Nghiên cứu, đánh giá việc áp dụng loại hình bất động sản văn phòng kết hợp với lưu trú tại Việt Nam
KHOA H“C & C«NG NGHª
Bảng 2. Giải pháp cho ví dụ
Số tấm/Phần tử
Giải pháp với chi phí thuê Giải pháp với chi phí Giải pháp với chi phí
Kí hiệu
min cho 2 khu vực thi công thuê min cho khu A
thuê min cho khu B
[1]
[2]
X1
X2
X3
X4
X5
X6
[3]
0
[4]
0
[5]
0
Số lượng tấm tường rộng 0,3m
Số lượng tấm tường rộng 0,4m
Số lượng tấm tường rộng 0,45m
Số lượng tấm tường rộng 0,5m
Số lượng tấm tường rộng 0,75m
Số lượng tấm tường rộng 0,9m
0
4
2
0
0
0
5
3
4
9
7
2
36
36
40
Số lượng tấm tường phổ thông
rộng 0,9m
X7
1
0
1
0
0
0
Tổng chiều rộng của các chi tiết
điều chỉnh bằng gỗ
Số phần tử góc nhôm 0,3 x 0,3m
y1/z1/v1
0/0/0
1/1/1
0/0/0
1/1/0
0/0/0
0/0/1
Số phần tử góc nhôm 0,25 x 0,25m Y2/z2/v2
Tổng chi phí thuê (bộ)
1.305,25€
1.231,75€
1.192,50€
Thuật toán của vấn đề nghiên cứu được giải quyết bằng
phần mềm lập mô hình tối ưu hóa LINGO14.0 và cho kết
quả tại Bảng 2. Giải pháp trình bày thành phần của bộ VK có
chi phí thuê ít nhất cho công việc ở cả hai khu vực thi công,
với bảng điều khiển được sử dụng trước để tạo thành các
tấm tường trong khu vực A và sau đó được sử dụng lại trong
khu vực B. Ngoài ra, bảng điều khiển tối ưu được trình bày
cho khu A và khu B được xử lý riêng biệt, với chi phí thuê
tối thiểu. Cách bố trí VK tối ưu cho khu A và B thể hiện trong
Hình 1.
các phương án bố trí VK đứng để giảm chi phí thuê VK, như
đã phân tích trong bài báo này, có tính thực tiễn cao. Thị
trường đang thiếu các công cụ hỗ trợ tối ưu hóa lựa chọn
VK, trong khi phần lớn phần mềm hỗ trợ kế hoạch bố trí VK
hiện có được phát triển theo nhà cung cấp.
Bài báo có tính đến khả năng tái sử dụng VK và tối ưu
hóa các tấm VK để tạo thành các tấm tường cho tất cả các
khu vực thi công một tiềm năng giảm chi phí. Mô hình nghiên
cứu, được viết bằng các ngôn ngữ toán học, có tính đến các
yêu cầu cụ thể (tiêu chí, giới hạn) của vấn đề được đề cập.
Nó cung cấp một lược đồ cụ thể tạo điều kiện thuận lợi cho
việc mô hình hóa các vấn đề thực tế đã cho bằng cách xác
định các giá trị tham số thực.
Bảng 2 cho thấy chi phí VK cho các tấm tường của khu
vực B rẻ hơn khu vực A, mặc dù tổng chiều dài của các tấm
tường trong hai khu vực tương đương nhau.
Thuật toán của vấn đề nghiên cứu có ưu điểm cơ bản là
giảm công sức tính toán, nhưng phương pháp này cũng có
những nhược điểm nhất định, nhưng nếu kết cấu tầng phức
tạp hơn thì số lượng các công thức và biến số sẽ nhiều hơn,
lúc đó các thuật toán siêu mô phỏng, (ví dụ: thuật toán di
truyền hoặc tiến hóa, tìm kiếm tabu, ủ mô phỏng,…) mới có
thể giải quyết được vấn đề cần nghiên cứu.
Mô hình của bài toán chọn và bố trí VK tường đề xuất
trên đây, là tuyến tính, các biến số nguyên và nhị phân, có
thể được giải bằng cách sử dụng các bộ giải có sẵn thông
dụng. Hy vọng được phát triển thành một ứng dụng máy tính
độc lập - một hệ thống hỗ trợ quyết định lập kế hoạch chọn
và bố trí VK./.
Việc phát triển các siêu mô phỏng hiệu quả phù hợp với
vấn đề đã phân tích là lĩnh vực được các tác giả nghiên cứu
trong tương lai.
T¿i lièu tham khÀo
1. Hanna AS (2005) Concrete formwork systems. Marcel Dekker
Inc, New York.
4. Kết luận
2. American Concrete Institute Committee 347 (2014) Guide to
Formwork for Concrete (ACI 347R–14). American Concrete
Institute, Farmington Hills, MI.
Sự phát triển của hệ thống VK thi công bê tông tại chỗ
song song với sự phát triển của ngành XD, các hệ thống VK
khác nhau cho phép nhiều giải pháp thi công khác nhau để
phù hợp với kết cấu của từng công trình cụ thể. Việc thi công
kết cấu bê tông đúc tại chỗ, mặc dù có truyền thống lâu đời,
vẫn là một thách thức đối với người xây dựng, không chỉ về
mặt kỹ thuật, về vật liệu mà còn khả năng lựa chọn các giải
pháp VK phù hợp từ các doanh nghiệp.
3. Lee C, Ham S, Lee G (2009) The development of automatic
module for formwork layout using the BIM. Jeju, Korea.
4. Kannan MR, Santhi MH (2013) Automated construction layout
and simulation of concrete formwork systems using building
information modeling. National University of Singapore,
Singapore.
Do chi phí VK của các công trình bê tông đúc tại chỗ
chiếm tỷ trọng cao trong chi phí thi công, vấn đề tối ưu hóa
T„P CHŠ KHOA H“C KI¦N TR”C - XŸY D¼NG
88
Nghiên cứu, đánh giá việc áp dụng loại hình
bất động sản văn phòng kết hợp với lưu trú tạiViệt Nam
Research, assessment of application of officetel in Vietnam
Nguyễn Hải Quang
1. Đặt vấn đề
Tóm tắt
“Officetel” là một từ tiếng anh được kết hợp giữa hai từ tiếng anh “Office” và
“Hotel”. “Office” nghĩa là văn phòng làm việc và từ “Hotel” nghĩa là nơi lưu trú qua
Tài liệu này giới thiệu các kết quả nghiên
cứu, đánh giá việc áp dụng loại hình bất
đêm. Ở Việt Nam chưa có khái niệm chính thức về Officetel, nhưng có thể tạm dịch
động sản Văn phòng kết hợp với lưu trú
là văn phòng kết hợp với lưu trú (VPKHLT).
(VPKHLT) trên thế giới và đề xuất áp dụng
tại Việt Nam, nhằm góp phần phát triển
bất động sản bền vững và lành mạnh.
Từ khóa: Bất động sản, Văn phòng kết hợp với
Trên thế giới VPKHLT được bố trí thành các căn riêng biệt tương tự như các căn
hộ trong nhà chung cư nhưng có thêm tính năng sử dụng làm văn phòng làm việc.
VPKHLTthường được thiết kế và sử dụng nằm trong nhà chung cư hỗn hợp hoặc
độc lập, có các trang thiết bị cần thiết phục vụ cho một hay nhiều cá nhân làm việc
lưu trú
văn phòng và kết hợp với lưu trú qua đêm.
VPKHLTcó ưu điểm nổi bật là tiết kiệm chi phí thuê mặt bằng và các chi phí khác
trong quá trình vận hành, thích hợp với những người bận rộn, có thể sử dụng đây là
nơi làm việc và dùng để nghỉ qua đêm luôn tại văn phòng. Loại hình này chủ yếu tập
trung tại các thành phố lớn, đông dân cư, điều kiện kinh tế xã hội phát triển.
Abstract
The paper introduces results and assessments
in application of officetel in the world in order
to give recommendation to apply them for
developing sustainable and healthy real estate
Tại Hàn Quốc [1] VPKHLT có nguồn gốc từ văn phòng. Họ giữ lại nhiều đặc điểm
của các tòa nhà văn phòng, như mô hình phân phối, kỹ thuật xây dựng, thiết kế mặt
tiền và vật liệu. Các dự án gần đây phát triển theo hướng hoàn toàn cho chức năng
ở, nhưng thiết kế của VPKHLT và việc sử dụng thực tế của nó vẫn khá linh hoạt.
market in Vietnam.
Key words: officetel
VPKHLT có những ưu điểm là vậy nhưng hệ thống pháp luật điều chỉnh thị trường
bất động sản ở nước ta còn một số nội dung chưa đáp ứng nhu cầu thực tiễn, chưa
được bổ sung, sửa đổi kịp thời. Do đó khi áp dụng có thể có không ít những nhược
điểm là có nguy cơ “biến tướng” thành các căn hộ chung cư, làm tăng chỉ tiêu dân số
so với quy hoạch được phê duyệt và áp lực lên hạ tầng xã hội, nhưng chưa có giải
pháp quản lý. Tính chất phức tạp do phải kết hợp giữa chức năng văn phòng làm
việc và lưu trú. Xuất hiện những bất cập trong quá trình vận hành, khai thác sử dụng.
Chưa có tiêu chuẩn thiết kế riêng cho loại hình này vv.
Theo chỉ thị của Thủ tướng chính phủ số 11/CT-TTg, ngày 23 tháng 4 năm 2019
về một số giải pháp thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển ổn định, lành mạnh.
Trong đó, Thủ tướng chỉ đạo Bộ Xây dựng ban hành sửa đổi, bổ sung quy chuẩn,
tiêu chuẩn xây dựng đối với các loại hình nhà ở chung cư, công trình căn hộ du
lịch (condotel), biệt thự du lịch (resort villa), văn phòng kết hợp lưu trú ngắn hạn
(officetel).
Qua các lý do trên cho thấy loại hình bất động sản văn phòng kết hợp với lưu trú
cần được nghiên cứu về mặt cơ chế chính sách và cách quản lý nhằm mục đích cho
thị trường bất động sản phát triển lành mạnh và ổn định tại Việt Nam.
2. Một số loại hình bất động sản ở Việt Nam
VPKHLT là một loại hình bất động sản chưa có khái niệm rõ ràng ở Việt Nam,
chưa có trong hệ thống văn bản pháp quy, nó được đánh giá như “con lai vô thừa
nhận”. Theo quy định hiện hành, các công trình dân dụng được phân loại như sau.
Công trình dân dụng được chia thành các loại: Nhà ở; Công trình giáo dục; Công
trình y tế; công trình thể thao; Trợ; Nhà ga; Trụ sở cơ quan nhà nước, tổ chức chính
trị, tổ chức chính trị - xã hội.
TS. Nguyễn Hải Quang
Nhà ở là công trình xây dựng với mục đích để ở và phục vụ các nhu cầu sinh
hoạt của hộ gia đình, cá nhân, nhà ở có hai loại: Nhà ở riêng lẻ và nhà ở chung cư.
Khoa Xây dựng, Đại học Điện lực
ĐT: 0915077896
Email: quangnh@epu.edu.vn
Nhà chung cư là nhà có từ 2 tầng trở lên, có nhiều căn hộ, có lối đi, cầu thang
chung, có phần sở hữu riêng, phần sở hữu chung và hệ thống công trình hạ tầng sử
dụng chung cho các hộ gia đình, cá nhân, tổ chức.
Trong những năm gần đây, nhà chung cư phát triển mạnh mẽ ở các khu đô thị
Ngày nhận bài: 24/2/2021
Ngày sửa bài: 22/3/2021
Ngày duyệt đăng: 23/3/2021
lớn như ở Thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Nhà chung cư đang được phát
triển thành các loại nhà: Nhà ở thương mại; Nhà ở công vụ; Nhà ở để phục vụ tái
định cư; Nhà ở xã hội.
S¬ 40 - 2021
89
KHOA H“C & C«NG NGHª
Nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê là nhà ở có khu
vực được bố trí trang thiết bị, tiện nghi cho khách du lịch thuê
lưu trú; khách cùng sinh hoạt với gia đình chủ nhà.
Các loại công trình ngay từ đầu khi thiết kế đã được xác
định sẵn, Chủ sở hữu và đơn vị sử dụng không được phép
thay đổi công năng sử dụng các công trình của mình.
Như nói ở trên “con lai vô thừa nhận” này đã hình thành
và phát triển, nhưng vì đang là “con lai vô thừa nhận” nên
tồn tại không ít khó khăn trong việc quản lý vận hành. Đơn
cử, về quyền sở hữu, không có cơ quan nào có thể cấp giấy
chứng nhận quyền sở hữu cho Chủ sở hữu với tư cách nó
là VPKHLT. Từ quyền sở hữu như vậy thì việc chủ sở hữu
chưa được pháp luật thừa nhận nên không thể thế chấp ở
ngân hàng để vay vốn. Vấn đề quản lý vận hành cho tòa nhà
cũng gặp không ít khó khăn.
Hꢀnh 1. Không gian văn phòng
3. Những vấn đề về Văn phòng kết hợp với lưu trú hiện
nay
Nhà ở thương mại là nhà ở được đầu tư xây dựng để
bán, cho thuê, cho thuê mua theo cơ chế thị trường.
Trên thế giới, loại hình Văn phòng kết hợp lưu trú đầu
tiên xuất hiện ở quận Mapo, thành phố Seoul, Hàn Quốc do
Tập đoàn Hợp tác Phát triển Hàn Quốc xây dựng vào năm
1980, sau đó phát triển sang các nước phương Tây. Vào
thời điểm đó, Mapo được coi là thủ phủ của nền công nghiệp
âm nhạc tại Hàn Quốc với nhiều xưởng sản xuất (studio)
nhỏ. Đồng thời nơi đây cũng tập trung nhiều trường đại học,
những tòa cao ốc của các tập đoàn và văn phòng Chính phủ.
Đối với các loại nhà ở thương mại, thường các chủ đầu
tư thiết kết chủ yếu là các căn hộ chung cư và kết hợp có
thể có một số tầng được thiết kế để sử dụng làm văn phòng
làm việc. Nhưng ở đây không có sự xen kẽ, lẫn lộn giữa văn
phòng làm việc với căn hộ chung cư. Nghĩa là trong căn hộ
chung cư không có kết hợp làm văn phòng và ngược lại.
Đối với các loại nhà ở khác chủ yếu được thiết kế thuần
túy là nhà để ở.
Về tính pháp lý, kể từ khi khái niệm đầu tiên ra đời, việc
sử dụng văn phòng như nhà ở là bất hợp pháp. Năm 1988,
pháp luật đã quy định mô hình này bằng khái niệm hàng hóa
nhà ở được ban hành. Đến nay, văn phòng kết hợp với lưu
trú vẫn còn bị coi là “thiết bị làm việc” với nhà ở phụ trợ. Quy
định ban đầu khá hạn chế như giới hạn không gian làm việc
không vượt quá 70% và phòng tắm không quá 1,5m2. Quy
định này đã được nới lỏng hơn vào năm 1995, mở đường
cho việc phát triển số lượng văn phòng được sử dụng làm
nhà ở tại Hàn Quốc đã tăng từ 3.658 căn (năm 1995) lên
232.911 căn (năm 2010). Các quy định về văn phòng kết hợp
với lưu trú thay đổi nhiều lần.
Trong ngành du lịch có một số loại hình lưu trú như sau:
Khách sạn; Biệt thự du lịch; Căn hộ du lịch; Tàu thủy lưu trú
du lịch; Nhà nghỉ du lịch; Nhà ở có phòng cho khách du lịch
thuê; Bãi cắm trại du lịch.
Khách sạn là cơ sở lưu trú du lịch bảo đảm chất lượng
về cơ sở vật chất, trang thiết bị và dịch vụ cần thiết phục vụ
khách du lịch; bao gồm: Khách sạn nghỉ dưỡng, khách sạn
bên đường, khách sạn nổi và khách sạn thành phố.
Biệt thự du lịch là biệt thự có trang thiết bị, tiện nghi cho
khách du lịch thuê và có thể tự phục vụ trong thời gian lưu
trú.
Văn phòng kết hợp với lưu trú lần đầu tiên ra mắt tại Hàn
Quốc vào những năm 1980 nhưng nó chỉ thực sự trở nên
phổ biến trong năm 1990 và 2000. Khi mô hình này bắt đầu
hình thành, nó được coi là bất hợp pháp tại Hàn Quốc vì khái
niệm văn phòng nhưng lại có thể ở được khiến khó quản lý
nhân khẩu. Tuy nhiên, khi nền kinh tế ở Hàn Quốc khó khăn
trong cuối năm 1990 thì chính phủ đã cấp phép cho mô hình
văn phòng kết hợp với lưu trú được hoạt động để thúc đẩy
nền kinh tế. Trong nhiều năm như Luật năm 1998 cho phép
Căn hộ du lịch là căn hộ có trang thiết bị, dịch vụ cần thiết
phục vụ khách du lịch. Khách có thể tự phục vụ trong thời
gian lưu trú.
Tàu thủy lưu trú du lịch là phương tiện vận tải thủy có
phòng ngủ phục vụ nhu cầu lưu trú của khách du lịch.
Nhà nghỉ du lịch là cơ sở lưu trú có trang thiết bị, tiện nghi
cần thiết phục vụ khách du lịch.
Bảng 1. Thống kê một số công trꢀnh Văn phòng kết hợp lưu trú.
Vị trí
Tòa nhà
Diện tích (m2)
20 - 34
Số căn hộ
160
Sindaebang-dong, phố Dongjak,
Seoul
Hyosung
Magok, phố Gangseo, Seoul
Angang E&C, Huyndai
Engineering
20 - 38
972
Gwanggyo New Town, Gyeonggi
Posco E&C
48- 182
35 - 83
647
145
Sindaebang-dong, phố Dong,
deagu, phía bắc Gyeongsang
Shinsegea E&C
Heaedo-dong, Pohang, phía bắc
Gyeongsang
SH Development
26 - 39
28 - 59
286
469
Gimcheon, innovation City, phía
bắc Gyeongsang
Hwangsung Industrial
T„P CHŠ KHOA H“C KI¦N TR”C - XŸY D¼NG
90
phát triển nhà ở nhỏ tại các trung tâm thành phố, luật năm 2004 hạn
chế hơn nhằm ngăn chặn sự lạm dụng khái niệm VPKHLT làm mục
đích khác, sau đó dần dần được hoàn thiện phù hợp hơn.
Tuy nhiên, những quy định này cũng có giới hạn nhất định. Ví dụ
như các thiết bị vệ sinh vẫn có thể được lắp đặt sau khi hoàn thành
công trình miễn là có hệ thống thoát nước thích hợp.
Năm 2010 quy định về thiết kế văn phòng kết hợp với lưu trú
có những thay đổi như sau: Không bố trí ban công;Đối với một tòa
nhà cao tầng có diện tích hơn 3.000m2 cần hiển thị các mục đích
sử dụng khác nhau, phải cung cấp lối tiếp cận riêng cho từng chức
năng; Hệ thống sưởi sàn giới hạn ở 85m2;Nếu tòa nhà vượt quá 16
tầng, khoảng cách từ mỗi không gian chung đến cầu thang không
được vượt quá 40m.
Từ đó, nhận thấy sự biến mất dần của khái niệm mơ hồ về
không gian dành riêng cho công việc, điều này thực sự tác động đến
việc sử dụng nhà ở của tòa nhà. Kết quả là, một văn phòng kết hợp
với lưu trú nguyên bản là một nhóm nhà ở hoặc một tổ hợp các khối
đa mục đích hiếm khi vượt quá 85m2, thiếu ban công và được bố trí
dọc theo hành lang nay đang được phát triển.
Văn phòng kết hợp với lưu trú có diện tích trung bình từ 25m2 –
50m2, hoặc có thể rồng hơn để phù hợp với nhu cầu của nhiều đối
tượng khách hàng khác nhau, đặc biệt là những doanh nhân và chủ
doanh nghiệp nhỏ mới thành lập theo xu thế khởi nghiệp.
Đặc điểm dễ thấy và ấn tượng nhất đối với văn phòng đó là sự
thông minh trong bố trí nội thất.
a, Tòa Songji apateu - Seoul Mapo-gu 1984
Qua quá trình khảo sát, thu thập các số liệu cho thấy một số
công trình toàn bộ là VPKHLT tại Hàn Quốc như sau [2].
Đến nay, loại hình VPKHLT đã phát triển mạnh mẽ ở nhiều quốc
gia như: Mỹ, Anh, Singapore, Nhật Bản, Ấn Độ, Canada,… Tuy
nhiên, về diện tích trung bình của những văn phòng đa chức năng
này tại các quốc gia có sự khác biệt rõ rệt.
Tại Việt Nam, mới vài năm trở lại đây mô hình VPKHLT phát
triển rầm rộ, đặc biệt tại những khu vực được biết đến với mật độ
văn phòng dày đặc, những khu vực có dự địa phát triển như khu
Đông, Tây và Nam của thành phố.
Phát triển nóng ở khu Đông và Nam thành phố Hồ Chí Minh,
phần đông những văn phòng có đặt tại quận 2 và quận 7.
Nhiều nhà đầu tư cũng cho hay, lựa chọn an toàn và có nhiều
“cửa sáng” nhất vẫn là khu vực phía Đông và Nam thành phố. Đối
với dự án nhà kết hợp văn phòng, khu Thủ Thiêm sẽ trở thành trung
tâm cả chính trị lẫn kinh tế nên chọn lựa ở đây là hợp lý.
Với lý do đó, hiện nay có rất nhiều dự án đang ùn ùn mọc lên
theo hai hướng Đông và Nam của thành phố Hồ Chí Minh. Khu
Đông được Chính phủ quy hoạch để trở thành trung tâm hành chính
tương lai của thành phố. Đây cũng là khu vực được trú trọng đầu
tư mạnh như tuyến Metro Bến Thành - Suối Tiên, đại lộ Phạm Văn
Đồng, hầm Thủ Thiêm, xa Lộ Hà Nội, cầu Sài Gòn…
Sở hữu kết cấu hạ tầng tốt, lại có vị trí thuận lợi, các dự án tại
trục phía Đông thường có mức gia tăng lợi nhuận khá ổn định và
khả quan; vì vậy thường có mức hấp thụ rất tốt. Như ghi nhận tại
công trình Lexington Residence ở quận 2 của Novaland ngay mặt
tiền đại lộ Mai Chí Thọ, tuy toàn bộ các căn VPKHLThiện đã được
lấp đầy nhưng nhu cầu từ phía các nhà đầu tư vẫn còn rất nhiều.
b, Center Plaza – Seoul Gangnam -gu 1990
Hꢀnh 2. Công trꢀnh Văn phòng kết hợp lưu trú
4. Đánh giá thực trạng áp dụng tại Việt Nam
và thủ đô Hà Nội, với diện tích phổ biến từ 25m2 đến
50m2.Tổng giá trị mỗi căn VPKHLT thường thấp hơn
so với một căn hộ để ở thông thường. Đây cũng là
một yếu tố giúp VPKHLT cạnh tranh tốt so với sản
phẩm căn hộ thông thường.
Mô hình VPKHLT đang được đánh giá là phù hợp trào lưu khởi
nghiệp với những doanh nghiệp có quy mô nhỏ và siêu nhỏ. Văn
phòng kết hợp với lưu trú là mô hình văn phòng đa năng rất phổ biết
tại các quốc gia phát triển, có thể sử dụng làm văn phòng làm việc
vừa có thể cư trú qua đêm. Tuy nhiên tại Việt Nam mô hình này chỉ
mới phát triển trong vài năm gần đây tại những dự án bất động sản
nằm ở khu vực trung tâm các đô thị lớn như thành phố Hồ Chí Minh
Qua các khảo sát cho thấy một số dự án có
VPKHLT tại Việt Nam được thể hiện trong bảng 3.
S¬ 40 - 2021
91
KHOA H“C & C«NG NGHª
Qua khảo sát tổng số 9495 căn hộ
văn phòng kết hợp với lưu trú của 13 dự
án thì có được bảng tổng hợp dưới đây
ở bảng 4.
Bảng 2. Đánh giá diện tích, cơ cấu loại căn hộ văn phòng kết hợp lưu
trú
Studio Căn hộ 1 phòng Căn hộ 2 phòng Căn hộ 3 phòng
Diện tích (m2)
10 - 70
45
30
80
10
100
2-3
Qua bảng tổng hợp thấy rằng số căn
hộ có một phòng chiếm đa số chiếm
52,2 %, tiếp đến là căn hộ có 2 phòng,
số căn hộ có trên 3 phòng chiếm tỷ lệ
ít nhất.
Tỷ lệ cơ cấu (%) 50 - 70
Bảng 3. Các dự án có Văn phòng kết hợp với lưu trú tại Việt Nam
Tỉnh/TP Tên dự án
Theo khảo sát, loại hình VPKHLT
này rất thu hút nhà đầu tư, phát triển
mạnh trong một vài năm trở lại đây ở
thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội. Tuy
nhiên, không phải dự án căn hộ nào
cũng phù hợp để phát triển VPKHLT,
chỉ những dự án có vị trí tốt, gần trung
tâm, khu kinh doanh và thuận lợi về
giao thông. Trên thị trường cho thuê,
VPKHLT có lợi thế về diện tích căn nhỏ
hơn căn hộ. Bên cạnh đó, phí dịch vụ và
phí quản lý của VPKHLT thấp hơn trong
các tòa nhà văn phòng. Những yếu tố
này đáp ứng nhu cầu của khách hàng
mục tiêu là các công ty mới thành lập và
khách thuê có ngân sách hạn chế hoặc
muốn tiết giảm tối đa chi phí như những
công ty nước ngoài cần nghiên cứu thị
Hà Nội Vinhomes west Point –Phạm Hùng/Đỗ Đức Dục (tòa W1 có 39 tầng)
D’capitale – Trần Duy Hưng (tòa C2 có 45 tầng- tách khối)
Vinhomes Green Bay Mễ Trì (Tòa G3 có 40 tầng_Hợp khối)
HongKong Tower – 243 La Thành – Đống Đa (Tháp B có 23 tầng)
Vinhomes Giảng Võ (tổ hợp 10 công trình có 2 tòa VPKHLT)
Officetel Ecolife – Tố Hữu (tòa A3 có 33 tầng)
Officetel The Lotus Center- khu đô thị Ciputra
Sài Gòn Sunshine City Sài Gòn Tòa S1
Officetel Orchard Parkview
Officetel Saigon Royal
Officetel căn hộ Galaxy 9
Officetel dự án River Gate
Ưu điểm thứ tư là vị trí trung tâm, các văn phòng này
trường trước khi quyết định đầu tư lâu dài tại Việt Nam.
thường được đặt tại những vị trí đắc địa, tại khu trung tâm,
thuận tiện di chuyển và kết nối giao thông linh hoạt, phục vụ
mọi nhu cầu giao thương làm việc, thuận tiện nhân viên đi
lại, hay dễ dàng tiếp cận đối tác, khách hàng.
Ngoài những căn hộ hoặc tòa nhà đã được chủ đầu tư
thiết kế theo loại hình VPKHLT thì tồn tại không ít các căn hộ
trong nhà chung cư được chủ đầu tư thiết kế thuần túy là căn
hộ để ở nhưng đã được người dân sử dụng làm văn phòng,
chính điều này đã gây ra không ít kho khăn trong việc quản
lý vận hành tòa nhà.
Ngoài những ưu điểm ở trên thì người mua hoặc thuê
căn hộ VPKHLT này phải chịu rủi ro tiềm ấn rất lớn đó là
loại hình bất động sản này chưa được pháp luật công nhận
là hợp pháp. Vì thế, người chủ sở hữu không thể có giấy tờ
hợp pháp về nó, không thể đăng ký thường trú hay tạm trú
ở căn hộ đó, không thể danh chính ngôn thuận đó là nơi làm
việc và ký kết hợp đồng.
Mặc dù chưa được pháp luật công nhận chính thức
nhưng khi thuê hoặc mua một căn hộ VPKHLT vẫn có được
một số ưu điểm sau.
Ưu điểm thứ nhất là tiết kiệm chi phí. Sở hữu một căn hộ
VPKHLT, chủ sở hữu được hưởng công năng 2 trong 1 và tối
ưu chi phí. Diện tích văn phòng văn phòng kết hợp thường
khá nhỏ nên mức giá sẽ thấp hơn, cắt giảm nhiều chi phí
vận hành không gian làm việc cho các các doanh nghiệp
mới khởi nghiệp.
Như vậy, mặc dù chưa được pháp luật thừa nhận nhưng
sự tồn tại và phát triển của VPKHLT đã nói lên sự cần thiết
và phù hợp với nhu cầu của cuộc sống. Vì vậy, cần phải
nghiên cứu để đưa ra giải pháp nhằm cho loại hình bất động
sản này phát triển lành mạnh ở Việt Nam. Một số đề xuất
như sau:
Ưu điểm thứ hai là không gian sang trọng, Các văn
phòng này tại Hà Nội được thiết kế hiện đại và thông minh,
mang đến một nơi làm việc chuyên nghiệp và tiện nghi. Hơn
thế với thiết kế có lối vào và sảnh thang máy riêng, tách biệt
với khu dân cư đảm bảo sự yên tĩnh và riêng tư để làm việc.
Cần phải có quy hoạch những khu vực nào trong thành
phố cho phép xây dựng văn phòng kết hợp với lưu trú;
Cần công nhận VPKHLT như là một loại hình bất động
sản hợp pháp và được cấp giấy Quyền sử dụng đất và tài
sản gắn liền với đất như căn hộ chung cư; thời gian sở hữu
căn hộ tương đương với thời gian sở hữu căn hộ chung cư
để ở. Chủ sở hữu căn hộ VPKHLT có quyền định đoạt tài
sản của mình.
Ưu điểm thứ ba là tiện ích phong phú, các tòa nhà này
tại Hà Nội sẵn có nhiều tiện ích như sảnh lễ tân, thang máy
riêng, an ninh 24/7, camera giám sát. Hơn thế, khách hàng
lại được thừa hưởng chuỗi tiện ích đa dạng của khu dân cư
và tòa nhà nên càng thuận lợi cho mọi nhu cầu làm việc và
giải trí.
Chủ sở hữu căn hộ VPKHLT được phép đăng ký kinh
doanh, lập văn phòng giao dịch, hoạt động tại địa chỉ căn hộ
Bảng 4. Tỷ lệ cơ cấu các loại căn hộ Văn phòng kết hợp với lưu trú
1 phòng ngủ
25 - 59
5052
1,5 phòng ngủ
51 - 56
315
2 phòng ngủ
48 - 110
3479
3 phòng ngủ
> 3 phòng ngủ
Diện tích (m2)
Tổng số căn
Tỷ lệ (%)
70 - 131
> 137
74
575
6
52,2
3,3
36,6
0,8
(xem tiếp trang 96)
T„P CHŠ KHOA H“C KI¦N TR”C - XŸY D¼NG
92
Đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy học phần
cấu tạo kiến trúc trong chương đào tạo kiến trúc sư
Innovating content and teaching methods for the subject of architectural details
in the architect training program
Trần Hùng Sơn
1. Đặt vấn đề
Tóm tắt
Cấu tạo kiến trúc là môn học quan trọng nằm trong hệ thống
nguyên lý chuyên môn cơ bản của chương trình đào tạo kiến
Cấu tạo kiến trúc là môn học quan trọng nằm trong hệ thống
nguyên lý chuyên môn cơ bản của chương trình đào tạo kiến trúc
trúc sư. Trước đây, học phần Cấu tạo kiến trúc (hay còn gọi là
sư. Nó luôn theo sát các sinh viên trong từng đồ án môn học và
Nguyên lý cấu tạo kiến trúc) được giảng dạy trường Đại học
cả thực tế hành nghề sau khi ra trường.
Kiến trúc Hà Nội với thời lượng khá dài - 120 tiết, nội dung chia
Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thiết kế- xây dựng và
xã hội thông tin, cùng với những tiêu chí của chuẩn đầu ra và xu
hướng đào tạo hướng tới mô hình đào tạo theo CDIO, nội dung
và phương thức giảng dạy và học tập của môn học hiện nay đã có
những bất cập, cho thấy xu hướng cần phải đổi mới.
Nắm bắt xu hướng đó, việc nhìn nhận và xới lên các vấn đề cần
quan tâm để tạo tiền đề cho việc điều chỉnh nội dung và phương
thức giảng dạy và học tập học phần cấu tạo kiến trúc trong đào
tạo kiến trúc sư là điều cần được tìm hiểu, nghiên cứu, đề cập tới.
rõ hai phần là cấu tạo kiến trúc nhà dân dụng và cấu tạo kiến trúc
nhà công nghiệp. Phương pháp giảng dạy theo các chương,
tuần tự từ móng đến mái và phần hoàn thiện. Tài liệu giảng dạy
chỉ có cuốn cấu tạo kiến trúc của Bộ Xây dựng với hầu hết là
hình vẽ kỹ thuật ứng dụng chứ không phải là giáo trình. Giáo
viên- hay giảng viên vẽ trên bảng rất kỹ, sinh viên vẽ và chép
vào vở.
Đến 1986, cuốn “Nguyên lý cấu tạo kiến trúc nhà dân dụng”
do thầy Phan Tấn Hài chủ biên được xuất bản, nhưng việc áp
dụng vào làm tài liệu học tập mới đầu còn hạn chế, phải đến đầu
những năm 90 sinh viên mới được tiếp cận rộng rãi với tài liệu
này. Từ đây thì nhiều cuốn sách về cấu tạo kiến trúc dần tiếp tục
được xuất bản, như cuốn “Cấu tạo kiến trúc nhà dân dụng” do
Gs.Ts.Kts Nguyễn Đức Thiềm làm chủ biên, “Cấu tạo kiến trúc”
của bộ môn Cấu tạo và trang thiết bị công trình- khoa Kiến trúc-
Đại học Kiến trúc Hà Nội, do Ts.Kts Phạm Việt Anh và Pgs.Ts.Kts
Nguyễn Khắc Sinh chủ biên… đã bổ sung thêm được những
nguồn tham khảo phong phú cho việc dạy và học.
Từ khóa: Cấu tạo kiến trúc, chuyên môn hoá, phương pháp tiếp cận, CDIO
Abstract
Architectural details is an important subject in the system of basic
professional principles of the architect training program. It always closely
follows the students in each subject project and practical practice after
graduation.
With the strong development of design-construction technology and
information society, along with the standards of output standards and
training trends towards CDIO training model, content and teaching
methods and the current subject’s learning has shortcomings, showing a
trend that needs to be renovated.
Grasping that trend, recognizing and unraveling issues that need
attention to create a premise for adjusting the content and teaching and
learning methods of architectural details in architects’training is what
need to be explored, studied, mentioned.
Qua nhiều lần thay đổi, học phần Cấu tạo kiến trúc dần được
rút thời lượng xuống còn 90 tiết, 60 tiết và hiện tại đang là 45 tiết
(3 tín chỉ), được giảng dạy ở đầu học kỳ 3 của chương trình đào
tạo. Nội dung chuyển tải của môn học tập trung hơn ở những
nguyên lý cơ bản và gần với công nghệ xây dựng hiện tại hơn là
việc cụ thể hoá những chi tiết (những thứ khá cũ và ít dùng đến).
Trong mỗi học phần Thiết kế kiến trúc, kiến thức về cấu tạo
kiến trúc đều được lồng ghép qua việc triển khai chi tiết cấu tạo.
Đây là một phương thức mang đến sự thực hành, trải nghiệm cụ
thể, có địa chỉ và hướng tới sáng tạo.
Key words: Architectural structure, specialization, approach, CDIO
Thêm nữa, nhờ có sự phát triển của công nghệ thông tin và
sự dồi dào của kho học liệu trên mạng internet mà sự tiếp cận
kiến thức của thầy và trò được đa dạng, đa chiều và cập nhật
hơn.
Thực tế giảng dạy và học tập học phần cấu tạo kiến trúc
trong chương trình đào tạo kiến trúc sư ở trường Đại học Kiến
trúc Hà Nội đã và đang đạt những kết quả khả quan, được minh
chứng bằng năng lực của các sinh viên sau khi ra trường được
trải nghiệm và va chạm với thực tế đã nâng cấp kiến thức và
kỹ năng tích luỹ được trong trường để cho ra những thiết kế
công trình được sự công nhận của xã hội. Tuy nhiên, trong bối
cảnh luôn biến đổi và phát triển của nhu cầu xã hội, công nghệ
thiết kế- xây dựng và môi trường hành nghề… nên đã xuất hiện
những bất cập trong giảng dạy và học tập.
Ths. Trần Hùng Sơn
Bộ môn Công nghệ kiến trúc, Khoa Kiến trúc
ĐT: 0776319855
Email: sonth@hau.edu.vn
Ngày nhận bài: 02/7/2020
Ngày sửa bài: 29/7/2020
Ngày duyệt đăng: 10/2/2021
Do thời lượng của môn học rút lại nên không tránh khỏi việc
công thức hoá, tính biệt lập thiếu móc xích và quan hệ giữa các
S¬ 40 - 2021
93
KHOA H“C & C«NG NGHª
chương- hay các bộ phận chính- xuất hiện trong quá trình
truyền đạt thông tin đến người học.
dụng ngoại ngữ bằng việc tìm tài liệu ngoài nước ngoài để
lấy thông tin về Cấu tạo kiến trúc.
Việc bắt buộc triển khai chi tiết cấu tạo trong đồ án là rất
cần, tuy nhiên có phần lơi lỏng do việc dành thời gian tập
trung vào nội dung chính của đồ án, và đến cuối thì thường
làm cho có lệ- kể cả trong một số đồ án tốt nghiệp.
- Về Thái độ:
Sau khi kết thúc môn học, sinh viên có tính kiên trì, làm
việc có tính chuyên nghiệp cao, có tình yêu và say mê với
các công trình kiến trúc, qua đó hiểu về ý nghĩa của công
trình nới chung các bộ phận công trình nới riêng, có tính kỉ
luật và cẩn thận trong công việc.
Năng lực nhận thức, thẩm thấu kiến thức của sinh viên
trong đầu học kỳ 3 (đầu năm thứ 2) còn chưa đủ để hiểu
thấu chiều sâu kiến thức của môn học, kéo theo sự thụ động
trong tiếp nhận thông tin và chiều hướng bất lực khi chạm
vào những kiến thức đòi hỏi năng lực tư duy, suy luận, kỹ
năng xử lý thoả hiệp.
2.2 Thông tin, học liệu cho môn học và phương thức tiếp
cận mới
Đến năm 2008, VOCW (Vietnam Open Courseware) đã
có 208 môn học được đưa lên website. Một nửa số môn học
này là do các thầy cô giáo thuộc các trường thành viên của
VOCW chủ động đưa lên, nửa còn lại có được thông qua các
hoạt động tài trợ và chuyển đổi các kho giáo trình đã có. Về
cơ sở hạ tầng, mô hình hệ thống của VOCW, hiện có 3 trung
tâm dữ liệu của dự án đặt tại Hà Nội, Đà Nẵng và TP.HCM và
20 trường đại học khắp cả nước tham gia vào dự án. Trong
số đó, có 14 trường thành viên có máy chủ do Quỹ Giáo dục
Việt Nam (VEF) tài trợ đã đi vào hoạt động và 06 trường đã
có sẵn máy chủ giúp cho giảng viên và sinh viên của các
trường này có thể tiếp cận ngay đến các nguồn tài nguyên
đã được xuất bản trên VOCW.
Thiếu sự trải nghiệm và thực hành mang tính cần thiết,
bắt buộc trong trường đại học, không nói đến sự trải nghiệm,
thực hành thực tế sau này.
Để căn bản tiếp cận tới bản chất của việc truyền thụ và
tiếp thu, tìm kiếm kiến thức thì còn cần những nghiên cứu,
tìm hiểu để dần có cách nhìn và định hướng cụ thể nhằm đổi
mới học phần Cấu tạo kiến trúc trong đào tạo kiến trúc sư, cụ
thể trong trường đại học Kiến trúc Hà Nội. Vì vậy bài viết này
mong muốn gợi ra được những cách nhìn bao quát cho việc
tiếp cận đổi mới nội dung và phương thức giảng dạy, học tập
môn cấu tạo kiến trúc cho đào tạo kiến trúc sư trong trường
Đại học kiến trúc Hà Nội.
Internet là nguồn tìm kiếm thông tin vô cùng rộng lớn và
đa dạng, đã và đang thay đổi mạnh mẽ phương thức tiếp
cận thông tin trong đào tạo. Các sinh viên có thể dễ dàng tìm
kiếm thông tin ở mức độ “nhận biết” và tiến dần tới mức độ
“nhận thức” khi giảng viên đưa ra những chủ đề và từ khoá
liên quan đến môn học. Đây là một phương thức hay công cụ
cực kỳ mạnh mẽ và hiệu quả, làm thay đổi căn bản phương
thức chuyển tải và tiếp cận, tiếp nhận thông tin trong đào tạo,
nhất là môn học cấu tạo kiến trúc- với nhiều hình vẽ và chi
tiết và những phương thức giải quyết đa dạng và đặc thù cho
từng tình huống, từng công trình riêng biệt.
2. Những yếu tố ảnh hưởng đến phương thức chuyển
tải và tiếp nhận kiến thức môn học
2.1 Các yêu cầu của chuẩn đầu ra theo định hướng tiếp cận
mô hình CDIO
CDIO là tên viết tắt của cụm từ tiếng Anh: Conceive –
Design – Implemant- Operate, có nghĩa là: hình thành ý
tưởng, thiết kế ý tưởng, thực hiện và vận hành. Khởi nguồn
từ Viện Công nghệ MIT (Hoa Kỳ), cho đến nay, mô hình này
đã được các trường ĐH, CĐ trên thế giới áp dụng ngày càng
nhiều. Về bản chất, CDIO là một giải pháp nâng cao chất
lượng đào tạo, đáp ứng yêu cầu xã hội (XH) trên cơ sở xác
định chuẩn đầu ra, từ đó thiết kế chương trình và kế hoạch
đào tạo. Quy trình này được xây dựng một cách khoa học,
hợp lý, logic, có thể áp dụng cho nhiều lĩnh vực đào tạo khác
nhau.
2.3 Xu hướng phát triển của thiết kế, thi công xây dựng công
trình.
- Thiết kế chuyên sâu, chuyên nghiệp, chuyên môn hoá
Xu thế chung của thế giới đang và đang diễn ra là chuyên
sâu, chuyên nghiệp và chuyên môn hoá trong thiết kế kiến
trúc, bản thân một tổ chức thiết kế không muốn và cũng
không thể ôm đồm quá nhiều phần việc trong quy trình thiết
kế cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Vì vậy, hiện nay trên thế
giới hình thành nên các tổ chức thiết kế có sự phân tách rõ
ràng về vai trò chuyên môn- nó như đa khoa và chuyên khoa
trong nghề bác sĩ, ngay cả ở Việt nam cũng không khó để
thấy những tổ chức thiết kế như vậy.
Theo mô hình CDIO, chuẩn đầu ra cho học phần Cấu tạo
kiến trúc trong chương trình đào tạo Kiến trúc sư cần được
xác định như sau:
- Về Kiến thức:
Sinh viên có thể hiểu được các thuật ngữ, khái niệm,
chức năng, yêu cầu kỹ thuật và nguyên tắc thiết kế các bộ
phận chính của công trình kiến trúc.
Bản thân trong trường Đại học Kiến trúc Hà nội, từ những
thập niên 90 của thế kỷ trước cũng đã dần phân tách các
chuyên ngành chuyên sâu trong đào tạo, và hiện nay xu thế
đó ngày càng thấy rõ và quyết liệt hơn nhằm đáp ứng nhu
cầu và bối cảnh hoạt động nghề thực tế.
Sinh viên có khả năng nhận biết về ý nghĩa, vai trò và
đưa ra các giải pháp về cấu tạo của các bộ phận công trình.
Qua đó sẽ thể hiện được cấu trúc công trình và các bộ phận
phục vụ cho sáng tác kiến trúc và triển khai các bản vẽ kỹ
thuật về công trình.
- Công nghệ, vật liệu xây dựng, phương thức thi công
- Về Kỹ năng:
Sự biến đổi phát triển mạnh mẽ của công nghệ- vật liệu
xây dựng và phương thức thi công có ảnh hưởng rất lớn đến
việc đào tạo kiến trúc sư- những người khi ra trường phải
hoà nhập vào hệ thống vận hành và phát triển của nó.
Môn học cho sinh viên cơ hội rèn kĩ năng Nhớ các thuật
ngữ và khái niệm về cấu trúc, thành phần công trình kiến
trúc, Hiểu các phương pháp để tiếp cận phân tích, sáng tạo
và đề xuất giải pháp và Áp dụng chúng trong một công trình
thực tế do sinh viên tự đề xuất.
Công nghệ xây dựng- vật liệu và phương thức thi công
luôn thay đổi theo hướng ngày càng hiện đại, rộng và sâu về
chuyên môn, dần hướng tới tính chia tách thành nhiều phạm
vi và mức độ, và trong số đó có thể nằm ngoài khả năng giải
Sinh viên có khả năng thể hiện bản vẽ và ghi chú bằng
tiếng Anh (như bản vẽ quốc tế), có khả năng giao tiếp sử
T„P CHŠ KHOA H“C KI¦N TR”C - XŸY D¼NG
94
quyết trọn vẹn vấn đề của một kiến trúc sư. Đơn cử như
người viết bài này phải thiết kế vách kính dựng bao ngoài
cho một ngôi nhà 22 tầng, việc đầu tiên là kết nối với một
đơn vị uy tín, chuyên nghiệp và có kinh nghiệm về kính vách
dựng, trao đổi phác thảo và đề xuất của người thiết kế, sau
đó lựa chọn thoả hiệp phương án tiếp cận tối ưu do họ đề
xuất lại, và họ sẽ hoàn thiện dần bản vẽ thi công theo sự phối
hợp năng lực của cả hai phía- người đề xuất (kiến trúc sư) và
người có chuyên môn sâu đưa ra giải pháp và hoàn thiện nó.
Không phủ nhận giá trị mang lại của việc trải nghiệm thực
hành theo lối vẽ bài, nhưng với bối cảnh hiện nay, việc tăng
cường các bài sưu tầm đánh giá là việc cần làm. Thực chất
việc này bám sát một cách căn bản các cấp độ trong thang
nhận thức Bloom và cho sinh viên thu nhận được lượng
thông tin lớn cả về chiều rộng và chiều sâu cũng như tính
thực tế của những thông tin ấy.
Họ làm cái gì? Họ làm thế nào? Tại sao họ làm thế? Có
cách nào khác hay hơn không?... và cuối cùng đương nhiên
sẽ là sự sáng tạo, hoặc mầm mống của sự sáng tạo- cái mà
mục đích của trường đại học luôn phải hướng tới, và các
Kiến trúc sư cần phải đạt được.
3. Những vấn đề cần nghiên cứu để đổi mới nội dung
và phương pháp giảng dạy học phần cấu tạo kiến trúc
- Xu hướng dạy học- nghiên cứu theo vấn đề
- Xu hướng phân tách giai kỳ
Dạy học dựa trên vấn đề (Problem- Based Learning) là
hoạt động dạy học trong bối cảnh thực tiễn nhằm cung cấp
kỹ năng giải quyết vấn đề tăng cường năng lực tự học và khả
năng làm việc nhóm. Các vấn đề có liên quan đến thực tiễn
được lựa chọn cẩn thận và được sử dụng làm nền tảng cho
chương trình học. Nó giúp người học tiếp nhận tri thức và kỹ
năng thông qua một quá trình học- hỏi.
Như đã nêu ở phần đầu, các sinh viên tiếp cận môn học
vào đầu học kỳ 3- tức là vừa bước qua năm thứ nhất, chưa
thể nói là họ đủ năng lực để thẩm thấu được những kiến trức
của môn học được coi là môn chuyên ngành và cốt lõi trong
hành trang của một kiến trúc sư. Bản thân giảng viên cũng
bối rối khi mà nêu ra các vấn đề trong bài giảng ở một mức
độ được cho là cần thiết, nhưng họ gần như tự nêu tự giải
quyết, vì cấu tạo kiến trúc đòi hỏi dần sâu và rộng, đi suốt
quãng đời hành nghề của kiến trúc sư- mà các sinh viên chỉ
như người ngồi xem, khó tiếp cận và hoà mình với bài giảng
của giảng viên.
Xu hướng này cho tới giờ được ứng dụng rộng rãi trong
cả dạy học phổ thông chứ không nói là trong đào tạo bậc đại
học, nó rèn luyện những tư duy và kỹ năng giải quyết một
hay nhóm vấn đề một cách tổng hợp, đòi hỏi sự đa dạng về
kiến thức tổng hợp và khả năng tìm kiếm, chắt lọc nhưng
kiến thức đó, dần loại trừ tính phiến diện trong giải quyết vấn
đề- để có được những kết quản tối ưu và đúng đắn nhất.
Phần đầu mang tính đại cương và phần sau mang tính
đi sâu hơn, cụ thể giai kỳ đầu là vào cuối học kỳ 2 hoặc đầu
học kỳ 3, khi mà bắt đầu học đồ án đầu tiên, giai kỳ sau vào
cuối học kỳ 5 hoặc đầu học kỳ 6, khi mà sinh viên đã trải qua
4 đến 5 đồ án. Mục đích cũng là hướng tới tính hiệu quả của
môn học. Nhưng có ý kiến cho rằng “phải học rồi mới vẽ
được”, điều này hoàn toàn đúng, nhưng cũng phải nghĩ theo
hướng có những thứ “phải vẽ rồi mới học được” thì mới đủ.
Vậy phải phân tách giai kỳ.
- Xu hướng giảng dạy nguyên lý
Nguyên lý hay nguyên tắc (principle) là những ý tưởng
hoặc lý thuyết ban đầu, quan trọng, được coi là xuất phát
điểm cho việc xây dựng những lý thuyết khác. Thực ra xu
hướng này đã được gắn với tên môn học từ lâu (chỉ biết thời
khoá 1983, 1984 ở trường Đại học Kiến trúc Hà Nội đã có),
đó là môn “Nguyên lý cấu tạo kiến trúc”, nhưng dần dà do
gọi ngắn gọn lại mà giờ đây được gọi là môn “Cấu tạo kiến
trúc”. Các giảng viên luôn tâm niệm là phải giảng nguyên lý
chứ không giảng theo kiểu cụ thể hoá hay hiện tượng hoá.
Nhưng đấy mới chỉ là tâm niệm và được thực hiện phần nào-
do nhiều lý do. Cuối cùng thì những hiện tượng như những
lời giải mang tính cụ thể, một kết quả cụ thể được sinh viên
xem như một công thức cần phải nhất nhất làm theo, thiếu
hẳn đi tính phân tích đánh giá so sánh lựa chọn giải pháp
theo hoàn cảnh.
Thực tế thì trường Đại học Kiến trúc Thành phố Hồ Chí
Minh cũng đã đi đầu trong việc chia hai giai kỳ cho môn học
cấu tạo kiến trúc, mỗi phần 3 tín chỉ, phần đầu vào cuối học
kỳ 2 và phần hai vào cuối học kỳ 3- cách nhau đúng một kỳ.
Phần cấu tạo kiến trúc 2 học song song với đồ án kiến trúc
2, như vậy thực tế vẫn chưa thể gọi là sinh viên đã đủ năng
lực thẩm thấu môn cấu tạo 2.
Căn cứ chương trình đào tạo kiến trúc sư của trường Đại
học Kiến trúc Hà Nội, việc đặt giai kỳ 2 (cấu tạo kiến trúc 2)
sau đồ án kiến trúc 4, song song với đồ án kiến trúc 5 là hợp
lý, thoả mãn việc hội tụ năng lực thẩm thấu và nhu cầu tìm
hiểu của sinh viên theo hướng “phải vẽ rồi mới học được”
đã nêu trên.
Với thời lượng môn học như hiện nay, với bối cảnh
hoạt động nghề nghiệp như hiện nay, cùng với đòi hỏi của
chuẩn đầu ra và định hướng CDIO thì xu hướng giảng dạy
môn cấu tạo kiến trúc cho sinh viên ngành kiến trúc theo
nguyên lý là bắt buộc, nó cho sinh viên một cách nhìn, một
hạt mầm của tư duy hơn là cho họ một vài trái chín.
4. Kết luận
Như vậy, có thể thấy được những nét bao quát mang tính
xu thế tất yếu của việc cần phải luôn đổi mới môn học Cấu
tạo kiến trúc trong đào tạo kiến trúc sư ở trường Đại học Kiến
trúc Hà Nội nhằm bắt kịp và chủ động đáp ứng nhu cầu của
xã hội cũng như những tiêu chí đặt ra trong chiến lược đào
tạo chung của Nhà trường cũng như Bộ môn- theo xu thế
chung của hệ thống đào tạo Việt Nam và thế giới.
- Xu hướng nghiên cứu đánh giá
Trong thử nghiệm của giảng viên, khi cho sinh viên
hoặc nhóm sinh viên lựa chọn một chủ đề- bộ phận hay tập
hợp các bộ phận cấu tạo kiến trúc để tìm kiếm sưu tầm, nhận
xét và đánh giá theo nhưng tiêu chí mà giảng viên đặt ra, kết
quả cho thấy những gì sinh viên thu được có giá trị hơn là họ
được giao vẽ bộ phận đó- trong trạng thái chập chững của
một người mới bước vào học kỳ đầu của năm thứ hai. Điều
này có vẻ mâu thuẫn với việc trải nghiệm thực hành bằng
cách vẽ nó, nhưng nếu xem trình bầy mới thấy lượng thông
tin mà sinh viên chuyển tải tới người xem- nghe nhiều hơn
rất nhiều so với chừng ấy thời gian để vẽ nó (vẫn là trong
điều kiện của đầu học kỳ 1 của năm thứ 2)
Được biết hiện nay Bộ môn công nghệ kiến trúc và Khoa
kiến trúc- trường Đại học Kiến trúc Hà Nội cũng đang dần
điều chỉnh môn học cấu tạo kiến trúc theo hướng đổi mới
và hiệu quả, mong rằng những nhận định trên đây có được
những đóng góp phần nào cho việc đó và vì vậy đóng góp
cho công cuộc đổi mới chung trong đào tạo của nhà trường./.
S¬ 40 - 2021
95
KHOA H“C & C«NG NGHª
5. Nguyễn Thị Trang Nhung, Phạm Tiến Toàn, Bàn về nguồn học
liệu phục vụ sinh viên trong quá trình học tập và nghiên cứu khoa
học theo phương thức đào tạo tín chỉ tại các trường đại học,
Trường Đại học Khoa học Xꢁ hội & Nhân văn Hà Nội
T¿i lièu tham khÀo
1. Bộ môn cấu tạo và trang thiết bị công trình, Giáo trình Cấu tạo
kiến trúc, khoa Kiến trúc, trường Đại học Kiến trúc Hà Nội
2. Trần Minh Tùng - Trần Tuấn Anh - Ngô Hà Thanh, Hiện đại hoá
dạy và học Cấu tạo kiến trúc với sự hỗ trꢀ của đối tác bên ngoài,
Tạp chí Kiến trúc số 04 - 2017)
6. Nguyễn Văn Hảo, Phương pháp dạy học dựa trên vấn đề: lý luận
và ứng dụng, Đại học Nha Trang
7. Rob Abel, Malcolm Brown and Jack Suess, A new architecture for
leaning, EDUCAUSE Review, vol. 48, no. 5 (September/October
2013)
3. Lê Bá Lâm, Xây dựng sản phẩm thông tin “Hướng dẫn học tập và
nghiên cứu theo chủ đề” của các thư viện đại học Việt Nam, Tạp
chí Thư viện Việt Nam - 2016 - Số 5 - Tr. 24-28,34
4. Phạm Đình Trúc, Xây dựng “học liệu mở”: mở cách học mới, Đại
học Quốc gia TP.HCM
Nghiên cứu, đánh giá việc áp dụng loại hình bất động sản...
(tiếp theo trang 92)
mình là chủ sở hữu hoặc thuê để sử dụng;
5. Kết luận
Không cho phép chủ sở hữu đăng ký hộ khẩu thường trú,
nhưng cho phép đăng ký tạm trú;
VPKHLT là mộ loại hình bất động sản đã được ra đời và
đang phát triển không những ở các nước phát triển thế giới
mà còn ngay cả ở Việt Nam.
Việc thiết kế và xây dựng công trình phải đáp ứng được
hai yêu cầu vừa để làm văn phòng và vừa để ở;
Ở một số nước phát triển trên thế giới, khi VPKHLT mới
ra đời cũng chưa được công nhận hợp pháp nhưng đến nay
đã có một số nước công nhận nó như một loại hình bất động
sản hợp pháp.
Đối với một tòa nhà mà có kết hợp căn hộ VPKHLT và
căn hộ để ở thì nên tách thành hai khu vực riêng biệt, có hệ
thống thang máy riêng;
Ở Việt Nam, Chính phủ và Thủ tướng chính phủ đang
quan tâm chỉ đạo các cơ quan ban ngành nghiên cứu để có
thể đưa VPKHLT vào các quy định pháp luật có liên quan
nhằm thúc đẩy sự pháp triển của nó cho lành mạnh và hợp
pháp./.
Đối với công tác quản lý vận hành và bảo trì tòa nhà
tòa nhà hoàn toàn là căn hộ VPKHLT hoặc có một số căn
hộ VPKHLT cùng với các căn hộ chung cư việc quản lý vận
hành và bảo trì, nên quan niệm căn hộ VPKHLT như những
căn hộ chung cư để ở.
4. Luật Đất đai số 45/2013/QH13 ngày 29/11/2013;
T¿i lièu tham khÀo
1. What is a Korean officetel Case study on Bundang, Emilien
Gohaud, Seungman Baek, Southeast University.Frontiers of
Architectural Research
5. Nghị định 99/2015/NĐ-CP hướng dẫn Luật Nhà ở 2014;
6. Nghị định số 76/2015/NĐ-CP ngày 10/9/2015 của Chính phủ về
quy định chi tiết một số điển của Luật Kinh doanh Bất động sản;
7. Thông tư 19/2016/TT-BXD hướng dẫn thực hiện Luật Nhà ở và
Nghị định 99/2015;
2. Sustainable Renovation Strategy for Officetels in Korea, Seokgil
Jang*1, Junehyung Je1 and Thorsten Schuetze2, 1Master student,
Department of Architecture, Sungkyunkwan University, Republic
of Korea, 2Associate Professor, Department of Architecture,
Sungkyunkwan University, Republic of Korea
8. QCVN 04:2012/BXD Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về nhà ở và
công trình công cộng;
9. TCVN 4319:2012 Nhà và công trình công cộng – Nguyên tắc cơ
bản để thiết kế.
3. Luật nhà ở số 65/2014/QH13;
THỂ LỆ VIẾT VÀ GỬI BÀI
CHO TẠP CHÍ KHOA HỌC KIẾN TRÚC – XÂY DỰNG
1. Bài gửi đăng tạp chí phải là công trình nghiên cứu của tác giả,
chưa đăng và chưa gửi đăng ở bất kỳ tạp chí nào khác.
6. Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị, nơi làm việc, số điện thoại, e-mail
của tác giả kèm theo một file chứa nội dung bài báo.
2. Bài gửi đăng bằng tiếng Việt hoặc tiếng Anh, được đánh máy
tính, in trên 1 mặt giấy khổ A4 thành 2 bản (phông chữ Arial
(Unicode), cỡ chữ 11; lề trên và lề dưới 3cm; lề phải và lề trái
3cm).
7. Bài viết phải có tên bằng tiếng Việt và tiếng Anh, các từ khóa tìm
kiếm. Mỗi bài cần kèm theo phần tóm tắt bằng tiếng Việt và tiếng
Anh (cỡ chữ 10, tối đa là 150 từ) cung cấp những nội dung chính
của bài viết.
3. Các hình vẽ phải rõ ràng, chuẩn xác. Nếu bài có ảnh thì phải gửi
kèm ảnh gốc độ phân giải 200dpi. Hình vẽ và ảnh phải được chú
thích đầy đủ.
8. Cấu trúc bài báo gồm các phần: dẫn nhập, nội dung khoa học và
kết luận (viết thành mục riêng). Bài báo phải đưa ra được các kết
quả nghiên cứu mới hoặc các ứng dụng mới hay phải nêu được
hiện trạng, những hướng phát triển cơ bản của vấn đề được đề
cập, khả năng nghiên cứu, phát triển và ứng dụng tại Việt Nam.
Bài giới thiệu tổng quan không quá 10 trang; công trình nghiên
cứu và triển khai ứng dụng không quá 8 trang.
4. Các công thức và các thông số có liên quan phải được chế bản
bằng phần mềm Mathtype (kể cả công thức hoặc các thành phần
của công thức có trên các dòng văn bản).
5. Tài liệu tham khảo chính, trích dẫn phải có đủ các thông tin theo
trình tự sau: Họ tên tác giả (hoặc chủ biên), tên sách (tên bài báo/
tạp chí, tên báo cáo khoa học), nơi xuất bản, nhà xuất bản, năm
xuất bản, trang trích dẫn (tối đa 10 tài liệu tham khảo chính).
9. Với bài thông tin khoa học, tin ngắn: Là các bài dịch tổng thuật,
tổng quan về các vấn đề khoa học công nghệ xây dựng kiến trúc
có tính thời sự.
10.Không trả lại bản thảo cho những bài không đăng./.
T„PCHŠKHOAH“CKI¦NTR”C-XŸYD¼NG
96
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu, đánh giá việc áp dụng loại hình bất động sản văn phòng kết hợp với lưu trú tại Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
nghien_cuu_danh_gia_viec_ap_dung_loai_hinh_bat_dong_san_van.pdf

