Nhận dạng ngôn ngữ ký hiệu tiếng Việt trong video bằng LSTM và I3D đa khối

NHẬN DẠNG NGÔN NGỮ KÝ HIỆU TIẾNG  
VIỆT TRONG VIDEO BẰNG LSTM VÀ I3D  
ĐA KHỐI  
Vũ Hoài Nam∗, Hoàng Mậu Trung∗, Phạm Văn Cường∗  
∗Học Viện Công Nghệ Bưu Chính Viễn Thông  
Tóm tắt—Ngôn ngữ ký hiệu là một trong những tại mỗi khu vực, vùng, miền lại có một bộ ngôn ngữ  
phương tiện không thể thay thế trong giao tiếp hằng  
ngày của cộng đồng người câm điếc. Ngôn ngữ ký  
hiệu được biểu diễn bằng cử chỉ phần thân trên của  
người thể hiện ngôn ngôn ngữ. Với sự phát triển vượt  
bậc của các công nghệ cao trong lĩnh vực học sâu và  
thị giác máy tính, hệ thống nhận dạng ngôn ngữ ký  
hiệu trở thành một cầu nối hiệu quả giữa cộng đồng  
người câm điếc và thế giới bên ngoài. Nhận dạng ngôn  
ngữ ký hiệu tiếng Việt (VSLR) là một nhánh của bài  
toán nhận dạng ngôn ngữ ký hiệu nói chung được sử  
dụng trong cộng đồng người câm điếc Việt Nam. VSLR  
hướng đến thông dịch từ cử chỉ của người thực hiện  
ngôn ngữ ký hiệu sang thành văn bản. Trong bài báo  
này, chúng tôi đề xuất một phương pháp nhận dạng  
ngôn ngữ ký hiệu tiếng Việt từ video dựa trên mô hình  
học sâu. Phương pháp đề xuất bao gồm hai phần chính  
là mô hình hai luồng mạng nơ ron tích chập (CNN)  
cho đặc trưng không gian và mạng bộ nhớ dài ngắn  
(Long-Short Term Memory - LSTM) cho đặc trưng  
thời gian. Chúng tôi đánh giá mô hình đề xuất với bộ  
dữ liệu chúng tôi thu thập bao gồm 29 ký tự trong  
bảng chữ cái tiếng Việt. Thực nghiệm đạt được với độ  
chính xác 95% chứng minh tính hiệu quả và thực tế  
của phương pháp đề xuất trong việc nhận dạng ngôn  
ngữ ký hiệu tiếng Việt.  
ký hiệu khác nhau. Chẳng hạn Việt Nam có 3 nhóm  
ngôn ngữ ký hiệu chính, đó là: ngôn ngữ ký hiệu  
Hải Phòng, Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại  
Việt Nam cộng đồng người khiếm thính chiếm tổng  
số 4-5% dân số của cả nước. Bên cạnh đó, hầu hết  
họ không biết sử dụng ngôn ngữ ký hiệu trong cuộc  
sống hàng ngày, do đó điều này trở thành rào cản  
để họ giao tiếp với thế giới bên ngoài. Do đó, việc  
tất yếu của việc phát triển tập dữ liệu ngôn ngữ kí  
hiệu tiêu chuẩn và hoàn thiện một hệ thống hỗ trợ  
giao tiếp cho người khiếm thính tại Việt Nam. Hệ  
thống nhận dạng ngôn ngữ ký hiệu tự động không  
chỉ là một cầu nối giữa cộng đồng khiếm thính và  
thế giới bên ngoài mà chúng còn có vai trò quan  
trọng trong ứng dụng về rô bốt và hệ thống tương  
tác người và máy tính. Hơn thế nữa việc hoàn thành  
nhận dạng ngôn ngữ ký hiệu cũng giúp trẻ em khiếm  
thính có thể học về nhận thức, xã hội, cảm xúc và  
ngôn ngữ. Hệ thống nhận dạng ngôn ngữ kí hiệu ghi  
nhận sự chuyển chộng và phân tích chuyển động của  
phần trên cơ thể con người. Bởi vậy, có 2 giải pháp  
chính cho vấn đề trên: tiếp cận theo hướng thị giác  
máy tính và tiếp cận theo hướng sử dụng cảm biến  
chuyển động. Phương pháp dựa trên thị giác máy tính  
sử dụng đầu vào là video, trong khi đó phương pháp  
còn lại sử dụng tín hiệu thu được từ cảm biến. Trong  
số hai hướng tiếp cận này, cách tiếp cận dựa trên thị  
giác máy tính chứng tỏ sự thuận tiện và tự nhiên hơn  
vì chúng không yêu cầu người khiếm thính phải đeo  
thiết bị có chứa cảm biến gây khó chịu khi giao tiếp.  
Cách tiếp cận dựa trên thị giác lấy đầu vào là một  
loạt các khung hình và phân loại tập các khung hình  
này thành các từ hoặc ký tự ngôn ngữ ký hiệu tương  
ứng, tương tự như vấn đề nhận dạng hoạt động video.  
Các mô hình học sâu gần đây đã được áp dụng để  
giải quyết hiệu quả các vấn đề nhận dạng hoạt động  
Từ khóa—Học sâu, nhận dạng, ngôn ngữ ký hiệu.  
I. GIỚI THIỆU  
Ngôn ngữ ký hiệu là một ngôn ngữ được phát triển  
bởi nhu cầu cần thiết trong việc giao tiếp của cộng  
đồng người khiếm thính. Một quan điểm sai lầm là  
ngôn ngữ ký hiệu đồng nhất trên toàn thế giới. Trên  
thực tế tại mỗi quốc gia khác nhau có một bộ ngôn  
ngữ khác nhau, thậm chí trong cùng một quốc gia  
Tác giả liên hệ: Vũ Hoài Nam, email: [email protected]  
Đến tòa soạn: 20/08/2020, chỉnh sửa: 23/10/2020, chấp nhận  
đăng: 26/10/2020.  
SOÁ 03 (CS.01) 2020  
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG  
115  
NHẬN DẠNG NGÔN NGỮ KÝ HIỆU TIẾNG VIỆT TRONG VIDEO BẰNG LSTM VÀ I3D ĐA KHỐI  
trong video [1], [2], [3]. Đề xuất của chúng tôi tận nhưng hệ thống trở nên bất tiện hơn cho người thực  
dụng lợi thế của các cấu trúc mạng học sâu bởi sự kết hiện ngôn ngữ ký hiệu vì họ phải đeo nhiều thiết bị  
hợp của I3D [1] và LSTM [4] cho nhận dạng ngôn hơn. Hơn thế nữa, cách tiếp cận này không thể nắm  
ngữ ký hiệu tiếng Việt. I3D module được sử dụng để bắt được toàn bộ sự thay đổi về hình dạng và chuyển  
nắm bắt thông tin không gian của chuyển động, còn động tương đối của các bộ phận cơ thể.  
LSTM module thì lại nắm bắt đặc trưng chuyển động  
B. Phương pháp dựa trên thị giác máy tính  
theo theo thời gian. Để xuất của chúng tôi chia tập  
khung hình đầu vào thành các khối khung hình nhỏ  
hơn và đưa vào I3D module. Việc chia này dựa trên  
quan sát hành động mô tả ngôn ngữ ký hiệu trong  
video được cấu thành bởi nhiều các hành động con  
rời rạc bao gồm kí tự và dấu thanh. Do đó, việc chia  
đầu vào thành khối khung hình nhỏ giúp cải thiện  
độ chính xác của hệ thống.  
Với phương pháp tiếp cận này máy thu hình được  
sử dụng là công cụ chính giúp ghi lại dữ liệu đầu  
vào. Lợi thế của sử dụng máy thu hình đó là không  
cần đeo một thiết bị nào cả và giúp giảm chi phí  
giá thành của thệ thống. Hơn thế nữa giới hạn góc  
nhìn của máy thu hình rất lớn giúp cho có thể thu  
được đồng thời nhiều người trong cuộc hội thoại. Bên  
cạnh đó ngày này các điện thoại thông minh đều được  
trang bị máy thu hình với độ phân giải cao đó có thể  
là một tiềm năng lớn cho dữ liệu đầu vào của hệ  
thống nhận dạng. Vì thế các tiếp cận dự trên thị giác  
máy tính cho hệ thống nhận dạng ngôn ngữ kí hiệu  
khiến cho việc giao tiếp hằng ngày của người khiếm  
thính tự nhiên hơn và thuật tiện hơn khi sử dụng.  
Do những lợi ích được đề cập trên, đã có nhiều nhà  
II. NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN  
Nhận dạng ngôn ngữ ký hiệu được chia làm hai  
loại chính: dựa trên dữ liệu cảm biến (sensor-based)  
và dựa trên thị giác máy tính (vision-based).  
A. Phương pháp dựa trên dữ liệu cảm biến  
Người khiếm thính phải đeo một hoặc một số thiết nghiên cứu tập trung vào đề xuất nhận dạng ngôn  
bị có gắn các cảm biến khi mô tả các từ ngôn ngữ ngữ ký hiệu dựa trên thị giác bằng nhiều ngôn ngữ  
ký hiệu trong suốt cuộc hội thoại của họ. Bằng cách khác nhau như ngôn ngữ ký hiệu của Mỹ [9], [10],  
sử dụng dữ liệu cảm biến này, có thể giúp đơn giản [11], ngôn ngữ ký hiệu Trung Quốc [12], ký hiệu  
hóa công việc tiền xử lý dữ liệu bởi khả năng lọc Hàn Quốc ngôn ngữ [13] và ngôn ngữ ký hiệu Việt  
nhiễu, và yếu tố phức tạp của môi trường. Bên cạnh Nam [14], [15]. Trong [11], tác giả đã nghiên cứu  
đó chuyển động của người khiếm thính không bị giới hai kỹ thuật trích xuất tính năng mới của Combined  
hạn bởi một ngữ cảnh cụ thể nào như đứng trước một Orient Histogram and Statistical and Wavelet feature  
máy thu hình. Trong cách tiếp cận này, tín hiệu từ để nhận dạng ngôn ngữ kí hiệu Mỹ các số từ 0-9.  
các cảm biến được truyền không dây đến một thiết bị Các đặc trưng được kết hợp lại và được đưa vào một  
từ xa để xử lý nhận dạng [5], [6]. Tuy nhiên, với sự mạng nơ ron để huấn luyện. Tác giả của [12] triển  
phát triển khả năng tính toán của các thiết bị nhúng, thực hiện nắm bắt thông tin cả 2 chiều không gian  
một vài hệ thống nhận dạng ngôn ngữ kí hiệu đơn và thời gian trong mô hình phân loại ngôn ngữ kí  
giản có thể chạy trực tiếp trên các thiết bị này chẳng hiệu Trung Quốc. Đầu tiên một mô hình trích đặc  
hạn như găng tay điện tử hoặc vòng đeo tay thông trưng của ngôn ngữ kí hiệu được thực hiện, các đặc  
minh [7]. Cải tiến này có thể làm cho cách tiếp cận trưng là đầu vào của bộ phân loại SVM để nhận dạng  
dựa trên cảm biến phù hợp hơn trong các ứng dụng 30 loại của bảng chữ cái Trung Quốc. Kết quả của  
thực tế. Trong một số bài báo, có một số cách tiếp họ cho thấy Linear kernel SVM là bộ phân loại phù  
cận được đề xuất để tận dụng nhiều cảm biến để hợp nhất với nhận dạng ngôn ngữ kí hiệu. Để nhận  
nhận dạng ngôn ngữ ký hiệu. Nhóm tác giả trong [8] dạng ngôn ngữ kí hiệu Việt Nam, tác giả của [14]  
đề xuất một phương pháp sử dụng kết hợp các cảm được sử dụng mô tả địa phương. Trong mô đun trích  
biến gia tốc và cảm biến điện cơ. Các tín hiệu đến chọn đặc trưng, họ trích xuất đặc trưng không gian  
từ các cảm biến gia tốc và điện cơ được xử lý trước và đặc trưng ngữ cảnh để mô tả từ ngữ trong ngôn  
khi đưa vào bộ phân loại SVM. Theo đề xuất của ngữ ký hiệu. Sau đó một tập các đặc trưng được học  
họ, hệ thống nhận dạng ngôn ngữ kí hiệu có thể đạt bởi bộ phân loại SVM. Đánh giá trên tập dữ liệu của  
được độ chính xác 96,16% trên bộ dữ liệu tự thu thập họ cho kết quả đạt được độ chính xác là 86,61%. Từ  
của họ. Mặc dù các phương pháp tiếp cận dựa trên cách tiếp cận thị giác máy tính, nhận dạng ngôn ngữ  
nhiều cảm biến có thể đạt được độ chính xác tốt hơn ký hiệu được xem là một nhánh của nhận dạng hành  
SOÁ 03 (CS.01) 2020  
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG  
116  
Vũ Hoài Nam, Hoàng Mậu Trung, Phạm Văn Cường  
động với hạn chế chuyển động của một số bộ phận các video của những nhóm khác khi người đó thực  
trên cơ thể. Có một xu hướng trong cộng đồng nhận hiện từ khác. Do vậy, lấy động lực từ phương pháp  
dạng ngôn ngữ ký hiệu trong đó các nhà nghiên cứu túi từ (Bag of word), nhóm nghiên cứu đề xuất có thể  
đang cố gắng thay thế các đặc trưng thủ công bằng chia video của từng từ trong ngôn ngữ ký hiệu thành  
mô hình học sâu để cải thiện độ chính xác và độ các video nhỏ hơn để có thể áp dụng hiệu quả trong  
tin cậy. [15] đã sử dụng CNN-LSTM cho nhận dạng bài toán nhận dạng ngôn ngữ ký hiệu này. Mỗi hành  
ngôn ngữ kí hiệu Việt Nam. Kết quả của họ đã cho động Đầu ra của mô đun I3D là vector đặc trưng  
thấy rằng phương pháp học sâu có kết quả vượt trội 1024 chiều, sau đó được đưa qua các lớp LSTM để  
so với phương pháp truyền thống. Tác giả [13] đã phân loại thành các nhóm ngôn ngữ kí hiệu.  
phát triển một hệ thống nhận dạng ngôn ngữ kí hiệu  
Hàn Quốc dựa trên mạng nơ-ron tích chập CNN từ  
A. I3D  
đầu vào là các video. Tập dữ liệu của họ bao gồm  
I3D được đề xuất để giải quyết vấn đề cho nhận  
10 từ được chọn trong ngôn ngữ kí hiệu Hàn Quốc.  
dạng hành động con người (Human Activity Recog-  
Phương pháp của họ đạt độ chính xác 84,5% Tắc giả  
nition - HAR). I3D sử dụng Inception V1 được đào  
của [16] đã xuất một phướng pháp kết hợp hai kĩ  
tạo trước để thực hiện học tập chuyển đổi từ bộ dữ  
thuật mạnh nhất của học sâu là CNN trích đặc trưng  
liệu ImageNet sang bộ dữ liệu video hoạt động của  
không gian và LSTM trích đặc trưng thời gian. Kết  
con người. Các hạt nhân của mạng Inception V1 [20]  
quả hệ thống của họ được đánh giá trên tập dữ liệu  
truyền thống được mở rộng thành các hình dạng 3  
gồm 40 từ vựng thông dụng hằng ngày. Đánh giá của  
chiều (3D) để phù hợp với dữ liệu đầu vào của chuỗi  
họ chỉ ra rằng mô hình dựa trên CNN-LSTM có thể  
khung. Thành công của mô hình I3D dựa trên quan  
được thực thi trong thời gian thực cho các ứng dụng  
sát rằng không có bộ dữ liệu HAR nào có sẵn lớn  
thực tế. Trong [17], việc nhúng CNN từ đầu đến cuối  
như ImageNet. Trong tài liệu, các mô hình mạng nơ  
vào mô hình Markov ẩn (HMM) đã được giới thiệu.  
ron nhân chập 3 chiều (3DCNN) được sử dụng cho  
CNN-HMM lai tận dụng khả năng phân biệt đối xử  
các vấn đề phân loại video là các mô hình nông vì  
mạnh mẽ của CNN và khả năng mô hình hóa trình  
thiếu dữ liệu. Mô hình của chúng tôi sử dụng mô  
tự của HMM. Phương pháp được đề xuất của họ có  
hình I3D được đào tạo trước để tinh chỉnh với tập dữ  
thể nhận ra ngôn ngữ ký hiệu liên tục đạt tỷ lệ lỗi  
liệu của chúng tôi. Mô hình I3D được đào tạo trước  
lần lượt là 30% và 32,5% trên bộ dữ liệu Phoenix  
phù hợp với các vấn đề phân loại video HAR ngắn  
2012 [18] và bộ dữ liệu Phoenix 2014 [19].  
vì nó không chỉ nắm bắt thông tin không gian một  
cách hoàn hảo mà còn tìm hiểu các đặc điểm tạm  
III. PHƯƠNG PHÁP ĐỀ XUẤT  
thời của các hoạt động cục bộ. Tuy nhiên, áp dụng  
Đề xuất của chúng tôi được mô tả trong Hình 1  
mô hình I3D trực tiếp vào bộ dữ liệu ngôn ngữ ký  
bao gồm 2 phần chính: mô hình I3D để trích rút đặc  
hiệu là không hiệu quả vì video ngôn ngữ ký hiệu  
trưng về mặt không gian và mô hình LSTM để trích  
chứa một số hành động phụ trong video thời lượng  
rút đặc trưng về mặt thời gian. Đầu vào là từng khung  
dài. Do đó, thay vì áp dụng I3D trực tiếp để nhận  
hình được lấy ra từ video, chúng tôi chia tập khung  
dạng ngôn ngữ ký hiệu, chúng tôi chia khung đầu  
hình thành các khối con. Sau đó với mỗi khối sẽ trở  
vào thành các khối phụ để lấy đầu vào cho lớp I3D.  
thành đầu vào của một mô đun I3D, số lượng mô  
Sau đó, đầu ra của lớp I3D được chuyển cho các lớp  
đun I3D bằng số lượng khối khung hình con. Trong  
LSTM để khai phá các đặc trưng toàn cục.  
bài báo này chúng tôi tối ưu số lượng các khối con  
đầu vào dựa trên kết quả thực nghiệm trên các bộ  
cơ sở dữ liệu. Độ dài của mỗi khối video con sẽ  
B. LSTM  
ảnh hưởng đến số lượng của các khối sau khi được  
LSTM là một trong những biến thể nổi tiếng nhất  
cắt nhỏ. Trong thực tế, nếu mô hình này được đưa của mô hình mạng thần kinh hồi quy ( Recurrent  
ra để nhận dạng hành động trong video nói chung Neural Network - RNN) để giải quyết vấn đề của  
thì sẽ cho độ hiệu quả không cao. Tuy nhiên với bài mô hình dữ liệu biến đổi theo thời gian. Ý tưởng  
toán nhận dạng ngôn ngữ ký hiệu, các hành động của chính chính của RNN là sử dụng trực tiếp thông tin  
người thực hiện ngôn ngữ ký hiệu là tập hợp của rất tuần tự. Mô hình RNN thực hiện cùng một nhiệm vụ  
nhiều hành động nhỏ của tay và cảm xúc trên khuôn cho mọi phần tử của chuỗi, với đầu ra phụ thuộc vào  
mặt, những hành động nhỏ này sẽ xuất hiện trong các tính toán trước đó. Ngoài ra, mô hình RNN có  
SOÁ 03 (CS.01) 2020  
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG  
117  
NHẬN DẠNG NGÔN NGỮ KÝ HIỆU TIẾNG VIỆT TRONG VIDEO BẰNG LSTM VÀ I3D ĐA KHỐI  
Hình 1. Sơ đồ khối phương pháp đề xuất.  
thể nắm bắt thứ tự dữ liệu chuỗi thời gian để dự đoán  
chính xác đầu ra. Tuy nhiên RNN gặp phải hai vấn  
1
sigmoid(x) =  
(1)  
(2)  
1 + e−x  
đề đó là vanishing gradient và exploding gradient.  
Vanishing gradient xảy ta khi sự đóng góp không  
đáng kể thông tin cho gradient của các bước thời gian  
xảy ra trước đó. Do đó mô hình càng sâu thì càng  
khó đào tạo. Exploding gradient xảy ra khi bùng nổ  
thông tin của các bước thời gian trước đó dẫn đến sự  
tích lũy gradient, dẫn đến cập nhật rất lớn cho trọng  
số của mô hình trong quá trình huấn luyện. LSTM là  
một trong những đề xuất được đưa ra để giải quyết  
các nhược điểm của RNN. Một tế bào LSTM được  
mổ tả trong Hình 2 bao gồm cổng đầu vào it cổng  
đầu ra ot, và cổng quên ft. Với thiết kế gồm 3 cổng  
như vậy LSTM có khả năng giải quyết vấn đề phụ  
thuộc dài hạn mà mô hình RNN không thể học được.  
Trong một bài viết, LSTM vượt trội hơn RNN trong  
vấn đề liên quna đến dữ liệu thay đổi theo chuỗi thời  
gian. Đạo hàm công thức cụ thể của LSTM được  
minh họa trong Công thức (1) - (11). Trong phương  
pháp đề xuất của chúng tôi, lớp LSTM được xếp  
chồng lên nhau sau các mô-đun I3D để tìm hiểu mối  
quan hệ giữa hành động phụ trong các video ngôn  
ngữ ký hiệu. Đầu ra của các tế bào LSTM là trạng  
thái của tế bào đó (ct) và trạng thái ẩn (ht). Đầu vào  
của các tế bào LSTM là trạng thái tế bào trước đó  
(ct−1), trạng thái ẩn trước đó (ht−1) và đầu vào của  
trạng thái thứ i (xt).  
e2x − 1  
e2x + 1  
tanh(x) =  
ft = sigmoid(Uf ∗ xt + Wf ∗ ht−1 + bf )  
(3)  
it = sigmoid(Ui ∗ xt + Wi ∗ ht−1 + bi) (4)  
ot = sigmoid(Uo ∗ xt + Wo ∗ ht−1 + bo)  
(5)  
ct = ft∗ct−1+it∗tanh(Uc∗xt+Wc∗ht−1+bc) (6)  
ht = ot ∗ tanh(ct)  
(7)  
Trong đó Uf , Ui, Uo, Uc lần lượt là các tham số  
đầu vào ; Wf , Wi, Wo, Wc lần lượt là các tham số  
hồi quy; bf , bi, bo, bc lần lượt là các tham số độ lệch;  
SOÁ 03 (CS.01) 2020  
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG  
118  
Vũ Hoài Nam, Hoàng Mậu Trung, Phạm Văn Cường  
Hình 2. Kiến trúc của LSTM.  
Hình 3. Phân bố mẫu huấn luyện.  
C. Chiến lược chia khối con.  
Đặc điểm khác biệt của phương pháp chúng tôi  
đề xuất là phương pháp phân chia khối con. Phương  
pháp này được bắt nguồn từ việc quan sát rằng mỗi  
ký tự trong ngôn ngữ ký hiệu được biểu diễn đã kết  
hợp một loạt các hành động con. Do đó việc phân  
đoạn video thành các đoạn nhỏ cho kết quả tốt hơn,  
khi mà, mô hình có khả năng tìm hiểu và mô hình  
hóa mối quan hệ giữa các hành động phụ với nhau.  
Do đó, chúng tôi chia đầu vào video thành các khối  
con kích thước bằng nhau. Sau đó, các khối con này  
là đầu vào của I3D và LSTM như trong Hình 1. Độ  
dài của khối con là một tham số quan trọng cần được  
chọn cẩn thận. Sự lựa chọn sai của tham số này có  
thể làm giảm đáng kể độ chính xác của phương pháp  
được đề xuất. Tuy nhiên, kích thước các khối con  
được cố định để áp dụng vào trong các trường hợp  
thức tế. Trong phần kết quả thử nghiệm, chúng tôi  
đã triển khai hệ thống với các độ dài khác nhau để  
có được độ dài tối ưu.  
Hình 4. Phân bố mẫu kiểm tra.  
thu thập dữ liệu này, người tham gia được yêu cầu  
thực hiện các cử chỉ ngôn ngữ ký hiệu trước máy thu  
hình. Bên cạnh đó, người tham gia được tự do mặc  
các loại quần áo khác nhau như trong Hình 5 . Mỗi  
D. VSLB-C: Bộ dữ liệu ngôn ngữ ký hiệu tiếng Việt  
ở mức độ ký tự  
Hệ thống bảng chữ cái tiếng Việt giống với hệ người tham gia được yêu cầu thực hiện đầy đủ 29 ký  
thống bảng chữ cái tiếng Anh hơn là bảng chữ cái tự trong bảng chữ cái ngôn ngữ ký hiệu tiếng Việt.  
như hệ thống ký hiệu của Trung Quốc, Nhật Bản và Mỗi người thực hiện được ghi lại nhiều lần với các  
Hàn Quốc. Tuy nhiên Tiếng Việt thậm chí còn phức góc và khoảng cách khác nhau từ người tham gia và  
tạp hơn tiếng Anh vì đặc điểm âm sắc của chúng bao máy thu hình. Kết quả là bộ dữ liệu này bao gồm tổng  
gồm sáu âm khác nhau và ba dấu phụ. Do đó, việc cộng 3248 video. Chúng tôi chia dữ liệu thành phần  
xây dựng bộ dữ liệu mới là cần thiết để nghiên cứu huẩn luyện và phần thử nghiệm. Tổng số video cho  
việc nhận dạng ngôn ngữ ký hiệu tiếng Việt trong mỗi phần được chi tiết trong Hình 3 và Hình 4. Tổng  
video. Trong bài báo này, chúng tôi đã thu thập một số video cho mỗi người tham gia trong phần huẩn  
bộ dữ liệu bao gồm tất cả chữ cái tiếng Việt trong từ luyện gần như bằng nhau. Trong khi tổng số video  
vựng ngôn ngữ ký hiệu tiếng Việt. Trong quy trình cho mỗi người tham gia trong phần thử nghiệm là  
SOÁ 03 (CS.01) 2020  
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG  
119  
NHẬN DẠNG NGÔN NGỮ KÝ HIỆU TIẾNG VIỆT TRONG VIDEO BẰNG LSTM VÀ I3D ĐA KHỐI  
Hình 5. Ảnh mẫu từ tập dữ liệu video.  
Bảng II  
khác nhau đáng kể. Chiến lược chia tách này làm  
cho quá trình huẩn luyện hiệu quả hơn nhưng đảm  
SỐ LƯỢNG TRỌNG SỐ HUẤN LUYỆN ĐƯỢC CỦA MÔ HÌNH ĐỀ  
XUẤT  
bảo tính khách quan của hệ thống. Các tham số huẩn  
Layer  
Output shape  
No. of param  
luyện của phương pháp đề xuất của chúng tôi được  
thể hiện trong Bảng I và Bảng II. Tổng số tham số có  
thể huấn luyện là khoảng 17 triệu. Để với quá trình  
huấn luyện hiệu quả, tỷ lệ học của chúng tôi được  
điều chỉnh ở số lượng epoch khác nhau. Trình tối  
ưu hóa của chúng tôi sử dụng là Stochastic Gradient  
Descent, trong khi hàm mất mát là cross entropy.  
Time distributed (None, 5, 1024) 13,344,144  
LSTM  
LSTM  
Dropout  
Dense  
(None, 5, 512)  
(None, 128)  
(None, 128)  
(None, 29)  
3,147,776  
328,192  
3,741  
Total Params: 16,823,853  
dần dần trong những epoch sau này. Nếu độ mất mát  
và độ chính xác không ổn định trong quá trình huấn  
luyện, điều này cho thấy không có dấu hiệu hội tụ,  
thì mô hình đề xuất không phù hợp với tập dữ liệu.  
Mô hình đề xuất của chúng tôi có xu hướng hội tụ  
đến giá trị tối ưu sau 20 epoch. Kết quả này cũng  
cho thấy mô hình hoạt động hiệu quả trên bộ dữ liệu  
kiểm tra và xác nhận hợp lệ. Quá trình huấn luyện  
của chúng tôi dừng lại sau 40 epoch.  
Bảng I  
CÁC THAM SỐ CỦA MÔ HÌNH ĐỀ XUẤT  
Parameters  
Value  
5 blocks x  
8 frames x  
224 x 224 x 3  
1024 dimensions  
29 classes  
40  
Notes  
Input shape  
RGB image  
Output I3D  
Output model  
Epoch  
Batch size  
16  
Learning rate  
Learning rate  
Learning rate  
Optimizer  
1e-2  
1e-3  
5*1e-4  
SGD  
Epoch <= 10  
10 < Epoch < 20  
Epoch >= 20  
Decay = 1e-6  
IV. KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM  
A. Đánh giá độ chính xác  
Loss function  
Cross entropy  
Đối với 29 ký tự, cách tiếp cận của chúng tôi phải  
phân loại các video đầu vào thành 29 nhãn khác  
Kết quả của quá trình huấn luyện được thể hiện nhau. Chúng tôi đánh giá các mô hình bằng cách  
trong Hình 6 và Hình 7. Giá trị mất mát và độ chính sử dụng độ đo F1, xem xét phân loại chính xác của  
xác của quá trình huấn luyện có xu hướng dao động từng lớp quan trọng như nhau. Chiến lược chia tách  
mạnh trong những epoch đầu tiên, sau đó ổn định theo khối được mô tả trong phần trước. Từ kết quả  
SOÁ 03 (CS.01) 2020  
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG  
120  
Vũ Hoài Nam, Hoàng Mậu Trung, Phạm Văn Cường  
thể đều có thể được phân loại chính xác, ngoại trừ  
một vài ký tự rất giống nhau trong biểu diễn ngôn  
ngữ ký hiệu như u và ô, m và n, l và đ.  
Bảng III  
KẾT QUẢ SO SÁNH  
Method  
Standard I3D  
F1 score  
89.2  
CNN1D+LSTM  
3DCNN  
87.6  
86.2  
Our proposed method  
92.3  
B. Thử nghiệm thực tế  
Trong thực nghiệm này, chúng tôi cũng tích hợp  
mô hình vào ứng dụng trong thế giới thực khi một  
cá nhân muốn giao tiếp với người câm điếc. Họ thực  
hiện các hoạt động ngôn ngữ ký hiệu trước một máy  
thu hình. Trong tiếng Việt, giống như các ngôn ngữ  
Latinh khác, một từ là sự kết hợp một tập hợp các  
ký tự. Từ quan điểm này, chúng tôi xây dựng một  
ứng dụng dựa trên web để người dùng nhập một loạt  
ký tự ngôn ngữ ký hiệu. Nếu người dùng muốn nói  
"tôi". họ sẽ nhập t, oo, i bằng tiếng Việt theo thứ tự  
(tôi). Các thí nghiệm cũng cho thấy hệ thống có thể  
hoạt động trong miền thời gian thực. Thời gian xử  
lý để xác định một ký tự riêng lẻ là khoảng 200 mili  
giây với cạc màn hình GTX 1070 TI .  
Hình 6. Biến đổi độ chính xác trong quá trình huấn luyện  
V. KẾT LUẬN  
Bằng cách so sánh độ chính xác của mô hình được  
đề xuất với I3D tiêu chuẩn, mô hình của chúng tôi  
cho kết quả cao hơn, nhưng độ phức tạp tính toán  
tương tự như I3D tiêu chuẩn. Để mô hình được triển  
khai trong thực tế, bộ sưu tập cơ sở dữ liệu cần thêm  
Hình 7. Biến đổi hàm mất mát trong quá trình huấn luyện  
trong Bảng III, chúng ta có thể thấy rằng phương một số ký tự n Unicode để mã hóa sáu âm và ba dấu  
pháp được đề xuất của chúng tôi đạt được chỉ số F1 phụ trong ngôn ngữ ký hiệu tiếng Việt. Nếu một ký  
cao hơn so với phương pháp cơ sở sử dụng mạng tự được đặt thành chuyển đổi câu là cần thiết, ký tự  
I3D tiêu chuẩn là phương pháp tốt nhất hiện tại và "khoảng trắng" cũng phải được thêm vào cơ sở dữ  
các phương pháp khác như CNN1D kết hợp LSTM liệu. Vào thời điểm đó, nhóm nghiên cứu của chúng  
và 3DCNN. Kết quả này có thể được giải thích bởi tôi sẽ tham khảo ý kiến các chuyên gia ngôn ngữ ký  
thực tế là mỗi hoạt động từ video đầu vào bao gồm hiệu của Việt Nam để liên kết hoạt động ngôn ngữ  
một vài hoạt động phụ. Do đó, mô hình của chúng ký hiệu liên quan đến kí hiệu "khoảng trắng". Mô  
tôi tìm ra được cơ chế phân chia theo khối hiệu quả hình đề xuất có thể được sử dụng để xây dựng một  
cho thấy hiệu suất tốt hơn. Do đó, điểm F1 cho việc từ điển cho cả cộng đồng người câm điếc và những  
sử dụng mạng I3D chỉ là 89,2% trong khi con số người khác. Một thử nghiệm thực nghiệm được tiến  
này cho phương pháp được đề xuất của chúng tôi đạt hành để xác minh phương pháp được đề xuất của  
92,3%. Ma trận sai số chi tiết của mô hình phân loại chúng tôi, dựa trên cơ sở dữ liệu VSLB-C. Kết quả  
được đề xuất được đưa ra trong Hình 8. Như được đánh giá đã chứng minh tính khả thi của việc nhận  
hiển thị trong ma trận sai số, hầu hết các ký tự cụ biết ngôn ngữ ký hiệu tiếng Việt. Công việc trong  
SOÁ 03 (CS.01) 2020  
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG  
121  
NHẬN DẠNG NGÔN NGỮ KÝ HIỆU TIẾNG VIỆT TRONG VIDEO BẰNG LSTM VÀ I3D ĐA KHỐI  
Hình 8. Ma trận sai số của phương pháp đề xuất.  
tương lai nên điều tra các mô hình phân cấp sâu để  
học tập hiệu quả hơn và xây dựng cơ sở dữ liệu ngôn  
ngữ ký hiệu dựa trên tiếng Việt để giao tiếp thuận  
tiện hơn giữa người câm điếc và người khác.  
[6] Praveen, Nikhita, Naveen Karanth, and M. S. Megha. "Sign  
language interpreter using a smart glove." In 2014 Interna-  
tional Conference on Advances in Electronics Computers  
and Communications, pp. 1-5. IEEE, 2014.  
[7] Dai, Qian, Jiahui Hou, Panlong Yang, Xiangyang Li, Fei  
Wang, and Xumiao Zhang. "The sound of silence: end-  
to-end sign language recognition using smartwatch." In  
Proceedings of the 23rd Annual International Conference  
on Mobile Computing and Networking, pp. 462-464. 2017.  
[8] Wu, Jian, Lu Sun, and Roozbeh Jafari. "A wearable system  
for recognizing American sign language in real-time using  
IMU and surface EMG sensors." IEEE journal of biomed-  
ical and health informatics 20, no. 5 (2016): 1281-1290.  
[9] Starner, Thad, Joshua Weaver, and Alex Pentland. "Real-  
time american sign language recognition using desk and  
wearable computer based video." IEEE Transactions on  
pattern analysis and machine intelligence 20, no. 12 (1998):  
1371-1375.  
[10] Zafrulla, Zahoor, Helene Brashear, Thad Starner, Harley  
Hamilton, and Peter Presti. "American sign language recog-  
nition with the kinect." In Proceedings of the 13th inter-  
national conference on multimodal interfaces, pp. 279-286.  
2011.  
[11] Thalange, Asha, and S. K. Dixit. "COHST and wavelet  
features based Static ASL numbers recognition." Procedia  
Computer Science 92 (2016): 455-460.  
LỜI CẢM ƠN  
Nghiên cứu này được tài trợ bởi chương trình học  
bổng trong nước của Quỹ đổi mới của tập đoàn  
VinGroup mã số: VINIF.2019.TS.41.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Carreira, Joao, and Andrew Zisserman. "Quo vadis, action  
recognition? a new model and the kinetics dataset." In  
proceedings of the IEEE Conference on Computer Vision  
and Pattern Recognition, pp. 6299-6308. 2017.  
[2] Hong, Jongkwang, Bora Cho, Yong Won Hong, and Hy-  
eran Byun. "Contextual Action Cues from Camera Sensor  
for Multi-Stream Action Recognition." Sensors 19, no. 6  
(2019): 1382.  
[3] Wang, Xianyuan, Zhenjiang Miao, Ruyi Zhang, and Shan-  
shan Hao. "I3D-LSTM: A New Model for Human Action  
Recognition." In IOP Conference Series: Materials Science  
and Engineering, vol. 569, no. 3, p. 032035. IOP Publish-  
ing, 2019.  
[12] Yang, Quan. "Chinese sign language recognition based on  
video sequence appearance modeling." In 2010 5th IEEE  
Conference on Industrial Electronics and Applications, pp.  
1537-1542. IEEE, 2010.  
[4] Gers, Felix A., Ju¨rgen Schmidhuber, and Fred Cummins.  
"Learning to forget: Continual prediction with LSTM."  
(1999): 850-855.  
[5] Das, Abhinandan, Lavish Yadav, Mayank Singhal, Raman  
Sachan, Hemang Goyal, Keshav Taparia, Raghav Gulati,  
Ankit Singh, and Gaurav Trivedi. "Smart glove for Sign  
Language communications." In 2016 International Confer-  
ence on Accessibility to Digital World (ICADW), pp. 27-  
31. IEEE, 2016.  
[13] Shin, Hyojoo, Woo Je Kim, and Kyoung-ae Jang. "Korean  
sign language recognition based on image and convolution  
neural network." In Proceedings of the 2nd International  
Conference on Image and Graphics Processing, pp. 52-55.  
2019.  
SOÁ 03 (CS.01) 2020  
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG  
122  
Vũ Hoài Nam, Hoàng Mậu Trung, Phạm Văn Cường  
[14] Vo, Anh H., Nhu TQ Nguyen, Ngan TB Nguyen, Van-Huy streams convolutional neural network (CNN) for the  
Pham, Ta Van Giap, and Bao T. Nguyen. "Video-Based  
Vietnamese Sign Language Recognition Using Local De-  
network for the temporal features. We evaluated the  
scriptors." In Asian Conference on Intelligent Information  
spatial features and long-short term memory (LSTM)  
framework with our acquired dataset including 29  
and Database Systems, pp. 680-693. Springer, Cham, 2019.  
Vietnamese alphabets, 5 tone marks, and a space  
symbol. The experiments achieved satisfactory re-  
sults of 95% F1 score which proves the feasibility  
and applicability of the proposed approach.  
Keywords: Vietnamese sign language, video recog-  
nition, deep learning  
[15] Vo, Anh H., Van-Huy Pham, and Bao T. Nguyen. "Deep  
Learning for Vietnamese Sign Language Recognition in  
Video Sequence."International Journal of Machine Learn-  
ing and Computing 9, no. 4 (2019).  
[16] Yang, Su, and Qing Zhu. "Continuous Chinese sign lan-  
guage recognition with CNN-LSTM." In Ninth Interna-  
tional Conference on Digital Image Processing (ICDIP  
2017), vol. 10420, p. 104200F. International Society for  
Optics and Photonics, 2017.  
[17] Koller, Oscar, Sepehr Zargaran, Hermann Ney, and Richard  
Bowden. "Deep sign: enabling robust statistical continuous  
sign language recognition via hybrid CNN-HMMs." Inter-  
national Journal of Computer Vision 126, no. 12 (2018):  
1311-1325.  
[18] Forster, Jens, Christoph Schmidt, Thomas Hoyoux, Oscar  
Koller, Uwe Zelle, Justus H. Piater, and Hermann Ney.  
"RWTH-PHOENIX-Weather: A Large Vocabulary Sign  
Language Recognition and Translation Corpus." In LREC,  
vol. 9, pp. 3785-3789. 2012.  
[19] Cihan Camgoz, Necati, Simon Hadfield, Oscar Koller,  
Hermann Ney, and Richard Bowden. "Neural sign language  
translation." In Proceedings of the IEEE Conference on  
Computer Vision and Pattern Recognition, pp. 7784-7793.  
2018.  
Vu Hoai Nam nhận bằng kỹ sư Điện tử  
Viễn thông tại Đại học Bách Khoa Hà Nội  
năm 2013 và bằng thạc sỹ Khoa học Máy  
tính tại Đại học Quốc gia Chonnam, Hàn  
Quốc năm 2015. Hiện tại, Thạc sỹ Nam  
đang là nghiên cứu sinh nghành Khoa học  
Máy tính tại Học viện Công nghệ Bưu  
chính Viễn thông. Từ năm 2016, thạc sỹ  
Nam là giảng viên bộ môn Khoa học máy  
tính, Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông. Hướng nghiên  
cưu của thạc sỹ Nam bao gồm xử lý ảnh UAV, học máy, và học  
sâu.  
[20] Szegedy, Christian, Wei Liu, Yangqing Jia, Pierre Ser-  
manet, Scott Reed, Dragomir Anguelov, Dumitru Er-  
han, Vincent Vanhoucke, and Andrew Rabinovich. "Going  
deeper with convolutions." In Proceedings of the IEEE  
conference on computer vision and pattern recognition, pp.  
1-9. 2015.  
Hoang Mau Trung là sinh viên đại học  
nghành Khoa học máy tính, Học viện  
Công nghệ Bưu chính Viễn thông. Hướng  
nghiên cứu chính của Trung là xử lý ảnh  
và học sâu.  
VIETNAMESE SIGN LANGUAGE  
RECOGNITION IN VIDEO BY  
MULTI-BLOCK I3D AND LSTM  
Abstract: Sign language is an irreplaceable means  
in the daily communication of the deaf-mute com-  
munity. Sign language is represented by the gesture  
of the upper body part. With the development of  
advanced technology, the Sign language recognition  
system has become an effective bridge between the  
deaf-mute community with the outside world. Viet-  
namese sign language recognition (VSLR) is a branch  
of sign language recognition used by the community  
of Vietnamese deaf-mute people. VSLR aims to  
correctly interpret the gestures in sign language into  
their corresponding text. In this paper, we propose  
a method for identifying sign language from videos  
based on deep learning framework. The proposed  
method includes two main parts which are two  
Pham Van Cuong là Phó giáo sư nghành  
Khoa học máy tính tại Học viện Công  
nghệ Bưu chính Viễn thông (PTIT). Trước  
khi tham gia giảng dạy tại Học viện, Phó  
giáo sư Cường là nghiên cứu viên chính  
tại trung tâm nghiên cứu phát triển của  
Philips tại Hà Lan. Phó giáo sư Cường  
nhận bằng cử nhân Khoa học máy tính tại  
Đại học Quốc gia Hà Nội năm 1998, và  
nhận bằng Thạc sỹ nghành Khoa học máy tính tại Đại học New  
Mexico, Mỹ năm 2005. Phó giáo sư Cường nhận bằng Tiến sỹ  
tại Đại học Newcastle, Anh năm 2012. Hướng nghiên cứu chính  
của Phó giáo sư Cường là tính toán khắp nơi, tính toán trên các  
thiết bị đeo dán, nhận dạng hoạt động người và học sâu.  
SOÁ 03 (CS.01) 2020  
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG  
123  
pdf 9 trang yennguyen 21940 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nhận dạng ngôn ngữ ký hiệu tiếng Việt trong video bằng LSTM và I3D đa khối", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnhan_dang_ngon_ngu_ky_hieu_tieng_viet_trong_video_bang_lstm.pdf