Mask: Phương pháp mới nâng cao hiệu quả phát hiện gian lận tài chính

Tạp chí Khoa học và Kỹ thuật - Học viện KTQS - Số 184 (06-2017)  
MASK: PHƯƠNG PHÁP MỚI NÂNG CAO  
HIỆU QUẢ PHÁT HIỆN GIAN LẬN TÀI CHÍNH  
Nghiêm Thị Toàn1, Nghiêm Thị Lịch2, Bùi Dương Hưng3,  
Đặng Xuân Thọ1  
Tóm tắt  
Hiện nay, gian lận tài chính ngày càng phổ biến và gây ra những hậu quả nghiêm trọng.  
Do đó, phát hiện và ngăn chặn gian lận tài chính đã và đang thu hút được sự quan tâm lớn  
từ các nhà nghiên cứu. Bài toán phát hiện gian lận tài chính có thể được giải quyết với sự  
hỗ trợ của các kỹ thuật khai phá dữ liệu, cụ thể như phân lớp là một phương pháp học có  
giám sát được áp dụng phổ biến nhất. Tuy nhiên, do đặc thù dữ liệu tài chính, số lượng các  
mẫu được xác định là gian lận ít hơn rất nhiều so với các mẫu hợp lệ, dẫn đến tình trạng  
khó khăn trong phân lớp dữ liệu mất cân bằng. Một số phương pháp nổi tiếng giải quyết  
vấn đề này như SMOTE, Borderline-SMOTE, và SPY mặc dù đã đạt được những kết quả  
tích cực, nhưng một số trường hợp lại không đạt được kết quả mong đợi. Trong bài báo này,  
chúng tôi đề xuất một phương pháp mới, Mask, nhằm đổi nhãn các phần tử lớp đa số dựa  
trên phân phối mật độ của các phần tử lớp thiểu số. Kết quả thực nghiệm trên các bộ dữ  
liệu chuẩn quốc tế như UCSD-FICO (cuộc thi data mining contest 2009), German Credit,  
Australian Credit, và Yeast (từ kho dữ liệu chuẩn UCI) đã chỉ ra phương pháp mới hiệu quả  
và nâng cao độ chính xác trong phát hiện gian lận tài chính so với các phương pháp ROS,  
RUS, SMOTE, Borderline- SMOTE, và SPY.  
Nowadays, financial fraud is increasingly popular and causes serious consequences. There-  
fore, detecting and preventing financial fraud has attracted great attention from researchers.  
The problem of financial fraud detection can be solved with the support of data mining  
techniques, such as classification is one of supervised learning methods that is applied most  
commonly. However, in financial data, the number of samples defined fraud is much fewer  
than the valid samples, which implies more difficulty of the classification problem. Some  
well-known methods of solving this problem such as SMOTE, Borderline-SMOTE, and SPY  
have achieved positive results, but in some cases they cannot improve or sometimes reduce  
classification performance. In this paper, we propose a new method, MASK, to change the  
label of a majority class samples based on the density distribution in the minority class  
samples. The experimental results on international standard datasets such as UCSD-FICO  
(Data mining Contest 2009), German Credit, Australian Credit, and Yeast (from UCI) also  
showed that the new method is effective and improves the accuracy of classification of  
financial data comparing to ROS, RUS, SMOTE, Borderline- SMOTE, and SPY.  
Từ khóa  
Phát hiện gian lận tài chính, phân lớp, dữ liệu mất cân bằng, Mask.  
1Đại học sư phạm Hà Nội, 2Đại học thương mại, 3Đại học công đoàn  
5
Chuyên san Công nghệ thông tin và Truyền thông - Số 10 (06-2017)  
1. Giới thiệu  
1.1. Gian lận tài chính  
Có nhiều hình thức gian lận tài chính khác nhau như: gian lận thẻ tín dụng, gian lận  
rửa tiền, gian lận bảo hiểm xe ô tô, gian lận bảo hiểm y tế, gian lận tiếp thị, gian lận  
doanh nghiệp,... được thể hiện trong hình 1 [1].  
Sự phát triển của khoa học và công nghệ đã làm cho các hình thức gian lận trở nên  
phổ biến và phức tạp hơn. Số lượng các báo cáo sự cố gian lận thẻ tín dụng, lừa đảo  
doanh nghiệp, gian lận rửa tiền đã tăng nhanh ở mức báo động. Do đó, việc phát hiện  
và ngăn chặn các giao dịch tài chính gian lận ngày càng trở nên quan trọng.  
Hình 1. Các loại gian lận tài chính  
1.2. Phát hiện gian lận tài chính  
Phát hiện gian lận tài chính (Financial fraud detection - FFD) ngày càng trở nên quan  
trọng. Để phát hiện sớm những giao dịch bất thường, người ta thường phân tích những  
thông tin trong cơ sở dữ liệu giao dịch đã có. Bằng cách này có thể xác định một giao  
dịch nào đó không giống với những giao dịch đã được thực hiện trước đó.  
Ngày nay, bài toán phát hiện gian lận có thể được giải quyết với sự hỗ trợ của các kỹ  
thuật khai phá dữ liệu. Trong đó, phân lớp là một phương pháp học có giám sát được  
áp dụng phổ biến nhất, đặc biệt phù hợp với lĩnh vực phát hiện gian lận và quản lý  
rủi ro tín dụng [2]. Kỹ thuật phân lớp sử dụng các giải thuật học để xây dựng một mô  
hình phân loại dựa trên tập dữ liệu huấn luyện. Đối với các ứng dụng phát hiện gian  
lận, tập dữ liệu huấn luyện được sử dụng bao gồm các bản ghi về các giao dịch thật  
và các giao dịch bất thường. Sau đó, tập dữ liệu thử nghiệm được dùng để ước tính độ  
chính xác của mô hình phân loại. Nếu độ chính xác là chấp nhận được thì mô hình này  
có thể được sử dụng để phân loại các mẫu dữ liệu mới và xác định các giao dịch gian  
lận. Tuy nhiên, việc việc phát triển những phương pháp phát hiện gian lận tài chính  
hiệu quả gặp không ít khó khăn.  
6
Tạp chí Khoa học và Kỹ thuật - Học viện KTQS - Số 184 (06-2017)  
1.3. Khó khăn trong phát hiện gian lận tài chính  
Một trong những khó khăn lớn nhất là sự không sẵn có của dữ liệu được sử dụng  
trong phát hiện gian lận tài chính [3]. Những dữ liệu này liên quan đến thông tin “nhạy  
cảm” của các cá nhân, tổ chức, chẳng hạn như dữ liệu về các giao dịch khách hàng.  
Do đó, dữ liệu liên quan đến gian lận tài chính thường không được công bố công khai.  
Mặt khác, dữ liệu sử dụng để phát hiện gian lận thường xảy ra sự chênh lệch lớn về  
số lượng phần tử giữa các lớp, điều này làm cho các thuật toán phân loại gặp nhiều  
khó khăn. Các giải thuật phân lớp thường đạt độ chính xác cao đối với lớp đa số, trong  
khi đó, với lớp thiểu số thì hoàn toàn ngược lại. Nhiều bộ phân loại thường xem các  
dữ liệu ít thường xuyên là hiếm, hoặc nhiễu. Do đó, các phần tử lớp thiểu số thường  
bị bỏ qua hoặc bị phân loại sai thường xuyên hơn các mẫu phổ biến mặc dù độ chính  
xác tổng thể rất lớn [4].  
Giả sử một bộ dữ liệu gồm 20 phần tử, trong đó 15 phần tử thể hiện các giao dịch  
hợp pháp và 5 phần tử thể hiện các giao dịch gian lận. Trong trường hợp này, xảy ra  
sự mất cân bằng dữ liệu khi số lượng các giao dịch hợp pháp chênh lệch lớn so với số  
lượng các giao dịch gian lận. Khi áp dụng các giải thuật phân lớp chuẩn, nếu mô hình  
phân lớp dự đoán chính xác tất cả 15 trường hợp hợp pháp và không dự đoán chính  
xác bất kỳ trường hợp gian lận nào có độ chính xác 75%. Tuy nhiên, việc phân loại sai  
các trường hợp gian lận gây ảnh hưởng nghiêm trọng hơn so với việc phân loại sai các  
trường hợp không gian lận thành gian lận. Điều này có thể dẫn đến những tổn thất rất  
lớn về mặt kinh tế. Vì vậy, khi áp dụng các giải thuật phân lớp truyền thống như cây  
quyết định, máy vec-tơ hỗ trợ, Na¨ıve Bayes chưa thể xây dựng được một bộ phân lớp  
tốt. Do đó, phòng chống và phát hiện gian lận trong dữ liệu tài chính mất cân bằng trở  
thành một thách thức lớn đối với các nhà nghiên cứu.  
2. Phương pháp phân lớp dữ liệu mất cân bằng trong phát hiện gian  
lận tài chính  
2.1. Một số hướng giải quyết vấn đề mất cân bằng dữ liệu hiện nay  
Mất cân bằng dữ liệu xảy ra khi có sự chênh lệch lớn về số lượng phần tử giữa các  
lớp. Nghĩa là, số lượng các phần tử đại diện cho một lớp lớn hơn rất nhiều so với các  
lớp khác. Đối với trường hợp hai lớp (nhị phân) tỷ lệ này có thể là 1:10, 1:100, 1:1000  
[4] [5]. Lớp chiếm số đông phần tử gọi là lớp đa số (negative), ngược lại lớp có ít phần  
tử gọi là lớp thiểu số (positive). Các giải thuật phân lớp thường đạt độ chính xác cao  
với lớp đa số nhưng với lớp thiểu số thì ngược lại [4] [6].  
Trong thực tế, vấn đề mất cân bằng dữ liệu có thể giải quyết theo nhiều phương pháp  
khác nhau. Trong đó, có hai hướng tiếp cận chính: hướng tiếp cận ở mức độ dữ liệu và  
hướng tiếp cận ở mức độ giải thuật.  
Hướng tiếp cận ở mức độ giải thuật, các thuật toán phân lớp được điều chỉnh để  
tăng cường việc học các lớp thiểu số. Bằng cách điều chỉnh chi phí của các lỗi, các  
7
Chuyên san Công nghệ thông tin và Truyền thông - Số 10 (06-2017)  
mẫu lớp thiểu số bị phân loại sai (các trường hợp gian lận được phân loại là không  
gian lận) được gán trọng số cao hơn so các mẫu lớp đa số bị phân loại sai (các trường  
hợp không gian lận được phân loại là gian lận) [4] [7] [8] [9].  
Hướng tiếp cận ở mức độ dữ liệu, bao gồm các phương pháp điều chỉnh phân bố  
dữ liệu bằng cách tăng số lượng phần tử lớp thiểu số, giảm số lượng phần tử lớp đa  
số hoặc kết hợp cả hai phương pháp. Cả ba phương pháp trên đều hướng đến mục tiêu  
cân bằng phân bố dữ liệu. Ưu điểm của các phương pháp tiếp cận mức độ dữ liệu là  
sự linh hoạt, dữ liệu có thể sử dụng để huấn luyện các bộ phân loại khác nhau [4] [10]  
[6] [11].  
Phương pháp sinh thêm phần tử tạo ra một tập dữ liệu lớn hơn tập dữ liệu ban đầu  
[10]. Có nhiều cách khác nhau để sinh thêm các phần tử dữ liệu: sinh thêm phần tử  
một cách ngẫu nhiên (Random Over-Sampling - ROS [12]), lựa chọn các phần tử để  
sinh thêm hoặc sinh thêm phần tử nhân tạo (SMOTE [13], Borderline SMOTE [14],  
Safe-level SMOTE [15], ADASYN [16]). Trong đó, ADASYN sinh thêm phần tử nhân  
tạo theo cơ chế như thuật toán SMOTE nhưng ưu điểm là sử dụng phân bố mật độ của  
từng phần tử lớp thiểu số để xác định số lượng phần tử nhân tạo.  
Phương pháp loại bỏ phần tử tạo ra một tập con của tập dữ liệu ban đầu bằng cách  
giảm bớt số lượng phần tử lớp đa số [10]. Phương pháp đơn giản nhất là loại bỏ các  
phần tử lớp đa số một cách ngẫu nhiên (Random Under-Sampling - RUS [12]). Mặc dù,  
phương pháp này có thể làm giảm tính mất cân bằng dữ liệu. Nhưng loại bỏ bớt phần  
tử một cách ngẫu nhiên có thể làm mất những thông tin quan trọng có lợi cho việc xây  
dựng mô hình. Do đó, một số phương pháp loại bỏ phần tử theo mục tiêu được đề xuất  
[7][11] [17].  
Mặc dù phương pháp sinh thêm phần tử lớp thiểu số có thể cân bằng phân bố lớp  
nhưng một số vấn đề liên quan đến dữ liệu mất cân bằng vẫn chưa được giải quyết.  
Chẳng hạn, các cụm lớp không có ranh giới rõ ràng khi một số phần tử lớp đa số nằm  
lẫn trong không gian lớp thiểu số. Ngược lại, các phần tử nhân tạo được sinh ra nằm  
sâu trong không gian lớp đa số. Do đó, SMOTE+IPF [17] là phương pháp kết hợp cả  
hai cách trên được sử dụng.  
Ngoài ra, một số phương pháp cân bằng dữ liệu bằng cách đổi nhãn các phần tử lớp  
đa số thành nhãn lớp thiểu số mà không thay đổi kích thước dữ liệu. Phương pháp đổi  
nhãn phần tử lớp đa số dựa vào lý thuyết tập thô [18] hay phương pháp SPY [19] đổi  
nhãn các phần tử đa số trong k-láng giềng gần nhất. Kết quả thực nghiệm cũng chỉ ra  
nhóm phương pháp này đạt hiệu quả tương đối tốt, đặc biệt phương pháp SPY có tư  
tưởng rõ ràng, trực quan, tuy nhiên, trong một số trường hợp số lượng phần tử được  
lựa chọn đổi nhãn chưa thực sự tương ứng với nhu cầu phân bố của từng vùng dữ liệu  
cụ thể. Chính vì vậy, một số trường hợp do số lượng phần tử sinh thêm không phù hợp  
dẫn đến SPY không nâng cao hiệu quả phân lớp mà một số trường hợp còn giảm độ  
chính xác.  
8
Tạp chí Khoa học và Kỹ thuật - Học viện KTQS - Số 184 (06-2017)  
2.2. Phương pháp đề xuất Mask  
Dựa trên những phân tích về ưu, nhược điểm một số hướng tiếp cận hiện nay như  
SPY và ADASYN, chúng tôi đề xuất phương pháp Mask tăng cường các phần tử lớp  
thiểu số bằng cách thay đổi nhãn lớp của một số phần tử lớp đa số thành nhãn lớp  
thiểu số theo phân bố dữ liệu. Đối với phương pháp này, số lượng các phần tử lớp đa  
số được đổi nhãn phụ thuộc vào hai yếu tố. Thứ nhất, tổng số các các phần tử lớp đa  
số được đổi nhãn phụ thuộc vào sự chênh lệch giữa số lượng phần tử lớp đa số và số  
lượng phần tử lớp thiểu số. Thứ hai, với mỗi phần tử lớp thiểu số, số láng giềng gần  
nhất xung quanh nó được lựa chọn để đổi nhãn khác nhau. Điều này phụ thuộc vào  
sự chênh lệnh giữa số lượng phần tử láng giềng gần nhất thuộc lớp đa số và số lượng  
láng giềng gần nhất thuộc lớp thiểu số. Nếu giá trị này càng lớn thì số láng giềng gần  
nhất lớp thuộc lớp đa số của nó được đổi nhãn càng nhiều và ngược lại. Như vậy, Mask  
không chỉ làm giảm tính mất cân bằng dữ liệu mà còn tăng cường các phần tử biên lớp  
thiểu số.  
Đầu tiên, số lượng phần tử lớp đa số được đổi nhãn khi áp dụng Mask tỷ lệ với sự  
chênh lệch số lượng phần tử của hai lớp và được tính theo công thức sau:  
G = (nmaj − nmin) ∗ β  
Trong đó, nmaj và nmin tương ứng là số lượng phần tử lớp đa số và số lượng phần tử  
lớp thiểu số. β là tỉ lệ phần trăm số lượng phần tử được chọn để đổi nhãn dựa trên sự  
chênh lệch phần tử giữa lớp đa số và lớp thiểu số là (nmaj − nmin). Trong đó, β∈ [0,  
0.5] được sử dụng để xác định tỉ lệ cân bằng mong muốn, đặc biệt, β=0.5 nghĩa là một  
dữ liệu cân bằng sẽ được tạo ra sau khi đổi nhãn một số phần tử lớp đa số sang thiểu  
số.  
Sau đó, với mỗi phần tử lớp thiểu số, tìm k láng giềng gần nhất của nó trong toàn  
bộ tập dữ liệu huấn luyện và tính tỷ lệ số lượng láng giềng gần nhất lớp đa số trong  
xi  
k
số k láng giềng gần, ký hiệu là ri =  
(với xi là số lượng phần tử lớp đa số trong k  
láng giềng)  
Tiếp theo, chúng ta xác định phân bố mật độ của mỗi phần tử lớp thiểu số:  
ri  
nmin  
i=1  
0
P
ri =  
ri  
Từ đó xác định được số lượng phần tử cần đổi nhãn xung quanh mỗi phần tử lớp  
thiểu số theo công thức sau:  
gi = r0 ∗ G  
i
Thuật toán Mask được mô tả theo các bước cụ thể như sau:  
9
Chuyên san Công nghệ thông tin và Truyền thông - Số 10 (06-2017)  
Bảng 1. Ma trận nhầm lẫn  
Dự đoán là Negative  
Dự đoán là Positive  
Thực tế là Positive  
Thực tế là Negative  
TP  
FP  
FN  
TN  
Thuật toán Mask (T, β, k)  
Đầu vào: Tập dữ liệu huấn luyện T gồm nmaj phần tử lớp đa số và nmin phần  
tử lớp thiểu số, tham số β và k.  
Đầu ra: Tập dữ liệu huấn luyện mới T’.  
• Bước 1: Tính số lượng phần tử lớp đa số cần được đổi nhãn lớp theo công  
thức G = (nmaj - nmin)*β. Trong đó, β là tỷ lệ phần trăm các phần tử lớp  
đa số được chọn đổi nhãn lớp, tính theo sự chênh lệch số lượng phần tử  
hai lớp.  
• Bước 2: Với mỗi phần tử lớp thiểu số pi, tìm k láng giềng gần nhất của nó  
xi  
k
và tính ri = . Trong đó, xi là số lượng phần tử lớp đa số trong k láng  
giềng gần nhất của pi, i=1,2, ... , nmin. Do đó ri∈ [0, 1].  
• Bước 3: Chuẩn hóa ri theo công thức r0 =P  
, do đó r0i là phân bố mật  
ri  
min  
n
i=1  
i
ri  
P
độ và  
r0i= 1.  
i
• Bước 4: Với mỗi phần tử lớp thiểu số, tính số lượng láng giềng gần nhất  
của nó thuộc lớp đa số cần đổi nhãn theo công thức gi = r0 ∗ G.  
i
• Bước 5: Đổi nhãn gi láng giềng gần nhất thuộc lớp đa số của mỗi phần tử  
lớp thiểu số thành nhãn lớp thiểu số.  
Ý tưởng chính của phương pháp Mask là sử dụng phân bố mật độ ri0 làm tiêu chí lựa  
chọn số lượng phần tử lớp đa số cần đổi nhãn đối với mỗi phần tử lớp thiểu số. Như  
vậy, phương pháp Mask không chỉ điều chỉnh phân bố lớp (theo tham số β) mà còn  
tăng cường các các phần tử biên lớp thiểu số. Sau khi áp dụng Mask, số lượng phần  
tử lớp thiểu số tăng lên và số lượng phần tử lớp đa số giảm đi. Độ phức tạp thuật toán  
Mask là O(n2)) trong đó, n là số lượng các phần tử lớp thiểu số.  
3. Thực nghiệm  
3.1. Tiêu chí đánh giá  
Có nhiều độ đo khác nhau để đánh giá hiệu quả phân lớp được xây dựng dựa trên  
ma trận nhầm lẫn trong bảng 1 [20].  
10  
Tạp chí Khoa học và Kỹ thuật - Học viện KTQS - Số 184 (06-2017)  
Bảng 2. Dữ liệu thực nghiệm  
Dữ liệu  
UCSD - FICO  
German Credit Data  
Số ví dụ  
500  
1,000  
690  
Số thuộc tính  
Tỷ lệ thiểu số : đa số  
1: 20.74  
19  
20  
14  
8
1: 2.33  
1 : 1.25  
1 : 28.10  
Australian Credit Approval  
1,484  
Yeast  
TP + TN  
TP  
TP + FN  
Accuracy =TP + FP + TN + FN Sensitivity (SE) = Recall =  
TN  
√
Specificity (SP) =FP + TN  
G − mean = SE ∗ SP  
Trong cộng đồng khai phá dữ liệu, đối với bài toán phân lớp dữ liệu mất cân bằng,  
sensitivity (SE) và specificity (SP) là hai độ đo được sử dụng để đánh giá hiệu năng  
phân lớp. SE đánh giá tỉ lệ positive thực tế được phân loại đúng, trong khi đó, SP được  
định nghĩa như tỉ lệ negative được dự đoán đúng. Độ đo G-mean được đề xuất để đánh  
giá cân bằng giữa SE và SP, và được sử dụng phổ biến để đánh giá hiệu quả phân lớp  
trong dữ liệu mất cân bằng [4] [12] [19]. Do vậy, trong bài báo này chúng tôi sử dụng  
G-mean như độ đo quan trọng để đánh giá hiệu quả phân lớp dữ liệu mất cân bằng.  
3.2. Dữ liệu  
Để đánh giá hiệu quả của phương pháp Mask theo các tiêu chí đánh giá đã nêu, chúng  
tôi tiến hành thực nghiệm với ba bộ dữ liệu tài chính là German Credit Data, Australian  
Credit Approval, và UCSD-FICO. Để minh chứng cho khả năng áp dụng của Mask  
chúng tôi thực nghiệm thêm một bộ dữ liệu y sinh học (Yeast) có tỉ lệ mất cân bằng  
lớn. Trong đó, ba bộ dữ liệu German Credit Data, Australian Credit Approval và Yeast  
lấy từ kho dữ liệu UCI [21]. Bộ dữ liệu UCSD-FICO lấy từ cuộc thi “UCSD-FICO data  
mining contest 2009”. Thông tin về các bộ dữ liệu được thể hiện trong bảng 2.  
Bốn bộ dữ liệu nêu trên đều có sự mất cân bằng giữa các lớp. Trong đó, dữ liệu  
UCSD-FICO và Yeast có tỷ lệ mất cân bằng cao nhất tương ứng là 1:20.74 và 1:28.10,  
tiếp theo là dữ liệu German Credit Data với tỷ lệ mất cân bằng là 1:2.33, và cuối cùng  
là Australian Credit Approval với tỷ lệ mất cân bằng là 1: 1.25. Lớp đa số được gán  
nhãn là Negative và lớp thiểu số được gán nhãn Positive.  
3.3. Kết quả thực nghiệm  
Để so sánh hiệu quả của các phương pháp giải quyết vấn đề mất cân bằng dữ liệu  
trình bày ở trên, quá trình thực nghiệm sử dụng các thuật toán phân lớp SVM, Random  
Forest, và C5.0. Hiệu quả của các mô hình phân lớp được đánh giá bằng phương pháp  
k-fold cross-valiadation, với k = 10. Ngôn ngữ sử dụng để cài đặt và chạy chương trình  
là ngôn ngữ R.  
Bộ dữ liệu sẽ được chia làm 10 phần có kích thước xấp xỉ nhau, mỗi phần được gọi  
là một fold. Mỗi lần trong số 10 lần lặp, lần lượt mỗi phần được sử dụng làm dữ liệu  
11  
Chuyên san Công nghệ thông tin và Truyền thông - Số 10 (06-2017)  
kiểm tra và 9 phần còn lại được sử dụng làm dữ liệu huấn luyện. Mỗi lần lặp, một bộ  
dữ liệu huấn luyện ban đầu được áp dụng một phương pháp điều chỉnh phân bố dữ liệu  
ROS, RUS, SMOTE, Borderline SMOTE1, SPY, hoặc Mask. Sau đó bộ dữ liệu huấn  
luyện mới được dùng để xây dựng mô hình phân lớp bằng các thuật toán phân lớp SVM,  
Random Forest, và C5.0. Tiếp theo, mô hình phân lớp được đánh giá bằng bộ dữ liệu  
kiểm tra. Từ đó xác định số lượng các mẫu được phân lớp đúng và số lượng các mẫu  
được phân lớp sai trong mỗi lần lặp để xác định giá trị các độ đo đánh giá. Các giá  
trị sensitivity (SE), specificity (SP), và G-mean của một lần 10-fold là trung bình cộng  
các giá trị sensitivity, specificity và G-mean 10 lần lặp. Kết quả phân lớp cuối cùng  
của một bộ dữ liệu là trung bình cộng của quá trình thực hiện 20 lần 10-fold. Ngoài  
ra, để so sánh xem giá trị G-mean của phương pháp phân lớp nào cao hơn, chúng tôi  
sử dụng kiểm định t-test để kiểm tra sự khác biệt.  
Đối với các bộ dữ liệu tác giả tiến hành thực nghiệm với các phương pháp điều  
chỉnh dữ liệu: Random Over-sampling (ROS), Random Under-sampling (RUS), SMOTE,  
Borderline SMOTE1 (BSO1), SPY, và Mask. Sau khi áp dụng các phương pháp điều  
chỉnh dữ liệu, các bộ dữ liệu mới được phân lớp bằng các giải thuật phân lớp Support  
Vector Machine (SVM), C5.0, và Random Forest, kết quả được thể hiện ở bảng 3.  
Kết quả thực nghiệm trên hai bộ dữ liệu German Credit Data và UCSD–FICO cho  
thấy phương pháp Mask đạt giá trị G-mean cao hơn so với dữ liệu ban đầu và dữ liệu  
sau khi đã được điều chỉnh bởi các thuật toán ROS, RUS, SMOTE, BSO1, và SPY.  
Cụ thể, với dữ liệu UCSD–FICO, khi sử dụng giải thuật phân lớp SVM, phương pháp  
SPY đạt giá trị g-mean bằng 73.31% cao hơn so với dữ liệu gốc (0%), ROS (71.73%),  
RUS (66.65%), SMOTE (68.73%), BSO1 (67.60%), tuy nhiên, Mask còn đạt hiệu quả  
cao hơn hẳn so với SPY là 74.76%. Tương tự, khi thực hiện phân lớp bằng C5.0 hay  
RF thì Mask (76.04%, 74.95%) cũng đạt hiệu quả cao hơn hẳn dữ liệu gốc (3.12%,  
48.37%), ROS (66.90%, 59.27%), RUS (63.72%, 73.96%), SMOTE (54.45%, 56.29%),  
BSO1 (59.02%, 56.86%), và SPY (74.07%, 73.97%). Như vậy, trong trường hợp này,  
khi sử dụng các giải thuật phân lớp đối với dữ liệu gốc, gần như không phát hiện ra  
bất kỳ tường hợp gian lận nào trong khi độ chính xác dự đoán những trường hợp không  
gian lận xấp xỉ 100%. Sau khi áp dụng các phương pháp điều chỉnh dữ liệu, hiệu quả  
phân lớp tăng lên rõ rệt. Trong đó, giá trị g-mean của phương pháp Mask đạt giá trị  
lớn nhất so với các phương pháp còn lại.  
Để minh chứng cho khả năng áp dụng của Mask chúng tôi thực nghiệm thêm một  
bộ dữ liệu y sinh học Yeast, và các kết quả cũng chỉ ra Mask đạt hiệu quả cao hơn,  
cụ thể như khi thực hiện phân lớp bằng SVM, Mask đạt giá trị g-mean là 83.52% cao  
hơn hẳn SPY (80.98%), dữ liệu gốc (19.55%), ROS (75.22%), RUS (76.63%), SMOTE  
(74.10%), BSO1 (64.34%). Tương tự, với việc sử dụng phân lớp bằng C5.0 và RF,  
Mask đều cho kết quả tốt hơn.  
Các giá trị p-value so sánh các giá trị G-mean cao nhất khi phân lớp bằng các giải  
thuật SVM, C5.0, và RF được thể hiện trong bảng 4, bảng 5 và bảng 6. Nếu giá trị  
p-value nhỏ hơn hoặc bằng 0.05 thì giá trị G-mean trung bình của thuật toán có ý nghĩa  
thống kê.  
12  
Tạp chí Khoa học và Kỹ thuật - Học viện KTQS - Số 184 (06-2017)  
Bảng 3. So sánh các giá trị sensitivity (SE), specificity (SP), và G-mean  
SVM  
SP  
C5.0  
SP  
RF  
SP  
Dữ liệu  
Phương pháp  
SE  
G-mean  
60.30  
71.05  
71.16  
70.65  
70.41  
71.22  
71.85  
SE  
G-mean  
63.10  
63.58  
65.63  
64.00  
63.68  
66.24  
66.27  
SE  
G-mean  
62.00  
66.63  
71.34  
68.25  
65.17  
70.81  
71.44  
Dữ liệu gốc  
ROS  
RUS  
39.75  
67.72  
73.48  
69.83  
65.55  
70.23  
70.08  
91.53  
74.56  
68.92  
71.49  
75.64  
72.26  
73.67  
47.62  
52.62  
65.57  
56.05  
50.32  
63.13  
60.35  
83.70  
76.87  
65.74  
73.14  
80.65  
69.53  
72.81  
41.90 91.76  
50.82 87.38  
73.37 69.38  
56.65 82.24  
48.38 87.80  
71.02 70.61  
69.82 73.11  
German  
Credit Data  
SMOTE  
BSO1  
SPY  
Mask (β=0.3)  
Dữ liệu gốc  
ROS  
RUS  
0.00  
100.00  
91.57  
62.53  
95.07  
95.21  
73.44  
76.35  
0.00  
0.65  
99.61  
96.21  
59.95  
95.34  
94.62  
75.31  
79.01  
3.12  
23.70 99.62  
35.43 99.34  
80.00 68.50  
32.17 98.85  
32.83 98.95  
68.70 79.77  
79.78 70.46  
48.37  
59.27  
73.96  
56.29  
56.86  
73.97  
74.95  
56.30  
71.30  
49.78  
48.26  
73.26  
73.26  
71.73  
66.65  
68.73  
67.60  
73.31  
74.76  
46.74  
68.04  
31.30  
37.39  
73.04  
73.26  
66.90  
63.72  
54.45  
59.02  
74.07  
76.04  
UCSD-FICO  
SMOTE  
BSO1  
SPY  
Mask (β=0.2)  
Dữ liệu gốc  
ROS  
RUS  
88.83  
89.40  
91.40  
90.86  
91.74  
91.78  
89.02  
82.51  
82.48  
80.43  
80.55  
80.09  
79.96  
82.90  
85.61  
85.87  
85.74  
85.55  
85.72  
85.66  
85.91  
82.10  
79.07  
84.97  
83.57  
84.17  
83.84  
82.59  
86.97  
87.00  
85.00  
85.30  
85.85  
86.14  
87.17  
84.49  
82.93  
84.98  
84.43  
85.00  
84.97  
84.84  
85.36 87.92  
83.94 89.28  
87.79 86.31  
87.17 86.66  
87.31 87.15  
87.10 87.15  
86.03 88.09  
86.63  
86.57  
87.04  
86.91  
87.23  
87.13  
87.05  
Australian  
Credit  
Approval  
SMOTE  
BSO1  
SPY  
Mask (β=0.2)  
Dữ liệu gốc  
ROS  
RUS  
SMOTE  
BSO1  
SPY  
3.73  
99.98  
90.69  
94.69  
93.60  
97.60  
92.92  
81.70  
19.55  
75.22  
76.63  
74.10  
64.34  
80.98  
83.52  
26.76  
41.76  
65.98  
62.06  
30.39  
70.49  
90.39  
99.14  
96.65  
93.42  
92.51  
99.04  
92.19  
73.76  
51.33  
63.45  
78.48  
75.73  
54.78  
80.60  
81.63  
14.12 99.73  
31.08 98.93  
51.47 96.11  
54.80 95.99  
24.41 99.06  
68.73 92.11  
84.02 83.05  
37.39  
55.41  
70.29  
72.51  
49.10  
79.54  
83.52  
62.45  
62.06  
58.73  
42.45  
70.59  
85.39  
Yeast  
Mask (β=0.15)  
Ví dụ, đối với dữ liệu UCSD–FICO, giá trị p-value khi so sánh giá trị G-mean của  
dữ liệu ban đầu và các phương pháp điều chỉnh dữ liệu ROS, RUS, SMOTE, BSO1,  
SPY tương ứng là (2.2E-16, 2.2E-16, 2.2E-16, 2.2E-16 và 2.2E-16) và với Mask là  
2.2E-16. Hơn nữa, dễ dàng nhận thấy rằng, phương pháp Mask hiệu quả hơn ROS,  
RUS, SMOTE, BSO1, và SPY với các giá trị p-value tương ứng là 7.76E-04, 5.13E-13,  
1.56E-08, 2.32E-06, và 1.67E-02. Các giá trị trong bảng 3 và bảng 4, bảng 5 và bảng  
6, cho thấy phương pháp điều chỉnh dữ liệu Mask đạt hiệu quả tốt và vượt trội hơn hẳn  
so với các thuật toán khác khi phân lớp bằng SVM. Mặt khác, đối với dữ liệu có tỷ lệ  
mất cân bằng nhỏ như Australian Credit Approval phương pháp Mask không làm giảm  
hiệu quả phân lớp.  
Các kết quả trên cho thấy, khi sử dụng phương pháp Mask giá trị g-mean cao hơn  
so với các phương pháp khác khi sử dụng giải thuật phân lớp bằng SVM, C5.0, RF và  
vượt trội hơn so với các phương pháp khác ở thuật toán phân lớp SVM.  
Từ đó, có thể thấy, việc điều chỉnh dữ liệu theo phương pháp Mask phù hợp với phân  
lớp dữ liệu bằng SVM, C5.0, và RF. Như vậy, độ chính xác dự đoán những trường hợp  
gian lận (phần tử lớp thiểu số) và trường hợp không gian lận (phần tử lớp đa số) tăng  
13  
Chuyên san Công nghệ thông tin và Truyền thông - Số 10 (06-2017)  
Bảng 4. Các giá trị p-value so sánh G-mean trung bình khi phân lớp bằng SVM  
SVM  
Dữ liệu  
Phương pháp  
Dữ liệu gốc  
2.20E-16  
2.20E-16  
2.20E-16  
2.20E-16  
2.20E-16  
2.20E-16  
2.20E-16  
2.20E-16  
2.20E-16  
2.20E-16  
2.20E-16  
2.20E-16  
8.30E-02  
2.10E-01  
3.58E-01  
2.49E-01  
3.59E-01  
4.27E-02  
1.09E-09  
2.20E-16  
2.20E-16  
2.20E-16  
2.20E-16  
2.20E-16  
ROS  
RUS  
SMOTE  
BSO1  
SPY  
ROS  
RUS  
SMOTE  
BSO1  
SPY  
Mask  
ROS  
RUS  
SMOTE  
BSO1  
SPY  
Mask  
ROS  
RUS  
SMOTE  
BSO1  
SPY  
Mask  
ROS  
RUS  
German  
Credit  
Data  
3.17E-01  
7.25E-02  
7.70E-03  
2.72E-01  
1.84E-03  
2.55E-02  
1.51E-03  
4.19E-01  
3.84E-03  
1.84E-01  
2.83E-02  
4.70E-05  
2.71E-03  
1.27E-06  
1.43E-02  
1.67E-02  
1.61E-02  
6.66E-08  
2.51E-06  
2.71E-03  
2.36E-03  
3.81E-02  
7.76E-04  
1.47E-02  
2.34E-01  
6.90E-11  
5.13E-13  
UCSD -FICO  
2.03E-01  
2.07E-06  
1.56E-08  
4.67E-05  
2.32E-06  
Australian  
Credit  
Approval  
1.84E-01  
1.47E-02  
1.49E-01  
9.34E-01  
4.01E-01  
4.17E-02  
4.25E-01  
7.81E-01  
8.50E-02  
6.15E-02  
1.18E-01  
2.22E-03  
7.13E-01  
6.24E-02  
2.70E-02  
7.77E-02  
1.05E-08  
1.90E-10  
1.56E-13  
SMOTE  
BSO1  
SPY  
4.72E-04  
1.43E-09  
1.31E-09  
3.15E-14  
Yeast  
7.21E-08  
2.23E-12  
6.98E-15  
9.29E-12  
1.27E-12  
Mask  
Bảng 5. Các giá trị p-value so sánh G-mean trung bình khi phân lớp bằng C5.0  
C50  
Dữ liệu  
Phương pháp  
Dữ liệu gốc  
1.84E-01  
5.71E-06  
4.27E-02  
1.35E-01  
2.36E-07  
1.04E-06  
2.20E-16  
2.20E-16  
2.20E-16  
2.20E-16  
2.20E-16  
2.20E-16  
6.53E-06  
4.09E-02  
3.87E-01  
4.60E-02  
6.97E-02  
2.95E-01  
6.00E-12  
2.20E-16  
2.20E-16  
3.74E-03  
2.20E-16  
2.20E-16  
ROS  
RUS  
SMOTE  
BSO1  
SPY  
ROS  
German  
Credit  
Data  
RUS  
9.24E-06  
1.68E-01  
4.07E-01  
2.58E-07  
2.67E-06  
SMOTE  
BSO1  
SPY  
1.50E-04  
1.95E-05  
7.43E-02  
9.62E-02  
2.34E-01  
3.82E-06  
2.91E-05  
5.31E-07  
5.00E-06  
Mask  
ROS  
4.76E-01  
2.66E-02  
3.39E-01  
2.38E-02  
RUS  
9.89E-01  
1.65E-10  
1.63E-04  
2.65E-06  
1.10E-08  
SMOTE  
BSO1  
SPY  
1.22E-08  
8.00E-03  
2.58E-11  
1.02E-14  
UCCD -FISO  
1.25E-02  
2.20E-16  
2.20E-16  
3.48E-09  
5.37E-10  
Mask  
ROS  
Australian  
Credit  
RUS  
4.64E-09  
7.92E-07  
1.16E-08  
7.97E-08  
1.38E-07  
SMOTE  
BSO1  
SPY  
2.35E-03  
4.68E-01  
5.07E-01  
3.05E-01  
Approval  
5.82E-03  
1.78E-02  
4.10E-02  
5.33E-01  
2.95E-01  
Mask  
ROS  
RUS  
2.20E-16  
1.50E-15  
1.43E-10  
2.20E-16  
2.20E-16  
SMOTE  
BSO1  
SPY  
3.07E-04  
2.20E-16  
4.55E-04  
5.18E-06  
Yeast  
2.20E-16  
8.28E-09  
1.65E-10  
2.20E-16  
2.20E-16  
Mask  
14  
Tạp chí Khoa học và Kỹ thuật - Học viện KTQS - Số 184 (06-2017)  
Bảng 6. Các giá trị p-value so sánh G-mean trung bình khi phân lớp bằng RF  
RF  
Dữ liệu  
Phương pháp  
Dữ liệu gốc  
2.20E-16  
2.20E-16  
2.20E-16  
8.24E-14  
2.20E-16  
2.20E-16  
2.69E-10  
2.20E-16  
3.91E-07  
1.80E-07  
2.20E-16  
2.20E-16  
3.43E-01  
2.47E-03  
3.43E-01  
2.48E-05  
3.00E-04  
1.13E-01  
2.20E-16  
2.20E-16  
2.20E-16  
3.12E-15  
2.20E-16  
2.20E-16  
ROS  
RUS  
SMOTE  
BSO1  
SPY  
ROS  
German  
Credit  
Data  
RUS  
2.20E-16  
1.67E-07  
1.88E-06  
2.20E-16  
2.20E-16  
SMOTE  
BSO1  
SPY  
4.18E-14  
2.20E-16  
9.32E-01  
2.39E-01  
1.35E-14  
7.21E-12  
6.81E-14  
2.20E-16  
2.20E-16  
Mask  
ROS  
1.98E-02  
1.02E-01  
6.92E-01  
8.10E-10  
RUS  
2.20E-16  
2.56E-03  
1.52E-02  
2.20E-16  
2.20E-16  
SMOTE  
BSO1  
SPY  
2.20E-16  
2.20E-16  
4.95E-01  
8.82E-02  
UCSD -FICO  
3.14E-01  
2.20E-16  
2.20E-16  
2.20E-16  
2.20E-16  
Mask  
ROS  
Australian  
Credit  
RUS  
2.87E-03  
5.00E-01  
7.12E-05  
5.35E-04  
2.55E-03  
SMOTE  
BSO1  
SPY  
2.87E-03  
9.63E-02  
2.79E-01  
4.70E-01  
Approval  
7.12E-05  
5.35E-04  
2.55E-03  
7.70E-01  
1.13E-01  
Mask  
ROS  
RUS  
2.20E-16  
2.20E-16  
6.11E-09  
2.20E-16  
2.20E-16  
SMOTE  
BSO1  
SPY  
8.13E-04  
2.20E-16  
3.53E-16  
2.20E-16  
Yeast  
2.20E-16  
6.68E-16  
2.20E-16  
2.20E-16  
2.20E-16  
Mask  
lên. Các phương pháp ROS, RUS, SMOTE, BOS1 đều làm thay đổi kích thước dữ liệu.  
Với phương pháp Mask, kích thước dữ liệu không thay đổi nhưng vẫn tăng cường các  
phần tử lớp đa số, làm giảm tính mất cân bằng dữ liệu và nâng cao hiệu quả phân lớp.  
4. Kết luận  
Khai phá dữ liệu được ứng dụng rộng rãi trong phát hiện gian lận tài chính, trong đó  
phân lớp là kỹ thuật được sử dụng phổ biến với nhiều giải thuật phân lớp khác nhau  
được đề xuất. Tuy nhiên, các giải thuật phân lớp chuẩn thường gặp khó khăn đối với dữ  
liệu không cân bằng đặc biệt trong phát hiện gian lận tài chính do số lượng các trường  
hợp gian lận thường nhỏ hơn rất nhiều so với các trường hợp không gian lận.  
Chính vì vậy, trong nghiên cứu này, chúng tôi đã nghiên cứu và đề xuất một phương  
pháp mới, Mask, nhằm đổi nhãn các phần tử lớp đa số dựa trên phân phối mật độ của  
lớp thiểu số. Các kết quả thực nghiệm với dữ liệu tài chính và y sinh học đã cho thấy,  
phương pháp đề xuất Mask đạt hiệu quả hơn so với các phương pháp điều chỉnh dữ liệu  
như Random Over-sampling, Random Under-sampling, SMOTE, Borderline SMOTE1,  
và SPY.  
Mở rộng hơn, chúng tôi nhận thấy các phần tử nằm trên đường biên hoặc gần đường  
biên đóng vai trò quan trọng hơn trong việc phân lớp so với các phần tử xa đường biên  
[14]. Do vậy, trong thời gian tới, chúng tôi nghiên cứu và cải tiến phương pháp Mask  
nhằm tăng cường các phần tử biên lớp thiểu số theo phân bố dữ liệu.  
Tài liệu tham khảo  
[1] F. H. M. J. I. and S. S. , "A Two-Tier Classification Model for Financial Fraud Detection," International Journal  
of Computer Applications, vol. 118, no. 19, pp. 1-8, 2015.  
15  
Chuyên san Công nghệ thông tin và Truyền thông - Số 10 (06-2017)  
[2] A. S. and P. K. P. , "A Review of Financial Accounting Fraud Detection based on Data Mining Techniques,"  
International Journal of Computer Applications, vol. 39, no. 1, pp. 37-47, 2012.  
[3] M. Z. and P. S. , "Application of Credit Card Fraud Detection: Based on Bagging Ensemble Classifier," in  
International Conference on Computer, Communication and Convergence (ICCC 2015), 2015.  
[4] S. Yanmin, W. Andrew K.C. and K. Mohamed S., "Classfiaction of imbalanced data: A Review," International  
Journal of Pattern Recognition and Artificial Intelligence, vol. 23, p. 687–719, 2009.  
[5] Bartosz Krawczyk, "Learning from imbalanced data: open challenges and future directions," Progress in  
Artificial Intelligence, vol. 5, no. 4, p. 221–232, 2016.  
[6] Z. Sun, Q. Song, X. Zhu, H. Sun, B. Xu and Y. Zhou, "A novel ensemble method for classifying imbalanced  
data," Pattern Recognit, vol. 48, p. 1623–1637, 2015.  
[7] Patel, Harshita and Ghanshyam Singh Thakur, "Classification of Imbalanced Data using a Modified Fuzzy-  
Neighbor Weighted Approach," International Journal of Intelligent Engineering and Systems 10.1 , pp. 56-64,  
2017.  
[8] C. Beyan and R. B. Fisher, "Classifying Imbalanced Data Sets using Similarity Based Hierarchical Decompo-  
sition," Pattern Recognit, vol. 48, p. 1653–1672, 2014.  
[9] S. Vluymans, I. Triguero, C. Cornelis and Y. Saeys, "EPRENNID: An evolutionary prototype reduction based  
ensemble for nearest neighbor classification of imbalanced data," Neurocomputing, p. 596–610, 2016.  
[10] E. R. Y. C. R. B. and F. H. , "SMOTE-RSB*: a hybrid preprocessing approach based on oversampling and  
undersampling for high imbalanced datasets using SMOTE and rough sets theory," Knowledge and Information  
Systems, vol. 33, no. 2, pp. 245-265, 2011.  
[11] J. Błaszczyn´ski and J. Stefanowsk, "Neighbourhood sampling in bagging for imbalanced data," Neuro  
computing, vol. 150, pp. 529-542, 2015.  
[12] Haibo He and Edwardo A. Garcia, "Learning from Imbalanced Data," IEEE Transactions on Knowledge and  
Data Engineering, vol. 21, no. 9, pp. 1263 - 1284, 2009.  
[13] C. Nitesh V., B. Kevin W., O. H. Lawrence and K. W. Philip, "SMOTE: Synthetic Minority Over-sampling  
Technique," Artificial Intelligence Research, vol. 16, p. 321–357, 2002.  
[14] H. Hui, W. Wen-Yuan and M. Bing-Huan, "Borderline-SMOTE: A New Over-Sampling Method in Imbalanced  
Data Sets Learning," in ICIC 2005, 2005.  
[15] C. B. K. S. and C. L. , "Safe-Level-SMOTE: Safe-Level-Synthetic Minority Over-Sampling TEchnique for  
Handling the Class Imbalanced Problem," in Advances in Knowledge Discovery and Data Mining, vol. 5476,  
Springer-Verlag Berlin Heidelberg, 2009, pp. 475-482.  
[16] Haibo He, Yang Bai, Edwardo A, Garcia and Shutao Li, "ADASYN: Adaptive synthetic sampling approach  
for imbalanced learning," IEEE INTERNATIONAL JOINT CONFERENCE ON NEURAL NETWORKS, pp.  
1322-1328, 2008.  
[17] Sáez, José A and et al., "SMOTE–IPF: Addressing the noisy and borderline examples problem in imbalanced  
classification by a re-sampling method with filtering," Information Sciences 291, pp. 184-203, 2015.  
[18] J. S. and S. W. , "Rough Sets for Handling Imbalanced Data: Combining Filtering and Rule-based Classi-  
fiers," Fundamenta Informaticae - SPECIAL ISSUE Fundamenta Informaticae - Special issue on concurrency  
specification and programming (CSP 2005), vol. 72, no. 1-3, pp. 379-391, 2006.  
[19] X. T. D. D. H. T. O. Hirose and K. Satou, "SPY: A Novel Resampling Method for Improving Classification  
Performance in Imbalanced Data," in Knowledge and Systems Engineering (KSE), 2015 Seventh International  
Conference on, 2015.  
[20] I. T. "Two Modifications of CNN," Transactions on Systems Man and Communications, vol. 6, no. 11, pp.  
769-772, 1976.  
California, School of Information and Computer Science. [Art]. 2013.  
Ngày nhận bài 06-4-2017; Ngày chấp nhận đăng 23-8-2017.  
ꢀ
16  
Tạp chí Khoa học và Kỹ thuật - Học viện KTQS - Số 184 (06-2017)  
Nghiêm Thị Toàn tốt nghiệp Khoa CNTT Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội năm 2013. Bảo  
vệ luận văn thạc sĩ CNTT tại Đại học Sư Phạm Hà Nội tháng 6/2016.  
Nơi công tác: Trường THPT Lý Nhân Tông, Bắc Ninh.  
Hướng nghiên cứu chính: Khai phá dữ liệu.  
E-mail: toannt.kinh[email protected]  
Nghiêm Thị Lịch tốt nghiệp Khoa CNTT Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội năm 2007. Năm  
2009, nhận bằng thạc sĩ CNTT tại Đại học Sư Phạm Hà Nội.  
Nơi công tác: Khoa Hệ thống thông tin Kinh tế, Trường Đại học Thương Mại.  
Hướng nghiên cứu chính: Khai phá dữ liệu, tính toán mềm  
E-mail: lichnt7[email protected]  
Bùi Dương Hưng tốt nghiệp đại học Trường ĐHBK Hà nội năm 2000. Thạc sỹ tại Học viện  
KTQS năm 2010; nghiên cứu sinh khoá 2015, Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông.  
Nơi công tác: Khoa Tin học, Trường ĐH Công đoàn.  
Hướng nghiên cứu chính: Data Mining, Hệ thống thông tin, Xử lý ảnh trong sinh tin.  
E-mail: hungbd@dhcd.edu.vn  
Đặng Xuân Thọ tốt nghiệp Khoa CNTT Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội năm 2007. Năm  
2009, nhận bằng thạc sĩ CNTT tại Đại học Sư Phạm Hà Nội. Năm 2013, nhận bằng Tiến sĩ  
Trường Đại học Tổng hợp Kanazawa, Nhật Bản.  
Nơi công tác: Khoa CNTT Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội.  
Hướng nghiên cứu chính: Khai phá dữ liệu, Học máy, Tin sinh học.  
E-mail: thodx@hnue.edu.vn  
17  
pdf 13 trang yennguyen 18780 Free
Bạn đang xem tài liệu "Mask: Phương pháp mới nâng cao hiệu quả phát hiện gian lận tài chính", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmask_phuong_phap_moi_nang_cao_hieu_qua_phat_hien_gian_lan_ta.pdf