Factors affect green food consumption intention of consumers in Hanoi

VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 3 (2019) 79-90  
Original Article  
Factors Affect Green Food Consumption Intention  
of Consumers in Hanoi  
Hoang Thi Bao Thoa*, Hoang Le Kien, Nguyen Thu Uyen, Nguyen Thi Uyen  
VNU University of Economics and Business,  
144 Xuan Thuy Str., Cau Giay Dist., Hanoi, Vietnam  
Received 23 September 2019  
Revised 24 September 2019; Accepted 24 September 2019  
Abstract: Green consumption has become an important academic and practical topic however  
green food consumption is a quite new concept with many consumers in Hanoi. Taking the  
cognitive view in studying consumer behaviors, this study theoretically developed and tested  
factors that affect green food consumption intention and behavior of consumers in Hanoi, namely  
Attitude towards the environment, Attitude towards green food consumption, Subjective norm of  
green consumption, Perceived consumer effectiveness and belief. Our data sample of 260  
consumers in Hanoi provided supports for the hypotheses. Our study results thus contribute to the  
green consumption literature and the broader literature of consumer behavior. Implications and  
recommendations for further research are also discussed.  
Keywords: Green food consumption, green food behaviour, green food intention.  
*
_______  
* Corresponding author.  
E-mail address: [email protected]  
79  
VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 3 (2019) 79-90  
Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tiêu dùng  
thực phẩm hữu cơ của người tiêu dùng ở Hà Nội  
Hoàng Thị Bảo Thoa*, Hoàng Lê Kiên, Nguyễn Thu Uyên, Nguyễn Thị Uyên  
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, 144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam  
Nhận ngày 23 tháng 9 năm 2019  
Chỉnh sửa ngày 24 tháng 9 năm 2019; Chấp nhận đăng ngày 24 tháng 9 năm 2019  
Tóm tắt: Tiêu dùng xanh đã và đang là một chủ đề quan trọng về cả mặt lý thuyết và thực tiễn, tuy  
nhiên tiêu dùng thực phẩm hữu cơ lại là một khái niệm tương đối lạ lẫm đối với nhiều người tiêu  
dùng ở Hà Nội. Nghiên cứu định lượng hành vi tiêu dùng, bài viết xây dựng các giả thuyết và kiểm  
định các nhân tố ảnh hướng tới ý định tiêu dùng thực phẩm hữu cơ của người tiêu dùng trên địa  
bàn Hà Nội gồm có các nhân tố như: yếu tố quan tâm tới môi trường, chuẩn chủ quan, nhận thức  
về tính hiệu quả của sản phẩm, niềm tin. Nghiên cứu này sử dụng phiếu điều tra trên 260 người  
tiêu dùng nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng theo hướng thúc đẩy hoặc cản trở ý định tiêu dùng  
sản phẩm hữu cơ của người tiêu dùng ở Hà Nội, từ đó đề xuất các chương trình, chính sách nhằm  
giúp các nhà hoạch định chính sách cũng như các doanh nghiệp thúc đẩy ý định tiêu dùng thực  
phẩm hữu cơ của người tiêu dùng nói chung, đồng thời đưa ra một số đề xuất cho các nghiên cứu  
tiếp theo.  
Từ khóa: Thực phẩm hữu cơ, ý định tiêu dùng, các nhân tố ảnh hưởng.  
dựng mô hình các nhân tố tác động đến ý định  
tiêu dùng thực phẩm hữu cơ dựa trên mô hình  
lý thuyết hành vi hoạch định (TPB), bao gồm:  
thái độ tiêu dùng thực phẩm hữu cơ, chuẩn chủ  
quan, nhận thức kiểm soát hành vi tiêu dùng và  
nhận thức về tính hiệu quả của sản phẩm [1].  
Ngoài ra, tác giả còn kiểm định các nhân tố ảnh  
hưởng tới thái độ đối với thực phẩm hữu cơ và  
rút ra được 6 động cơ, bao gồm: tâm trạng,  
thành phần tự nhiên, vấn đề bảo vệ động vật,  
vấn đề bảo vệ môi trường, giá trị về chính trị và  
giá trị về tôn giáo. Hơn nữa, nghiên cứu cho  
thấy các đặc điểm tâm lý liên quan đến việc  
ngại thử những thực phẩm mới và sự yêu thích  
thực phẩm (luôn đề cập đến thực phẩm, luôn  
tham gia các hoạt động liên quan đến thực  
1. Cơ sở lý luận về ý định tiêu dùng thực  
phẩm hữu cơ*  
1.1. Các nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng tới ý  
định tiêu dùng thực phẩm hữu cơ  
Thực phẩm hữu cơ là sản phẩm của quá trình  
nông nghiệp hữu cơ, vậy nên các định nghĩa về  
thực phẩm hữu cơ cũng được xây dựng thông qua  
các tiêu chuẩn nuôi trồng hữu cơ.  
Mei-Fang Chen (2007) trong nghiên cứu về  
thái độ hành vi và ý định mua trong mối liên  
quan tới thực phẩm hữu cơ ở Đài Loan đã xây  
_______  
* Tác giả liên hệ.  
Địa chỉ email: [email protected]n  
80  
H.T.B. Thoa et al. / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 3 (2019) 79-90  
81  
phẩm…) gây ra tác động điều chỉnh đối với mối  
quan hệ giữa các động cơ trên với thái độ của  
người tiêu dùng đối với thực phẩm hữu cơ.  
quan hệ giữa thông tin và ý định mua thực  
phẩm hữu cơ của người tiêu dùng. Nghiên cứu  
cũng cho thấy thái độ đối với thực phẩm hữu cơ  
và chuẩn chủ quan ảnh hưởng đáng kể đến lựa  
chọn thực phẩm hữu cơ của người tiêu dùng; và  
việc người tiêu dùng thu nhận thêm kiến thức  
về thực phẩm hữu cơ có thể tạo ra thái độ tích  
cực đối với thực phẩm hữu cơ.  
Không giống Ấn Độ, trong nghiên cứu về  
các nhân tố quyết định đến hành vi mua thực  
phẩm hữu cơ của người tiêu dùng Sri Lanka,  
Kapuge (2016) đã chỉ ra rằng nhận thức và ý  
thức sức khỏe là hai nhân tố chính ảnh hưởng  
đến ý định mua sản phẩm hữu cơ của người tiêu  
dùng Sri Lanka [5]. Tuy nhiên, mối quan tâm  
về môi trường và ảnh hưởng của nhóm tham  
khảo không có ảnh hưởng đáng kể đến ý định  
của người tiêu dùng tại quốc gia này.  
Năm 2018, Asgarnezhad Nouri Bagher,  
Farideh Salati và Mohammad Ghaffari đã thực  
hiện điều tra các yếu tố ảnh hưởng đến ý định  
mua thực phẩm hữu cơ của người tiêu dùng Iran  
[6]. Theo dữ liệu được thu thập thông qua bảng  
câu hỏi từ Pathak (2015) và Chen (2009): định  
hướng đạo đức, nhận thức về hiệu quả của sản  
phẩm hữu cơ, thái độ đối với thực phẩm hữu cơ,  
mối quan tâm về môi trường, chuẩn chủ quan,  
lối sống lành mạnh, nhận thức về sức khỏe và  
kiểm soát hành vi nhận thức có tác động đáng  
kể nhất đến ý định mua thực phẩm hữu cơ.  
Tại Việt Nam, nghiên cứu của Lê Thị Thùy  
Dung (2017) cho thấy nhân tố ảnh hưởng đến ý  
định mua thực phẩm hữu cơ của người tiêu  
dùng tại thành phố Đà Nẵng bao gồm: thái độ,  
sự quan tâm tới sức khỏe, niềm tin, chuẩn chủ  
quan, sự sẵn có của sản phẩm, truyền thông đại  
chúng, giá cả và mối quan tâm đến môi trường  
[7]. Kết quả nghiên cứu chỉ loại bỏ yếu tố  
chuẩn chủ quan ra khỏi mô hình ảnh hưởng đề  
xuất và cho thấy thái độ, sự quan tâm sức khỏe  
và niềm tin có tác động tích cực tới ý định mua  
thực phẩm hữu cơ.  
Rambalak Yadav và Govind Swaroop  
Pathak (2017) cũng sử dụng lý thuyết TPB để  
điều tra ý định của người tiêu dùng mua thực  
phẩm hữu cơ tại một quốc gia đang phát triển,  
điển hình là Ấn Độ [2]. Nghiên cứu đã kết hợp  
các nhân tố bổ sung như ý thức về sức khỏe,  
mối quan tâm về môi trường và thái độ đạo đức  
vào trong mô hình TPB. Nghiên cứu đã củng cố  
cho việc kết hợp thái độ đạo đức và ý thức sức  
khỏe vào mô hình TPB vì cả hai cấu trúc này  
ảnh hưởng đáng kể đến ý định của người tiêu  
dùng để mua thực phẩm hữu cơ, và đã tăng khả  
năng dự đoán của khung lý thuyết được đề xuất.  
Trong khi đưa ra quyết định mua thực phẩm  
hữu cơ, các vấn đề liên quan đến sức khỏe đóng  
vai trò quan trọng hơn đối với người tiêu dùng  
Ấn Độ so với các vấn đề môi trường  
Nghiên cứu của Mohamed Bilal Basha và  
David Lal (2018) đã khẳng định vai trò của các  
nhân tố bổ sung cho nghiên cứu của Rambalak  
Yadav và Govind Swaroop Pathak (2017) về  
các nhân tố ảnh hưởng tới ý định mua thực  
phẩm hữu cơ của người tiêu dùng Ấn Độ [3].  
Thêm nữa, các nhân tố ảnh hưởng khác cũng  
được đưa ra cụ thể, chi tiết hơn và kiểm định  
mức độ tác động như: mối quan tâm về môi  
trường, sức khỏe và lối sống, chất lượng sản  
phẩm và sự ủng hộ nông dân địa phương  
(những người cung cấp thực phẩm hữu cơ), sự  
tiện lợi, giá cả, sự an toàn, độ tin vậy và chuẩn  
chủ quan của người tiêu dùng. Trong đó, sức  
khỏe và lối sống, sự ủng hộ nông dân địa  
phương, sự tiện lợi và giá cả được chứng minh  
có tác động tiêu cực đến ý định tiêu thụ thực  
phẩm hữu cơ của người Ấn Độ.  
Nghiên cứu của Chih-Ching Teng và  
Yu-Mei Wang (2015) đã kiểm định việc người  
tiêu dùng được cung cấp thông tin rõ ràng trên  
nhãn thực phẩm hữu cơ và việc họ có hiểu biết,  
kiến thức về thực phẩm hữu cơ ảnh hưởng thế  
nào đến niềm tin và thái độ của người tiêu dùng  
đối với thực phẩm hữu cơ [4]. Kết quả nghiên  
cứu đã chỉ ra rằng niềm tin (vào các hoạt động  
trên thị trường thực phẩm hữu cơ) đóng vai trò  
là tiền đề của thái độ và là nhân tố điều tiết mối  
Nghiên cứu của Ngô Minh Hải, Masahiro  
Moritaka và Susumu Fukuda (2013) về rau hữu  
cơ chỉ ra rằng nồng độ thuốc trừ sâu và phân  
bón hóa học cao trong rau quả tiềm ẩn nhiều rủi  
ro đối với người Việt Nam nói chung, người Hà  
Nội nói riêng [8]. Nghiên cứu khảo sát mẫu  
H.T.B. Thoa et al. / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 3 (2019) 79-90  
82  
gồm 185 người tại bốn siêu thị lớn ở Hà Nội,  
được phân tích bằng thống kê mô tả và phương  
pháp định giá ngẫu nhiên (CVM) theo phương  
pháp lựa chọn nhị phân giới hạn kép. Kết quả  
cho thấy thị phần của rau hữu cơ tại Hà Nội là  
rất nhỏ vì hầu hết mọi người không có thông tin  
đầy đủ về thị trường hữu cơ, bất tiện khi mua  
hoặc không chắc chắn về chất lượng và an toàn  
của thực phẩm hữu cơ. Hầu hết các yếu tố quan  
trọng ảnh hưởng đến ý định mua rau hữu cơ  
liên quan đến giá cả hoặc độ an toàn và chất  
lượng, thu nhập và kinh nghiệm tiêu thụ sản  
phẩm hữu cơ.  
Hồ Thị Diệp Quỳnh Châu năm 2015 đã vận  
dụng lý thuyết hành vi hợp lý (TRA) và TPB để  
xây dựng mô hình nghiên cứu các nhân tố tác  
động đến ý định tiêu dùng thực phẩm hữu cơ  
của người dân tại Thành phố Hồ Chí Minh [9].  
Tất cả 7 giả thuyết được đưa ra trong mô hình  
nghiên cứu đều được chấp nhận, từ đó xác định  
các yếu tố có vai trò chi phối đến ý định mua  
thực phẩm hữu cơ của người tiêu dùng gồm: sự  
quan tâm đến sức khỏe, kiến thức về thực phẩm  
hữu cơ, nhận thức về chất lượng, nhận thức giá,  
chuẩn chủ quan, nhận thức sự sẵn có và sự quan  
Tóm lại, đã có một số nghiên cứu về yếu tố  
ảnh hưởng đến ý định và hành vi tiêu dùng thực  
phẩm hữu cơ. Tuy nhiên, các nghiên cứu chưa  
phân tích đủ chi tiết cấu trúc bên trong của các  
nhân tố tác động (ví dụ: chưa thể hiện được  
rằng yếu tố Thái độ đối với thực phẩm hữu cơ,  
yếu tố Nhận thức kiểm soát hành vi, yếu tố Sự  
quan tâm tới môi trường… có bao gồm những  
thành phần nào) và do đó, những đề xuất, giải  
pháp cho doanh nghiệp còn khá mập mờ, mang  
tính trừu tượng, chủ quan. Do vậy, nghiên cứu  
này sẽ phát triển trên nền tảng của những  
nghiên cứu trước đây, xây dựng một khung lý  
thuyết và một mô hình có hệ thống để giải thích  
cụ thể những nhân tố tác động tới ý định tiêu  
dùng thực phẩm hữu cơ của người tiêu dùng  
trên địa bàn thành phố Hà Nội.  
1.2. Mô hình nghiên cứu và các giả thuyết  
1.2.1. Mô hình lý thuyết TPB  
Lý thuyết TPB được Ajzen (1991) phát  
triển dựa trên lý thuyết TRA của Fishbein và  
Ajzen (1975) bằng cách bổ sung nhân tố “nhận  
thức kiểm soát hành vi” vào TRA [10].  
tâm đến môi trường.  
k
Thái độ  
Chuẩn chủ quan  
Ý định tiêu dùng  
Hành vi tiêu dùng  
Kiểm soát hành vi  
tiêu dùng  
Hình 1. Mô hình TPB.  
Nguồn: Ajzen và cộng sự, 1991  
- Nhân tố Thái độ được hiểu là đánh giá tích  
cực hay tiêu cực về hành vi thực hiện.  
- Nhân tố Chuẩn chủ quan là sức ép, sự ảnh  
hưởng từ xã hội và những người xung quanh  
Trong TPB, Ý định tiêu dùng chịu ảnh  
hưởng bởi 3 yếu tố: Thái độ, Chuẩn chủ quan  
và Nhận thức kiểm soát hành vi.  
H.T.B. Thoa et al. / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 3 (2019) 79-90  
83  
mà đối tượng cảm nhận để dẫn đến ý định thực  
hiện hay không thực hiện hành vi đó.  
tiêu dùng của người Việt Nam do tính chất của  
xã hội Việt Nam là chủ nghĩa tập thể cao. Trên  
thực tế, đã có nghiên cứu chứng minh mối quan  
hệ giữa chuẩn chủ quan và chủ nghĩa tập thể  
như Bond (2010) nghiên cứu xã hội Trung  
Quốc [19].  
- Nhân tố Kiểm soát hành vi phản ánh việc  
người tiêu dùng tự nhận thấy thực hiện hành vi  
là dễ dàng hay khó khăn; điều này phụ thuộc  
vào sự sẵn có của các nguồn lực và các cơ hội  
để thực hiện hành vi.  
Hai nhân tố đầu thể hiện mong muốn thực  
hiện hành vi mà người tiêu dùng tự nhận thức,  
tự cảm thấy trong khi nhân tố thứ ba cho thấy  
người tiêu dùng có thể tự kiểm soát được hành  
vi của mình hay không.  
H2: Chuẩn chủ quan tác động tích cực lên ý  
định tiêu dùng thực phẩm hữu cơ  
● Nhận thức kiểm soát hành vi tiêu dùng  
Nhận thức kiểm soát hành vi được định  
nghĩa là sự đánh giá, nhận định của một người  
về những nguồn lực cần thiết (tiền, thời gian,  
công sức…) để thực hiện một hành vi, và mức  
độ sở hữu những nguồn lực của người đó [10].  
Cũng theo Ajzen (1991), những người có nhận  
thức kiểm soát hành vi cao sẽ có nhiều khả  
năng thực hiện hành vi hơn. Một số nghiên cứu  
cũng đã chứng minh sự ảnh hưởng của nhận  
thực kiểm soát hành vi tiêu dùng đến ý định tiêu  
dùng thực phẩm hữu cơ [2, 20].  
Tuy nhiên, Mette Vabø và Håvard Hansen  
(2016) đã chỉ ra rằng tác động của nhận thức  
kiểm soát hành vi đến ý định tiêu dùng sẽ yếu  
hơn với nhóm người theo chủ nghĩa tập thể khi  
so với nhóm người theo chủ nghĩa cá nhân [21].  
Như vậy, có thể mức độ ảnh hưởng của nhân tố  
kiểm soát hành vi trong nghiên cứu này (tại  
Việt Nam) sẽ thấp hơn khi so sánh với các  
nghiên cứu thực hiện tại những nước có chủ  
nghĩa cá nhân cao như tại Mỹ, Anh, Úc  
hay Đức.  
1.2.2. Các giả thuyết nghiên cứu  
● Thái độ đối với thực phẩm hữu cơ  
Theo mô hình TPB, thái độ đóng vai trò là  
nhân tố mấu chốt ảnh hưởng đến ý định tiêu  
dùng. Các nghiên cứu sử dụng TBP khẳng định  
thái độ đối với ý định/hành vi đóng vai trò quan  
trọng nhất trong mô hình tác động. Người tiêu  
dùng càng có thái độ tích cực đối với hành vi  
tiêu dùng thì khả năng người đó thực hiện hành  
vi tiêu dùng càng tăng cao, và nhiều nghiên cứu  
cũng đã chứng minh được điều này [11-14].  
Tương tự, thái độ là nhân tố quan trọng và tác  
động tích cực đến ý định tiêu dùng thực phẩm  
hữu cơ [15].  
H1: Thái độ tác động tích cực đến ý định  
tiêu dùng thực phẩm hữu cơ  
Chuẩn chủ quan  
Chuẩn chủ quan thể hiện động lực được tạo  
bởi những người quan trọng trong cuộc đời  
(như bố mẹ, vợ/chồng, bạn bè thân thiết), thúc  
đẩy một người thực hiện một hành vi nào đó  
[16]. Các xu hướng trong xã hội cũng được coi  
là một phần của chuẩn chủ quan. Cùng với xu  
hướng trong xã hội hiện nay là ngày càng tiến  
tới việc ăn uống lành mạnh và có trách nhiệm  
với sức khỏe của bản thân, chuẩn chủ quan  
cũng có tác động lớn đến quyết định tiêu dùng  
thực phẩm hữu cơ [17].  
İbrahim Arpaci (2016) đã chỉ ra mối liên hệ  
tương quan giữa chủ nghĩa tập thể (trong mô  
hình Hofstede) và chuẩn chủ quan [18]. Điều  
này có thể dẫn đến nhận định rằng chuẩn chủ  
quan là một yếu tố quan trọng đối với ý định  
H3: Nhận thức kiểm soát hành vi tác động  
tích cực đến ý định tiêu dùng thực phẩm hữu cơ  
● Niềm tin đối với thực phẩm hữu cơ  
Theo định nghĩa của Rousseau và cộng sự  
(1998), niềm tin là “một trạng thái tâm lý sẵn  
sàng chấp nhận sự mạo hiểm, dựa trên những  
kỳ vọng tích cực về ý định hoặc hành vi của  
người khác” [22]. Trong thị trường thực phẩm  
hữu cơ, niềm tin của người tiêu dùng là một vấn  
đề khó khi mà ngay cả sau khi mua xong, người  
tiêu dùng cũng không thể xác nhận được sản  
phẩm có phải là hữu cơ hay không [23]. Tuy  
nhiên, Chih-Ching Teng và Yu-Mei Wang  
(2015), Gifford và Bernard (2006) cùng nhiều  
H.T.B. Thoa et al. / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 3 (2019) 79-90  
84  
tác giả khác vẫn xác định niềm tin là một yếu tố  
quan trọng đối với ý định mua của người tiêu  
dùng [4, 24]. Chi tiết hơn, Angulo và cộng sự  
(2005) đã chứng minh rằng niềm tin của người  
tiêu dùng đối với các nhãn hàng thực phẩm  
được coi là một yếu tố quan trọng quyết định  
đến ý định mua hàng [25]. Trong nghiên cứu  
này, nhóm xây dựng các biến quan sát để đánh  
giá niềm tin của người tiêu dùng đối với các  
hoạt động trong thị trường thực phẩm hữu cơ  
(hoạt động chế biến sản xuất, hoạt động buôn  
bán, hoạt động cấp phép).  
hữu cơ được coi là công cụ hiệu quả giúp khách  
hàng có được những thông tin tin cậy và hữu  
ích từ thị trường thực phẩm hữu cơ, đặc biệt đối  
với những người có ít kiến thức về lĩnh vực đó  
[4]. Cũng theo các tác giả này, thông tin rõ ràng  
trên bao bì có ảnh hưởng tích cực đến thái độ và  
niềm tin của người tiêu dùng đối với thực phẩm  
hữu cơ.  
H6: Thông tin rõ ràng (trên bao bì) tác  
động tích cực đến thái độ đối với thực phẩm  
hữu cơ  
H7: Thông tin rõ ràng (trên bao bì) tác  
động tích cực đến niềm tin đối với thực phẩm  
hữu cơ  
H4: Niềm tin tác động tích cực đến ý định  
tiêu dùng thực phẩm hữu cơ  
● Sự quan tâm tới môi trường  
1.2.3. Mô hình đề xuất  
Theo Dunlap và Jones (2002), sự quan tâm  
tới môi trường thể hiện mức độ nhận thức của  
một người về các vấn đề môi trường, mức độ cố  
gắng hỗ trợ để giải quyết những vấn đề đó hoặc  
thể hiện mong muốn được tự đóng góp và đưa  
ra biện pháp giải quyết [26].  
Theo Smith và Paladino (2010), sự quan  
tâm tới môi trường là một yếu tố có ảnh hưởng  
lớn đến ý định tiêu dùng thực phẩm hữu cơ, vì  
việc mua thực phẩm hữu cơ được nhận định là  
một hành động thân thiện với môi trường [27].  
Chen (2007) cũng nhận định rằng việc bảo vệ  
môi trường là một động lực thúc đẩy người tiêu  
dùng thực hiện hành vi tiêu dùng thực phẩm  
hữu cơ [1].  
Từ các giả thuyết nghiên cứu, nhóm đề xuất  
mô hình sau (Hình 2).  
1.2.4. Thu thập dữ liệu  
Để đảm bảo cho việc phân tích mô hình,  
nhóm đã phát ra bảng hỏi online qua ứng dụng  
Google cùng với 150 bảng hỏi giấy. Kết quả thu  
về 290 phiếu, trong đó 246 phiếu hợp lệ (loại  
bỏ những trường hợp điền thiếu thông tin).  
Nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát với  
người tiêu dùng ở 3 địa điểm tại Hà Nội là Siêu  
thị Big C (Thanh Xuân), Khu đô thị Linh Đàm  
(Hoàng Mai) và Chợ Hôm (Hai Bà Trưng),  
người tiêu dùng được lựa chọn ngẫu nhiên tham  
gia trả lời.  
Bảng hỏi được xây dựng bao gồm:  
H5: Sự quan tâm tới môi trường tác động  
tích cực đến ý định tiêu dùng thực phẩm hữu cơ  
● Thông tin rõ ràng (trên bao bì)  
- 1 câu hỏi khám phá nhận thức về thực  
phẩm hữu cơ.  
- 29 câu hỏi thang đo Likert với 5 mức độ  
như sau: Rất không đồng ý (1), Không đồng ý  
(2), Trung lập (3), Đồng ý (4) và Rất đồng ý  
(5). Thang đo này thường được sử dụng trong  
nghiên cứu kinh tế - xã hội.  
- 5 câu hỏi về thông tin người tham gia  
khảo sát.  
Phần lớn các câu hỏi trong bảng hỏi đều  
được xây dựng và điều chỉnh dựa trên những  
nghiên cứu trước.  
Theo Vermeir và Verbeke (2006), những  
thông tin có ích và chính xác về các sản phẩm  
thực phẩm hữu cơ cần được cung cấp đầy đủ  
cho người tiêu dùng, để giúp họ có những quyết  
định hợp lý dựa trên ngân sách và/hoặc sở thích  
[28]. Thông tin rõ ràng cũng là một cơ sở để  
người tiêu dùng có thêm niềm tin vào sản  
phẩm. Theo Chih-Ching Teng và Yu-Mei Wang  
(2015), các nhãn hàng, bao bì của thực phẩm  
j
g
H.T.B. Thoa et al. / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 3 (2019) 79-90  
85  
Thái độ với  
thực phẩm  
hữu cơ  
Chuẩn chủ  
quan  
Ý định tiêu  
dùng thực  
phẩm hữu cơ  
Khả năng  
kiểm soát  
hành vi tiêu  
dùng  
Thông tin  
rõ ràng  
Niềm tin  
Mức độ quan  
tâm tới môi  
trường  
Hình 2. Mô hình nghiên cứu các nhân tố tác động đến ý định tiêu dùng thực phẩm hữu cơ.  
Nguồn: Nhóm tác giả đề xuất dựa vào mô hình TPB của Ajzen và cộng sự (1991) [10]  
trung bình đến cao và có học vấn cao quan tâm  
nhiều hơn đến sản phẩm hữu cơ.  
2. Kết quả khảo sát  
Để có thể có được một kết quả về thị trường  
tiêu dùng tiêu dùng hữu cơ tại Hà Nội, nhóm  
thực hiện thống kê mô tả trên tệp dữ liệu khảo  
sát được. Tổng số người tiêu dùng tham gia  
khảo sát là 290, tổng số phiếu khảo sát hợp lệ  
là 282.  
2.2. Đánh giá thực trạng tiêu dùng thực phẩm  
hữu cơ ở Hà Nội  
Kết quả khảo sát cho thấy chỉ có 36 người  
trả lời “chưa nghe đến thực phẩm hữa cơ”,  
chiếm 12,8% và 246 người trả lời “đã nghe đến  
thực phẩm hữu cơ”, chiếm 87,2%. Kết quả này  
cao hơn nhiều so với kết quả nghiên cứu của  
Ngô Minh Hải và Vũ Quỳnh Hoa năm 2016, lý  
do có thể là do khoảng cách thời gian, khi mà  
trong vài năm qua thực phẩm hữu cơ ngày càng  
phổ biến hơn trên thị trường.  
2.1. Thông tin cơ bản về mẫu khảo sát  
Theo kết quả điều tra, mẫu khảo sát cơ bản  
có đặc điểm như sau: Số lượng nữ giới tham gia  
điều tra lớn hơn nam giới, cho thấy nữ giới có  
nhiều khả năng quan tâm tới thực phẩm hữu cơ  
nhiều hơn. Độ tuổi phổ biến từ 31-41 tuổi, phần  
lớn là đã có gia đình và có con. Kết quả khảo  
sát cũng cho thấy những người có thu nhập từ  
Đối với nhóm người đã biết đến thực phẩm  
hữu cơ, nhiều người dự tính sẽ mua thực phẩm  
hữu cơ trong tương lai gần (mean = 3,78) hoặc  
H.T.B. Thoa et al. / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 3 (2019) 79-90  
86  
đã sẵn sàng xem xét việc chuyển sang thực  
môi trường hiện tại. Những người được khảo  
sát (bao gồm cả người biết và chưa biết đến  
thực phẩm hữu cơ) phần lớn đồng ý rằng con  
người đang tàn phá môi trường (mean = 4,124),  
sự cân bằng của môi trường tự nhiên đang rất  
phức tạp và đáng thất vọng (mean = 4,017).  
phẩm hữu cơ thay vì thực phẩm thông thường  
(mean = 3,48). Trong khi đó với nhóm người  
chưa biết thì câu trả lời kém tích cực hơn (lần  
lượt mean bằng 3,167 và 3,083). Nhìn chung, ý  
định mua thực phẩm hữu cơ của người tiêu  
dùng Hà Nội là tương đối cao.  
Ngoài ra, dựa trên kết quả phân tích điểm  
trung bình của các câu hỏi theo bảng, nhóm  
nghiên cứu đưa ra một vài nhận định về thực  
trạng tiêu dùng thực phẩm hữu cơ tại Hà Nội  
như sau:  
- Phần lớn những người biết đến thực phẩm  
hữu cơ đều tin rằng thực phẩm hữu cơ không  
phải là một sản phẩm lừa đảo (mean = 4,16) và  
việc tiêu dùng thực phẩm hữu cơ đang là xu  
hướng hiện tại (mean = 3,87). Tuy nhiên, thái  
độ của người tiêu dùng với sản phẩm hữu cơ  
xét trên khía cạnh lợi ích sức khỏe thì chưa  
được cao như kỳ vọng (mean của biến quan sát  
TD3 là 3,47, thấp gần nhất trong nhóm thái độ).  
- Người dân Hà Nội khá quan tâm tới môi  
trường và thể hiện sự lo ngại đối với tình hình  
2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tiêu  
dùng thực phẩm hữu cơ ở Hà Nội  
Sau khi thực hiện kiểm định Cronbach’s  
Alpha, nhóm nhân tố Sự quan tâm tới môi  
trường xuất hiện biến quan sát có hệ số tương  
quan biến tổng bằng 0,358 và nhóm nhân tố  
Thái độ đối với thực phẩm hữu cơ xuất hiện  
biến quan sát có hệ số tương quan biến tổng  
bằng 0,374 đều nhỏ hơn 0,4. Như vậy, theo  
nguyên tắc kiểm định thang đo Cronbach’s  
Alpha, 2 biến này bị loại ra khỏi thang đo. Như  
vậy, ta chấp nhận các giả thuyết H1, H2, H4 và  
bác bỏ các giả thuyết H3 và H5.  
Sau khi chạy hồi quy trên phần mềm SPSS  
20, thu được kết quả như Bảng 1.  
Bảng 1. Các hệ số của mô hình  
Hệ số chưa  
chuẩn hóa  
Hệ số  
chuẩn hóa  
Số liệu cộng tuyến  
Mức ý  
nghĩa  
T
B
Std. Error Beta  
Tolerance  
VIF  
(Hằng số)  
ATD  
-,671 ,246  
-2,725  
8,864  
,199  
,007  
,000  
,843  
,008  
,000  
,248  
,669  
,011  
,174  
,249  
,080  
,075  
,054  
,065  
,065  
,069  
,502  
,011  
,140  
,200  
,063  
,542  
,618  
,630  
,626  
,585  
1,846  
1,618  
1,588  
1,598  
1,711  
AMT  
ANT  
2,672  
3,805  
1,159  
AAH  
AKS  
gNguồn: Kết quả khảo sát.  
Giá trị Sig nhỏ hơn 0,05 nên mô hình hồi  
quy tuyến tính xây dựng có ý nghĩa thống kê  
thực tiễn. Ngoài ra, khi kiểm định các khuyết  
tật, nhóm nghiên cứu cũng thu được kết quả là  
không có hiện tượng đa cộng tuyến (do hệ số  
phóng đại phương sai VIF của các nhóm nhân  
tố đều nhỏ hơn 2) hay tự tương quan (hệ số  
Durbin-Watson bằng 1,905).  
Khi xét giá trị Sig của từng nhóm nhân tố,  
có 2 nhóm nhân tố có hệ số Sig lớn hơn 0,05 là  
AMT và AKS. Do đó, nhóm yếu tố này không  
có ý nghĩa thống kê và cần phải loại ra khỏi mô  
H.T.B. Thoa et al. / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 3 (2019) 79-90  
87  
hình. Thực hiện hồi quy với các nhóm nhân tố  
còn lại thu được kết quả như Bảng 2. Như vậy,  
ta chấp nhận các giả thuyết H1, H2, H4 và bác  
bỏ các giả thuyết H3 và H5.  
Sau khi tiến hành chạy hồi quy để tìm sự  
tác động của nhân tố thông tin rõ ràng đến niềm  
tin và thái độ của khách hàng, kết quả thu được  
ở Bảng 2 và 3.  
Bảng 2. Kết quả phân tích hồi quy sự tác động của thông tin rõ ràng đến niềm tin  
Biến độc lập  
Beta chuẩn hóa Beta tuyệt đối Sig.  
ATT  
,545  
,545  
,000  
R2  
0,297  
0,295  
246  
R2 hiệu chỉnh  
Số lượng mẫu  
Nguồn: Kết quả khảo sát.  
Giá trị Sig của mô hình và của biến ATT  
đều nhỏ hơn 0,05 nên mô hình hồi quy tuyến  
tính xây dựng và tham số hồi quy đều có ý  
nghĩa thống kê thực tiễn. Theo kết quả phân  
tích cuối cùng, R2 hiệu chỉnh bằng 0,297 có  
nghĩa là 29,7% sự thay đổi về niềm tin đối với  
thị trường thực phẩm hữu cơ của người tiêu  
dùng được giải thích bằng biến thông tin  
rõ ràng.  
Bảng 3. Kết quả phân tích hồi quy tác động của thông tin rõ ràng đến thái độ  
Biến độc lập Beta chuẩn hóa Beta tuyệt đối Sig.  
ATT  
,411  
,411  
,000  
R2  
0,169  
0,166  
246  
R2 hiệu chỉnh  
Số lượng mẫu  
uNguồn: Kết quả khảo sát.  
Giá trị Sig của mô hình và của biến ATT  
đều nhỏ hơn 0,05 nên mô hình hồi quy tuyến  
tính xây dựng và tham số hồi quy đều có ý  
nghĩa thống kê thực tiễn. Theo kết quả phân  
tích cuối cùng, R2 hiệu chỉnh bằng 0,169 có  
nghĩa là 16,9% sự thay đổi về thái độ đối với  
thực phẩm hữu cơ của người tiêu dùng được  
giải thích bằng biến thông tin rõ ràng. Dấu của  
hệ số góc là dương, nên biến thông tin có tác  
động tích cực đến thái độ. Như vậy, ta chấp  
nhận 2 giả thuyết H6 và H7. Kết quả này phù  
hợp với một số nghiên cứu trước đây [4, 28],  
chứng tỏ việc dán nhãn và cung cấp thông tin  
thực phẩm hữu cơ một cách đúng, đủ và kịp  
thời sẽ tác động tích cực đến niềm tin và thái độ  
của người tiêu dùng. Thống kê mô tả cũng chỉ  
ra rằng chỉ có khoảng 47,15% người tham gia  
khảo sát cảm thấy thỏa mãn với những thông tin  
trên bao bì của các loại thực phẩm hữu cơ - một  
tỷ lệ tương đối thấp. Đây cũng có thể là một  
trong những rào cản (rào cản về thông tin) đối  
với người tiêu dùng.  
2.4. Một số đề xuất  
Đối với doanh nghiệp  
Kết quả nghiên cứu cho thấy, ý định mua  
thực phẩm hữu cơ của người tiêu dùng tại Hà  
Nội chịu sự tác động nhiều nhất bởi thái độ đối  
với thực phẩm hữu cơ, tiếp đó là chuẩn chủ  
quan và cuối cùng là niềm tin. Dựa trên kết quả  
này, nhóm nghiên cứu đề xuất một số giải pháp  
nhằm thúc đẩy các doanh nghiệp hoạt động  
H.T.B. Thoa et al. / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 3 (2019) 79-90  
88  
trong thị trường sản phẩm hữu cơ thu hút  
khách hàng.  
Việc doanh nghiệp có được cấp giấy phép  
chứng nhận (cho việc kinh doanh thực phẩm  
hữu cơ) hay không ảnh hưởng nhiều đến niềm  
tin của người tiêu dùng. Do đó, doanh nghiệp  
cần phải thực hiện quy trình xin chứng nhận  
cho sản phẩm hữu cơ của mình đúng theo quy  
định pháp luật; nhập hàng từ những trang trại  
uy tín có chứng nhận. Một số chứng nhận thực  
phẩm hữu cơ uy tín tại Việt Nam và trên thế  
giới là chứng nhận từ VietGAP, PGS (Việt  
Nam) hoặc từ USDA (Mỹ), NASAA (Úc).  
Doanh nghiệp cũng cần có cách thức quảng bá  
chứng nhận mình sở hữu để tăng niềm tin cho  
người tiêu dùng. Kết quả nghiên cứu cũng cho  
thấy những thông tin trên bao bì ảnh hưởng khá  
nhiều lên niềm tin và thái độ. Do vậy, một cách  
thức để tăng niềm tin của người tiêu dùng là  
thông tin trên bao bì sản phẩm cần phải được  
cung cấp đầy đủ, chính xác, hữu ích (về thành  
phần, xuất xứ, hạn sử dụng...) và phải được cập  
nhật kịp thời khi sản phẩm có thay đổi.  
● Về thái độ đối với thực phẩm hữu cơ  
Đây là nhân tố quan trọng nhất tác động đến  
ý định mua thực phẩm hữu cơ. Nghiên cứu cho  
thấy thái độ phụ thuộc vào hình thức, hương vị,  
giá cả và lợi ích sức khỏe từ sản phẩm, trong đó  
phụ thuộc khá cao vào hình thức và hương vị  
sản phẩm. Do đó, doanh nghiệp cần phải tìm  
cách đa dạng hóa sản phẩm của mình và phải  
đảm bảo việc cung cấp những mặt hàng tươi  
ngon. Doanh nghiệp cũng nên có chiến lược giá  
hợp lý, thu hút người tiêu dùng bằng các chính  
sách khuyến mãi, giảm giá. Tuy nhiên, thái độ  
của người tiêu dùng chưa phụ thuộc nhiều vào  
lợi ích sức khỏe từ sản phẩm, cho thấy phần lớn  
người tiêu dùng chưa nhận thức được lợi ích  
của thực phẩm hữu cơ đối với sức khỏe, điều  
này đòi hỏi doanh nghiệp cần phải có các biện  
pháp truyền thông, quảng bá để người tiêu dùng  
thấy rõ hơn yếu tố này.  
● Về chuẩn chủ quan  
● Về sự quan tâm tới môi trường  
Kết quả nghiên cứu cho thấy chuẩn chủ  
quan ảnh hưởng khá lớn đến ý định tiêu dùng  
thực phẩm hữu cơ, có nghĩa là quá trình hình  
thành ý định tiêu dùng của người tiêu dùng thực  
phẩm hữu cơ tại Hà Nội chịu tác động khá  
nhiều từ những ý kiến xung quanh. Do đó,  
nhóm nghiên cứu đề xuất biện pháp marketing  
hiệu quả cho các doanh nghiệp là marketing  
truyền miệng. Số liệu của Nielsen (2015) cũng  
củng cố cho đề xuất này khi cho biết 89%  
người Việt Nam đặt niềm tin vào những thông  
tin truyền miệng từ người thân quen. Sử dụng  
phương thức này, doanh nghiệp có thể tận dụng  
các nền tảng mạng xã hội như Facebook, Zalo,  
Instagram để tạo ra những chủ đề thu hút về sản  
phẩm của mình, kích thích người tiêu dùng  
tương tác, thảo luận với nhau [29]. Ngoài ra,  
việc cung cấp một dịch vụ tốt (tư vấn, bán hàng,  
vận chuyển…) cũng sẽ tạo ấn tượng tốt cho  
khách hàng và khiến họ muốn giới thiệu sản  
phẩm cho người khác.  
Kết quả nghiên cứu cho thấy phần lớn  
người tiêu dùng có quan tâm đến môi trường,  
nhưng điều đó lại không ảnh hưởng đến quá  
trình hình thành ý định tiêu dùng thực phẩm  
hữu cơ. Điều này được giải thích là do người  
tiêu dùng ít đọc, tìm hiểu những kiến thức,  
thông tin về vấn đề môi trường, do đó chưa đủ  
nhận thức để hình thành ý định bảo vệ môi  
trường (ý định tiêu dùng thực phẩm hữu cơ).  
Do đó, doanh nghiệp cần tìm cách giúp người  
tiêu dùng tiếp cận dễ dàng hơn với những thông  
tin về vấn đề bảo vệ môi trường, đặc biệt là  
những tin cho thấy lợi ích của thực phẩm hữu  
cơ đối với môi trường. Tại Việt Nam, Vingroup  
là một tập đoàn làm rất tốt việc này, khi họ liên  
tục quảng bá hình ảnh thân thiện với môi  
trường của những vườn rau hữu cơ VinEco, tạo  
ấn tượng tốt trong mắt khách hàng.  
Đối với người tiêu dùng  
Kết quả nghiên cứu cho thấy người tiêu  
dùng chưa thực sự chú trọng đến lợi ích cho sức  
khỏe của thực phẩm hữu cơ. Trong khi đó, như  
đã đề cập ở phần lý thuyết, do đặc thù trong  
việc nuôi trồng nên thực phẩm hữu cơ có ít hàm  
● Về niềm tin  
Nghiên cứu cho thấy niềm tin vào những  
hoạt động của thị trường thực phẩm hữu cơ là  
nhân tố thứ ba ảnh hưởng đến ý định tiêu dùng.  
H.T.B. Thoa et al. / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 3 (2019) 79-90  
89  
lượng thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật và  
các loại hóa chất khác hơn nhiều so với thực  
phẩm truyền thống. Do đó người tiêu dùng cần  
cân nhắc thêm yếu tố này khi mua thực phẩm  
hữu cơ để đảm bảo sức khỏe cho bản thân và  
gia đình.  
Bên cạnh đó, khi mua thực phẩm hữu cơ,  
người tiêu dùng cũng cần để ý những giấy  
phép/chứng nhận mà sản phẩm được cấp. Chủ  
động báo với các cơ quan chức năng khi phát  
hiện ra những sản phẩm có dấu hiệu lừa đảo là  
một cách mà người tiêu dùng có thể thực hiện  
để tăng tính minh bạch của thị trường thực  
phẩm hữu cơ và tự bảo vệ quyền lợi của bản  
thân. Để đảm bảo an toàn nhất có thể, người  
tiêu dùng nên chọn những sản phẩm hữu cơ từ  
các thương hiệu uy tín và được khuyên dùng  
trên thị trường.  
lớn, và địa bàn khảo sát chỉ tập trung tại khu  
vực Hà Nội. Hơn thế nữa, việc điều tra khảo sát  
vẫn bị thiên vị do những người trả lời khảo sát  
phần lớn có trình độ học vấn cao (90,8% người  
được hỏi có trình độ đại học, cao đẳng trở lên).  
Đây cũng là một khuynh hướng thiên vị xảy ra  
khá nhiều đối với những cuộc khảo sát của sinh  
viên. Nhóm nghiên cứu rất mong nhận được sự  
đóng góp của những người quan tâm đến vấn đề  
này để tiếp tục nâng cao tính thực tiễn của  
đề tài.  
Tài liệu tham khảo  
[1] Mei-Fang. Chen, “Consumer attitudes and  
purchase intentions in relation to organic foods in  
Taiwan: Moderating effects of food-related  
personality traits”, Food Quality and Preference  
18 (7) (2007) 1008-1021.  
[2] Rambalak Yadav, Govind Swaroop Pathak,  
“Determinants of Consumers’ Green Purchase  
Behavior in a Developing Nation: Applying and  
Extending the Theory of Planned Behavior”,  
Ecological Economics 134 (2017) 114-122.  
3. Kết luận  
Trước thực trạng thực phẩm bẩn, thực phẩm  
không rõ nguồn gốc tràn lan trên thị trường,  
việc tiêu dùng thực phẩm hữu cơ đang trở thành  
nhu cầu cấp thiết của người tiêu dùng. Thông  
qua việc sử dụng mô hình mở rộng dựa trên lý  
thuyết TPB để kiểm định các nhân tố tác động  
đến ý định tiêu dùng thực phẩm hữu cơ, nghiên  
cứu đã cung cấp một cái nhìn rộng hơn so với  
việc sử dụng một mô hình đơn thuần. Kết quả  
nghiên cứu cho thấy các nhân tố có ảnh hưởng  
đến ý định theo mức độ tác động giảm dần lần  
lượt là: Thái độ, Chuẩn chủ quan và Niềm tin.  
Các nhân tố Sự quan tâm tới môi trường và  
Nhận thức kiểm soát hành vi tiêu dùng, trái với  
giả thuyết ban đầu của nhóm nghiên cứu, không  
có ảnh hưởng đáng kể đến ý định tiêu dùng.  
Đây là cơ sở để nhóm nghiên cứu đưa ra các đề  
xuất giải pháp giúp nhà sản xuất, doanh nghiệp  
có các hoạt động phù hợp để nâng cao ý định  
mua thực phẩm hữu cơ của người tiêu dùng,  
đồng thời đưa ra một vài hàm ý đối với người  
tiêu dùng để tăng quyền lợi bản thân.  
[3] Mohamed Bilal Basha, David Lal, “Indian  
consumers’  
attitudes  
towards  
purchasing  
organically produced foods: An empirical study”,  
Journal of Cleaner Production 215 (2019), 99-111.  
[4] C.C. Teng, Y.M. Wang, “Decisional factors  
driving organic food consumption”, British Food  
Journal 117 (3) (2015) 1066-1081.  
[5] K.D.L.R. Kapuge, “Determinants of Organic Food  
Buying Behavior: Special Reference to Organic  
Food Purchase Intention of Sri Lankan  
Customers”, Procedia Food Science 6 (2016)  
303-308.  
[6] Asgarnezhad Nouri Bagher, Farideh Salati,  
Mohammad  
Ghaffari,  
“Factors  
Affecting  
Intention to Purchase Organic Food Products  
Among Iranian Consumers”, Academy of  
Marketing Studies Journal 22 (3) (2018) 1-23.  
[7] Lê Thị Thùy Dung, “Các nhân tố tác động đến ý  
định mua thực phẩm hữu cơ của người tiêu dùng  
tại thành phố Đà Nẵng”, Luận văn Thạc sĩ, Đại  
học Đà Nẵng, 2017.  
[8] Ngô Minh Hải, Masahiro Moritaka và Susumu  
Fukuda, “Consumer Awareness of Organic  
Vegetables in Vietnam: An Application of  
Ordered Logit Model”, Conference of The Food  
Systerm Research Association of Japan, At  
Tsukuba University, March 2013.  
Đây là đề tài nghiên cứu cấp sinh viên nên  
trong quá trình nghiên cứu, nhóm không tránh  
khỏi những hạn chế. Cụ thể, nhóm nhận thấy  
kích thước mẫu khảo sát (282 người) là chưa đủ  
H.T.B. Thoa et al. / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 3 (2019) 79-90  
90  
[9] Hồ Thị Diệp Quỳnh Châu, “Các yếu tố ảnh hưởng  
[19] M.H. Bond, Oxford Handbook of Chinese  
Psychology, Oxford University Press, 2010.  
[20] M. Dean, M.M. Raats, R. Shepherd, “Moral  
concerns and consumer choice of fresh and  
processed organic foods”, J. Applied Soc.  
Psychol. 38 (2008) 2088-2107.  
[21] M. Vabø, H. Hansen, “Purchase intentions for  
domestic food: A moderated TPB-explanation”,  
British Food Journal 118 (10) (2016) 2372-2387.  
[22] D.M. Rousseau, S.B. Sitkin, R.S. Burt, C.  
Camerer, Not So Different after All: A Cross-  
Discipline View of Trust, Academy of  
Management Review 23 (1998) 393-404.  
đến ý định mua thực phẩm hữu cơ của người tiêu  
dùng tại Thành phố Hồ Chí Minh”, Luận văn  
Thạc sĩ, Đại học Mở Thành phố Hồ Chí  
Minh, 2015.  
[10] Ajzen et al., “The theory of planned behavior”,  
Organizational Behavior và Human Decision  
Processes 50 (1) (1991) 179-211.  
[11] C.V. Jansson-Boyd, Consumer Psychology,  
Maidenhead: Open University Press, 2010.  
[12] Bredahl, L., “Determinants of consumer attitudes  
and purchase intentions with regard to genetically  
modified foods - Results of a cross-national  
survey”, Journal of Consumer Policy 24 (2001)  
23-61.  
[13] M. Chen et al., “Transcriptional regulation of  
yeast phospholipid biosynthetic genes”, Biochim  
Biophys Acta 1771 (2007) 310-21.  
[23] M. Janssen, U. Hamm, “Product Labelling in the  
Market for Organic Food: Consumer Preferences  
and Willingness-to-Pay for Different Organic  
Certification Logos”, Food Quality and Preference  
25 (2012) 9-22.  
[24] C. John, Bernard, Katie Gifford, “Willingness to  
Pay for Foods with Varying Production Traits and  
Levels of Genetically Modified Content”, Journal  
of Food Distribution Research 40 (2006) 1-11.  
[25] R.J. Angulo, M.C. de Souza, P. Reimer, S.K.  
Sasaoka, “Reservoir effect of the southern and  
southeastern Brazilian coast”, Radiocarbon 47  
(2005) 1-7.  
[26] Dunlap, Jones, “Environmental Concern: Conceptual  
and Measurement Issues”, Journal of Environmental  
Psychology 19 (4) (2002) 369-382.  
[27] Samantha Smith, Angela Paladino, “Eating clean  
& green? Investigating consumer motivations  
towards the purchase of organic food”,  
ANZMAC, 2009, pp. 1-8.  
[14] B.H. Sheppard, J. Hartwick, P.R. Warshaw, “The  
theory of reasoned action: A meta-analysis of past  
research with recommendations for modifications  
and future research”, Journal of Consumer  
Research 15 (1988) 325-343.  
[15] K. Dowd, K.J. Burke, “The influence of ethical  
values and food choice motivations on intentions  
to purchase sustainably sourced foods”, US  
National Library of Medicine National Institutes  
of Health 69 (2013)137-44.  
[16] A.H. Eagly, S. Chaiken, The Psychology of  
Attitudes. Harcourt Brace Jovanovich, Fort  
Worth, TX, 1993.  
[17] H. Hill, F. Lynchehaun, “Organic milk: attitudes  
and consumption patterns”, British Food Journal  
104 (7) (2002) 526-542.  
[28] Vermeir,  
Consumption: Exploring the Consumer “Attitude  
Behavioral Intention” Gap, Journal of  
Verbeke,  
“Sustainable  
Food  
[18] İbrahim Arpaci, “The impact of cultural  
-
collectivism on knowledge sharing among  
Agricultural and Environmental Ethics 19 (2)  
(2006) 169-194.  
information  
technology  
majoring  
undergraduates”, Computers in Human Behavior  
56 (2016) 65-71.  
[29] Nielsen, Báo cáo Chỉ số niềm tin người tiêu dùng  
quý I/2018, 2018.  
S
s
p
pdf 12 trang yennguyen 14760 Free
Bạn đang xem tài liệu "Factors affect green food consumption intention of consumers in Hanoi", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdffactors_affect_green_food_consumption_intention_of_consumers.pdf