Quan hệ giữa phụ thuộc hàm nới lỏng và phụ thuộc Boole dương tổng quát

Tập 2020, Số 1, Tháng 6  
Quan hệ giữa phụ thuộc hàm nới lỏng và phụ  
thuộc Boole dương tổng quát  
Nguyễn Xuân Huy1, Nguyễn Thị Vân2, Trương Thị Thu Hà3  
1Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam  
2Trường Cao đẳng Cộng đồng Hà Nội  
3Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ  
Tác giả liên hệ: Nguyễn Thị Vân, [email protected]  
Ngày nhận bài: 08/05/2020, ngày sửa chữa: 26/06/2020  
Định danh DOI: 10.32913/mic-ict-research-vn.vyyyy.nx.xyz  
Tóm tắt: Mục đích chính của bài báo là khảo sát và đặc tả các biến thể khác nhau của phụ thuộc Boole dương tổng quát.  
Tìm ra một đặc tả cho phụ thuộc nới lỏng tổng quát và chỉ ra rằng phụ thuộc nới lỏng nói chung và phụ thuộc hàm nới  
lỏng nói riêng chỉ là những trường hợp riêng của phụ thuộc Boole dương tổng quát.  
Kết quả này được dùng làm cơ sở để xây dựng mô hình tổng quát về các lớp phụ thuộc khác nhau trong khai thác tri thức  
bằng các công cụ AI và học sâu.  
Từ khóa: phụ thuộc Boole dương tổng quát, phụ thuộc hàm nới lỏng.  
Title: Relationship between Relaxed Functional Dependencies and Generalized Positive Boolean Dependencies  
Abstract: The main purpose in this paper is studying and descripting the variety of the generalized positive Boolean dependencies.  
A class of genneralized relaxed dependencies is introduced and pointed out that this class and class of relaxed functional  
dependencies are partial of the generalized positive Boolean dependencies.  
The result can be used to construct a model of different dependencies for knowledge mining with the AI approach and  
deep learning.  
Keywords: Generalized Boolean Dependencies, Relaxed Functional Dependencies.  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Ví dụ, trong giao thông ta thường có các phụ thuộc dữ  
liệu sau:  
Phụ thuộc dữ liệu đóng vai trò quan trọng trong thiết kế  
các hệ cơ sở dữ liệu và khai thác tri thức. Việc phát hiện  
các loại phụ thuộc khác nhau trong dữ liệu là một vấn đề  
nghiên cứu thú vị, có ý nghĩa và cũng là một trong những  
mục tiêu của lĩnh vực đảm bảo ngữ nghĩa, tính nhất quán  
và khai thác tri thức trên văn bản.  
Bảng I  
BẢNG GIÁ TAXI  
Xe  
Thành  
tiền  
Khoảng  
cách  
Điểm đi  
Điểm đến  
Phụ thuộc dữ liệu hay ràng buộc dữ liệu là những mệnh  
đề qui định các tính chất của dữ liệu cần được tôn trọng  
trong quá trình xử lý và lưu trữ nhằm phản ánh đúng hiện  
thực khách quan. Sau công bố năm 1970 của Codd về phụ  
thuộc hàm trong cơ sở dữ liệu, các nhóm nghiên cứu đã  
phát triển và đề xuất nhiều loại phụ thuộc dữ liệu ngày càng  
tinh tế hơn nhằm mở rộng và nâng cao khả năng mô tả dữ  
liệu trong thế giới thực. Một trong những hướng nghiên  
cứu quan trọng là những phụ thuộc hàm nới lỏng X Y,  
201  
18 Hoàng  
Quốc Việt  
20 Hoàng  
Văn Thái  
18 Hoàng  
Quốc Việt  
42 Vương  
Thừa Vũ  
20 Nguyễn Trãi  
7.3 km  
5.5 km  
7 km  
63.000  
50.000  
63.000  
50.000  
67  
125 Nguyễn  
Phong Sắc  
18 Nguyễn Trãi  
120  
45  
78 Trần Đăng  
Ninh  
5.3 km  
Theo phụ thuộc hàm kinh điển: Khoảng cách → Thành  
tiền thể hiện ngữ nghĩa sau: Nếu hai chuyến taxi chở khách  
đi cùng một khoảng cách thì hai xe nhận được cùng một  
số tiền.  
trong đó X và Y là các các tập thuộc tính,  
thể hiện sự  
phụ thuộc của tập thuộc tính Y vào tập thuộc tính X với  
các điều kiện nới lỏng khác nhau [5].  
Phụ thuộc hàm nới lỏng: Khoảng cách (0.2)  
Thành  
44  
Các công trình nghiên cứu phát triển Công nghệ Thông tin và Truyền thông  
tiền (0) thể hiện ngữ nghĩa sau: Nếu hai chuyến taxi chở  
khách có khoảng cách chênh lệch không quá 0.3 km thì hai  
xe nhận được số tiền như nhau.  
Phép hội hai công thức logic X và Y được kí hiệu là X∧Y  
hoặc XY hoặc X và Y (trong trường hợp cần chỉ rõ dấu phép  
toán) và được gọi là tích (logic); phép tuyển hai công thức  
logic X và Y được ký hiệu X∨Y hoặc X+Y và được gọi là  
tổng (logic); dấu ’ thay cho phép phủ định ¬. Ví dụ, biểu  
thức ab + c + bd ’ là một biểu diễn tương đương với công  
thức logic truyền thống a ∧ b ∨ c ∨ b ∧(¬d).  
Năm 2016, nhóm tác giả Loredana Caruccio, Vincenzo  
Deufemia, Giuseppe Polese đã tập hợp và phân loại các phụ  
thuộc nới lỏng (relaxed functional dependencies) và phân  
tích các đặc trưng của một số dạng nới lỏng [5].  
Ví dụ, cho tập U={a,b,c} khi đó công thức f:ab→c là  
Năm 1992, nhóm tác giả Nguyễn Xuân Huy và Lê Thị  
Thanh đã đề xuất một loại phụ thuộc dữ liệu mới là phụ  
thuộc Boole dương tổng quát (PTBDTQ) và chứng minh  
phụ thuộc hàm và một số biến thể của phụ thuộc hàm như  
phụ thuộc yếu, phụ thuộc mạnh, phụ thuộc đối ngẫu là  
những trường hợp riêng của phụ thuộc Boole dương tổng  
quát [1], [3]. Tiếp đến trong các năm từ 2012 đến 2016  
nhóm nghiên cứu về phụ thuộc Boole dương tổng quát đã  
tiếp tục chứng minh rằng các phụ thuộc sai khác [6] và các  
biến thể như các phụ thuộc hàm xấp xỉ [4] cũng là những  
trường hợp riêng của phụ thuộc Boole dương tổng quát.  
một công thức Boole dương vì f(1,1,1) = 1.  
Bảng II  
BẢNG CHÂN LÝ T  
푓
a
0
0
0
0
1
1
1
1
b
0
0
1
1
0
0
1
1
c
0
1
0
1
0
1
0
1
ab  
0
0
0
0
0
0
1
1
f=ab→c  
1
1
1
1
1
1
0
1
Trong bài này, tiếp tục mạch nghiên cứu trên, sẽ chỉ ra  
rằng các phụ thuộc hàm nới lỏng cũng là những trường hợp  
riêng của phụ thuộc Boole dương tổng quát.  
Nếu U = { x1, x2, . . . , x푛 } là tập các thuộc tính và v là  
một bộ trong quan hệ r trên U, x ∈ U thì v.x được ký hiệu  
là trị của thuộc tính x trong bộ v. Nếu X ⊆ U thì ta định  
nghĩa v.X = {v.x | x∈X}. Với tập thuộc tính U cho trước,  
quan hệ trên tập thuộc tính U được kí hiệu là r, khi cần  
chỉ rõ tập thuộc tính ta có thể sử dụng kí hiệu r(U).  
II. CÁC KHÁI NIỆM VÀ QUY ƯỚC  
Cho U = { x1, ..., x푛 } là tập hữu hạn các biến Boole  
nhận giá trị trong tập trị logic B = {0, 1} Tập các công  
thức Boole (CTB), kí hiệu L(U), bao gồm các biểu thức  
được xây dựng từ các biến trong U, các hằng 0/1 và các  
phép toán logic ∧, ∨, ¬, →  
Các qui ước và kí pháp truyền thống khác được giới thiệu  
trong các tài liệu kinh điển về cơ sở dữ liệu và được trích  
dẫn trong [1] và [2].  
Mỗi vector 0/1, v = (v1,...,vn) trong không gian B푛 được  
gọi là một phép gán trị. Khi đó với mỗi CTB f = L(U),  
f(v) là trị của công thức f đối với phép gán trị v. Kí hiệu e  
là phép gán trị đơn vị, e = (1,1,...,1). Công thức f = L(U)  
được gọi là công thức Boole dương (CTBD) nếu f(e)= 1.  
III. PHỤ THUỘC BOOLE DƯƠNG TỔNG QUÁT  
Cho U = {x1, ..., x푁 } là tập hữu hạn các biến Boole  
nhận giá trị trong tập trị logic B = {0, 1}.  
Ta quy ước mỗi miền trị d푥 của thuộc tính x trong U  
có chứa ít nhất hai phần tử. Với mỗi miền trị d푥, xét ánh  
Ký hiệu P(U). Với mỗi công thức Boole f ∈ L(U), kí  
xạ ∝ : d2 → B thoả các tiên đề sau [2][3]:  
푥
v
v
v
v
푥∀a, b∈d푥  
hiệu T푓 = { v ∈ B푛| f(v) = 1 } là bảng chân lí của f. Mỗi  
tập công thức F ⊆ L(U) được hiểu là một hội logic của các  
Ñ
A1) Tiên đề phản xạ ∝푥(a, a) = 1  
A2) Tiên đề đối xứng ∝푥(a, b) = ∝푥(b, a)  
A3) Tiên đề bộ phận ∃c ∈ d푥: ∝푥(a, c) = 0  
công thức thành phần, F = ∧f | f ∈ F. Khi đó, T퐹  
=
T 푓  
| f ∈ F là bảng chân lí của tập công thức F. Với hai CTBD  
f và g trên U, ta đã biết CTBD g được suy dẫn logic từ  
CTBD f và được ký hiệu là f → g khi và chỉ khi T 푓  
∈
∝푥 chính là quan hệ (hai ngôi) bộ phận thực sự, thoả các  
tính chất phản xạ và đối xứng trên miền trị d푥. Việc xác  
định ∝푥 được hiểu là thiết lập một phép sánh trị trên miền  
trị d푥 cho thuộc tính x  
T푔. Tương tự, nếu F là tập các CTBD trên U thì F → g  
khi và chỉ khi T퐹 ⊆ T푔. Hai tập CTBD F và G trên U là  
tương đương nhau khi và chỉ khi T퐹 = T퐺.  
Theo truyền thống của lý thuyết cơ sở dữ liệu, ta chấp  
nhận các ký hiệu sau đây:  
Quan hệ bằng =푥 (tạm gọi là quan hệ đẳng thức) được  
định nghĩa: ∀a, b ∈ d푥: =푥(a, b) = 1, khi và chỉ khi a = b,  
là trường hợp riêng của phép sánh trị và được ngầm định  
trong rường hợp không định nghĩa tường minh phép sánh  
trị cho thuộc tính x.  
Hợp của hai tập X và Y được viết XY; giao của hai tập  
Ñ
X và Y được viết X Y; phép trừ hai tập X và Y được ký  
hiệu là X-Y.  
45  
Tập 2020, Số 1, Tháng 6  
Ta gọi lược đồ dữ liệu là một cặp p = (U, F), trong đó  
U là tập thuộc tính với các miền trị tương ứng và các phép  
sánh trị trên mỗi miền trị, F là tập các phụ thuộc trên U  
[1][2][3].  
f(X (훾)→Y(휗), X, Y ⊆ U  
Ta nói phụ thuộc hàm nới lỏng f thỏa trong quan hệ r(U)  
nếu:  
Cho lược đồ p = (U, F) và quan hệ r trên U. Với mỗi  
cặp bộ u = (u1, u2,... , u푛), v = (v1, v2,... , v푛) trong r, ta  
f(X (훾)→Y(휗), X, Y ⊆ U  
Với mọi cặp bộ u, v ∈ r, nếu tân từ 훾(u.X,v.X) suy ra  
dược tân từ 휗(u.X,v.Y).  
đặt tương ứng một vector 0/1 t = (t1, t2,... , t푛) ∈ B và kí  
푛
hiệu là t = ∝(u, v), trong đó thành phần t.x ứng với thuộc  
tính x trong U chính là ảnh của ánh xạ t.x = ∝푥(u.x, v.x).  
Phụ thuộc hàm nới lỏng được hiểu là phụ thuộc hàm với  
điều kiện kèm theo nhằm giảm nhẹ các điều kiện của phụ  
thuộc hàm chính thống. Các điều kiện giảm nhẹ được phát  
biểu thông qua các tân từ 훾 và 휗  
Khi đó mỗi quan hệ r sẽ được đặt tương ứng với tập các  
vector 0/1, T푟 = { ∝( u, v) | u, v ∈ r}, và được gọi là bảng  
trị của quan hệ r trên LĐBDTQ p [2][3].  
Quan hệ r trên tập thuộc tính U thỏa PTBDTQ f (tập  
PTBDTQ F) và viết r(f) (r(F)) nếu T푟 ⊆ T푓 (T푟 ⊆ T퐹 ).  
Mỗi công thức Boole dương f trong P(U) với các phép  
sánh trị cho trước được gọi là một phụ thuộc Boole dương  
tổng quát (PTBDTQ), lược đồ thu được trong trường hợp  
này được gọi là lược đồ với phụ thuộc boole dương tổng  
quát.  
V. CÁC LỚP BIẾN THỂ CỦA PHỤ THUỘC  
BOOLE DƯƠNG TỔNG QUÁT  
Các kết quả chủ yếu của mục này cho thấy, tùy thuộc  
vào các dạng của công thức Boole dương cụ thể và phép  
sánh trị alpha cụ thể ta có thể nhận được các phụ thuộc nới  
lỏng khác nhau ứng với các lược đồ dữ liệu tương ứng sau  
đây.  
IV. PHỤ THUỘC HÀM NỚI LỎNG  
1. Lớp IE (Implication Fomula và Equal Comparison)  
Phụ thuộc hàm nới lỏng [5] được xây dựng dưới dạng  
thức chung: f: X(휆) → Y(훾); X, Y ⊆ U với các điều kiện  
nới lỏng 휆 và 훾 như sau:  
Lớp IE là lớp các lược đồ phụ thuộc hàm kinh điển, được  
xây dựng trên cơ sở phép toán suy dẫn và phép sánh trị  
đẳng thức.  
Quan hệ r(U) thỏa PTHNL f: X(휆) → Y(훾); X, Y ⊆ U  
Cho tập các thuộc tính U = (x1, x2,... , x푛), n>1. Giả sử  
X, Y ⊆ U. Một phụ thuộc thuộc lớp IE là biểu thức dạng  
f: X→ Y.  
nếu T푟 ⊆ T푓  
Nới lỏng các phép sánh trị trên một vài thuộc tính: ngoài  
sánh trị đẳng thức có thể xét các phép xấp xỉ theo độ đo,  
hoặc các phép so sánh <, ≤, >, ≥, =, ≠. Quan hệ r thỏa phụ  
thuộc hàm nới lỏng theo phép sánh trị X (휌)→Y và được  
viết là r(X (휌)→Y) khi và chỉ khi hai bộ bất kỳ trong r sai  
khác nhau không quá ngưỡng 휌 trên X thì hai bộ đó cũng  
sai khác nhau không quá ngưỡng 휌 trên Y.  
Dựa trên biểu thức logic X và Y ta phân biệt các dạng  
phụ thuộc hàm sau:  
IE-1: Biểu thức logic có dạng X → Y, ta có phụ thuộc  
hàm truyền thống: Cho LĐQH (U, F) Cho LĐQH (U, F)  
và một phụ thuộc hàm f:X→ Y trên U. Ta nói quan hệ r  
thỏa phụ thuộc hàm f và ký hiệu r(f), nếu hai bộ tùy ý  
Nới lỏng theo lực lượng:  
trong r giống nhau trên X thì cũng giống nhau trên Y  
Ô
≠ 푟(푋 → 푌)  
r(X (훿)→Y) =  
≤ 훿  
IE-2: biểu thức logic có dạng X → Y cho ta lược đồ  
≠ 푟  
phụ thuộc hàm mạnh: Cho quan hệ r trên tập thuôc tính U,  
Ô
Trong đó ≠S là số phần tử có trong tập S. Biểu thức  
trên cho biết quan hệ r thỏa phụ thuộc hàm nới lỏng theo  
lực lượng X (훿)→Y và được viết là r(X (훿)→Y) khi và  
chỉ khi tỷ lệ giữa số lượng các bộ còn lại thỏa phụ thuộc  
hàm truyền thống X → Y và các bộ của quan hệ r đạt trên  
ngưỡng 훿. Nói cách khác, ta có thể xóa khỏi quan hệ r một  
số bộ với tỷ lệ tỷ lệ 훿 để quan hệ còn lại thỏa phụ thuộc  
hàm truyền thống X → Y.  
quan hệ R thỏa phụ thuộc hàm mạnh X → Y trên U nếu  
với hai bộ u, v bất kỳ trong r: u và v bằng nhau tại một  
thuộc tính nào đó trên X thì u và v cũng bằng nhau trên Y.  
Ô
IE-3: Biểu thức logic có dạng X → Y, ta có lược đồ  
phụ thuộc hàm yếu: Cho quan hệ r trên tập thuôc tính U,  
Ô
quan hệ r thỏa phụ thuộc hàm yếu X → Y trên U nếu  
với hai bộ u, v bất kỳ trong r: u và v bằng nhau trên X thì  
u và v cũng bằng nhau tại một thuộc tính nào đó trên Y.  
Ô
Ô
Định nghĩa chung về phụ thuộc hàm nới lỏng tổng quát  
như sau:  
IE-4: Biểu thức logic có dạng X → Y , ta có lược  
đồ phụ thuộc hàm đối ngẫu: Cho quan hệ r trên tập thuôc  
Ô
Ô
Cho U là tập thuộc tính, X và Y là hai tập thuộc tính  
trong U. PTH nới lỏng có dạng:  
tính U, quan hệ r thỏa phụ thuộc hàm đối ngẫu X →  
Y
trên U nếu với hai bộ u, v bất kỳ trong r: u và v bằng nhau  
46  
Các công trình nghiên cứu phát triển Công nghệ Thông tin và Truyền thông  
tại một thuộc tính nào đó trên X thì u và v cũng bằng nhau  
tại một thuộc tính nào đó trên Y.  
Cho tập thuộc tính X ⊆ U. Hàm sai khác ∅푋 trên tập  
thuộc tính X là hội logic của các hàm sai khác trên mọi  
Ó
thuộc tính a ∈ X: ∅푋  
=
∅
훼
훼∈푋  
Bảng dưới đây tóm lược các đặc tả cho các lớp con IE1-4  
của lớp IE  
Trong [5], đã chỉ ra rằng phụ thuộc hàm sai khác là  
trường hợp riêng của phụ thuộc hàm nới lỏng, trong phần  
này chỉ ra rằng, phụ thuộc sai khác thuộc lớp LA-1.  
Dạng phụ  
thuộc  
Tên gọi  
Đặc điểm  
- Nếu biểu thức logic có dạng f: X(훿) → Y, 0 6 훿 6 1  
ta có phụ thuộc nới lỏng theo lực lượng.  
X→ Y  
phụ thuộc hàm  
phụ thuộc hàm  
mạnh  
phụ thuộc hàm yếu  
phụ thuộc hàm đối  
ngẫu  
ràng buộc chặt  
nới lỏng vế trái  
Ô
Ví dụ, khi khảo sát các khoa của một trường đại học  
người ta đánh giá tổng thể môi trường đào tạo của khoa  
theo ý kiến của các chuyên gia (thuộc tính A). Có 4 mức  
cho A lần lượt là a, b, c và d, trong đó a là mức tốt nhất.  
Thuộc tính B cho biết mức độ hài lòng của các sinh viên  
về trường đó. B gồm 4 mức là 1, 2, 3 và 4, trong đó 1 là  
mức cao nhất. Giả sử kết quả khảo sát được thể hiện trong  
quan hệ r(A, B). Người ta muốn biết giữa môi trường học  
tập (A) và mức độ hài lòng (B) có đạt trên ngưỡng 0.6 hay  
không, tức là xác định f: A(0.6)→B?  
X → Y  
Ô
X →  
Y
nới lỏng vế phải  
nới lỏng  
Ô
X →  
Ô
Y
X(훿) → Y  
phụ thuộc xấp xỉ  
nới lỏng  
Như vậy, các dạng phụ thuộc hàm IE-1, IE-2, IE-3, IE-4  
là các phụ thuộc hàm nới lỏng và chúng là những trường  
hợp riêng của phụ thuộc Boole dương tổng quát.  
r
A
a
b
a
a
b
B
1
2
1
2
2
2. Lớp LA (Logic Fomula và Alpha Comparison)  
Dựa theo điều kiện nới lỏng, ta chia lớp LA thành các  
lớp con sau đây:  
LA-1: Lớp LA-1 là lớp các phụ thuộc được xây dựng  
trên cơ sở phép toán suy dẫn và phép sánh trị alpha.  
*
Cho tập các thuộc tính U = (x1, x2,... , x푛), n>1. Giả sử  
X, Y ⊆U. Một phụ thuộc thuộc lớp LA-1 là biểu thức dạng  
f: 훼푋 → 훼푌 với các phép sách trị 훼 như đã trình bày ở  
phần III.  
Ta thấy, sau khi xóa bộ thứ tư khỏi quan hệ r thì quan  
hệ con còn lại, ký hiệu là r’ sẽ thỏa phụ thuộc hàm truyền  
thống A → B. Tỷ lệ thu được lúc này sẽ là  
≠ r0  
≠ 푟  
4
5
Ta nói quan hệ r thỏa LA-1: 훼푋 → 훼푌 và viết r(X(훼) →  
Y(훼)), nếu với hai bộ bất kỳ u, v ∈ r, thỏa các ràng buộc  
được đặc tả bởi 훼푋 trên tập thuộc tính X, thì u và v cũng  
thỏa các ràng buộc được đặc tả bởi hàm sai khác 훼푌 trên  
tập thuộc tính Y:  
=
=
0.8  
>
0.6  
- Phép sánh trị theo khoảng  
Miền trị d퐴 được phân hoạch thành k khoảng không giao  
nhau:  
Trong lớp LA-1, ta có các phụ thuộc đại diện sau:  
∀ x, y ∈ d퐴: 훼퐴)(x, y) = 1 khi và chỉ khi x và y thuộc  
- Nếu biểu thức logic dạng f: 훼푋 → 훼푌 , ta có phụ thuộc  
sai khác [6], với 훼푋 và 훼푌 là các hàm sai khác được định  
nghĩa :  
cùng một khoảng:  
Ví dụ, điểm tổng kết của học sinh được chia thành 8  
khoảng  
Cho quan hệ r trên tập thuộc tính U, a ∈ U và độ sai  
khác m푎. Hàm sai khác 훼푎 trên thuộc tính ∝ đặc tả ràng  
buộc của độ sai khác m푎: Với hai trị x, y ∈ d푎, ta định  
nghĩa 훼푎(x, y) = 1 khi và chỉ khi m푎(x, y) thỏa điều kiện  
cho 훼푎 dưới dạng các biểu thức so sánh với các phép so  
sánh =, ≠, <, 6, > và >.  
v
v
v
v
v
v
Điểm F : [0; 3.9]  
Điểm D : [4.0; 4.7]  
Điểm D+ : [4.8; 5.4]  
Điểm C : [5.5; 6.2]  
Điểm C+ : [6.3; 6.9]  
Điểm B : [7.0; 7.7]  
47  
Tập 2020, Số 1, Tháng 6  
v
v
Điểm B+ : [7.8; 8.4]  
Điểm A : [8.5; 10]  
[6] Song S. and Chen L. (2011), "Differential Dependen-  
cies: Reasoning and Discovery", ACM Trans. Datab.  
Syst, vol.9, no 4, Article 39.  
Lớp LA-2: Lớp LA-2 là lớp các phụ thuộc được xây dựng  
trên cơ sở phép toán logic Boole và phép sánh trị đẳng  
thức. Đại diện cho lớp LA-2 là phụ thuộc Boole dương.  
[2][3]  
Lớp LA-3: Lớp LA-3 là lớp các phụ thuộc được xây dựng  
trên cơ sở phép toán logic Boole và phép sánh trị alpha  
(mục 4.2). Đại diện cho lớp LA-3 là phụ thuộc Boole dương  
tổng quát (phần III), đây cũng là lớp phụ thuộc bao hàm  
các phụ thuộc logic trong cơ sở dữ liệu đã và đang được  
nghiên cứu bởi các nhóm tác giả trong và ngoài nước.  
SƠ LƯỢC VỀ TÁC GIẢ  
Nguyễn Xuân Huy  
Sinh năm 1944 tại Hải Phòng.  
Cử nhân Toán, Đại học Sư phạm  
Leningrad (Liên Xô) năm 1973.  
Tiến sỹ CNTT năm 1982, tiến  
sỹ khoa học CNTT năm 1990,  
Viện Hàn lâm Khoa học Liên  
Xô. Nguyên trưởng Phòng Cơ sở  
dữ liệu và Lập trình, Viện Công  
nghệ Thông tin, Viện Hàn lâm  
Khoa học và Công nghệ Việt  
Nam (1997-2009). Lĩnh vực  
nghiên cứu: Cơ sở dữ liệu và  
Công nghệ phần mềm. Email: [email protected].  
VI. KẾT LUẬN  
Việc phân loại và đề xuất một mô hình chung cho các  
loại phụ thuộc dữ liệu là một trong những vấn đề đang được  
giới nghiên cứu dữ liệu lớn quan tâm. Các điều kiện cần  
và đủ để nhận biết các đặc trưng của một lớp phụ thuộc là  
cơ sở để phân loại và tạo ra mối liên hệ giữa các lớp phụ  
thuộc.  
Bài báo mô tả mối quan hệ giữa phụ thuộc hàm nới lỏng  
và phụ thuộc Boole dương tổng quát trong cơ sở dữ liệu.  
Các kết quả chủ yếu bao gồm:  
Nguyễn Thị Vân  
Sinh năm 1985 tại Hà Tĩnh.  
Cử nhân CNTT tại Trường  
Đại học Kinh doanh và Công  
nghệ Hà Nội năm 2011. Thạc  
sĩ ngành Khoa học máy tính  
tại Trường Đại học Công nghệ  
thông tin và Truyền thông năm  
2014. Hiện đang công tác tại  
Khoa Công nghệ thông tin,  
Trường Cao đẳng Cộng đồng  
Hà Nội. Lĩnh vực nghiên cứu:  
Các phụ thuộc logic trong cơ  
sở dữ liệu, mô hình dữ liệu và cơ sở dữ liệu. Email:  
1. Xây dựng các lớp phụ thuộc trong cơ sở dữ liệu dựa  
vào hai đặc trưng cơ bản là công thức suy dẫn và phép  
sánh trị.  
2. Chỉ ra mối quan hệ giữa phụ thuộc hàm nới lỏng với  
phụ thuộc Boole dương tổng quát. Từ các loại phụ thuộc  
hàm nới lỏng có thể tổng quát hóa thành phụ thuộc Boole  
dương tổng quát và ngược lại, từ lý thuyết phụ thuộc Boole  
dương tổng quát có thể thực tế hóa về các phụ thuộc hàm  
nới lỏng tùy thuộc từng trường hợp biến thể của yêu cầu  
thực tế.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Nguyễn Xuân Huy (2006), "Các phụ thuộc logic trong  
cơ sở dữ liệu", NXB Thống Kê.  
Trương Thị Thu Hà  
Sinh năm 1979 tại Nghệ An. Cử  
nhân CNTT Trường Đại học Sư  
phạm Hà Nội năm 2000. Thạc  
sĩ CNTT Trường Đại học Công  
nghệ, Đại học Quốc Gia Hà  
Nội năm 2006. Tiến sĩ CNTT,  
Học viện Kỹ thuật Quân sự  
năm 2018. Hiện công tác tại  
Trường Đại học Kinh doanh  
và Công nghệ Hà Nội. Lĩnh  
vực nghiên cứu: Cơ sở dữ liệu,  
Công nghệ phần mềm. Email:  
[2] Berman J., Blok W. J. (1988), "Positive Boolean de-  
pendencies" Inf. Processing Letters, 27, p.147 – 150.  
[3] Huy Nguyen Xuan, Thanh Le Thi (1992), "Generalized  
Positive Boolan Dependencies", J. Inf. Process. Cybern.  
EIK, vol. 28, p. 363 – 370.  
[4] Jalal Atoum (2009), "Mining Approximate Functional  
Dependencies from Databases", European Journal of  
Scientific Research, ISSN 1450 – 216X vol. 33 no. 2,  
p.338 – 346.  
[5] Loredana Caruccio, Vincenzo Deufemia, Giuseppe  
Polese (2016), "Relaxed Functional Dependencies - A  
Survey of Approaches", IEEE Transactions on Knowl-  
edge and Data Engineering, vol. 28, p. 147–165.  
48  
pdf 5 trang yennguyen 22640 Free
Bạn đang xem tài liệu "Quan hệ giữa phụ thuộc hàm nới lỏng và phụ thuộc Boole dương tổng quát", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfquan_he_giua_phu_thuoc_ham_noi_long_va_phu_thuoc_boole_duong.pdf