Giám sát và đánh giá chất lượng trải nghiệm (QoE) cho ứng dụng web

Hoàng Mạnh Quang, Hoàng Đăng Hải  
GIÁM SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ  
CHẤT LƯỢNG TRẢI NGHIỆM (QoE)  
CHO ỨNG DỤNG WEB  
Hoàng Mạnh Quang, Hoàng Đăng Hải  
Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông  
Các yếu tố tác động đến sự gia tăng của các ứng dụng  
và dịch vụ trên Internet gồm:  
Tóm tắt: Cung cấp chất lượng trải nghiệm (Quality of  
Experience –QoE) đáp ứng nhu cầu người dùng là yêu  
cầu rất quan trọng đối với các nhà cung cấp dịch vụ ứng  
dụng Web. Nhiều thách thức đặt ra đối với giám sát và  
đánh giá QoE do vẫn chưa có một mô hình phù hợp cho  
định lượng QoE. Các nghiên cứu tới nay chủ yếu tập  
trung vào cải thiện QoE về các tham số liên quan đến  
thời gian, mối quan hệ tương tác giữa QoS và QoE, mối  
quan hệ giữa QoE và MOS (Mean Opinion Scores). Tuy  
nhiên, vấn đề giám sát QoE theo thời gian thực vẫn chưa  
được quan tâm đúng mức. Mặt khác, hầu hết các mô hình  
QoE tới nay đều dựa trên các tham số do ITU đề xuất cho  
mạng và ứng dụng đa phương tiện, chưa có mô hình cho  
ứng dụng Web. Dựa trên cơ sở các tham số theo tiêu  
chuẩn của ITU, bài báo này đề xuất một mô hình tham  
chiếu cho giám sát và đánh giá QoE cho ứng dụng Web.  
Mô hình tham chiếu WebQoE-RefMod có các đặc trưng:  
1) Xác định tập hồ sơ tham chiếu để so sánh, đánh giá  
QoE, 2) Xác định tập các điểm đo tham chiếu, 3) Tính  
giá trị QoE là hàm của các chỉ số KPI và KQI, 4) Giám  
sát và đánh giá QoE theo công thức tính thống kê khoảng  
cách tới giá trị Ref-QoE.1  
- Sự phát triển của hạ tầng mạng và công nghệ (ví dụ  
các giao thức mạng và công nghệ mạng mới), hạ  
tầng điện toán đám mây [3] sử dụng cho lưu trữ và  
xử lý một lượng lớn dữ liệu trên mạng;  
- Sự phát triển của các ứng dụng trên nền Web sử  
dụng trình duyệt là chuẩn để truy nhập hầu hết các  
dịch vụ Internet hiện nay;  
- Sự phát triển của các mạng cung cấp nội dung số  
(Content Delivery Networks);  
- Sự phát triển của các thiết bị di động có truy nhập  
Internet mọi lúc, mọi nơi.  
Yêu cầu luôn đặt ra đối với các nhà cung cấp dịch vụ  
mạng (Network Service Providers hay Internet Service  
Providers) là kiểm soát và bảo đảm chất lượng dịch vụ  
(QoS – Quality of Service) cũng như chất lượng trải  
nghiệm cho người dùng dịch vụ (QoE – Quality of  
Experience) để duy trì khách hàng và tăng doanh thu.  
QoS là những tham số liên quan đến hiệu năng mạng  
(thông lượng, băng thông, độ trễ, tỷ lệ mất gói) biểu thị  
khả năng mạng hỗ trợ và đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật về  
chất lượng của ứng dụng người dùng.  
Từ khóa: Ứng dụng Web, QoS, QoE, giám sát QoE,  
đánh giá định lượng QoE  
Ngược lại với QoS, QoE được xem như cảm nhận chủ  
quan của người dùng về chất lượng dịch vụ được nhà  
mạng cung cấp. Theo nghĩa rộng, QoE được xem là tác  
động, hiệu năng của việc truyền tải nội dung thông tin trên  
mạng [1]. Khái niệm và định nghĩa về QoE thay đổi trong  
thời gian qua. Tuy nhiên, một định nghĩa tổng hợp về  
QoE đã được đưa ra bởi Cộng đồng Chất lượng mạng  
Châu Âu (EU Qualinet Community) [4] như sau:  
I. MỞ ĐẦU  
Mạng Internet đang phát triển theo hướng chuyển từ  
cung cấp thông tin truyền thống sang cung cấp dịch vụ  
[1]. Việc chuyển đổi này tạo ra những cơ hội đầy tiềm  
năng cho phát triển và cung cấp các dịch vụ mới trên  
Internet. Mặt khác, các ứng dụng Web đã phát triển từ các  
trang Web tĩnh đơn lẻ sang các hệ thống có độ phức tạp  
cao, có tính động và giàu nội dung thông tin hơn, đặc biệt  
là các nội dung đa phương tiện. Ngày càng có nhiều ứng  
dụng Web chứa đựng các nội dung đa phương tiện như  
các dòng video trực tuyến (Video Streaming). Theo số  
liệu thống kê đưa ra trong [2], lưu lượng Internet toàn cầu  
năm 2015 có chứa tới 70% nội dung là dòng video trực  
tuyến và dự báo sẽ tăng tới 82% trong năm 2020. Một  
phần quan trọng trong lưu lượng dòng video trực tuyến là  
các dịch vụ như Netfix, YouTube, MyTV, v.v. bao gồm  
cả video theo yêu cầu (Video On Demand), Internet  
Television (IPTV).  
“Chất lượng trải nghiệm (QoE) là cấp độ hài lòng  
hoặc thấy phiền toái của người dùng đối với một dịch vụ  
hoặc một ứng dụng. Đó là kết quả của việc đáp ứng sự  
mong đợi của người dùng về tính năng và/hoặc công dụng  
của ứng dụng hoặc dịch vụ dưới góc độ cá nhân người  
dùng và trạng thái hiện tại của họ. Trong ngữ cảnh dịch  
vụ truyền thông, QoE chịu ảnh hưởng của dịch vụ, nội  
dung, thiết bị, ứng dụng và ngữ cảnh sử dụng”.  
Với định nghĩa trên, QoE không chỉ phụ thuộc vào  
hiệu năng mạng và chuỗi cung cấp dịch vụ, mà còn phụ  
thuộc vào nhiều yếu tố khác như nội dung, ứng dụng,  
mong đợi của người dùng, mục đích của họ và ngữ cảnh  
Tác giả liên hệ: Hoàng Mạnh Quang  
Email: hoangmquang@gmail.com  
Đến tòa soạn: 07/2019, chỉnh sửa: 8/2019, chấp nhận đăng: 8/2019.  
SỐ 02 (CS.01) 2019  
TẠP CHÍ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG 19  
GIÁM SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG TRẢI NGHIỆM (QoE) CHO ỨNG DỤNG WEB  
sử dụng. Các ứng dụng và dịch vụ khác nhau có thể có  
các QoE khác nhau [5].  
vụ như IPTV hay dòng video (Streaming Video) [11].  
Vẫn còn rất ít mô hình QoE cho các ứng dụng Web.  
Cộng đồng mạng và các nhà cung cấp dịch vụ mạng  
đã dần nhận thức được tầm quan trọng của QoE thay vì  
chỉ quan tâm đến QoS [1, 5, 6, 7]. Như đã nêu ở trên, yêu  
cầu đối với nhà cung cấp dịch vụ mạng là giám sát và đo  
lường được chất lượng trải nghiệm dịch vụ QoE. Tuy  
nhiên, mô hình giám sát QoE cho các dịch vụ và ứng dụng  
khác nhau có thể rất khác nhau [8]. Các chỉ số đánh giá  
QoE và cách thức đo lường các chỉ số này cũng khác nhau  
[9, 6, 7, 10]. Thách thức đặt ra là liệu có thể đưa ra được  
một mô hình tham chiếu chung để giám sát và đánh giá  
QoE cũng như cách thức đo lường các chỉ số để đánh giá.  
Mặt khác, mô hình này cần đáp ứng yêu cầu cho mạng  
mới và ứng dụng mới [1, 8].  
Trong các sản phẩm trình duyệt như Google và  
Mozilla, đã có những phương thức được đưa ra nhằm tăng  
QoE bằng cách tăng tốc độ truyền tải nội dung, giảm kích  
thước nội dung [12]. Giao thức HTTP/2 đã được đưa ra  
bới hiệp hội Web Performance Group [13]. HTTP/2 tăng  
tốc thời gian tải trang thông qua việc sử dụng truyền tải  
nội dung nhị phân thay vì nội dung văn bản, nén phần tiêu  
đề để giảm tải dư thừa, ép máy chủ phản hồi chủ động cho  
trình duyệt [13]. Một phương thức nén cũng đã được đưa  
ra bởi Google năm 2016 là tạo ra định dạng ảnh mới cho  
phép giảm 26% so với ảnh PNG truyền thống [13].  
Cho tới nay, QoE vẫn còn được hiểu theo các cách  
khác nhau. Khái niệm QoE được chấp nhận phổ biến nhất  
là sự thể mức độ cảm nhận của người dùng về chất lượng  
của một dịch vụ hay mạng. Tuy nhiên, khái niệm này  
mang tính chủ quan của mỗi người dùng. Do vậy, cần có  
một định nghĩa QoE mang tính khách quan hơn. Đã có  
nhiều định nghĩa về QoE khác nhau đã được đưa ra (xem  
[5]). Từ góc độ khách quan và trên quan điểm của nhà  
cung cấp dịch vụ mạng, một khái niệm về QoE được ITU  
đưa ra như sau: “QoE là mức độ chấp nhận cho một dịch  
vụ ứng dụng, bao hàm các yếu tố ảnh hưởng trên toàn  
tuyến đầu cuối từ mạng, hạ tầng dịch vụ, thiết bị đầu  
cuối” [14].  
Cung cấp chất lượng trải nghiệm (Quality of  
Experience –QoE) đáp ứng nhu cầu người dùng là một  
yêu cầu hết sức quan trọng đối với các nhà cung cấp dịch  
vụ ứng dụng Web. Tuy nhiên, qua khảo sát của các tác giả  
cho thấy, vẫn chưa có một mô hình phù hợp cho định  
lượng QoE. Các nghiên cứu tới nay chủ yếu tập trung vào  
cải thiện QoE về các tham số liên quan đến thời gian [2, 6,  
7, 9, 10], mối quan hệ tương tác giữa QoS và QoE [1, 3, 6,  
8], mối quan hệ giữa QoE và MOS (Mean Opinion  
Scores) [4, 5, 8].  
Nhiều thách thức đặt ra đối với giám sát và đánh giá  
QoE, song vấn đề giám sát QoE theo thời gian thực vẫn  
chưa được quan tâm đúng mức. Hầu hết các mô hình QoE  
tới nay đều dựa trên các tham số do ITU đề xuất cho  
mạng và ứng dụng đa phương tiện, chưa có mô hình cho  
ứng dụng Web [8].  
Đã có một số mô hình QoE cho ứng dụng Web được  
đề xuất, điển hình như mô hình QoE của Schatz và Egger  
[15], mô hình tương tác QoE [16], mô hình quan hệ QoS-  
QoE [17],… Mô hình trong [15] nghiên cứu sự liên hệ  
giữa QoS và QoE nhận được dựa trên hàm dự đoán QoE  
sử dụng các chỉ số hiệu năng chính (Key Performance  
Indicators – KPI), song việc xác định QoE vẫn phụ thuộc  
nhiều vào yếu tố con người, tác động của ngữ cảnh dịch  
vụ. Trong [16], các tác giả đưa ra mô hình ánh xạ giữa  
nhu cầu chất lượng dịch vụ kết hợp với yêu tố công nghệ,  
chỉ ra mối quan hệ tương tác giữa chúng tạo nên QoE.  
Trong [17], các tác giả đưa ra mô hình quan hệ QoS-QoE  
xem xét sự liên quan giữa băng thông, thời gian chờ dịch  
vụ với sự hài lòng của người dùng. Một số mô hình khác  
đưa ra mối quan hệ giữa Web QoE và thời gian phản hồi  
Web, thời gian tải trang (Page Load Time), thời gian biểu  
thị trên màn hình trình duyệt,…  
Trên cơ sở đó, bài báo này đề xuất một mô hình tham  
chiếu cho giám sát và đánh giá QoE cho ứng dụng Web  
dựa trên cơ sở các tham số theo tiêu chuẩn của ITU. Mô  
hình tham chiếu WebQoE-RefMod được bài báo đề xuất  
có các đặc trưng sau:  
- 1) Xác định tập hồ sơ tham chiếu để so sánh, đánh  
giá QoE.  
- 2) Xác định tập các điểm đo tham chiếu,  
- 3) Tính giá trị QoE là hàm của các chỉ số KPI và  
KQI,  
Một mô hình QoE cho ứng dụng Web đang được  
nhiều nghiên cứu mới đây quan tâm. Trong [11], một mô  
hình QoE được gọi là QoEWA được đề xuất với việc tích  
hợp các cấu trúc tạo ra thẻ điểm cân bằng (Balanced  
Scorecard) cho QoE tổng thể trên quan điểm người thiết  
kế Web. Mô hình tích hợp chỉ số KPI (Key Performance  
Indicators) và chỉ số KQI (Key Quality Indicators). Mô  
hình trong [7] xem xét vấn đề đánh giá QoE trên cơ sở các  
đại lượng đo như ATF (Above The Fold), PLT (Page  
Load Time), thực hiện phân tích chỉ số tốc độ (SI – Speed  
Index) để xem xét mối quan hệ giữa SI và MOS (Mean  
Opinion Scores). Các tác giả trong [9] đề xuất một hệ  
thống đo lường hiệu năng Web với các công cụ đo hiệu  
năng Web, độ phức tạp, thời gian biểu diễn Web. Bài báo  
[6] đưa ra phương thức đo hiệu năng Web và Web QoE  
trong mạng di động với việc sử dụng các đặc trưng như  
thời gian kết nối TCP, thời gian TTFB (Time To First  
Byte), các tham số QoE như PLT (Page Load Time) và  
ATF (Above The Fold) time. Bài báo [8] chỉ ra mối quan  
hệ giữa các tham số QoE trong một hệ thống mạng, mối  
- 4) Giám sát và đánh giá QoE theo công thức tính  
thống kê khoảng cách tới giá trị Ref-QoE.  
WebQoE-RefMod là mô hình đầu tiên đưa ra ý tưởng  
về tập hồ sơ tham chiếu (Reference Profile) dùng để so  
sánh đánh giá các giá trị QoE đo được theo thời gian thực  
trên mạng và cũng là mô hình đầu tiên đưa ra ý tưởng  
đánh giá theo công thức tính thống kê khoảng cách tới giá  
trị Ref-QoE.  
Nội dung tiếp theo của bài báo gồm: Phần 2 trình bày  
các nghiên cứu liên quan, Phần 3 trình bày mô hình tham  
chiếu giám sát và đánh giá QoE cho ứng dụng Web, Phần  
4 là một số thử nghiệm với MOS, Phần 5 là kết luận và  
hướng phát triển tiếp.  
II. CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN  
Mặc dù QoE có tầm quan trọng đối với các nhà cung  
cấp dịch vụ mạng, song các nghiên cứu về QoE tới nay  
vẫn chủ yếu tập trung vào các mô hình đo chất lượng dịch  
SỐ 02 (CS.01) 2019  
TẠP CHÍ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG 20  
Hoàng Mạnh Quang, Hoàng Đăng Hải  
quan hệ giữa QoE và các giá trị MOS (Mean Opinion  
Scores).  
- Mô hình WebQoE-RefMod đưa ra một tập hồ sơ  
bình thường (Normal Profile) được gọi là tập tham  
chiếu (Reference Profile) cho các điểm đo QoE, so  
sánh tập dữ liệu đo được với tập hồ sơ bình thường  
để giám sát và đánh giá QoE  
Sự ra đời của các giao thức mới nhằm tăng tốc trình  
duyệt Web như HTTP/2, QUIC đã thúc đẩy nhiều nghiên  
cứu về QoE cho ứng dụng Web [18]. Điển hình là các  
công trình nghiên cứu như: tăng tốc trình duyệt Web và  
cải thiện Web QoE trên di động [19], mô hình hóa Web  
QoE trên trình duyệt Web [20], nghiên cứu ảnh hưởng của  
biến đổi băng thông mạng tới Web QoE [21, 22], nghiên  
cứu về ảnh hưởng của các yếu tố như hiển thị trực quan  
(Visual Appeal) và độ khả dụng (Usuability) tới Web QoE  
[23, 24], các nghiên cứu về tác động của thời gian chờ tới  
Web QoE [18, 25, 26, 27]. Một số mô hình xem xét QoE  
dựa theo phiên [28], hay dựa trên tác vụ [29].  
- Mô hình WebQoE-RefMod xác định một tập điểm  
đo tham chiếu cho ứng dụng Web.  
A. Mô hình WebQoE-RefMod  
Mô hình WebQoE-RefMod được mô tả trên hình 1,  
gồm các thành phần sau:  
- Thiết lập tệp hồ sơ tham chiếu: Căn cứ tập các điểm  
đo tham chiếu được xác định từ thời điểm thiết lập  
dịch vụ ứng dụng Web, thực hiện đo các chỉ số KPI  
và KQI. Tính toán giá trị Ref-QoE dựa trên các chỉ  
số KPI và KQI.  
Có thể phân loại các mô hình Web QoE theo hai loại  
chính là: 1) Mô hình Web QoE dựa trên các đo lường  
trình duyệt hay dựa theo Page Load Time (PLT) [30, 17,  
31], định nghĩa một hàm QoE của PLT và tổng hợp các  
tham số thiết kế vào một bảng tham chiếu; 2) Mô hình  
dựa theo dữ kiện (Data-driven), sử dụng các tham số thời  
gian làm đặc trưng và áp dụng học máy để phân tích dữ  
liệu [32, 33, 27].  
- Đo dữ liệu tại các điểm tham chiếu: Thực hiện thu  
thập dữ liệu tại các điểm đo tham chiếu phục vụ cho  
tính toán QoE.  
- Tính giá trị QoE là hàm của KPI và KQI  
- Giám sát và đánh giá QoE: So sánh QoE tính được  
với giá trị QoE tham chiếu (Ref-QoE) để xác định  
mức độ chất lượng trải nghiệm dịch vụ cho ứng  
dụng Web theo yêu cầu.  
Liên quan đến QoE, tổ chức tiêu chuẩn quốc tế (ISO -  
International Standard Organisation) và Hiệp hội viễn  
thông thế giới (ITU - International Telecommunications  
Union) cũng đưa ra một số khuyến nghị như ISO 9241-11  
[34], Khuyến nghị P.801 về MOS (Mean Opinion Scores)  
[35], Khuyến nghị G.1031 về các tham số QoE cho trình  
duyệt Web [36], Khuyến nghị G.1080 về QoE cho ứng  
dụng IPTV [37], tiêu chuẩn ISO/IEC TR 9126-3 cho các  
chỉ số trong thiết kế và chất lượng sản phẩm [38].  
- Kết quả đánh giá QoE: Hiển thị kết quả giám sát và  
đánh giá QoE  
B. Thiết lập các điểm giám sát  
Mô hình tổng quát cung cấp ứng dụng Web được mô  
tả trên hình 2 gồm 4 miền mạng: Miền cung cấp nội dung  
Web, miền cung cấp dịch vụ Web, miền cung cấp dịch vụ  
mạng và miền người sử dụng ứng dụng Web.  
III. MÔ HÌNH THAM CHIẾU GIÁM SÁT VÀ ĐÁNH  
GIÁ QOE CHO ỨNG DỤNG WEB  
Dựa theo các khuyến nghị của tiêu chuẩn ITU [36], ta  
có thể xác định ra 5 vị trí giám sát chất lượng dịch vụ (các  
điểm giám sát – Check Point CP) như trên hình 3 cho  
chuỗi cung cấp dịch vụ ứng dụng Web. Các điểm giám sát  
CPi là các điểm tham chiếu để đo dữ liệu cho 4 miền  
mạng như mô tả trên hình 2. Một hệ thống giám sát QoE  
Ý tưởng của mô hình tham chiếu giám sát và đánh giá  
QoE cho ứng dụng Web (WebQoE-RefMod) được xây  
dựng dựa theo mô hình QoEWA [11]. Mô hình WebQoE-  
RefMod cũng sử dụng các chỉ số KPI (Key Performance  
Indicators) và KQI (Key Quality Indicators) như mô hình  
QoEWA. Tuy nhiên, mô hình QoEWA là mô hình dựa  
Thiết lập tệp hồ sơ  
tham chiếu  
Đo dữ liệu tại các  
điểm tham chiếu  
Tính QoE = f(KPI,  
KQI)  
Giám sát và đánh  
Kết quả đánh giá  
giá QoE  
QoE  
Hình 1. Mô hình tham chiếu giám sát và đánh giá QoE  
theo dữ kiện (data-driven model), sử dụng các tập dữ liệu  
huấn luyện để dự đoán QoE.  
tập trung sẽ thực hiện thu thập dữ liệu đo được tại các  
điểm tham chiếu phục vụ tính toán QoE cho ứng dụng  
Web.  
Mô hình WebQoE-RefMod khác biệt so với mô hình  
QoEWA [11] ở hai đặc điểm sau:  
SỐ 02 (CS.01) 2019  
TẠP CHÍ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG 21  
GIÁM SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG TRẢI NGHIỆM (QoE) CHO ỨNG DỤNG WEB  
Người dùng  
Web  
Nhà cung cấp  
hạ tầng mạng  
Nhà cung cấp  
dịch vụ Web  
Nhà cung cấp  
nội dung Web  
Miền 4  
Miền 3  
Miền 2  
Miền 1  
Hình 2. Mô hình cung cấp dịch vụ Web với bốn miền mạng  
Người  
dùng  
Web  
Mạng truy nhập  
Mạng trục IP  
Nhà cung cấp  
dịch vụ Web  
Nhà cung cấp  
nội dung Web  
CP3  
CP2  
CP5  
CP4  
CP1  
Hình 3. Mô hình cung cấp dịch vụ Web với bốn miền mạng  
Bảng 1. Vị trí và mô tả các điểm đo giám sát QoE cho dịch vụ IPTV (theo ITU [37])  
Tên điểm đo  
Vị trí  
Mô tả  
Điểm đo 1  
Điểm giữa miền cung cấp nội dung Gám sát chất lượng nội dung (video, audio), xác  
và miền cung cấp dịch vụ thực dữ liệu metadata.  
Điểm đo 2  
Điểm đo 3  
Điểm giữa miền cung cấp dịch vụ Giám sát chất lượng luồng dữ liệu gốc, phân phối  
và miền cung cấp hạ tầng mạng dịch vụ.  
Điểm giữa miền lõi IP (IP Core) và Giám sát các tham số hiệu năng liên quan lớp  
mạng truy nhập (IP Edge mạng IP (Network Performance Monitoring).  
Networks).  
Điểm đo 4  
Điểm đo 5  
Điểm giữa mạng truy nhập và miền Giám sát chất lượng luồng dữ liệu, chất lượng  
mạng của người dùng.  
audio-visual, các thuộc tính dịch vụ.  
Điểm giữa giao diện mạng người End-point, liên quan trực tiếp tới QoE người  
dùng và thiết bị người dùng. dùng cuối.  
Bảng 1 mô tả ví dụ về các điểm đo giám sát chất  
lượng ứng dụng IPTV theo ITU [37].  
Trong đó: “obj” biểu thị các chỉ số khách quan, “sub”  
biểu thị các chỉ số chủ quan.  
KPI biểu thị các chỉ số khách quan, thường được tham  
chiếu theo các tham số QoS của mạng như độ trễ, độ rung  
trễ, tỷ lệ mất gói,… [36, 39].  
C. Đo dữ liệu tại các điểm tham chiếu  
Căn cứ các tiêu chuẩn như ISO 9241‐ 11 [34],  
ISO/IEC TR 9126‐ 3 [38] và OASIS [35], ta xác định các  
chỉ số KPI gồm F1, F2, F3, F4, F5 và các chỉ số về độ khả  
dụng F6, F7, F8, F9 như đã nêu trong [11].  
KQI biểu thị các chỉ số chủ quan, được thực hiện chủ  
yếu qua đánh giá MOS (Mean Opinion Scores) [35] với 5  
thang bậc là: (1) bad, (2) poor, (3) fair, (4) good, (5)  
excellent.  
Các tập chỉ số KPI và KQI được xác định như sau.  
KPI Score = { F1obj, F2obj, F3obj, F4obj, F5obj,  
F6obj, F7obj, F8obj, F9obj }  
Theo [34, 35, 38], các tham số Fi được định nghĩa như  
trên Bảng 2.  
KQI Score = { F1sub, F2sub, F3sub, F4sub, F5sub,  
F6sub, F7sub, F8sub, F9sub }  
SỐ 02 (CS.01) 2019  
TẠP CHÍ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG 22  
Hoàng Mạnh Quang, Hoàng Đăng Hải  
Bảng 2. Các chỉ số F biểu thị KPI, KQI  
Chỉ số  
F1  
KPI / KQI  
Mô tả  
Hiệu năng  
Hài lòng với thời gian từ khi gửi yêu cầu tới khi nhận được phản hồi  
Hài lòng với thời gian từ khi gửi yêu cầu tới khi nhận được phản hồi  
Hài lòng với số tác vụ thành công trong 1 khoảng thời gian  
Hài lòng với tính sẵn sàng của ứng dụng  
Độ tin cậy  
F2  
Tính sẵn sàng  
F3  
Khả năng truy cập  
Khả năng thành công  
Khả năng học  
F4  
Hài lòng với tỷ lệ phản hồi nhận được sau khi yêu cầu tác vụ  
Hài lòng với sự đơn giản và chức năng trợ giúp  
F5  
F6  
Khả năng hoạt động  
Độ khả dụng về số tác vụ  
Độ khả dụng về hiệu quả  
Hài lòng với số giao dịch thực hiện nhất quán  
F7  
Hài lòng với số tác vụ thành công trong một khoảng thời gian đã cho  
Hài lòng với thời gian để nhận một phản hồi từ hỗ trợ người dùng  
F8  
F9  
Ft  
Bước 1  
Tính KPI  
(từ các dữ liệu đo  
khách quan)  
Fa  
Ánh xạ QoE  
KPI  
100%  
5
.
.
.
Tính KQI  
(từ các dữ liệu đo  
chủ quan)  
.
4
.
.
.
.
. .  
. .  
KPI  
100%  
3
Bước 2  
2
.
.
1
KPI  
100%  
Hình 4. Tính giá trị QoE  
Giá trị định lượng QoE được tính theo công thức sau  
[11]:  
D. Tính giá trị QoE  
QoE được coi là một hàm của KPI và KQI như đã nêu  
trong [11]. Phương pháp tính QoE có thể sử dụng như  
trong [11] như mô tả trên hình 4, trong đó:  
n
Fa  
,k  
QoE   
F  
Fa = Giá trị QoE đo được thực tế (Actual Measured  
QoE)  
k´1  
t,k  
- Bước 2: Ước lượng QoE theo phương pháp đưa ra  
trong [11]. Giá trị ước lượng QoE tương ứng với  
một trong 5 thang bậc của MOS (Mean Opinion  
Scores) là: (1) bad, (2) poor, (3) fair, (4) good, (5)  
excellent.  
Ft = Giá trị QoE đích (Target QoE).  
Các ô tròn với con số biểu thị 5 thang bậc của MOS  
(Mean Opinion Scores) theo [35]: (1) bad, (2) poor, (3)  
fair, (4) good, (5) excellent.  
Như biểu thị trên hình, phương pháp tính QoE được  
thực hiện qua hai bước:  
E. Giám sát và đánh giá QoE  
- Bước 1: Tính định lượng mối quan hệ giữa các tham  
số chủ quan và khách quan từ các dữ liệu đo được.  
Sơ đồ giám sát và đánh giá QoE cho một ứng dụng  
Web được biểu thị trên hình 5.  
Các giá trị Fa và Ft được tính theo công thức sau [11].  
Tệp hồ sơ tham chiếu được xác định ở thời điểm thiết  
lập dịch vụ ứng dụng Web. Căn cứ vào các dữ liệu đo  
được tại các điểm giám sát, các giá trị KPI và KQI được  
tính toán. Giá trị Ref-QoE được tính dựa trên các chỉ số  
KPI và KQI.  
Ft = Ft (KPI) * Ft (KQI)  
Fa = Fa (KPI) * Fa (KQI)  
(1)  
(2)  
SỐ 02 (CS.01) 2019  
TẠP CHÍ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG 23  
GIÁM SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG TRẢI NGHIỆM (QoE) CHO ỨNG DỤNG WEB  
Trong quá trình giám sát và đánh giá QoE thực tế,  
thực hiện đo dữ liệu tại các điểm giám sát, thực hiện đo  
Mức ngưỡng được xác định khi so sánh kết quả giữa  
giá trị Ref-QoE và giá trị QoE đo được. Theo [40], mức  
Đo dữ liệu tại các điểm  
tham chiếu  
Thiết lập tệp hồ sơ  
tham chiếu  
Tính QoE = f(KPI, KQI)  
Tính khoảng cách D  
So sánh mức ngưỡng  
Kết quả đánh giá QoE  
Ref-QoE  
Hình 5. Giám sát và đánh giá QoE theo khoảng cách và mức ngưỡng  
Mạng thử nghiệm  
Client Browser  
Web Server  
CP2  
CP1  
Hình 6. Sơ đồ thử nghiệm QoE cho ứng dụng Web với hai điểm đo giám sát  
các chỉ số KPI và KQI, tính toán giá trị QoE dựa trên các  
ngưỡng thống kê có thể xác định nhờ phân bố thống kê F  
hoặc phân bố Chi-square 2.  
chỉ số KPI và KQI. Tiếp đó, thực hiện tính khoảng cách  
giữa Ref-QoE và giá trị QoE đo được. Các phương pháp  
tính khoảng cách có thể áp dụng phổ biến là: Euclidean  
hay Mahalanobis [40].  
Khoảng cách Euclidean giữa hai điểm x và µ được  
tính như sau:  
Trong xác suất thống kê, hàm phân bố tích luỹ  
(Cumulative distribution function - CDF) được định nghĩa  
như sau:  
p
Euclid  
(x )T (x )  
F(t) = P(D ≤ DN)  
(5)  
(3)  
nghĩa là xác suất để khoảng cách D nh  hơn hoặc bằng  
mức ngưỡng DN.  
i1  
Trong đó x các điểm dữ liệu đo được, µ là các điểm dữ  
liệu tham chiếu của Ref-QoE, p là số lượng tham số sử  
dụng khi tính toán KPI và KQI.  
Giá trị mức ngưỡng có thể lấy từ bảng phân bố thống  
kê F hoặc phân bố Chi-square 2 [40].  
x = (x1, x2,…, xp)  
µ = (µ1, µ2,…, µn)  
IV. THỬ NGHIỆM  
Công thức tính khoảng cách Mahalanobis xem xét đến  
tính tương quan giữa các tham số:  
Hình 6 mô tả mô hình triển khai thử nghiệm giám sát  
và đánh giá QoE cho ứng dụng Web với hai điểm giám  
sát CP1 và CP2.  
Maha (x  )T S 1 (x  )  
(4)  
Trong thử nghiệm này, ta thực hiện khảo sát MOS  
(Mean Opinion Scores) theo các tham số QoS là tỷ lệ mất  
gói (Packet Loss Rate - PLR), Trễ (Delay) và Độ rung trễ  
(Delay Jitter). Các tham số KPI được coi là các tham số  
QoS đo được.  
S-1 là nghịch đảo của ma trận hiệp phương sai giữa x  
và µ. Vai trò của S cũng là trọng số để giảm sự khác biệt  
giữa các tham số.  
SỐ 02 (CS.01) 2019  
TẠP CHÍ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG 24  
Hoàng Mạnh Quang, Hoàng Đăng Hải  
Lưu lượng Web ứng với các dịch vụ mạng mới được  
mô tả trong [41]. Theo [35], phân mức các lớp QoS với  
các tham số trễ, độ rung trễ, tỷ lệ mất gói như trên Bảng 3.  
MOS = 13.96*exp(-1.133*Delay) – 8.783  
MOS = 98.78*exp(-0.1219*JItter) – 94.21  
MOS = 2.198*exp(-11.06*PLR) + 1.391  
Bảng 3. Phân mức các lớp QoS với các tham số  
PLR Ví dụ các ứng dụng  
Lớp  
Delay  
Jitter  
QoS  
0
1
2
3
4
5
6
100 ms  
400 ms  
100 ms  
400 ms  
1 s  
50 ms  
1 x 10–3 Real-time, nhạy cảm với jitter, độ trễ thấp, có tính tương tác cao  
1 x 10–3 Real-time, nhạy cảm với jitter, trễ trung bình, có tính tương tác  
1 x 10–3 Trao đổi dữ liệu, độ trễ thấp, có tính tương tác cao  
1 x 10–3 Trao đổi dữ liệu, trễ trung bình, có tính tương tác  
1 x 10–3 Mất gói thấp  
50 ms  
50 ms  
50 ms  
50 ms  
U
U
U
Best effort (U = undefined)  
100 ms  
50 ms  
1 x 10–5 Tốc độ bit cao, yêu cầu khắt khe mất gói thấp, độ trễ thấp, có tính  
tương tác cao  
7
400 ms  
50 ms  
1 x 10–5 Tốc độ bit cao, yêu cầu khắt khe mất gói thấp, trễ trung bình, có  
tính tương tác  
Thực hiện thử nghiệm với việc đặt lần lượt các giá trị  
sau cho Delay, Jitter, PLR  
Bảng 4 và đồ thị hình 7 là kết quả khảo sát mối quan  
hệ giữa MOS và Delay (tính bằng giây). Bảng 5 và đồ thị  
hình 8 là kết quả khảo sát mối quan hệ giữa MOS và Jitter  
(tính bằng giây). Bảng 6 và đồ thị hình 9 là kết quả khảo  
sát mối quan hệ giữa MOS và tỷ lệ mất gói (Packet Loss  
Rate).  
- Delay: 0, 100, 150, 200, 250, 300, 350 và 400 ms  
- Jitter: 0, 100, 150, 200, 250, 300, 350 ms  
- PLR: 0, 0.025, 0.05, 0.075, 0.10, 0.125, 0.15, 0.175,  
0.20, 0.225, 0.25  
Bảng 4. Tính giá trị MOS theo Delay  
0.15 0.2 0.25  
2.9951 2.3465 1.7335  
Delay  
MOS  
0
0.1  
3.6816  
0.3  
1.1543  
0.35  
0.6070  
0.4  
0.0899  
5.177  
Bảng 5. Tính giá trị MOS theo Jitter  
Jitter  
MOS  
0
0.1  
3.3732  
0.15  
2.7802  
0.2  
2.1909  
0.25  
1.6051  
0.3  
1.0229  
0.35  
0.4442  
4.5700  
Bảng 6. Tính giá trị MOS theo Pakcet Loss Rate (PLR)  
PLR  
MOS  
0
3.59  
0.025  
3.06  
0.05  
2.66  
0.075  
2.35  
0.10  
2.12  
0.125  
1.95  
0.15  
1.81  
0.175  
1.71  
0.20  
1.64  
0.225  
1.58  
0.25  
1.53  
Mục đích của việc thử nghiệm là xem xét mối quan hệ  
giữa QoE và QoS. Do đó, ta sử dụng phương pháp tính  
thống kê đơn giản cho QoE theo các tham số QoS như đã  
chỉ ra trong [39] như sau:  
QoEa*exp(b*QoS)c  
(6)  
Trong đó a và b là các hệ số, QoS là các giá trị trễ, độ  
rung trễ và tỷ lệ mất gói.  
Các công thức tương ứng biểu thị mối quan hệ giữa  
MOS với trễ (Delay), độ rung trễ (Jitter) và tỷ lệ mất gói  
(PLR) được đưa ra trong [39] là:  
SỐ 02 (CS.01) 2019  
TẠP CHÍ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG 25  
GIÁM SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG TRẢI NGHIỆM (QoE) CHO ỨNG DỤNG WEB  
dịch vụ (QoS) và chất lượng trải nghiệm (QoE) cho người  
dùng là vấn đề quan trọng đối với các nhà cung cấp dịch  
vụ ứng dụng, điển hình là các ứng dụng Web trực tuyến  
như Youtube, MyTV, IPTV,….  
QoS và QoE đã được quan tâm từ nhiều năm, song  
vẫn chưa có một mô hình phù hợp cho định lượng QoE.  
Các mô hình đánh giá QoE có thể rất khác nhau cho mỗi  
loại dịch vụ, ứng dụng Web.  
Để theo dõi chất lượng trải nghiệm QoE cho ứng dụng  
Web theo thời gian thực, cần có một mô hình giám sát và  
đánh giá QoE trực tuyến, xem xét mối quan hệ giữa QoS  
và QoE, mối quan hệ giữa QoE và MOS.  
Bài báo đã đề xuất một mô hình tham chiếu cho giám  
sát và đánh giá QoE cho ứng dụng Web dựa trên cơ sở các  
tham số theo tiêu chuẩn của ITU. Mô hình tham chiếu  
WebQoE-RefMod được đề xuất với các đặc trưng: xác  
định một tập hồ sơ tham chiếu QoE phục vụ cho việc so  
sánh, đánh giá định lượng QoE trên cơ sở so sánh với mức  
QoE tham chiếu; xác định một tập các điểm tham chiếu để  
đo QoE; tính giá trị QoE theo các chỉ số KPI và KQI;  
giám sát và đánh giá QoE theo công thức thống kê khoảng  
cách tới giá trị Ref-QoE.  
Hình 7. Quan hệ giữa MOS và Delay  
Bài báo đã đưa ra thử nghiệm khảo sát mối quan hệ  
giữa MOS với các tham số QoS (xấp xỉ cho chỉ tiêu KPI)  
gồm: trễ (Delay), độ rung trễ (Jitter), tỷ lệ mất gói (PLR).  
Trong khuôn khổ bài báo, những công việc cụ thể về  
thu thập dữ liệu tại các điểm đo giám sát, phương pháp đo  
thu thập dữ liệu, cách thức tính KPI và KQI từ các dữ liệu  
đo được, cách so sánh QoE và Ref-QoE với mức ngưỡng  
vẫn còn chưa được trình bày chi tiết. Đó là các chủ đề  
nghiên cứu tiếp theo.  
LỜI CẢM ƠN  
Hình 8. Quan hệ giữa MOS và Jitter  
Các tác giả trân trọng cảm ơn nguồn tài trợ của đề tài  
cấp Nhà nước mã số KC.01.08/16-20 của Bộ KH&CN  
cho nhóm nghiên cứu.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] R.Schatz, S. Schwarzmann, T. Zinner, et.al. QoE  
Management for Future Networks. Autonomous Control  
for a Reliable Internet of Services. Lecture Notes in  
Computer Science (LNCS), Vol.10768, May 2018, pp. 49-  
80.  
[2] L. Kosskimies, T. Taleb, M. Bagaa. QoE Estimation–based  
Server Benchmarking for virtual Video Delivery Platform.  
Proc. of 2017 IEEE International Conference on  
Communications (ICC), July 2017  
[3] Enrico, Bocchi. Network Traffic Measurements,  
Applications to Internet Services and Security. PhD thesis.  
Politecnico Di Torino, Telecom ParisTech. 2017.  
[4] Qualinet White Paper on Definitions of Quality of  
Experience, 2012, March 2013  
Hình 9. Quan hệ giữa MOS và PLR  
[5] Elias Allayiotis. Characterization of Mobile Web Quality  
of Experience using  
a non-intrusive, context-aware,  
mobile-to-cloud system approach. PhD Thesis. University  
of Central Lansashire. UK. June 2017.  
V. KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN TIẾP  
[6] A.S. Asrese, E.A. Walelgne, V. Bajpai, et.al. Measuring  
Web Quality of Experience in Cellular Networks. Proc of  
Internl. Conference on Passive and Active Network  
Measurement (PAM 2019), LNCS 11419, 2019. pp.18-33.  
Mạng Internet ngày càng phát triển, có thêm nhiều  
dịch vụ ứng dụng mới đa dạng trên nền tảng IP và di  
động. Các ứng dụng Web được sử dụng rộng rãi, có độ  
phức tạp ngày càng cao và nội dung đa dạng, đặc biệt là  
các nội dung đa phương tiện. Đáp ứng yêu cầu chất lượng  
[7] T. Hossfeld, F. Metzger, D. Rossi. Speed Index: Relating  
the Industrial Standard for User Perceived Web  
SỐ 02 (CS.01) 2019  
TẠP CHÍ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG 26  
Hoàng Mạnh Quang, Hoàng Đăng Hải  
Computer Communication Review, vol. 46, no. 4, pp. 8–  
Performance to Web QoE. Proc. of 10th  
Conference on Quality of Multimedia Experience  
(QoMEX). 29th May-1st June 2018.  
Internl.  
13, 2016  
[26] S. Egger, T. Hoßfeld, R. Schatz, and M. Fiedler, “Waiting  
times in quality of experience for web based services,” in  
Quality of Multimedia Experience (QoMEX). IEEE, 2012,  
pp. 86–96  
[8] T. Hossfeld, P.E. Heegaard, L.S. Kapov, M. Varela.  
Fundamental Relationships for Deriving QoE in Systems.  
Proc. of 11th Internl. Conference on Quality of Multimedia  
Experience (QoMEX). June 2019.  
[27] D. Da Hora, A. Asrese, V. Christophides, R. Teixeira, and  
D. Rossi, “Narrowing the gap between qos metrics and  
web qoe using above-thefold metrics,” in PAM 2018-  
International Conference on Passive and Active Network  
Measurement, 2018, pp. 1–13  
[9] A. Asrese, E.S. Jacob, B. Vaibhav, et.al. Measuring Web  
Latency and Rendering Performance: Method, Tools &  
Longitudinal Dataset. IEEE Transactions on Network and  
Service Management. 16(2), pp.535-549. June 2019.  
[28] T. Hoßfeld, S. Biedermann, R. Schatz, A. Platzer, S.  
Egger, and M. Fiedler, “The memory effect and its  
implications on web qoe modeling,” in Teletraffic  
Congress (ITC), 2011 23rd International. IEEE, 2011, pp.  
103–110  
[10] D.d. Hora, D. Rossi, V. Christophides, R. Teixeira. A  
practical method for measuring Web above-the-fold time.  
Proc. of ACM SIGCOMM 2018, Aug. 2018.  
[29] D. Strohmeier, S. Jumisko-Pyykkö, and A. Raake,  
“Toward taskdependent evaluation of web-qoe: Free  
exploration vs. “who ate what?”,” in Globecom  
Workshops (GC Wkshps), 2012 IEEE. IEEE, 2012, pp.  
1309–1313  
[11] M. Lycett, O. Radwan. Developing  
Experience (QoE) model for Web Applications. Journal of  
Information Systems, 05 Mar. 2018,  
a Quality of  
[12] Google Inc. (2013) SPDY: An experimental protocol for a  
org/spdy/spdy-whitepaper.  
[30] S. Egger, P. Reichl, T. Hoßfeld, and R. Schatz, ““Time is  
bandwidth”? Narrowing the gap between subjective time  
perception  
and  
Quality  
of  
Experience,”  
in  
[13] Google Inc. (2016) WebP — A new image format for the  
Communications (ICC), 2012 IEEE International  
Conference on. IEEE, 2012, pp. 1325–1330  
Web,  
WebP.  
Available  
at:  
google.com/speed/webp/.  
[31] E. Ibarrola, I. Taboada, R. Ortega et al., “Web qoe  
evaluation in multi-agent networks: Validation of itu-t g.  
1030,” in Autonomic and Autonomous Systems, 2009.  
ICAS’09. Fifth International Conference on. IEEE, 2009,  
pp. 289–294  
[14] ITU-T P.800. Methods for subjective determination of  
transmission quality. 1996.  
[15] R. Schatz, S. Egger. On the Impact of Terminal  
Performance and Screen Size on QoE. in proc of ETSI  
Workshop on Selected Items on Telecommunication  
Quality Matters. Vienna, Austria: ETSI. 2012.  
[32] Q. Gao, P. Dey, and P. Ahammad, “Perceived performance  
of top retail webpages in the wild: Insights from large-  
scale crowdsourcing of above-the-fold qoe,” in Workshop  
on QoE-based Analysis and Management of Data  
Communication Networks. ACM, 2017, pp. 13–18  
[16] Rehman K. Laghari, K. Connelly. Toward total quality of  
experience: A QoE model in a communication ecosystem.  
IEEE Communications Magazine, 50(4), pp. 58–65. doi:  
10.1109/MCOM. 2012.6178834  
[33] A. Balachandran, V. Aggarwal, E. Halepovic, J. Pang, S.  
[17] S. Egger, T. Hossfeld, R. Schatz, M. Fiedler. Waiting  
Times in Quality of Experience For Web Based Services.  
Proc of QoMEX 2012, pp. 86–96.  
Seshan, S. Venkataraman, and H. Yan, “Modeling web  
quality-of-experience  
on  
cellular  
networks,”  
in  
Proceedings of the 20th annual international conference on  
Mobile computing and networking. ACM, 2014, pp. 213–  
224  
[18] A. Saverimoutou, B. Mathieu, S. Vaton. Web Browsing  
Measurements: An Above-The-Fold Browser-Based  
Technique. Proc of IEEE Internl. Conference on  
Distributed Computing Systems (ICDCS), Mar. 2019.  
[34] ISO 9241‐ 11:1998, Ergonomic requirements for office  
work with visual display terminals (VDTs)—Part 11:  
std: iso:9241:‐ 11:ed‐ 1:v1:en  
[19] A. Balachandran, V. Aggarwal, E. Halepovic, J. Pang, S.  
Seshan, S. Venkataraman, and H. Yan, “Modeling web  
quality-of-experience  
on  
cellular  
networks,”  
in  
Proceedings of the 20th annual international conference on  
Mobile computing and networking. ACM, 2014, pp. 213–  
224  
[35] ITU‐ T. Recommendation P. 800.1: Mean opinion score  
(MOS) terminology. ITU‐ T P‐ Series, The International  
Telecommunication Union (ITU). 2006.  
[20] S. Barakovic and L. Skorin-Kapov, “Survey of research on  
quality of ´ experience modelling for web browsing,”  
Quality and User Experience, vol. 2, no. 1, p. 6, 2017.  
[36] ITU‐ T. (2014). Recommendation G.1031: QoE factors in  
web‐ browsing. ITU‐ T G‐ Series, The International  
Telecommunication Union (ITU). 2014.  
[21] A. Sackl, S. Egger, and R. Schatz, “The influence of  
network quality fluctuations on web qoe,” in Quality of  
Multimedia Experience (QoMEX). IEEE, 2014, pp. 123–  
128  
[37] ITU-T G.1080 (Quality of Experience Requirements for  
IPTV services). 2008.  
[22] A. Sackl, P. Casas, R. Schatz, L. Janowski, and R. Irmer,  
“Quantifying the impact of network bandwidth  
fluctuations and outages on web qoe,” in Quality of  
Multimedia Experience (QoMEX). IEEE, 2015, pp. 1–6  
[38] ISO/IEC TR 9126‐ 3. (2002). Software engineering—  
Product quality—Part 3: Internal metrics. 2002.  
[39] A. Vizzarri, F. Davide. Simulation of VoLTE Services for  
QoE Estimation. Proceedings of the 9th EUROSIM & the  
57th SIMS. Pp.388-394.  
[23] M. Varela, T. Mäki, L. Skorin-Kapov, and T. Hoßfeld,  
“Towards an understanding of visual appeal in website  
design,” in Quality of Multimedia Experience (QoMEX).  
IEEE, 2013, pp. 70–75  
[40] Richard A. Johnson, Dean W.Wichern, Applied  
Multivariate Statistical Analysis (6th Edition). Pearson  
Publisher 2007. ISBN-10: 0131877151.  
[24] M. Varela, L. Skorin-Kapov, T. Mäki, and T. Hoßfeld,  
“Qoe in the web: A dance of design and performance,” in  
Quality of Multimedia Experience (QoMEX). IEEE, 2015,  
pp. 1–7  
[41] S. Ihm and V. S. Pai, “Towards Understanding Modern  
Web Traffic,”ser. ACM IMC, 2011. [Online]. Available:  
ttp://doi.acm.org/10.1145/2068816.2068845  
[25] E. Bocchi, L. De Cicco, and D. Rossi, “Measuring the  
quality of experience of web users,” ACM SIGCOMM  
SỐ 02 (CS.01) 2019  
TẠP CHÍ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG 27  
GIÁM SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG TRẢI NGHIỆM (QoE) CHO ỨNG DỤNG WEB  
MONITORING AND EVALUATION OF QUALITY  
OF EXPERIENCE (QoE) FOR WEB  
APPLICATIONS  
Abstract: Providing Quality of Experience (QoE) for  
satisfying user’s requests is being an essential demand  
for Web applications and service providers. Several  
challenges have been posed to QoE monitoring and  
evaluating, since there is still no suitable model for  
quantifying QoE. Until now, research work has mainly  
focused on improving QoE regarding time related  
parameters, the interactive relationship between QoS and  
QoE, the relationship between QoE and MOS (Mean  
Opinion Scores). However, the problem of real-time QoE  
monitoring still not receives adequate attention. On the  
other hand, most QoE models to date are based on  
parameters proposed by the ITU for networks and  
multimedia applications. There is still no model for Web  
applications. Based on parameters according to ITU  
standards, this paper proposes a reference model for  
monitoring and evaluation of QoE for Web applications.  
This reference model WebQoE-RefMod has following  
properties: 1) Determining a reference profile for QoE  
comparison and evaluation, 2) Determining a set of  
reference measurement points, 3) Calculating QoE as a  
function of KPI and KQI metrics, 4) Monitoring and  
evaluating QoE using a formula for the statistical  
distance to the Ref-QoE values.  
Keywords: Web Applications, QoS, QoE, QoE  
monitoring, quantified QoE assessment.  
Hoàng Mạnh Quang. ThS. tại Đại  
học Bách Khoa Hà Nội.  
Học viện Công nghệ Bưu chính  
Viễn thông. Lĩnh vực nghiên cứu:  
Chất lượng dịch vụ (QoS), chất  
lượng trải nghiệm (QoE), mạng  
máy tính, mạng viễn thông, đo  
kiểm mạng lưới.  
Hoàng Đăng Hải, TS. (1999),  
TSKH. (2002) tại CHLB Đức, PGS  
(2009). Hiện đang đang công tác  
tại Học viện Công nghệ Bưu  
chính Viễn thông. Lĩnh vực nghiên  
cứu: Mạng và hệ thống thông tin,  
các giao thức truyền thông, chất  
lượng dịch vụ, mạng IoT, an toàn  
thông tin  
SỐ 02 (CS.01) 2019  
TẠP CHÍ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG 28  
pdf 10 trang yennguyen 19580 Free
Bạn đang xem tài liệu "Giám sát và đánh giá chất lượng trải nghiệm (QoE) cho ứng dụng web", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiam_sat_va_danh_gia_chat_luong_trai_nghiem_qoe_cho_ung_dung.pdf