Đồ án Tìm hiểu một số phương pháp trích chọn đặc trưng và ứng dụng cho tra cứu ảnh theo nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DÂN LẬP HẢI PHÒNG  
-------o0o-------  
TÌM HIỂU MỘT SỐ PHƢƠNG PHÁP TRÍCH CHỌN ĐẶC TRƢNG  
VÀ ỨNG DỤNG CHO TRA CỨU ẢNH THEO NỘI DUNG  
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC HỆ CHÍNH QUY  
Ngành: Công nghệ thông tin  
Hải Phòng - 2011  
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DÂN LẬP HẢI PHÒNG  
-------o0o-------  
TÌM HIỂU MỘT SỐ PHƢƠNG PHÁP TRÍCH CHỌN ĐẶC TRƢNG  
VÀ ỨNG DỤNG CHO TRA CỨU ẢNH THEO NỘI DUNG  
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC HỆ CHÍNH QUY  
NGÀNH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN  
Sinh viên  
: Bùi Thị Thúy Nga  
: PGS. TS Ngô Quốc Tạo  
: 111217  
Giáo viên hướng dẫn  
Mã sinh viên  
Hải Phòng, 7/2011  
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGĨA VIỆT NAM  
Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc  
-------o0o------  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DÂN LẬP HẢI PHÒNG  
NHIỆM VỤ THIẾT KẾ TỐT NGHIỆP  
Sinh viên: Bùi Thị Thúy Nga  
Lớp: CT1101  
Mã số: 111217  
Ngành : Công nghệ thông tin  
Tên đề tài:  
Tìm hiểu một số phương pháp trích chọn đặc trưng và ứng dụng cho tra cứu ảnh theo  
nội dung.  
3
NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI  
1. Nội dung và các yêu cầu cần giải quyết trong nhiệm vụ của đề tài tốt nghiệp  
a. Nội dung  
- Nghiên cứu và đánh giá các kỹ thuật tra cứu ảnh theo nội dung.  
- Đề xuất sử dụng một số kỹ thuật khác và đưa ra sự so sánh với các hệ thống ảnh  
trước đó.  
- Từ đó đưa ra các phương pháp cải tiến và khắc phục những hạn chế hiện tại.  
- Thử nghiệm chương trình tra cứu ảnh theo nội dung.  
b. Các yêu cầu cần giải quyết  
- Tìm hiểu kiến thức về xử lý ảnh.  
- Tham khảo các mã nguồn mở về xử lý ảnh.  
- Nghiên cứu về tra cứu ảnh theo nội dung và các phương pháp trích chọn đặc trưng  
dựa trên các tài liệu nghiên cứu trước đó. Từ đó triển khai cài đặt thuật toán tra cứu  
trên ngôn ngữ lập trình C#.  
- Thực nghiệm dựa trên xây dựng và đánh giá các kết quả nghiên cứu.  
2. Các số liệu cần để thiết kế, tính toán  
Các phương pháp trích chọn đặc trưng sau đó áp dụng vào bài toán tra cứu ảnh theo  
nội dung.  
3. Địa điểm thực tập  
4
LỜI CẢM ƠN  
Em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo, PGS.TS Ngô Quốc Tạo,  
Viện Công Nghệ Thông tin thuộc Viện Khoa học và công nghệ Việt Nam là người trực  
tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo em trong suốt quá trình làm đồ án.  
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Công nghệ thông tin -  
Trường Đại học Dân Lập Hải Phòng ,những người đã nhiệt tình giảng dạy và truyền  
đạt những kiến thức cần thiết trong suốt thời gian em học tập tại trường, để em hoàn  
thành tốt quá trình tốt nghiệp.  
Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, người thân đã ủng hộ  
động viên tinh thần đề đồ án này được hoàn thành.  
Em xin chân thành cảm ơn!  
Hải Phòng, ngày 2 tháng 7 năm 2011  
Sinh viên  
Bùi Thị Thúy Nga  
5
MỤC LỤC  
 
6
7
8
DANH MỤC CÁC HÌNH  
Hình 1.1 Mô hình hệ thống tra cứu ảnh theo nội dung  
Hình 2.1 Không gian màu RGB  
Hình 2.2 Không gian màu CMY  
Hình 2.3 Không gian màu HSV  
Hình 3.1 Khoảng cách dạng Minkowsky  
Hình 3.2 Khoảng cách dạng toàn phương  
Hình 3.3 Ba ảnh và biểu đồ màu tương ứng  
Hình 4.1: Quy trình huấn luyện tập dữ liệu ảnh ban đầu  
Hình 4.2 Mô hình của ứng dụng  
Hình 4.3: Tập ảnh cơ sở dữ liệu  
Hình 4.4: Kiến trúc của ứng dụng  
Hình 4.5: Giao diện ứng dụng  
Hình 4.6: Tiến trình tra cứu  
Hình 4.7: Kết quả tra cứu  
Hình 4.8: So sánh giữa hai kỹ thuật sử dụng  
 
9
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT  
KÝ HIỆU  
VIR  
DIỄN GIẢI  
Visual Information Retrieval (Tra cứu thông tin)  
Content Based Image Retrieval (Tra cứu ảnh dựa theo nội dung)  
Red Green Blue (Đỏ, Xanh lục, Xanh lơ)  
CBIR  
RGB  
HSV  
Hue Saturation Value ( Màu, sắc nét, cường độ)  
Cyan Magenta Yellow ( màu lục lam, màu đỏ tươi, màu vàng )  
Query By Example (Truy vấn bởi ảnh mẫu)  
CMY  
QBE  
QBF  
Query By Feature (Truy vấn bởi đặc trưng)  
CCV  
Color Coherence Vectors (Véc tơ gắn kết màu)  
Spectral Distribution Functions (Hàm phân bố phổ)  
Maximum Likelihood Estimation (Ước lượng khả năng nhất)  
SDF  
MLE  
MRSAR  
multi-resolution simultaneous auto-regressive model (Mô hình tự hồi  
quy đồng thời đa phân giải)  
SAR  
MRF  
PWT  
Simultaneous Auto-Regressive (Tự hồi quy đồng thời)  
Markov random field (Trường ngẫu nhiên Markov)  
Pyramid-Structured Wavelet Transform (Biến đổi song cấu trúc hình  
chóp)  
TWT  
Tree-Structured Wavelet Transform (Biến đổi song cấu trúc cây)  
Rotation-Invariant SAR model(Mô hình SAR bất biến quay)  
RISAR  
 
10  
LỜI NÓI ĐẦU  
Cùng với sự mở rộng của multimedia, với khối lượng hình ảnh và phim lưu trữ  
ngày càng lớn, cùng với sự phát triển của các thiết bị Điện tử, Tin học và Viễn thông  
đã thu hút ngày càng nhiều chuyên gia đi sâu vào nghiên cứu những công cụ cung cấp  
cho việc lấy thông tin dữ liệu ảnh từ nội dung của chúng. Trong thực tế, bài toán tra  
cứu ảnh có rất nhiều ứng dụng quan trọng. Các ứng dụng trong phức tạp hơn như so  
sánh mẫu vân tay, tìm kiếm ảnh tội phạm... được áp dụng trong ngành khoa học hình  
sự, cơ sở dữ liệu ảnh về địa lý, y học.... làm cho lĩnh vực nghiên cứu này phát triển  
nhanh trong công nghệ thông tin.  
Tuy nhiên khi số lượng ảnh được lưu trữ trở nên rất lớn thì vấn đề là phải có  
những phương pháp tổ chức cơ sở dữ liệu ảnh tốt cùng với những kỹ thuật tìm kiếm,  
tra cứu ảnh hiệu quả, có độ chính xác cao và có hiệu năng tốt. Việc tìm kiếm được một  
bức ảnh mong muốn trong hàng triệu bức ảnh thuộc đủ loại chủ đề khác nhau là rất khó  
khăn.  
Khi số lượng ảnh trong một bộ sưu tập còn ít, việc nhận diện một bức ảnh hay  
việc so sánh sự giống và khác nhau giữa nhiều bức ảnh có thể thực hiện được bằng mắt  
thường, tuy nhiên khi có số lượng rất lớn ảnh thì việc so sánh bằng mắt thường là rất  
khó khăn, đòi hỏi phải có những phương pháp hiệu quả và chính xác hơn.  
Tìm kiếm theo cách thông thường dựa trên văn bản giờ đây được bổ sung bởi truy  
vấn dựa theo nội dung, tìm vào khía cạnh nhân thức thông tin ảnh. Thực hiện truy vấn  
ở mức nhận thức đòi hỏi những phương thức mới, cho phép chỉ định đến những thuộc  
tính liên quan đến thị giác cần tìm. Giao diện đồ họa phải hỗ trợ đặc tả những ví dụ đó  
như là những mẫu có sẵn. Khi đó người dùng trong một vòng lặp, mô hình giao diện  
sao cho người dừng có thể truy cập vào sự giống nhau giữa những đối tượng.  
Trước năm 1990, người ta thường sử dụng phương pháp tra cứu ảnh theo văn bản  
(Text Based Image Retrieval). Theo cách này người ta sẽ gán cho mỗi bức ảnh một lời  
chú thích phù hợp với nội dung hoặc một đặc điểm nào đó của ảnh, sau đó việc tra cứu  
ảnh được thực hiện dựa trên những lời chú thích này. Phương pháp này khá đơn giản,  
tuy nhiên lại không thể áp dụng để tra cứu các cơ sở dữ liệu ảnh có số lượng ảnh lớn và  
kết quả tra cứu thì mang tính chủ quan và cảm ngữ cảnh [8].  
Một trong những phương pháp được nhiều người quan tâm nghiên cứu hiện nay  
là phương pháp “Tra cứu ảnh dựa theo nội dung” (Content-Based Image Retrieval). Ý  
 
11  
tưởng phương pháp này là trích chọn các đặc điểm dựa vào nội dung trực quan của ảnh  
như màu sắc, kết cấu, hình dạng và bố cục không gian của ảnh để làm cơ sở cho việc  
tra cứu, sắp xếp, tổ chức cơ sở dữ liệu ảnh [8].  
Nội dung của đề tài này giới thiệu cơ sở lý thuyết và các ứng dụng chính của một  
số phương pháp tra cứu ảnh, trong đó đi sâu vào giới thiệu phương pháp “tra cứu ảnh  
theo nội dung”. Trên những cơ sở đó tiến hành thử nghiệm một phương pháp cụ thể để  
xây dựng một chương trình phần mềm tra cứu ảnh cho phép đọc vào một ảnh mẫu và  
tìm kiếm những ảnh tương tự với ảnh mẫu trong một tập hợp các ảnh cho trước theo  
đặc trưng màu sắc.  
Nội dung của đề tài gồm các phần chính sau:  
Chương 1: Tổng quan về tra cứu ảnh theo nội dung.  
Chương 2: Các khái niệm cơ bản.  
Chương 3: Kỹ thuật tra cứu ảnh theo nội dung.  
Chương 4: Triển khai và thực nghiệm.  
12  
Chƣơng 1: TỔNG QUAN  
1.1. Tổng quan về tra cứu ảnh theo nội dung  
Tra cứu ảnh dựa theo nội dung (CBIR) có nguồn gốc từ năm 1992. Tra cứu ảnh  
theo nội dung là tra cứu thông tin trực quan (VIR - Visual Information Retrieval). Tra  
cứu thông tin trực quan là chủ đề nghiên cứu mới trong lĩnh vực công nghệ thông tin.  
Tương tác với nội dung trực quan là cách thiết yếu nhất để tra cứu thông tin trực quan.  
Các yếu tố trực quan như màu sắc, kết cấu, hình dạng và bố cục không gian trực tiếp  
liên quan đến khía cạnh của cảm nhận nội dung ảnh, cùng với các khái niệm ở mức cao  
như ý nghĩa đối tượng, khung cảnh trong ảnh, được dùng như là manh mối cho tìm  
kiếm hình ảnh với nội dung tương tự từ cơ sở dữ liệu.  
Tra cứu thông tin, mô hình hóa và thể hiện dữ liệu trực quan, phân tích và xử lý  
phim ảnh, nhận dạng và thị giác máy tính (computer vision), tổ chức cơ sở dữ liệu đa  
phương tiện (multimedia), lập chỉ mục đa chiều, mô hình hóa tâm lí hành vi người  
dùng, hệ thống tương tác người - máy và trực quan hóa dữ liệu, là các lĩnh vực nghiên  
cứu quan trọng nhất đóng góp cho tra cứu thông tin trực quan.  
Các yếu tố mô tả nội dung có liên quan đến các đặc trưng cảm nhận như màu  
sắc, kết cấu, hình dạng, mối liên hệ về không gian chuyển động. Các yếu tố cơ sở  
nguồn gốc của màu sắc như đối tượng, vai trò, sự kiên, hay các thông tin có liên hệ với  
màu sắc như cảm giác, cảm tưởng hay ý nghĩa của hình ảnh. Do vậy, phân tích ảnh,  
nhận dạng và thị giác máy tính đóng vai trò cơ bản trong các hệ thống tra cứu thông tin  
trực quan. Nó cho phép tự động trích chọn hầu hết các thông tin trực quan, thông qua  
việc phân tích phân bố điểm ảnh và rút ra các độ đo nội dung trực quan.  
Trong đồ án này, em chỉ tập trung vào đặc trưng màu cho ứng dụng tra cứu ảnh  
dựa theo nội dung.  
1.2. Các chức năng của một hệ thống tra cứu ảnh dựa vào nội dung tiêu biểu  
Một hệ thống tra cứu ảnh dựa theo nội dung (Content-Based Image Retrieval)  
tiêu biểu không chỉ xử lý các nguồn thông tin khác nhau mà ở các khuôn dạng khác  
nhau (như văn bản, hình ảnh và video) mà còn giải quyết được các nhu cầu của người  
sử dụng. Về cơ bản hệ thống phân tích cả các nội dung của nguồn thông tin cũng như  
các truy vấn sử dụng, và đem so sánh các nội dung này để tra cứu các mục tin liên  
quan. Các chức năng chỉnh của một hệ thống tra cứu ảnh bao gồm các nội dung sau:  
     
13  
Phân tích các nội dung của các nguồn thông tin, và biểu diễn các nội dung của  
các nguồn được phân tích theo cách thích hợp cho so sánh các truy vấn sử dụng.  
Bước này thông thuờng cần rất nhiều thời gian do nó phải xử lý lần lượt các  
thông tin nguồn (các ảnh) trong cơ sở dữ liệu. Tuy nhiên, bước này được thực  
hiện chỉ một lần.  
Phân tích các truy vấn người sử dụng và biểu diễn chúng ở dạng thích hợp cho  
so sánh với cơ sở dữ liệu nguồn. Bước này là tương tự bước trước, nhưng chỉ  
được áp dụng với ảnh truy vấn.  
Định nghĩa một chiến lược để so sánh các truy vấn tìm kiếm với thông tin trong  
cơ sở dữ liệu được lưu trữ. Tra cứu thông tin liên quan theo một cách hiệu quả.  
Bước này được thực hiên trực tuyến và được yêu cầu rất nhanh. Các kỹ thuật  
đánh chỉ số hiện đại có thể được sử dụng để tổ chức lại không gian đặc trưng để  
tăng tốc quá trình đối sánh.  
Thực hiện các điều chỉnh cần thiết trong hệ thống dựa trên phản hồi từ người sử  
dụng hoặc các ảnh được tra cứu.  
Cơ sở  
dữ liệu  
Người  
sử dụng  
Trích chọn đặc trưng  
Tạo  
truy vấn  
Véc tơ đặc  
trưng  
Cơ sở dữ liệu  
Phản hồi  
liên quan  
đặc trưng  
Đánh chỉ số  
So sánh độ tương tự  
Các kết quả tra cứu  
Ảnh  
Hình 1.1: Mô hình hệ thống tra cứu ảnh dựa theo nội dung  
14  
1.2.1. Truy vấn ngƣời sử dụng  
Có nhiều cách gửi một truy vấn trực quan. Một phương pháp truy vấn tốt là một  
phương pháp tự nhiên đối với người sử dụng cũng như thu được đủ thông tin từ người  
sử dụng để trích rút các kết quả có ý nghĩa. Các phương pháp truy vấn dưới đây sử  
dụng phổ biến trong nghiên cứu tra cứu ảnh dựa theo nội dung:  
1.2.1.1. Truy vấn bởi ảnh mẫu (QBE – Query By Example)  
Trong kiểu truy vấn này, người sử dụng hệ thống chỉ rõ một ảnh truy vấn đích  
dựa vào cơ sở dữ liệu sẽ tìm kiếm được các ảnh tương tự nhất. Ảnh truy vấn có thể là  
ảnh thường, một ảnh quét có độ phân giải thấp, hoặc một phác thảo sử dụng công cụ  
mô tả giao diên đồ họa. Ưu điểm của hệ thống này đó là nó là một cách tự nhiên cho  
những người sử dụng chung và để tra cứu ảnh trong cơ sở dữ liệu.  
1.2.1.2. Truy vấn bởi đặc trƣng (QBF – Query By Feature)  
Trong hệ thống QBF tiêu biểu, những người sử dụng chỉ rõ truy vấn bằng việc  
chỉ rõ các đặc trưng được quan tâm trong tìm kiếm. Như người dùng có thể truy vấn cơ  
sở dữ liệu ảnh bằng cách đưa ra một lệnh để tra cứu tất cả các ảnh có góc phần tử trái  
chứa 25% pixel màu vàng. Truy vấn này được chỉ rõ bằng việc sử dụng các công cụ  
giao diện đồ họa chuyên dụng. Những người sử dụng hệ thống tra cứu ảnh chuyên  
nghiệp thì có thể thấy loại truy vấn này là bình thường, nhưng người sử dụng chung thì  
không thể. QBIC [3] là một ví dụ về hệ thống tra cứu ảnh dựa theo nội dung sử dụng  
loại phương pháp truy vấn này.  
1.2.1.3. Các truy vấn dựa vào thuộc tính (Attribute – Based queries)  
Các truy vấn dựa vào thuộc tính sử dụng các chú thích văn bản, trích rút bởi nỗ  
lực của con người, như một khoá tra cứu chính. Loại biểu diễn này đòi hỏi một độ trừu  
tượng cao khó để thu được bằng các phương pháp tự động hoàn toàn do một ảnh chứa  
một số lượng lớn các thông tin mà khó tóm tắt khi sử dụng một số ít các từ khoá.  
Phương pháp này nhìn chung là nhanh hơn và dễ hơn để thực hiện, nhưng có một độ  
chủ quan và nhập nhằng cao xuất hiện như chúng ta đã đề cập. Hầu hết nỗ lực nghiên  
cứu và thương mại tập trung vào xây dựng các hệ thống thực hiện tốt với các phương  
pháp QBE.  
       
15  
1.2.2. Đánh chỉ số nhiều chiều  
Để thực hiện tra cứu ảnh dựa vào nội dung đối với các cơ sở dữ liệu ảnh lớn, các  
kỹ thuật đánh chỉ số nhiều chiều cần được sử dụng. Có ba cộng đồng nghiên cứu chính  
đóng góp vào lĩnh vực này: hình học tính toán, quản trị cơ sở dữ liệu, và nhận dạng  
mẫu. Các kỹ thuật đánh chỉ số nhiều chiều phổ biến đã có gồm thuật toán bucketing,  
cây k-d, cây k-d ưu tiên, cây tứ phân, cây K-D-B, cây hB, cây R-tree và các biến thể  
của nó cây R+ và R*.  
Lịch sử của các kỹ thuật đánh chỉ số nhiều chiều có thể quay lại giữa những năm  
1970, khi các phương pháp khối, cây tứ phân, và cây k d được giới thiệu lần đầu tiên.  
Tuy nhiên, hiệu năng của nó thì còn xa so với mong muốn. Bị thúc đẩy bởi nhu cầu cấp  
bách của đánh chỉ số không gian từ các hệ thống GIS và CAD, Guttman đã đề xuất cấu  
trúc đánh chỉ số R-tree [2]. Dựa trên nghiên cứu của ông, nhiều biến thể khác của R-  
tree đã được phát triển [1]. Năm 1990, Beckmann và Kriegel đã đề xuất biến thể R-tree  
động, R* tree trong [5]. Tuy nhiên, R* tree không thực hiện tốt với số chiều lớn hơn 20.  
1.3. Đánh giá hiệu năng tra cứu  
Để đánh giá hiệu năng của hệ thống tra cứu, người ta đưa ra hai số đo đó là độ  
thu hồi (recall) và độ chính xác (precision). Các số đo này được lấy từ hệ thống tra cứu  
thông tin truyền thống.  
Đối với một truy vấn , tập hợp các ảnh trong cơ sở dữ liệu thích hợp với truy  
q
vấn được ký hiệu là R q còn kết quả tra cứu của truy vấn được ký hiệu là Q q  
.
q
q
Độ chính xác của việc tra cứu được định nghĩa là tỉ lệ những kết quả thu được  
thích hợp với truy vấn.  
Q(q) R(q)  
precision  
1.1  
Q(q)  
Độ thu hồi là tỉ lệ những kết quả thích hợp do truy vấn trả lại:  
Q(q) R(q)  
1.2  
recall  
R(q)  
Việc lựa chọn R q lại rất không ổn định do sự đa đạng của cách hiểu về một  
bức ảnh. Hơn nữa, khi số lượng ảnh thích hợp lại lớn hơn số lượng ảnh hệ thống tìm  
   
16  
được thì lúc đó khái niệm độ thu hồi trở thành vô nghĩa. Do đó, độ chính xác và độ thu  
hồi chỉ là các mô tả ở dạng thô về hiệu năng của một hệ thống tra cứu. Gần  
đâyMPEG7có đề nghị một cách đánh giá mới về hiệu năng của các hệ thống tra cứu  
gọi là ANMRR(average normalized modified retrieval rank). Theo cách này độ chính  
xác và độ thu hồi được kết hợp thành một số đo duy nhất. Ký hiệu số lượng ảnh hoàn  
toàn đúng với truy vấn là N(q) và số lượng lớn nhất của các ảnh hoàn toàn đúng với  
q
tất cả  
Q
truy vấn tức là max N q1 , N q2 ,...., N q0 là  
.Sau đó đối với mỗi truy vấn  
M
thì mỗi bức ảnh hoàn toàn đúng  
k
được gán một giá trị xếp hạng rank(k) giá trị này  
là thứ hạng của nó trong số những ảnh hoàn toàn đúng nếu ảnh đó nằm trong kết quả  
truy vấn đầu tiên ( k min 4N q ,2M ) hoặc có giá trị k nếu ảnh đó không nằm  
trong kết quả truy vấn đầu tiên.  
q
k
k
Thứ hạng trung bình AVR q đối với truy vấn được tính:  
q
N q  
rank q  
AVR(q)  
1.3  
N q  
Thứ hạng tra cứu sửa đổi MRR q được tính là:  
MRR q AVG q 0.5 0.5* N q 1.4  
k
MRR q nhận giá trị 0 khi tất cả các ảnh hoàn toàn đúng đều nằm trong kết quả truy  
k
vấn đầu tiên.  
Thứ hạng tra cứu sửa đổi và chuẩn hoá NMRR q ) nhận giá trị từ 0 đến 1 được tính:  
MRR(q)  
NMRR(q)  
1.5  
k 0.5 0.5* N(q)  
Thứ hạng tra cứu sửa đổi và chuẩn hoá trung bình ANMRR xét trên tất cả các truy vấn  
là:  
Q
Q
1
ANMRR  
NMRR q  
1.6  
Q
q
1.4. Những hệ thống tra cứu ảnh theo nội dung  
Những năm gần đây, có nhiều hệ thống tra cứu ảnh, các hệ thống nghiên cứu và  
hệ thống thương mại đã được xây dựng. Dưới đây, là một số hệ thống của CBIR đã  
được phát triển.  
 
17  
1.4.1. Hệ thống QBIC (Query By Image Content) của IBM  
QBIC chuẩn cho truy vấn bởi nội dung ảnh, là hệ thống tra cứu ảnh dựa vào nội  
dung thương mại đầu tiên. QBIC hỗ trợ chính các truy vấn dựa vào các ảnh mẫu, các  
phác thảo và các bản vẽ được người sử dụng xây dựng, và các mẫu kết cấu và màu  
được lựa chọn. QBIC là kỹ thuật flood-fill tăng cường. Một công cụ phác thảo để trợ  
giúp những người sử dụng theo dõi các điểm biên đối tượng dựa trên khái niệm  
“snakes” được phát triển trong nghiên cứu thị giác máy tính. Công cụ này nhận một  
đường cong phác thảo của người sử dụng và căn lề tự động nó với các điểm biên ảnh  
gần cạnh. Nó tìm đường cong cực đại hoá độ lớn gradient ảnh dọc đường cong. Sau khi  
nhận biết đối tượng, QBIC sẽ tính toán các đặc trưng của mỗi đối tượng và ảnh. Các  
đặc trưng như sau:Màu, Kết cấu, Hình, Phác thảo.  
Ngay khi các đặc trưng được mô tả, các độ đo tương tự được sử dụng để nhận các  
ảnh tương tự. Trong bước tìm kiếm, QBIC phân biệt giữa “các ảnh” và “các đối  
tượng”. Một ảnh là một ảnh màu đầy đủ hoặc frame đơn của video và một đối tượng là  
một phần của ảnh. QBIC tính toán các đặc trưng sau: Các đối tượng, các ảnh. QBIC là  
một trong số ít các hệ thống nhận vào bản miêu tả đánh chỉ số đặc trưng nhiều chiều.  
1.4.2. Hệ thống Virage của công ty Virage  
Virage là một máy tìm kiếm ảnh dựa vào nội dung được phát triển tại liên hợp  
Virage. Tương tự với QBIC, Virage hỗ trợ các truy vấn trực quan dựa trên màu, thành  
phần cấu tạo (bố cục màu), kết cấu và cấu trúc (thông tin đường bao đối tượng). Nhưng  
Virage tiến một bước xa hơn QBIC. Nó cũng hỗ trợ các kết hợp tùy ý của các truy vấn  
trên. Người sử dụng có thể điều chỉnh các trọng số được kết hợp với các đặc trưng theo  
sự nhấn mạnh riêng của họ. Jeffrey và cộng sự đã đề xuất tiếp một khuôn khổ mở cho  
quản lý ảnh. Họ đã phân loại các đặc trưng trực quan thành tổng quát (như màu, hình,  
hoặc kết cấu) và lĩnh vực cụ thể (nhận dạng mặt người, phát hiện khối u, v.v..).  
1.4.3. Hệ thống RetrievalWare của tập đoàn công nghệ Excalibur  
RetrievalWare là một máy tra cứu ảnh dựa vào nội dung được phát triển bởi tập  
đoàn công nghệ Excalibur. Máy tìm kiếm gần đây của họ sử dụng màu, hình, kết cấu,  
độ sáng, bố cục màu, và hướng tỷ lệ của ảnh, như các đặc trưng truy vấn. Người sử  
     
18  
dụng có thể điều chỉnh các trọng số kết hợp với mỗi đặc trưng này trong quá trình tìm  
kiếm.  
1.4.4. Hệ thống VisualSeek và WebSeek của đại học Columbia  
VisualSEEk là một máy tìm kiếm đặc trưng trực quan và WebSEEk là một máy  
tìm kiếm văn bản/ảnh trên web, cả hai sản phẩm đã được phát triển tại đại học  
Columbia. VisualSEEK hỗ trợ các truy vấn dựa vào cả các đặc trưng trực quan và các  
quan hệ không gian của chúng. WebSEEK là một máy tìm kiếm hướng Web. Nó gồm  
ba module chính đó là module tập hợp ảnh/video, module phân loại chủ đề và đánh chỉ  
số, và module tìm kiếm, duyệt, và tra cứu và hỗ trợ tra cứu dựa trên các từ khóa và nội  
dung trực quan.  
1.4.5. Hệ thống Photobook của phòng thí nghiệm truyền thông MIT  
Photobook là một tập các công cụ tương tác để duyệt và tìm kiếm các ảnh được  
phát triển tại phòng thí nghiệm MIT Media. Hệ thống này cho phép người sử dụng tra  
cứu ảnh dựa trên màu sắc, hình dạng và kết cấu. Hệ thống như một công cụ bán tự  
động và có thể sinh ra một mẫu truy vấn dựa vào những ảnh mẫu được cung cấp bởi  
người sử dụng. Cho phép người sử dụng trực tiếp đưa những yêu cầu truy vấn của họ  
với những lĩnh vực khác nhau, mỗi lĩnh vực thì họ có thể thu được những mẫu truy vấn  
tối ưu. Trong phiên bản Photobook gần đây nhất của nó, Picard và cộng sự đã đề xuất  
gồm những người sử dụng trong lặp và chú thích tra cứu ảnh.  
1.4.6. Hệ thống Netra của Đại học California, Thƣ viện ảnh Alexandria  
Netra là một hệ thống tra cứu ảnh nguyên mẫu được phát triển trong dự án  
ADL. Netra sử dụng thông tin màu, kết cấu, hình, và vị trí không gian trong các vùng  
ảnh được phân đoạn để tìm kiếm và tra cứu các vùng tương tự từ cơ sở dữ liệu. Các đặc  
trưng nghiên cứu chính của hệ thống Netra là phân tích kết cấu dựa trên lọc Gabor, xây  
dựng từ điển ảnh dựa trên mạng neural và phân đoạn vùng dựa vào luồng biên.  
1.5. Kết luận  
Trong chương này, em đã giới thiệu kỹ thuật cơ bản về tra cứu ảnh dựa vào nội  
dung, bao gồm: tra cứu thông tin thị giác, các chức năng tiêu biểu của hệ thống tra cứu  
ảnh dựa vào nội dung, đánh giá hiệu năng tra cứu và trình bày một số hệ thống tra cứu  
ảnh theo nội dung. Đặc biệt em nhấn mạnh vào các đặc trưng thị giác. Trong đồ án này  
       
19  
em tập trung vào vấn đề nâng cao hiệu năng hệ thống tra cứu ảnh dựa vào nội dung thị  
giác thông qua sử dụng đặc trưng về màu sắc.  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 54 trang yennguyen 23040 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Đồ án Tìm hiểu một số phương pháp trích chọn đặc trưng và ứng dụng cho tra cứu ảnh theo nội dung", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdo_an_tim_hieu_mot_so_phuong_phap_trich_chon_dac_trung_va_un.pdf