định chủ đề của câu văn bản trong hệ tư vấn  
Hiện nay, các phương pháp học sâu (deep learning) dùng mạng nơ ron nhiều lớp  
được sử dụng để giải quyết bài toán này. Cụ thể, Hashem và cộng sự [21] đã sử dụng  
mô hình CNN (Convolutional Neural Network) để đưa ra véc tơ đặc trưng của câu truy  
vấn và véc tơ đặc trưng này được sử dụng trong xác định chủ đề của câu truy vấn tốt  
hơn nhiều so với đặc trưng bag-of-word. Mô hình học RNN (Recurrent Neural Network)  
thường được dùng để học thông tin ngữ nghĩa thứ tự các từ theo ngữ cảnh. Ravuri và  
cộng sự [22] đã sử dụng RNN và LSTM (Long Short Term Memory) giải quyết bài toán  
phân loại chủ đề. Các thí nghiệm chỉ ra rằng RNN cho kết quả tốt với câu văn bản ngắn  
và LSTM cho kết quả tốt với câu văn bản dài. Hiện tại, một số công ty như Google,  
Microsoft,… đã xây dựng các API sử dụng phương pháp học truyền thống và học sâu  
để hỗ trợ người sử dụng trong bài toán xử lý ngôn ngữ nói chung và xác định chủ đề  
của câu văn bản nói riêng như Dialogflow, Rasa, Luis,... Nghiên cứu [6] sử dụng công  
cụ Dialogflow để xác định chủ đề của thông điệp người dùng đưa vào dưới dạng câu  
văn bản tiếng việt trong hệ trợ lý ảo hỗ trợ học và quản lý sinh viên của một trường Đại  
học.  
Xét thấy, mỗi mô hình học sâu đều có ưu điểm và nhược điểm riêng, các nhà  
nghiên cứu thường đưa ra phương pháp kết hợp giữa các mô hình. Chẳng hạn, Tran OT  
và cộng sự [23] đã đưa ra một phương pháp học sâu sử dụng hai kiến trúc mạng LSTMs  
và CNNs để trích chọn các đặc trưng ngữ nghĩa một cách tự động. Các đặc trưng này  
được sử dụng để phân loại chủ đề văn bản. Các tác giả trong bài báo [24] đã đưa ra  
framework TOP-ID (Towards OPen Intent Discovery) với cách tiếp cận 2 giai đoạn, sử  
dụng mô hình gồm LSTM hai chiều và CRF. Hệ thống tự động xác định các chủ đề không  
cần tri thức của lớp chủ đề được định nghĩa trong tập ngữ liệu huấn luyện. Điều này có  
nghĩa TOP-ID không bị giới hạn bởi tập các chủ đề được định nghĩa trước, hệ thống có  
thể nhận ra các chủ đề chưa từng gặp trước đó.  
3. SO SÁNH VÀ ĐÁNH GIÁ CÁC CÁCH TIẾP CẬN  
Phương pháp đối sánh chuỗi khá đơn giản và dễ cài đặt, chúng ta có thể thấy  
ngay nhược điểm của phương pháp này là việc đối sánh chuỗi dễ dàng dẫn đến việc  
nhận dạng sai nếu trong hai chuỗi đang so sánh có ký tự hay từ không giống nhau dẫn  
đến hai chuỗi đó khác nhau. Với ví dụ tập mẫu của chủ đề “Chào hỏi” như trên, nếu  
thông điệp đầu vào của người dùng là “Chào”, thì hệ thống không nhận diện được chủ  
đề. Ngoài ra, đối với phương pháp này, chương trình cần phải lưu nhiều câu văn bản  
mẫu tương ứng với mỗi chủ đề để hệ thống có thể đưa ra câu trả lời đúng.  
Trong khi đó, các phương pháp dựa trên luật đòi hỏi bộ cơ sở tri thức được xây  
dựng sẵn, bao gồm các mẫu câu và câu trả lời (chủ đề) tương ứng. Cơ chế làm việc của  
các phương pháp này là tìm mẫu câu phù hợp nhất ứng với thông điệp đầu vào để đưa  
ra chủ đề tương ứng đã được xác định trước. Các phương pháp này cho ra kết quả chính  
52  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 18, Số 1 (2021)  
xác nếu thông điệp đầu vào có mẫu trùng khớp với mẫu trong cơ sở tri thức. Các hệ  
thống dựa trên luật không có khả năng học mà chỉ thực hiện theo ngữ cảnh hay kịch bản  
được thiết kế sẵn, do đó hệ thống sẽ không đưa ra được câu trả lời trong trường hợp  
thông điệp đầu vào không có dạng mẫu trong cơ sở tri thức. Thật vậy, giả sử chúng ta  
có cơ sở tri thức chỉ chứa luật với mẫu “Hi” như trong Hình 2. Như vậy, nếu người sử  
dụng nhập vào thông điệp “Hello” thì chương trình sẽ không đưa ra được câu trả lời  
tương ứng bởi vì mẫu của thông điệp này không có trong cơ sở tri thức. Do đó, các hệ  
thống này sẽ cho kết quả tốt nếu cơ sở tri thức chứa nhiều luật. Hiện nay, công nghệ  
AIML vẫn được sử dụng phổ biến trong các hệ trợ lý ảo. Cụ thể, hệ trợ lý ảo Mitsuku[25]  
được xây dựng bằng công nghệ AIML đã 5 lần giành giải Loebner Prize vào những năm  
2013, 2016, 2017, 2018 và 2019. Ngoài ra, công nghệ AIML được phát triển thành các gói  
mã nguồn mở[26] thuận tiện cho người sử dụng. Với đặc điểm này, các phương pháp  
dựa trên luật được sử dụng để xây dựng các trợ lý ảo dạng kịch bản mà trong đó các câu  
hỏi và câu trả lời được thiết kế sẵn một cách có trình tự, người sử dụng có thể lựa chọn  
câu hỏi có sẵn hoặc trả lời các câu hỏi mà chương trình đưa ra. Các mô hình trợ lý ảo này  
thường được sử dụng trong lĩnh vực thương mại điện tử như đặt hàng, giao tiếp với  
khác hàng hay đưa ra các khuyến nghị khi mua hàng.  
Hai phương pháp vừa trình bày ở trên chỉ thực hiện việc đối sánh chuỗi và mẫu  
của thông điệp đầu vào sao cho trùng khớp với cơ sở tri thức đã xây dựng sẵn và hoàn  
toàn không hiểu được ngôn ngữ tự nhiên của câu văn bản. Trong khi đó, các phương  
pháp học máy kết hợp sử dụng ngôn ngữ tự nhiên cho phép xây dựng các trợ lý ảo thông  
minh, có khả năng hiểu được thông điệp đầu vào bất kỳ thông qua việc trích xuất thông  
tin bằng các phương pháp xử lý ngôn ngữ tự nhiên và huấn luyện (training). Tuy nhiên,  
những phương pháp học máy này đòi hỏi tập dữ liệu huấn luyện (training data) đầu  
vào là tập ngữ liệu gồm các mẫu câu được gán lớp chủ đề tương ứng. Các phương pháp  
học máy truyền thống cho ra kết quả tốt khi có đủ tập dữ liệu huấn luyện và tập đặc  
trưng dữ liệu được lựa chọn tốt. Thông thường tập các đặc trưng được trích chọn bằng  
tay, phụ thuộc vào các chuyên gia nên đòi hỏi chi phí cao. Ngoài ra, đối với các thông  
điệp đầu vào không chuẩn và nhập nhằng, phương pháp học truyền thống không đưa  
ra được kết quả chính xác vì không hiểu sâu ngữ nghĩa bên trong của câu văn bản. Trong  
khi đó, các phương pháp học sâu cho ra kết quả tốt hơn hẳn khi tập dữ liệu đủ lớn. Bên  
cạnh đó, các phương pháp học sâu tự trích chọn đặc trưng trong quá trình học (học biểu  
diễn đặc trưng) trước khi tham gia vào quá trình phân lớp. Tuy nhiên, các thực nghiệm  
chỉ ra rằng, trong trường hợp dữ liệu không đủ lớn thì phương pháp học truyền thống  
cho ra kết quả tốt hơn.  
Tóm lại, phương pháp dựa vào luật có nhược điểm ít linh hoạt nghĩa là nếu mẫu  
câu đầu vào không tồn tại trong cơ sở tri thức thì hệ thống sẽ không đưa ra kết quả. Tuy  
nhiên ưu điểm của phương pháp này cho ra kết quả khá chính xác khi mẫu câu thông  
điệp đầu vào khớp với mẫu câu trong cơ sở tri thức. Ưu điểm của các phương pháp học  
53  
Một số phương pháp xác định chủ đề của câu văn bản trong hệ tư vấn  
máy là khả năng hiểu ngữ nghĩa thông điệp người sử dụng đưa vào, có khả năng học từ  
dữ liệu mới. Tuy nhiên các phương pháp học máy đòi hỏi dữ liệu huấn luyện phải đủ  
lớn, cần thời gian huấn luyện. Trong trường hợp tập huấn luyện không đầy đủ, hệ thống  
có thể cho ra kết quả sai.  
4. KẾT LUẬN  
Bài báo trình bày một số cách tiếp cận được sử dụng cho bài toán xác định chủ  
đề của thông điệp người dùng dưới dạng câu văn bản. Trong bài báo này, chúng tôi  
cũng đã đưa ra so sánh, đánh giá ưu và nhược điểm của mỗi phương pháp. Tùy theo dữ  
liệu đầu vào, yêu cầu trợ lý ảo được thiết kế kiểu gì mà chúng ta chọn phương pháp cho  
phù hợp.  
Bài toán xác định chủ đề của một câu văn bản được áp dụng trong trong nhiều  
lĩnh vực xử lý ngôn ngữ tự nhiên nói chung và trợ lý ảo nói riêng. Các trợ lý ảo thông  
thường hướng đến việc xác định chủ đề người dùng trên một lĩnh vực cụ thể chẳng hạn  
như thương mại điện tử, y tế, giáo dục,… Việc xây dựng trợ lý ảo linh hoạt, có thể hiểu  
được hầu hết các thông điệp người dùng dưới dạng câu văn bản thậm chí câu văn bản  
không đầy đủ (ngôn nghữ chat) để đưa ra chủ đề hay ý định người dùng muốn nói gì  
(đặc biệt là câu văn bản có nhiều chủ đề trong đó) là một bài toán vẫn đang còn nhiều  
thách thức. Dựa vào các phân tích đánh giá một số cách tiếp cận đã trình bày ở đây,  
chúng tôi hướng đến xây dựng hệ trợ lý ảo tư vấn thông tin đào tạo Đại học cho các sinh  
viên trong trường vào thời gian đến.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]. Laranjo L, Dunn AG, Tong HL, et al (2018). Conversational agents in healthcare: a systematic  
review, J Am Med Inform Assoc., Vol 25, pp. 1248–1258  
[2]. Kim J, Park SY, Lionel P R (2013). Conversational Agents for Health and Wellbeing: Review  
and Future Agendas, Proc. Identifying Challenges and Opportunities in Human–AI Collaboration  
in Healthcare. Austin, Texas USA  
[3]. Schaffer S, Gustke O, Oldemeier J, Reithinger N (2018). Towards Chatbots in the museum,  
Proc. CEUR Workshop., pp. 1–7  
[4]. Varitimiadis S, Kotis K, Tzortzakakis A, et al (2020). Towards implementing an AI chatbot  
platform for museums, Pro. 2nd International Conference on Cultural Informatics,  
Communication & Media Studies., Vol 1, p. 1-15  
[5]. [Quoc Nguyen D, Quoc Nguyen D, Bao Pham S (2012). A Vietnamese Text-Based  
Conversational Agent, (eds) Advanced Research in Applied Artificial Intelligence. Springer,  
Berlin, Heidelberg. pp 699–708  
[6]. Hien H, Pham-Nguyen C, Nam L, et al (2018). Intelligent Assistants in Higher-Education  
Environments: The FIT-EBot, a Chatbot for Administrative and Learning Support, Proc. of  
54  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 18, Số 1 (2021)  
the Ninth International Symposium on Information and Communication Technology. Danang City,  
Vietnam, pp. 69–76  
[7]. Boundris D, Atwell E (2005). "Using FAQs and Chatbots for e-learning at the University of  
Leeds", Master Thesis, Information Systems, University of Leeds, West Yorkshire, England  
[8]. Anusha Vegesna, Pranjal Jain, Dhruv Porwal (2018). Ontology based Chatbot (For E-  
commerce Website)., Int J Comput Appl., Vol. 179, pp. 51–55  
[9]. Chai J, Horvath V, Nicolov N, et al (2001). Natural Language Sales Assistant -- A Web-Based  
Dialog System for Online Sales, Proc. the Thirteenth Innovative Applications of Artificial  
Intelligence Conference, Seattle, Washington, USA, pp. 19–26  
[10]. Weizenbaum J (1966). ELIZA—a computer program for the study of natural language  
communication between man and machine, Comun ACM., Vol 9, pp. 36–45.  
[11]. Bruno Marietto M das G, Aguiar RV, Barbosa G de O, et al (2013). Artificial Intelligence  
Markup Language: A Brief Tutorial, Int J Comput Sci Eng Surv., Vol 4, pp. 1–20  
[12]. Shah H (2006). A.L.I.C.E.: an ACE in Digitaland, tripleC., Vol 4, pp. 284–292  
[13]. O’Shea K, Bandar Z, Crockett K (2010). A Conversational Agent Framework using Semantic  
Analysis, Int J Intell Comput Res., Vol 1, pp. 10–19  
[14]. Graesser A, Lu S, Jackson G, et al (2004). AutoTutor: a Tutor with Dialogue in Natural  
Language, Behav Res Methods,. Vol 36, pp. 180–192.  
[15]. Traum D (2008). Talking to Virtual Humans: Dialogue Models and Methodologies for  
Embodied Conversational Agents, Proc. Modeling Communication with Robots and Virtual  
Humans. Lecture Notes in Computer Science. Springer, Berlin, Heidelberg, pp. 296–309  
[16]. [McGill M, Sammut C, Westendorp J, Kadous M. FrameScript: A Multi-modal Scripting  
Language, Sch Comput Sci Eng UNSW Copyr © 2003-2008  
[17]. McCallum A, Nigam K (1998). A Comparison of Event Models for Naive Bayes Text  
Classification, Proc. AAAI Workshop., pp. 41–48  
[18]. Mendoza M, Zamora J (2009). Identifying the Intent of a User Query Using Support Vector  
Machines, Proc. Karlgren J, Tarhio J, Hyyrö H (eds) String Processing and Information Retrieval.  
Springer, Berlin, Heidelberg, pp. 131–142  
[19]. Genkin A, Lewis D, Madigan D (2007). Large-Scale Bayesian Logistic Regression for Text  
Categorization, Technometrics,. Vol. 49, pp. 291–304  
[20]. [Ngo L (2016). Identifying User Intents in Vietnamese Spoken Language Commands and Its  
Application in Smart Mobile Voice Interaction, Intelligent Information and Database Systems.  
ACIIDS 2016. Lecture Notes in Computer Science, Springer, Berlin, Heidelberg.  
[21]. Hashemi HB, Asiaee A, Kraft R (2016). Query Intent Detection using Convolutional Neural  
Networks. Proc. International Conference on Web Search and Data Mining, Workshop on Query  
Understanding. ACM.  
[22]. Ravuri S, Stolcke A (2015). Recurrent Neural Network and LSTM Models for Lexical  
Utterance Classification, Proc. Interspeech. International Speech Communication Association,  
Dresden., pp 135–139  
55  
Một số phương pháp xác định chủ đề của câu văn bản trong hệ tư vấn  
[23]. Tran OT, Luong TC (2020). Understanding what the users say in chatbots: A case study for  
the Vietnamese languag, Eng Appl Artif Intell,. Vol. 87, pp. 1–10  
[24]. [Vedula N, Lipka N, Maneriker P, Parthasarathy S (2019) Towards Open Intent Discovery  
for Conversational Text. ArXiv190408524 Cs  
A REVIEW OF METHODS FOR DETECTING INTENT OF A TEXT MESSAGE  
IN CHATBOTS  
Doan Thi Hong Phuoc, Nguyen Van Trung, Le Van Tuong Lan  
Faculty of Information Technology, University of Sciences, Hue University  
ABSTRACT  
Chatbots, are known as virtual assistants, have been investigated and developed in  
recent decades because of their benefits in the interaction between human and  
machine. Nowadays, these virtual assistants have been applied in many fields such  
as e-commerce, health care, tourism or education. One of the first and most  
important phases that affects to the outcome’s quality of these systems is how to  
understand the intent of user’s text message. Therefore, in this paper, we studied  
methods for detecting intent of a given text message and proposed an evaluation of  
the effect between these methods.  
Keywords: chatbot, intent detection, , text message.  
56  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 18, Số 1 (2021)  
Đoàn Thị Hồng Phước sinh ngày 12/07/1977 tại Thừa Thiên Huế. Năm  
1999, bà tốt nghiệp cử nhân chuyên ngành Tin học tại trường Đại học  
Khoa học, Đại học Huế. Năm 2004, bà nhận bằng thạc sĩ chuyên ngành  
Công nghệ thông tin tại trường Đại học Khoa học, Đại học Huế. Năm  
2019, bà nhận học vị tiến sĩ chuyên ngành Khoa học máy tính tại Đại học  
KhonKaen, Thái Lan. Hiện nay, bà là giảng viên của khoa Công nghệ  
thông tin, trường Đại học Khoa học, Đại học Huế.  
Lĩnh vực nghiên cứu: Học máy, Xử lý ngôn ngữ tự nhiên và Khai phá dữ  
liệu văn bản.  
Nguyễn Văn Trung sinh ngày 25/10/1981 tại Thừa Thiên Huế. Năm 2003  
ông tốt nghiệp cử nhân chuyên ngành Tin học tại trường Đại học Khoa  
học, Đại học Huế. Năm 2006 ông nhận bằng thạc sĩ chuyên ngành Công  
nghệ Thông tin tại trường Đại học Khoa học, Đại học Huế. Năm 2018 ông  
nhận học vị Tiến sĩ chuyên ngành Khoa học Máy tính tại trường Đại học  
Khoa học, Đại học Huế. Hiện nay ông công tác tại Khoa Công nghệ  
Thông tin, trường Đại học Khoa học, Đại học Huế.  
Lĩnh vực nghiên cứu: Các hệ thống thông tin, Quản lý và biểu diễn tri thức,  
Web ngữ nghĩa, Linked Data, Công nghệ phần mềm.  
Lê Văn Tường Lân sinh ngày 10/11/1974 tại Thừa Thiên Huế. Năm 1996,  
ông tốt nghiệp Đại học ngành Toán - Tin tại Trường Đại học Khoa học,  
Đại học Huế. Ông nhận bằng thạc sỹ Công nghệ thông tin tại Trường Đại  
học Bách Khoa Hà Nội năm 2002 và nhận học vị Tiến sĩ ngành Khoa học  
máy tính tại Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế năm 2018. Hiện ông  
công tác tại Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế.  
Lĩnh vực nghiên cứu: Lập trình ứng dụng, Cơ sở dữ liệu, Công nghệ phần  
mềm, Khai phá dữ liệu.  
57  
pdf 12 trang yennguyen 14000 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số phương pháp xác định chủ đề của câu văn bản trong hệ tư vấn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_phuong_phap_xac_dinh_chu_de_cua_cau_van_ban_trong_he.pdf